NHẬP
KHẨU THÁO DỠ TẦU CŨ
VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
[English]
TOẠ
ĐÀM “NHