|
NHẬP
KHẨU THÁO DỠ TẦU CŨ
VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Danh sách 50 tầu
sắp phá dỡ đang bị Tổ chức "Hoà bình xanh"
theo dõi
Trao
giấy phép đầu tư cho dự án sản xuất thép hơn 1 tỷ
USD
Chính
thức cấp phép cho dự án thép của Tyccons
Vấn
đề BVMT xung quanh việc phá dỡ tầu cũ
Liều lĩnh tìm kiếm chất
thải
Theo
dòng sự kiện về tầu CLEMENCEAU
Bảng
chỉ số bền vững môi trường của các nước năm
2005.
Các tin khác
CHÍNH
THỨC CẤP PHÉP CHO DỰ ÁN THÉP CỦA TYCCONS
Nguồn
tin từ Bộ Kế hoach và Đầu tư cho hay giấy phép đầu tư
dự án thép của tập đoàn Tyccons Worlwide Stel (Đài Loan)
ở Dung Quất đã được ký. Giấy phép sẽ được trao cho
chủ đầu tư vào thứ Hai tuần tới, Cục trưởng Cục Đầu
tư nước ngoài Phan Hữu Thắng xác nhận với TBKTSG.
Nhà
đầu tư sẽ được phép xây dựng nhà máy đúng theo đề
xuất ban đầu (5 triệu tấn phôi thép/năm) tuy nhiên quy mô
vốn của dự án là 560 triệu đô la Mỹ (giai đoạn 1)
thay vì là 1 tỷ đô la như đề xuất ban đầu.
Trong
khi đó, dự án khu liên hợp luyện thép của Công ty S.H.T
IRON Co. cũng vừa được Thủ tướng bật đèn xanh. Trong
một văn bản mới đây, Thủ tướng yêu cầu Bộ Kế hoạch
và Đầu tư thẩm định hồ sơ của dự án để trình
Thủ tướng ngay trong tháng này.
Anh
Minh (Thời báo Kinh tế Sài Gòn, Số 38, ngày 14/9/2006)
Thông tin tiếp
(19/9/2006):
TRAO GIẤY PHÉP ĐẦU TƯ
CHO DỰ ÁN SẢN XUẤT THÉP HƠN 1 TỶ USD
TP
- Ngày 18/9/2006, Thứ trưởng Bộ KH&ĐT Nguyễn Ngọc Phúc
đã trao giấy chứng nhận đầu tư Dự án thép Tycoons cho
ông Kenny Hwang - Chủ tịch tập đoàn Tycoons Worldwide Group
Public Co Ltd.
Theo giấy phép đầu tư,
tập đoàn này được phép xây dựng nhà máy chế biến,
sản xuất thép công suất 5 triệu tấn/năm với tổng
vốn đầu tư đăng ký 1,056 tỷ USD; dự án được triển
khai xây dựng trên diện tích (cả hai giai đoạn) là 480
ha.
Được biết, ngay giai đoạn
I của dự án, nhà đầu tư sẽ đầu tư 556 triệu USD; khi
nhà máy đi vào hoạt động sẽ sử dụng khoảng 3.600 lao
động.
Tin,
ảnh: Phong Cầm (Tienphongonline)
(Theo
báo Đầu tư)
VẤN
ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VIỆC PHÁ DỠ TẦU CŨ
TS.
Nguyễn Ngọc Sinh, Lê Bích Thuỷ, Nguyễn Minh Cường
(Bài
đã đăng trên Tạp chí Bảo vệ Môi trường, số 3/2001)
I. TÌNH HÌNH CHUNG
Hàng năm có khoảng 45.000 tàu
biển hoạt động chuyên chở hàng hoá trên thế giới bao
gồm: tàu chở hàng, chở container, tàu chở tủ lạnh,
chở xe tăng, chở các loại hàng hoá chuyên dụng.... Trung
bình mỗi năm có 700 tàu sẽ phải phá dỡ, sau khoảng 29 năm
vận hành trên biển. Khi hết khả năng chạy trên biển,
những tàu này sẽ được bán đi để phá dỡ, và 95%
trọng lượng của tàu sẽ được tái sử dụng.
Vào những năm 1970, việc phá
dỡ tàu biển thuộc loại công nghệ cao, thường được
tiến hành ở nhà máy sửa chữa tàu của một số nước
như Anh, Đài Loan, Tây Ban Nha, Mêhicô và Braxin. Đến
những năm 1980, do yêu cầu các chi phí về bảo vệ môi trường
và sức khoẻ con người ở các nước trên ngày càng cao nên
việc phá dỡ tàu biển đã bắt đầu được chuyển dần
sang các nước nghèo thuộc châu á. Cho đến năm 1993, một
nửa số tàu cần phá huỷ trên thế giới đã được
chuyển đến Trung Quốc để phá dỡ. Vào những năm cuối
của thập niên 90, ấn Độ trở thành nước đứng đầu
thế giới trong lĩnh vực này (chiếm 70%), sau đó đến
Pakistan, Bangladesh và Trung Quốc. Ước tính có khoảng
100.000 công nhân đang làm việc trong các công ty phá dỡ tàu
trên thế giới.
Tương tự như ở một số nước
ASEAN, ở Việt Nam vấn đề phá dỡ tàu biển cũ cũng đã
được thực hiện. Ngoài một cơ sở đã hoạt động từ
trước khi có Luật Bảo vệ môi trường có hiệu
lực(1/1994), còn có một số cơ sở đã và đang xin phép
thực hiện công việc này.
Việc phá dỡ các tàu cũ đem
lại một nguồn nguyên liệu mới (chủ yếu là thép) cho
ngành công nghiệp thép của các nước đang phát triển.
ở ấn Độ, sản lượng thép thu hồi của công nghiệp phá
dỡ tàu biển đóng góp khoảng 15% sản lượng thép hàng năm.
Tuỳ thuộc vào kích thước và chức năng của tàu, tàu phá
dỡ có trọng lượng (không chở hàng) khoảng từ 5.000 đến
40.000 tấn (trung bình là 13.000 tấn), trong đó 95% trọng lượng
sẽ là thép, vỏ tàu chứa khoảng từ 10 đến 100 tấn sơn,
trong sơn này chứa chì, cadmium, asen, kẽm, crôm, organotins.
Các tàu này cũng chứa các chất thải độc hại khác:
chất chống rò rỉ có chứaPolychlorinated Biphenyls(PCB),
khoảng 7,5 tấn là các loại amiăng, vài tấn dầu thải các
loại (dầu động cơ, dầu đáy tàu, dầu làm nguội...). Các
toa tàu còn chứa đến 1.000m3 nước thải có lẫn dầu.
Vấn đề quản lý một cách đúng
đắn về mặt môi trường đối với công việc phá dỡ tàu
biển hiện nay đang được thế giới quan tâm.
Hội nghị Toàn cầu lần đầu
tiên về phá dỡ tàu được tổ chức ngày 23 tháng 6 năm
1999 tại Amsterdam (Hà Lan) với sự tham gia của 150 chuyên
gia ngành công nghiệp hàng hải đã nhất trí coi đây là
vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu kỹ về các
khía cạnh kỹ thuật và pháp lý.
Tại cuộc họp Nhóm Công tác
kỹ thuật của Công ước Basel, tổ chức tại Geneva từ
ngày 14-16 tháng 4 năm 1999 đại diện các nước thành viên
Công ước Basel đã thảo luận vấn đề nói trên và
nhất trí đề nghị:
- Ban thư ký Công ước cần
tiến hành thu thập và xử lý các nghiên cứu và số
liệu đã có liên quan đến việc phá dỡ tàu biển từng
phần hoặc toàn bộ sau đó thông báo cho các nước thành
viên biết.
- Ban Thư ký cử đại diện tham
dự các kỳ họp của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO);
tiến hành hợp tác với IMO trong quá trình nghiên cứu và
làm rõ vấn đề này.
Hội nghị lần thứ 5 các nước
thành viên Công ước Basel (tại Thuỵ Sĩ tháng 12 năm 1999)
quyết định giao cho Nhóm Công tác kỹ thuật, thông qua Ban
Thư ký Công ước Basel tiến hành hợp tác với IMO nghiên
cứu và xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật về quản lý
một cách đúng đắn về mặt môi trường đối với
việc phá dỡ từng phần hoặc toàn bộ tàu đi biển; yêu
cầu Nhóm Công tác kỹ thuật và Tiểu nhóm tư vấn kỹ
thuật và pháp lý xem xét các vấn đề pháp lý liên quan
đến phá dỡ từng phần và toàn bộ tàu đi biển. Hai cơ
quan này có trách nhiệm báo cáo với Hội nghị lần thứ
6 các nước thành viên Công ước Basel về kết quả thực
hiện nhiệm vụ nói trên.
Để tìm hiểu rõ ràng hơn về
vấn đề bảo vệ môi trường xung quanh việc phá dỡ tàu,
dưới đây chúng tôi xin điểm lại một số nội dung chính.
Cần phải nói thêm rằng nhiều nội dung được nêu ở đây
cũng sẽ có quan hệ mật thiết với vấn đề bảo vệ môi
trường xung quanh việc xúc rửa tàu - một vấn đề mà chúng
tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác sẽ được đăng
trong Tạp chí Bảo vệ Môi trường số tới.
II. CÁC LOẠI CHẤT THẢI CHỦ
YẾU PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁ DỠ TÀU BIỂN CŨ VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHOẺ CON NGƯỜI
Phần lớn tầu biển cần phá
dỡ trong giai đoạn hiện nay là những tàu được đóng
từ những năm 1970, mà ở vào thời điểm đó chưa có văn
bản pháp qui nào trên thế giới cấm sử dụng các loại
hoá chất độc hại. Chính điều này đã cho phép các nhà
sản xuất sử dụng những loại hoá chất độc
nhất(miễn là rẻ) có khả năng bảo vệ được tàu
khỏi bị hoen rỉ, tránh bị các sinh vật biển (như con hà)
bám. Để cách nhiệt tốt và hạn chế hoả hoạn , người
ta đã sử dụng rất nhiều amiăng. Để dễ nhận biết tàu
trên biển trong sương mù họ đã sơn thân tàu màu sáng và
để tránh bị xói mòn vỏ tàu họ sử dụng ôxít chì và
chromate kẽm. Để thân tàu không thể tăng trọng lượng
bởi các sinh vật biển bám vào, họ đã dùng sơn có
chứa các chất chống ăn bám như thuỷ ngân, asen, và
tributyl tin (TBT)....
Các chất thải độc hại chính
phát sinh trong quá trình phá dỡ tàu là:
1. Amiăng : Amiăng thuộc nhóm khoáng
sản có chứa các sợi nhỏ, mỏng. Có ba loại amiăng chính
: Amiăng trắng (dạng sợi Chrysotile), amiăng nâu (dạng
sợi amosite) và amiăng xanh (dạng sợi crocidolite). Amiăng thường
tìm thấy trong rất nhiều bộ phận khác nhau của tàu như
phòng cách nhiệt và các ống cách nhiệt, phòng chịu
lửa, các ống thông hơi, hút khí, các nguyên liệu làm dây
cáp điện, sàn và trần tàu... Amiăng là một chất độc
hại, gây ung thư phổi và các bệnh ung thư khác.
2. Nước bẩn ở đáy tàu và nước
ballast: Vấn đề quan trọng nhất trong quá trình phá dỡ tàu
là phải xử lý được nước thải của tàu mà chủ yếu
là nước bẩn ở đáy tàu và nước ballast.
Nước bẩn ở đáy tàu bao gồm
các loại nước bẩn đã sử dụng, bị ứ đọng và các
loại chất lỏng khác như bụi nước lắng đọng, nước
chảy từ các van và ống dẫn.... Nước bẩn ở đáy tàu
có chứa các chất ô nhiễm như dầu, mỡ, muối vô cơ và
kim loại (asen, đồng, crôm, chì và thuỷ ngân). Trong khi tàu
bị phá dỡ, nước bẩn đáy tàu sẽ có thêm nước mưa
(vì thân tàu đã bị mở) và như vậy sẽ chứa thêm cả
amiăng và các mảnh kim loại nhỏ bắn ra trong lúc cắt, phá
tàu.
Ballast là loại nước rất đặc
trưng (là nước ở các bến cảng, nước biển) được bơm
vào các bồn tàu nhằm mục đích thăng bằng tàu. Có một
số loại nước ballast trên tàu trong khi tàu vận hành như:
- Nước ballast sạch: Là nước
biển được bơm vào các bồn tàu chỉ định trước
nhằm giữ cho tàu thăng bằng do vậy nước này không
chứa dầu. Loại nước ballast sạch này có thể chứa các
chất ô nhiễm như: kim loại (sắt, đồng, crôm) và các hoá
chất.
- Nước ballast nhiên liệu đậm
đặc : Trong khi tàu vận hành trên biển, nước ballast nhiên
liệu đậm đặc là nước biển được sử dụng như
một dạng nhiên liệu khi mà nhiên liệu đã dùng hết
nhằm giữ cân bằng cho tàu. Như vậy bồn tàu luôn đầy
bởi nhiên liệu, nước biển hoặc cả hai. Tuỳ thuộc vào
tỷ lệ giữa nước biển và nhiên liệu trong lúc phá dỡ
tàu, các chất ô nhiễm trong nước ballast nhiên liệu đậm
đặc có thể chứa các nhiên liệu, các vi sinh có trong
dầu nhiên liệu, dầu, mỡ, kim loại và xăng dầu chứa
hydrocacbon.
- Nước ballast bẩn: Loại nước
này được tạo thành khi bơm nước biển vào các bồn
chứa nhiên liệu rỗng nhằm tăng khả năng cân bằng cho tàu.
Các chất ô nhiễm trong loại nước này có chứa: Nhiên
liệu còn lại trong bồn, các vi sinh trong nhiên liệu,
dầu, mỡ, xăng và kim loại (đồng, niken, bạc, kẽm).
Những loại nước bẩn kể trên
đều có chứa các chất ô nhiễm nguy hại. Trong loại nước
thải này có chứa kim loại, là thành phần rất khó tiêu
huỷ trong quá trình xử lý nên chúng sẽ làm ô nhiễm môi
trường và gây tác hại đến sức khoẻ con người như
nhiễm độc chì, gây bệnh ung thư. Khi được thải ra
biển các kim loại này sẽ tích tụ dần trong các sản
phẩm biển và sẽ tăng nồng độ ô nhiễm kim loại trong
các sinh vật biển cũng như trong cơ thể con người. Ngoài
ra, các nước thải này cũng chứa các chất hữu cơ độc
hại như các dung môi và PCBs. Đây là những chất gây ung
thư và làm rối loại các chức năng của gan, thận,
tim.... Thải các chất hữu cơ độc hại này ra môi trường
sẽ tạo các khí độc hại khác. Nước thải này cũng
chứa dầu và nhiên liệu, đây là những chất gây độc
cho cá và các động vật thuỷ sinh khác trong nước biển.
Những nước thải này cũng có thể bị chảy tràn lên
bờ và vùng ven biển nên nó sẽ tiêu diệt các loại cây
ven biển và động vật thuỷ sinh thuộc vùng này như chim,
cá, và các loài động vật khác. Ngoài ra nước ballast còn
chứa các vi sinh vật gây bệnh khác, nên khi loại nước này
thải ra môi trường sẽ tác động xấu đến hệ sinh thái,
thay đổi tính cân bằng sinh thái ở khu vực phá dỡ tàu.
3. Dầu và nhiên liệu : Một số
tàu phá dỡ có chứa dầu diesel, dầu tự nhiên và dầu nhân
tạo. Dầu ở đây bao gồm xăng dầu đã lọc (dầu diesel,
xăng, kerosen) và dầu không xăng như dầu nhân tạo (silicon
lỏng), mỡ động vật, dầu thực vật.... Dầu, nhiên
liệu và cặn dầu có thể tìm thấy ở khắp nơi trên tàu,
thậm chí trên cả các máy móc của tàu và các hệ thống
ống dẫn. Sự có mặt của các loại dầu gây nguy hiểm
cho người công nhân trong quá trình phá dỡ chính vì rất
dễ gây cháy. Ngoài ra, trong quá trình tiếp xúc với dầu
thải, người công nhân có nguy cơ tiếp xúc với các hoá
chất độc hại, ảnh hưởng đến gan, mật, tim và hệ
thần kinh . Nếu những dầu thải này mà rò rỉ ra môi trường
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, nếu dầu
bị rò rỉ với khối lượng lớn sẽ gây ra sự cố tràn
dầu, ảnh hưởng đến các loại động vật hoang dã, gây
ngộ độc cho các loại động vật khác và ảnh hưởng đến
chuỗi thực phẩm của con người.
4. Sơn và lớp sơn bảo vệ : Sơn
và lớp sơn bảo vệ có thể tìm thấy ở mặt trong và
mặt ngoài con tàu. Thường ở những con tàu cũ, lớp sơn
có thể dễ bắt cháy và chứa rất nhiều chất độc
hại như PCBs, kim loại nặng (chì, barium, cadmi, crôm,
kẽm). Các nguyên tố chì như tetraoxide chì đỏ (Pb3O4) và
crôm chì được dùng nhiều trong thành phần sơn tàu
biển.Thông thường, loại sơn có chứa khoảng 30% kim
loại nặng được dùng nhiều để sơn tàu nhằm bảo vệ
bề mặt tàu khỏi bị xói mòn. Để tránh cho thân tàu
khỏi bị các sinh vật biển bám, người ta dùng loại sơn
không chỉ chứa thuỷ ngân, asen và chì mà còn chứa các
hoá chất khác như tributyl tin (TBT) và Tributyl tin
chloride(TBTCl). Đây là những hoá chất rất độc và đã
bị cấm sử dụng tại các nước EU từ năm 1989.
Những hoá chất và dung môi được
sử dụng trong lúc tháo dỡ các mảng sơn sẽ thải ra môi
trường các chất hữu cơ bay hơi (VOCs) và các chất ô
nhiễm không khí. Các biện pháp phá dỡ cơ học sẽ sản
sinh ra bụi(dạng hạt nhỏ) và khí thải có chứa chì và
các độc chất khác. Những chất ô nhiễm này sẽ gây
hại đến sức khoẻ con người như ngộ độc cấp tính và
ngộ độc mãn tính, gây ra các bệnh ung thư. Thí dụ, chì
có thể gây ra ngộ độc, ảnh hưởng lâu dài đến hệ
thần kinh và ung thư. Các chất thải có được trong quá
trình phá dỡ, cạo sơn sẽ ảnh hưởng đến môi trường,
gây ô nhiễm đất và ô nhiễm nước mặt ở khu vực phá
dỡ tàu.
5. Các mảnh kim loại : Các mảnh
kim loại đựơc tạo ra trong quá trình phá dỡ tàu biển.
Đầu tiên người ta cắt tàu ra thành những mảng lớn,
sau đó cắt nhỏ những mảng này theo đúng kích thước và
yêu cầu của người mua. Trong quá trình cắt nhỏ này sẽ
có rất nhiều mảnh kim lọai nhỏ hình thành và được
chia làm hai loại: kim loại màu và kim loại đen. Khi cắt
nhỏ kim loại bằng các loại đèn khò với nhiệt độ
khoảng từ 3.500-4.000oC sẽ sản sinh ra khói và các hạt
bụi kim loại như măngan, crôm, niken, sắt, nhôm, amiăng và
chì. Và trong quá trình cắt nhỏ này cũng có thể xảy ra
các đám cháy nhỏ khi bắt phải dầu hoặc cặn dầu. Thường
những đám cháy này không lâu nhưng cũng đủ để sản
sinh ra các khí độc như NOx và SOx. Những mảnh vụn kim
loại trong quá trình cắt sẽ bị thải ra môi trường gây
ô nhiễm nước và đất bởi một số kim loại nặng như
chì. Người công nhân trong quá trình cắt nhỏ kim loại cũng
bị nhiễm độc chì qua không khí và bụi kim loại, do
vậy cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây ung thư và các
loại bệnh kinh niên khác.
6. Hỗn hợp các loại máy móc trên
tàu: Có rất nhiều loại máy móc, thiết bị trên tầu
sẽ được loại bỏ trong quá trình phá dỡ tàu như hệ
thống lọc khí, hệ thống đốt cháy tự động, các
loại dây dẫn.... Khi các loại thiết bị này bị dỡ bỏ
khỏi tàu, thường chúng được các công nhân vận chuyển
bằng tay và đưa tới các xưởng phá dỡ. Nhiều khi,
những loại máy móc này không được che phủ cẩn thận nên
bị nước mưa chảy vào, rửa trôi các chất ô nhiễm bám
trong các máy này và thấm vào đất, gây ô nhiễm đất, nước
mặt và nước ngầm. Những người công nhân tiếp xúc
trực tiếp với các loại máy này sẽ bị nhiễm độc
bởi các chất độc có trong máy như amiăng, PCB, dầu và
nhiên liệu.
III. TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT THẢI ĐỘC HẠI ĐẾN
SỨC KHOẺ NGƯỜI CÔNG NHÂN TẠI MỘT SỐ CÔNG TY PHÁ DỠ
TÀU LỚN CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á
Để nghiên cứu tình trạng ô
nhiễm môi trường và ảnh hưởng của các chất thải độc
hại đến sức khoẻ con người, dưới đây chúng tôi xin
đưa ra tình trạng ô nhiễm môi trường một số nhà máy
phá dỡ tàu biển cũ điển hình trong khu vực châu á:
1. Alang- ấn Độ: Đây là một
trong những trung tâm phá dỡ tàu lớn nhất của ấn Độ
với khoảng 100 tàu được phá dỡ với đội ngũ công nhân
gần 40.000 người. Công nhân được bố trí ăn ở ngay
trong các lán tạm, cạnh nơi phá dỡ tàu. Tại đây ta có
thể quan sát thấy amiăng được vứt bừa bãi khắp nơi,
trên tàu, trên bờ, trong nhà, thậm chí trên cả những thùng
mà người phụ nữ đội ở trên đầu (Xem ảnh). Chính vì
vậy, công nhân ở đây bị nhiễm độc amiăng rất nhiều
vì họ không có dụng cụ bảo hộ lao động và điều
kiện sinh hoạt rất nghèo nàn. Các chất thải độc hại
khác được đổ thẳng ra biển hoặc ra vùng sản xuất nông
nghiệp lân cận. Tổ chức Hoà bình xanh đã phân tích
nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển, bùn, đất
trong vùng Alang cho thấy khu vực này có nồng độ ô
nhiễm tăng cao. Nước biển bị nhiễm độc dầu. Các
sản phẩm, nguyên vật liệu có chứa amiăng thì được bày
bán khắp nơi ở trong nước.
2. Jiangyin- Trung Quốc: Đây là
khu vực phá dỡ tầu gần Thượng Hải. Các công nhân ở
đây khi tách các nguyên liệu cách nhiệt bằng amiăng trên
tàu có mặc quần áo bảo vệ, tuy nhiên khu vực này không
được cách ly với các khu vực khác nên amiăng khuếch tán
tự do trong khắp cả khu vực phá dỡ tàu, gây nhiễm độc
cho các công nhân ở khu khác. Người công nhân dùng đèn
khò để cắt sắt không được đeo bình dưỡng khí, do
vậy họ đã hít trực tiếp các khí độc và bụi tro có
chứa kim loại nặng phát sinh trong quá trình cắt kim
loại. Kết quả phân tích mẫu tro bay trong quá trình cắt
kim loại ở đây của tổ chức Hoà bình xanh đã cho thấy
nồng độ kim loại nặng như asen, chì, cadmi và crôm rất
cao. Những chất ô nhiễm này có thể phân tán, gây ô
nhiễm đến khu vực dân cư lân cận qua sông Yangtze và ô
nhiễm các cánh đồng lúa. Một số vụ cháy nhỏ cũng đã
xảy ra ở đây và phát sinh các khí độc như NOx, SOx.
3. Cebu - Philippin: Đây là cơ sở
phá dỡ tàu biển nằm ở trung tâm nước Philippin do Chính
phủ Nhật quản lý và là chủ sở hữu. Quá trình phá
dỡ tàu ở Cebu có liên quan đến các loại hoá chất độc
như PCB và TBT. Các loại hoá chất này đã gây ô nhiễm môi
trường biển trong khu vực này. Công nhân ở đây cũng
bị nhiễm độc amiăng do không có quần áo bảo vệ trong
quá trình phá dỡ tàu. Ngoài ra người ta còn đốt ngoài
trời các loại chất thải có chứa dầu, mỡ, dây dẫn
nhựa trong khu vực phá dỡ, đây chính là nguồn sản sinh
ra dioxin, furan và các chất độc hại khác. Trong khu vực
nhà máy, người ta dùng nhiều loại lò đốt cũ của
Nhật không có thiết bị xử lý khí thải và tro thải, nên
tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất
ở khu vực này đang ngày càng trầm trọng.
4. Bangladesh: Tổ chức Hoà bình
xanh cũng đã kiểm tra khu phá dỡ tàu gần Chittagong thuộc
phía nam Bangladesh- một đất nước phụ thuộc rất nhiều
vào công nghiệp phá dỡ tàu để cung cấp nguồn nguyên
liệu thép cho sản xuất nội địa. Tại đây không hề có
một qui định nào về việc bảo vệ môi trường và sức
khoẻ người dân, không có biện pháp nào để quan trắc,
kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm cũng như các dụng cụ
bảo hộ lao động cho hơn 25.000 công nhân làm việc. Nhà máy
này chủ yếu phá dỡ các loại tàu chở dầu- những
loại tàu đã bị ấn Độ từ chối không phá dỡ theo như
quy định luật pháp của ấn Độ. Chưa có kết quả
thống kê nào về tình hình tử vong cũng như bệnh tật
của công nhân thuộc nhà máy phá dỡ tàu này, nhưng với
điều kiện làm việc không có quần áo bảo vệ, tiếp xúc
trực tiếp với khí độc và các chất độc hại, chắc
chắn tỷ lệ thương tật và tử vong ở đây sẽ thuộc
loại cao nhất vùng. Các khu vực lân cận nhà máy phá dỡ
tàu cũng bị nhiễm độc, nước biển bị bao phủ bởi
lớp dầu mỡ và các sinh vật biển trong khu vực này
hoặc đã chết, hoặc phải di chuyển sang vùng khác để
sinh sống.
IV. CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN
QUAN ĐẾN CÔNG NGHIỆP PHÁ DỠ TÀU CŨ
1. Một số hoá chất phát sinh
trong công nghiệp phá dỡ tàu cũ và tính độc hại của
chúng:
Như đã trình bày ở trên, trong
quá trình phá dỡ tàu phát sinh rất nhiều hoá chất độc
hại ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người.
Đó là:
- Amiăng: Bụi amiăng tích tụ
trong cơ thể, gây khó thở. Trong trường hợp tiếp xúc lâu
dài sẽ bị ung thư phổi, hoặc ung thư màng tế bào bao
quanh các cơ quan của cơ thể (mesothelioma).
- Chì tích tụ trong máu
và xương do tiếp xúc qua đường hô hấp và đường
ăn uống. Nhiễm độc chì sẽ gây ra bệnh thiếu máu,
nhiễm độc hệ thần kinh và thận.
- Asen có thể gây ung
thư phổi, da, hệ tiêu hoá, thận, gan và bàng quang.
Nhiễm độc asen cũng có thể gây nguy hiểm cho hệ
tuần hoàn, các tế bào thần kinh gây mất cảm giác
hoặc làm liệt.
- Một số đồng phân
của crôm có độc tính cao gây bệnh eczema (bệnh chàm),
bệnh đường hô hấp, thậm chí gây ung thư nếu hít
phải bụi và khói crôm.
- Các hoá chất hữu
cơ (TBT, TBTO, TBTCl) là những chất độc thần kinh. Các
chất này tích tụ trong máu, gan, thận và não. TBTO là
chất gây độc tức thời và cũng là chất gây đột
biến gen. Đối với các loài giáp sát, các hợp chất
hữu cơ này có thể ảnh hưởng đến nội tiết tố
(hệ thống hóc môn) gây tai biến sinh sản.
- PAHs (polycyclic
aromatic hydrocarbon compounds- các hợp chất hydro cácbon
mạch vòng thơm) có thể gây ra các loại bệnh ung thư,
trong đó có ung thư phổi, làm suy giảm hệ thống
miễn dịch và gây đột biến gen.
- Dioxin tích tụ trong
mô mỡ là chất gây ung thư và giảm hệ thống miễn
dịch.
2. Quy định của Công ước
Basel
Theo Công ước Basel, việc nhập
khẩu các loại tàu cũ để phá dỡ thực chất là một hình
thức nhập chất thải vào nước nhập khẩu. Hơn nữa,
chất thải ở đây là "chất thải kim loại độc
hại". Chính vì vậy, từ ngày 1 tháng 1 năm 1998, Công
ước Basel đã cấm xuất khẩu từ các nước EU đến các
nước không thuộc Tổ chức hợp tác phát triển kinh
tế(OECD) những loại tàu để phá dỡ trong đó có chứa
amiăng, asen, PCBs, kim loại nặng và sơn có chứa TBT.
3. Qui định của EU:
Qui chế của Cộng đồng châu Âu
(EEC) số 259/93 ngày 1/2/1993 là về việc kiểm soát và theo
dõi tất cả các hành động vận chuyển chất thải giữa
các nước EU và các nước ngoài EU. Như vậy, các tàu cũ
đưa đi phá dỡ cũng thuộc diện phải chịu sự kiểm soát
và theo dõi của Qui chế này.
4. Xu hướng của Tổ chức Hàng
hải quốc tế
Tháng 11 năm 1998, IMO tuyên bố
sẵn sàng xem xét việc " cấm sử dụng các hoá chất
hữu cơ (TBT, TBTO, TBTCl ) như một chất chống vi sinh bám tàu
dùng trong sơn từ năm 2003 và cấm sử dụng hoàn toàn
loại sơn có chứa các chất hữu cơ này đối với tàu
mới đóng từ năm 2008".
5.Qui định của các quốc gia:
a. Các nước công nghiệp phát
triển: Các nước này có rất nhiều qui định, hướng
dẫn cụ thể và nghiêm ngặt đối với công nghiệp phá
dỡ tàu. Thí dụ ở Đức, Luật quản lý chất thải và
bảo tồn nguyên liệu qui định rõ những chất thải có
chứa các chất như asen, kim loại nặng, sơn dầu, cặn
dầu, amiăng... cần phải được kiểm soát nghiêm ngặt và
có biện pháp xử lý, tiêu huỷ đảm bảo vệ sinh môi trường.
Hơn thế nữa, khi tàu nhập vào Đức để phá dỡ phải
tuân thủ nghiêm ngặt Luật về kiểm soát khí thải,
Luật về đánh giá tác động môi trường. Đặc biệt,
Luật về hoá chất của Đức cũng nghiêm cấm việc sử
dụng các hợp chất có chứa amiăng, asen, carbonate chì và
sulfat chì, PCBs, các hợp chất hữu cơ như TBT....
b. Các nước trong khu vực châu
á: Các nước trong khu vực này là thành viên của Công ước
Basel đều có đưa các yêu cầu trong các qui định luật
pháp của mình về việc phải tuân thủ nghiêm ngặt các
điều khoản của Công ước. Tuy nhiên có một thực tế là
trong khu vực này, hệ thống luật pháp bảo vệ môi trường
cũng như các văn bản pháp qui liên quan đến việc quản lý
các chất thải nguy hại nói chung và công nghiệp phá dỡ
tàu nói riêng còn chưa hoàn chỉnh, còn có nhiều lỗ
hổng do đó đã bị các các nhà đầu tư nước ngoài
lợi dụng, nhập khẩu các loại tàu có chứa các chất độc
hại vào các nước trong khu vực để phá dỡ.
6. Các hướng dẫn kỹ thuật:
Công ước Basel có ban hành một
loạt các hướng dẫn kỹ thuật trong việc xử lý, tiêu
huỷ các chất thải nguy hại có chứa Amiăng, Asen, chì,
dầu và cặn dầu, PCBs, sơn có chứa TBT...
Các nước công nghiệp phát
triển như Mỹ cũng có những hướng dẫn kỹ thuật cụ
thể trong việc xử lý, tiêu huỷ các loại chất thải phát
sinh trong quá trình phá dỡ tàu như nước thải, dầu
cặn, sơn, các loại hoá chất độc hại....
7. Nhận xét chung
Có thể nhận thấy rằng trên
thế giới, ở các khu vực và các quốc gia, các qui định
mang tính luật pháp về bảo vệ môi trường xung quanh
việc phá dỡ tàu cũ đã được ban hành và đang phát huy
tác dụng. Mặc dù vậy vẫn còn nhiều bất cập trong các
qui định này, đặc biệt là tính hệ thống của pháp
luật và tính hiệu quả thực thi của chúng.
Thực vậy, hiện nay trên thế
giới đang có xu hướng di chuyển dịch vụ phá dỡ tàu
từ các nước phát triển sang các nước nghèo, đây chính
là hình thức vận chuyển các chất thải nguy hại trên
qui mô toàn cầu, và hậu quả là các nước càng nghèo
sẽ nhận được ngày càng nhiều chất thải, đặc biệt
là chất thải nguy hại. Các tàu được đóng từ những năm
1970 là những tàu có chứa nhiều chất thải và hoá chất
độc hại nhất và giờ đây chúng đang được phá dỡ trên
bờ biển khu vực châu á, nơi không có sự kiểm soát nào
về môi trường và không có biện pháp an toàn lao động nào
được áp dụng. Tất cả các chủ tàu ở các nước EU giàu
có đều nhúng tay vào dịch vụ này và xuất những con tàu
hết thời hạn sử dụng của họ vào châu á. Đây chính
là hành động vi phạm Công ước Basel và các qui định
trong luật pháp của các nước thành viên EU là cấm xuất
khẩu các loại kim loại nhiễm độc sang các nước khác.
Một điều đáng lo ngại khác là
các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phá dỡ tàu luôn tìm cách
vi phạm các qui định luật pháp của các quốc gia nhập
khẩu tàu để phá dỡ. Chủ tàu, các cơ quan chức năng,
doanh nghiệp phá dỡ tàu và đôi khi cả chính phủ các nước
nhập tàu vì quyền lợi kinh tế trước mắt đã quên
mất nguyên tắc vàng trong vấn đề bảo vệ môi trường
là: Tái sử dụng, tái sản xuất, tái chế càng nhiều càng
tốt và xử lý, tiêu huỷ các chất thải nguy hại phải
trong khả năng môi trường cho phép, đảm bảo an toàn và
vệ sinh môi trường.
V. VẤN ĐỀ PHÁ DỠ TÀU CŨ
Ở VIỆT NAM
Hiện nay, công nghiệp phá dỡ tàu
đang dần hình thành ở Việt Nam. Từ những năm 1990, khi
chưa có Luật Bảo vệ môi trường, ở Việt Nam đã có
một cơ sở phá dỡ tàu của quân đội đóng tại miền
Trung. Sau đó, đến khoảng những năm1997-1998, lại có thêm
một cơ sở xin đăng ký hoạt động phá dỡ tàu ở phía
Nam (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), và gần đây ở phía Bắc
(Hải Phòng) xuất hiện thêm một cơ sở nữa dự kiến
thực hiện việc phá dỡ tàu cũ.
Nhận thức được nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng trong quá trình phá dỡ tàu
cũ, sau khi Luật Bảo vệ môi trường được ban hành, Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã yêu cầu các cơ
sở phá dỡ tàu cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh
khác phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường.
- Đối với các cơ sở hoạt động
từ trước khi có Luật Bảo vệ môi trường: Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường đã chỉ rõ rằng hoạt động
của cơ sở phá dỡ tàu cũ sản sinh nhiều loại chất
thải khí, lỏng, rắn. Chính vì vậy, Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường yêu cầu cơ sở phải có các biện
pháp khống chế ô nhiễm nghiêm ngặt, phải có hệ thống
xử lý nước thải đạt TCVN, có bãi chôn lấp chất
thải rắn và có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu
chuẩn môi trường của Việt Nam. Công tác giám sát hoạt
động của cơ sở được giao cho Sở Khoa học, Công nghệ
và Môi trường địa phương.
- Đối với các cơ sở được hình
thành sau khi có Luật Bảo vệ môi trường: Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường khẳng định công nghiệp phá
dỡ tàu là một ngành công nghiệp có tiềm năng gây ô
nhiễm môi trường cao. Do vậy, Bộ yêu cầu các chủ đầu
tư phải đầu tư kinh phí để xử lý chất thải đạt tiêu
chuẩn môi trường. Bộ cũng khẳng định, nếu trong quá
trình hoạt động, cơ sở có dấu hiệu gây ô nhiễm thì
sẽ bị đình chỉ hoạt động và phải bồi thường
thiệt hại. Đặc biệt, theo yêu cầu của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường thì chủ đầu tư chỉ thực hiện
việc phá dỡ tàu trong nước, không nhập tàu nước ngoài
để phá dỡ.
Như vậy, Việt Nam đã có những
biện pháp cần thiết bước đầu nhằm ngăn ngừa tình
trạng ô nhiễm môi trường do công nghiệp phá dỡ tàu gây
ra. Tuy nhiên, với những thông tin mới nhất về hoạt động
phá dỡ tàu cũ này, về tính độc hại và những nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường do hoạt động đó gây ra, chúng
ta cần xem xét lại một cách toàn diện hoạt động này,
tăng cường hơn nữa các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm,
kiểm tra, giám sát và ban hành các văn bản pháp qui, các
qui định, qui chế và các hướng dẫn kỹ thuật nhằm
bảo vệ môi trường và sức khoẻ người dân.
VI. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ
Công nghiệp phá dỡ tàu cũ có
thể mang lại lợi nhuận cho một số doanh nghiệp và cung
cấp một phần nguyên liệu cho ngành công nghiệp thép, tuy
nhiên trong quá trình phá dỡ tàu sẽ làm phát sinh rất
nhiều chất thải nguy hại, ảnh hưởng nghiêm trọng đến
môi trường và sức khoẻ con người mà ta nhất thiết
phải quan tâm giải quyết. Để các hoạt động liên quan
đến phá dỡ tàu ở nước ta phát triển được tốt, chúng
ta cần:
1. Khẩn trương thảo luận đi đến
thống nhất về chủ trương phát triển hoạt động này
giữa Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường, Bộ Giao thông
Vận tải, các bộ và các công ty liên quan.
2. Xây dựng hệ thống văn bản
pháp qui chặt chẽ bao gồm cả những hướng dẫn kỹ
thuật đối với việc xử lý các loại chất thải phát
sinh trong quá trình phá dỡ như amiăng, nước thải, cặn
dầu, kim loại nặng và chất thải sơn có chứa hoá chất
độc, cũng như các chất độc phát sinh trong quá trình
cắt nhỏ mảng tàu như dioxin.
3. Bảo đảm làm sạch các chất
độc hại của các tàu trước khi đưa vào phá dỡ; xử lý
giảm thiểu những tác hại lên môi trường và sức khoẻ
con người do quá trình phá dỡ tàu gây ra.
4. Kiểm tra, giám sát chặt chẽ
về mặt môi trường các cơ sở phá dỡ tàu, bắt buộc các
cơ sở phải thực hiện nghiêm chỉnh các qui định liên
quan đến Luật Bảo vệ môi trường và các yêu cầu của
Quyết định phê chuẩn báo cáo đánh giá tác động môi
trường.
5. Tham gia đóng góp vào các nỗ
lực quốc tế nhằm:
- Xây dựng một thị trường không
độc hại: Chấm dứt ngay việc xuất khẩu các chất độc
hại trái qui định của Công ước Basel về cấm xuất
khẩu những loại tàu có chứa các chất độc hại từ các
nước OECD sang các nước khác trên thế giới; Hoàn thiện
hệ thống pháp luật về vấn đề này.
- Xây dựng tiêu chuẩn môi trường
toàn cầu đối với các nhà máy phá dỡ tàu; áp dụng các
công nghệ hiện đại, an toàn và bảo vệ môi trường
trong công nghiệp phá dỡ tàu.
- Sử dụng các loại nguyên vật
liệu ít độc hại và không độc hại trong đóng mới các
loại tàu biển
HỘI BẢO VỆ
THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
TÀI LIỆU DỊCH
PHỤC VỤ CỘNG ĐỒNG
LIỀU LĨNH TÌM KIẾM
CHẤT THẢI
SUNITA
NARAIN
Giám
đốc Trung tâm KH&MT (CSE)
Giới
thiệu về tác giả: Bà
Sunita Narain là Giám đốc Trung tâm Khoa học và Môi trường,
một tổ chức phi chính phủ về môi trường nổi tiếng
của Ấn Độ. Với bề dày hoạt động môi trường 25 năm
nay, Trung tâm đã có rất nhiều thành tích trong các lĩnh
vực quản lý nước, quản lý tổng hợp bền vững tài
nguyên dựa trên cộng đồng và bình đẳng giới, truyền
thông, tư vấn và phản biện đối với các hoạt động
của các cơ quan chính phủ có liên quan đến môi trường.
Trung tâm đã nhận được Giải thưởng Nước Stockholm năm
2005, là tổ chức thứ ba trên thế giới và đầu tiên
của các nước đang phát triển vinh dự được nhận
phần thưởng này.
Khi
các bạn đọc những dòng này thì có thể quyết định đã
được đưa ra về việc cho phép hay không cho phép chiếc
tàu chiến Le Clemenceau của Pháp vào ?n Độ để được
tháo dỡ với khối lượng không rõ các chất độc hại
trong cấu trúc của tàu. Quyết định có thể là về
việc bắt tàu quay trở lại Pháp để loại bỏ các thành
phần độc hại hay gửi chất thải amiăng trả lại Pháp
sau khi chất này được lấy ra khỏi con tàu. Nhưng dù
quyết định có là thế nào đi nữa thì điều quan trọng
là vấn đề của con tàu Le Clemenceau đã không bị chôn
vùi cùng xác tàu tại bãi chôn lấp tàu Alang.
Điều
quan trọng mà chúng ta cần phải hiểu là đây không phải
là con tàu đầu tiên hay cuối cùng đến vùng biển của
?n Độ để được tháo dỡ cùng với các chất thải
rất độc hại của nó. Cũng cần phải hiểu ra rằng
chất thải nguy hại từ nước ngoài vào ?n Độ không
chỉ trên các con tàu, mà cái nghèo của chúng ta - cả về
tài chính lẫn tinh thần - có thể làm cho đất nước
chúng ta trở thành bãi rác lớn nhất thế giới khi chúng
ta nhập khẩu ngày càng nhiều chất thải để tái sử
dụng và tái chế. Điều này đặc biệt quan trọng đối
với một nước đang bắt đầu tạo ra những lượng
chất thải độc hại lớn trong khi họ có rất ít nguồn
lực đê loại bỏ chúng.
Chúng ta cần nhận thức được rằng các thoả thuận
toàn cầu về buôn bán rác thải đã thất bại. Đầu
những năm 1990 thế giới đã cố gắng "vá víu"
Công ước Basel, sau cú sốc chứng kiến các tàu loại như
Le Clemenceau chở rác thải đi từ nước này sang nước
khác để tìm chỗ đổ chất thải. Khi đó các nước
công nghiệp đang phát triển mạnh mẽ và cũng đang thải
ra rất nhiều rác thải. Họ cần có các bãi thải rẻ.
Châu Phi là vùng đất được họ ưu tiên với những
chuyến vận chuyển lén lút và công khai chất thải độc
hại của Phương Bắc giàu có đến lục địa nghèo khó
này.
Cả thế giới bị sốc về sự thật này. Vì vậy, người
ta quyết định xây dựng một thoả thuận nhằm kiểm
soát việc vận chuyển xuyên biên giới đối với chất
thải nguy hại. Đó thật là một ý đồ quả cảm - ngăn
chặn toàn bộ việc buôn bán chất thải độc hại. Nhưng
dần dần sự nhiệt tình "xanh" đã phải nhường
chỗ cho thực tiễn "nâu". Người ta đã thoả
thuận rằng các nước có khả năng xử lý chất thải
cần được cho phép buôn bán thứ hàng bẩn này. Câu lạc
bộ các nhà quản lý chất thải giàu có, bao gồm các nước
OECD và các nước Châu Âu khác, được hình thành để
chia thế giới thành 2 nửa với một bên là các nước có
thể xử lý và một bên là các nước không thể xử lý
chất thải. Trong hệ thống phân chia đẳng cấp theo chất
thải này, những quốc gia nghèo hơn muốn trèo lên các
nấc thang chất thải giàu có đều bị ngăn cản.
Sau cùng, chất thải cũng là một loại tài nguyên và
vì vậy người ta đã thỏa thuận rằng cần phải cho
phép mua bán với mục đích tái sử dụng hoặc tái chế.
Điều mỉa mai là chính những nước nghèo trước đây
yêu cầu cấm buôn bán các chất độc hại bây giờ lại
muốn việc buôn bán này được tiếp tục. Họ tạo ra
thị trường cho chất thải bởi vì họ có thể xử lý
loại chất bẩn này để thu hồi nguồn nguyên liệu, từ
giấy cho đến kim loại thải. Thế giới giàu, cùng với
tất cả ý thức đạo đức xanh của họ,
cũng cần đến các phương thức hiệu quả về chi
phí để xử lý rác thải độc hại và không-độc-hại-lắm
của họ.
Như vậy, người ta bắt đầu né tránh các ràng buộc
của Công ước Basel. Người nghèo trở thành tấm chắn
cho người giàu, giống như nhiều vấn đề môi trường
khác, và người ta đã thỏa thuận cho phép buôn bán chất
thải độc hại khi phục vụ mục tiêu tái sử dụng và
với điều kiện các thiết bị tái chế chất thải đảm
bảo được các tiêu chuẩn môi trường.
Giữa những năm
1990 người ta đã quyết định rằng, do không thể bảo đảm
được việc giám sát thường xuyên các "thiết bị
xử lý xanh" này nên việc xử lý trên cần bị cấm.
Nhưng văn bản cấm này chưa bao giờ được ban hành bởi
vì nó sẽ đụng chạm đến quyền lợi của các nhà sản
xuất chất thải giàu và các nhà thu thập rác nghèo. Điều
đáng chú ý là tất cả các nỗ lực nhằm buộc người
giàu "có trách nhiệm pháp lý" đối với sự tuân
thủ đều thất bại giống hệt như các nỗ lực nhằm
tối thiểu hóa việc sản xuất chất thải nguy hại.
Như vậy Công ước là về điều chỉnh buôn bán
chất thải độc hại. Nhưng cả ở đây nó cũng bị
thất bại thảm hại. Các đồng nghiệp của tôi đã lục
lọi các dữ liệu do các nhân viên hải quan mẫn cán thu
thập được về các hàng hóa nhập khẩu. Họ đã phát
hiện ra rằng ?n Độ tiếp tục là đích đến ưu tiên
của các loại rác thải và hàng bẩn, từ thủy ngân cho
đến tro của các lò đốt. ?n Độ nhập khẩu cả chất
thải y tế mà chính các nhân viên hải quan nói rằng nó
có thể bị nhiễm các nguồn bệnh. Trong khi đó bản thân
?n Độ chưa thể xử lý chất thải của nước mình.
Chính phủ ?n Độ nói rằng việc buôn bán tất cả
các chất thải nguy hại vào ?n Độ đều bị cấm. Các
nhà xuất khẩu chất thải Châu Âu và Mỹ nói rằng họ
tuân thủ Công ước Basel và không tham gia buôn bán
"hàng bẩn". Như vậy tại sao điều này lại xảy
ra?
Ta hãy lấy ví dụ về thủy ngân. ?n Độ đang nhập
khẩu một lượng lớn thủy ngân từ Châu Âu và Mỹ.
Vấn đề là ở chỗ thủy ngân bị cấm buôn bán khi nó
là chất thải hoặc có chứa trong chất thải khác. Nhưng
các nước giàu, đang loại bỏ thủy ngân do các quan ngại
về sức khỏe, lại "bán" các kho thủy ngân đã
bị thải loại như là thủy ngân mới. Sự không chân
thật tiếp tục được phơi bày. Thật đáng xấu hổ.
Ví
dụ khác về tro từ lò đốt hoặc phế liệu kim loại.
Nhà nhập khẩu ?n Độ khi mua các loại hàng bẩn này từ
Mỹ hoặc Ôxtrâylia viện lý do rằng nhập khẩu phục vụ
việc tái sử dụng, nhằm thu hồi các kim loại
"quý" cho nền kinh tế ?n Độ. Việc buôn bán này
không bị coi là nguy hại ở ?n Độ. Những nhà sản xuất
chất thải ở các nước giàu không thể bán loại tro
này. Nhưng các nhà sản xuất ?n Độ thì lại được
phép.
Chính phủ nói rằng họ giám sát tất cả các chất
độc hại nhập khẩu với mục đích tái sử dụng nhưng
họ không thể giải thích cho bạn chất thải đang đi về
đâu: nó nằm trong sản phẩm hay bị vứt bỏ ở nơi nào
đó trong nước. Điều này làm bảng liệt kê các chất độc
hại trở nên không đầy đủ và bóp méo định nghĩa về
sự nguy hại.
Mua bán chất thải kiểu này là công việc bẩn thỉu.
Để loại bỏ sự bẩn thỉu này cần có những nỗ lực
thường xuyên nhằm cảnh báo trước về sự cập bến
của những con tàu kiểu Le Clemenceu.
NHY xử lý
Nguồn: CSEs
Fortnightly News Bulletin, ngày 24/2/2006.
THEO
DÒNG SỰ KIỆN VỀ TÀU CLEMENCEAU
Vài nét về tàu Clemenceau:
Đây
là tàu sân bay chiến đấu loại lớn của Pháp đã hết
hạn sử dụng và cần được loại bỏ. Con tàu rời Pháp
vào ngày 31/12/2005 trên đường đi đến cảng Alang của ?n
Độ để được phá dỡ. Tổ chức Hoà bình Xanh và các
tổ chức khác đã phát động chiến dịch ngăn chặn
chuyến đi này vì tàu có chứa hỗn hợp các chất độc
hại như amiăng, PCB (polyclobiphenyl) và kim loại nặng. Đây
là việc làm vi phạm nghiêm trọng Công ước Basel: cấm
xuất khẩu chất thải độc hại từ các nước phát
triển sang các nước ngoài OECD.
NGÀY 12/1/2006
Các
nhà hoạt động của Tổ chức Hoà bình Xanh đã lên con tàu
sân bay Clemenceau để kiểm tra và rời tàu sau 1 ngày sau
khi biết về quyết định của Ai Cập không cho tàu qua kênh
Suyê khi chưa có các giấy tờ cần thiết.
NGÀY 16/1/2006
Toà
án Tối cao ấn Độ ban hành quyết định tạm thời ra
lệnh không tiếp nhận con tàu vào ấn Độ. Ngày 13/2 Toà
sẽ ra quyết định cuối cùng. Cho tới lúc đó tàu
Clemenceau phải ở ngoài các vùng nước của ấn Độ.
Tại
Pháp, vụ việc cũng khiến nhiều người quan tâm.
Các bộ trưởng liên quan đã có cuộc họp khẩn
cấp và đã gửi đến Ai Cập một tuyên bố theo yêu cầu
của nước này. Tại tuyên bố trên họ bảo đảm về
sự an toàn và sạch sẽ của việc tháo dỡ Clemenceau,
rằng Clemenceau chỉ chứa một khối lượng rất nhỏ amiăng.
Tuy nhiên, đại diện của công ty Technopure đã bác bỏ điều
này. Công ty này đã được chính phủ Pháp ký hợp đồng
để khử ô nhiễm cho Clemenceau trước khi lên đường đến
?n Độ nhưng họ đã bỏ hợp đồng và đã tiết
lộ thông tin về khối lượng amiăng thực trên tàu: ít
nhất là 500 tấn nhưng cũng có thể lên tới 1000 tấn.
Sau khi Toà án Tối cao ?n Độ ra quyết định tạm dừng
việc cho phép tàu Clemenceau vào ấn Độ thì Toà án Tối
cao Pháp cũng bắt đầu thảo luận về vấn đề này do có
các khiếu nại của Tổ chức Hoà bình Xanh, Tổ chức Nhân
quyền FIDH và Mạng lưới về Cấm Amiăng.
Các
tổ chức nêu trên yêu cầu việc phá dỡ tàu Clemenceau
phải được thực hiện ở Pháp theo đúng các tiêu chuẩn
an toàn và môi trường. Theo họ thì bản thân nước Pháp
có các quy định rất ngặt nghèo về amiăng nhưng chính
phủ Pháp đã không ngần ngại chuyển cho những công nhân
Châu Á phá dỡ tàu với hai bàn tay không.
Vụ
Clemenceau là trường hợp thử thách đối với 3 phía có
quyền lợi liên quan đến việc phá dỡ các tàu đã hết
hạn sử dụng: Pháp hiện nay có khoảng 55 tàu cỡ như
Clemenceau và rất muốn loại bỏ chúng một cách rẻ
nhất; Ai Cập sở hữu kênh đào Suyê và sẽ thất thu phí
khi không cho các con tàu đi qua; còn ?n Độ có thể đang lo
sợ sẽ mất đi ngành công nghiệp phá dỡ tàu của mình.
Tổ
chức Hoà bình Xanh hoan nghênh quyết định của Toà án
tối cao ?n Độ trên cơ sở Công ước Basel. Tổ chức này
cho rằng quyết định sẽ giúp ngăn ngừa sự phá
huỷ nghiêm trọng đối với môi trường ?n Độ và cứu
sống rất nhiều công nhân làm việc phá dỡ tàu tại ấn
Độ.
NGÀY 14/2/2006
Toà
án Tối cao Pháp, một đại diện của Chính phủ trong
Hội đồng nhà nước, đã đưa ra khuyến nghị dừng
việc chuyển con tàu Clemenceau đến ?n Độ và chỉ ra
rằng việc này có thể vi phạm luật pháp của Châu Âu.
NGÀY 15/2/2006
Tổng
thống Chirac đã thông báo quyết định cuối cùng về
việc yêu cầu con tàu quay lại Pháp. Cùng ngày, Tổ chức
Hoà bình Xanh đã hoan nghênh quyết định này của Tổng
thống Pháp.
Ông
Pascal Husting, Giám đốc điều hành người Pháp của Tổ
chức Hoà bình Xanh đã phát biểu: "Trong thế giới toàn
cầu hoá ngày nay, điều sống còn đối với các quốc
gia, như Pháp và ?n Độ chẳng hạn, là phải hợp tác để
giữ gìn công lý trên toàn cầu và không đẩy trách
nhiệm của mình một cách đáng xấu hổ cho các vùng dễ
bị tổn thương của hành tinh."
Con
tàu Clemenceau là một trong những con tàu lớn nhất được
đưa đi phá dỡ nhưng hàng năm
đều có hàng loạt những con tàu già nua mang trên mình
các chất độc hại như amiăng, PCB và kim loại nặng được
đưa đến phá dỡ tại các bãi phá dỡ ở Châu Á
(Bangladesh, ?n Độ, Trung Quốc, Pakistan). ? đó chúng được
cắt phá bằng các phương pháp thô sơ nhất, gây
những thiệt hại to lớn cho sức khoẻ con người và môi
trường tại địa phương.
NHY xử lý
Nguồn:
http://www.greenpeaceweb.org/shipbreak/
50 SHIP IN THE SPOTLIGHT
(Theo Website: www.greenpeaceweb.org/)
Greenpeace has selected 50 ships which might be scrapped
soon. We have asked the owners of these ships to declare that their
ships will be decontaminated before scrapping at Asian countries.
Until that time Greenpeace will follow and monitor these (and other)
ships.
Chemical tanker
Sandrien
Stolt
Sincerity
Bow
Sea (renamed Bow Condor)
Crystalventure
(renamed Cataumet) (renamed Kesaria)
Jo
Gran
Container ship
MSC
Insa
Zim
Odessa I (renamed MSC Arabia)
S.A.
Helderberg
Dal
Kalahari (renamed MSC Manu)
MOL
Wellington
Fort
Royal (renamed CMA CGM Arno)
Sea-Land
Mariner
Oil tanker
Magnolia
Prince
William Sound
Sailor
(renamed Marleen)
Sotka
New
Atlantia
Alfa
America (renamed Alfaship)
Berge
Pioneer (renamed Belokamenka)
Marine
Pacific
LMZ
Valia (renamed Alia)
Atlantida
Other
Flag
Rolaco (renamed Doric Glory)
Bulkazores
Montreux
(renamed Montreaux)
Methania
Anita
G.
Impala
(renamed Ryong Gang 2)
Cormo
Express
Marietta
C.
Nirint
Explorer (renamed Explorer I)
Silver
Ray (renamed Naxos I) (renamed Trust Europe)
Carnisteo
Coloosahatchee
Peregine
Lorraine
Gudermes
Passenger ship
Rembrandt
Norway
Pacific
Princess (renamed Pacific)
Stena
Seatrader
Rhapsody
Scrapped
Leader
River
Stream
Irene
Ve
Gerd
(renamed Tulip)
Kilchem
Acid/Sichem Acid (renamed Acid Queen)
Mayaguez
(renamed Horizon Mayaguez)
Edinburgh
Byzantio
Grizzly
Violet
Progreso
Kithira
Artemis
II
Berge
Odel
Verdi
(renamed Nikolaos) (renamed Parvati II)
Galapagos
(renamed Gala)
Stavros
G.L.
Arcadian
I
Fair
Eco
Kapetan
Giorgis
Sealion
I (renamed Impros)
Sfakia
Flandre
Valle
Bianca
Lady
Ema (renamed W.S. Voyager)
Athenian
Valour
Onda
Cerigo
Isola
Scarlatta
Athenian
Xenophon (renamed Ocean Xenaphon)
New
Jane
Kapetan
Hiotis
Pacific
Jasmin
Ferbec
(renamed Michalakis)
Hesperus
Isola
Turchese
Pacific
Emerald
Nikaia
Nirint
Progress
The
Big Red Boat III
Costa
Riviera
Mariprima
DWT: deadweight tonnage is carrying capacity of ship in ton
(an oil tanker of 200 DWT can carry 200 ton oil)
GT: gross tonnage is content of ship in cubic metres
LDT: light displacement tonnage, almost similar to the nett
weight of a ship, it is a general used measurement to calculate the
scrap value of a ship
We
need YOUR help to spot these ships and identify other ships that are
in danger of sailing towards the beaches of Asia without being
decontaminated.
SO SÁNH QUỐC
TẾ VỀ MÔI TRƯỜNG: BẢNG CHỈ SỐ BỀN VỮNG MÔI TRƯỜNG
CÁC NƯỚC
Tháng 1 năm 2005,
Diễn đàn Kinh tế Thế giới họp tại Davos (Thuỵ Sỹ)
công bố bản báo cáo hàng năm về Chỉ số về tính
bền vững môi trường. Các chuyên gia tính điểm trung bình
của 21 chỉ số, như: lượng khí thải nhà kính, chất lượng
nước, không khí, đất, sức khoẻ con người có liên
quan tới môi trường, trình độ khoa học và công nghệ,
khả năng quản lý tài nguyên, khả năng giảm áp lực dân
số …, từ đó tính ra chỉ số bền vững môi trường.
Điểm số cao phản ánh khả năng bảo vệ môi trường
tốt hơn trong nhiều thập kỷ tới. Điểm số thấp hơn
thể hiện tính bền vững của môi trường yếu hơn.
Dưới đây
là bảng thông báo chỉ số bền vững của môi trường
của các nước trên thế giới.

Về
đầu trang
|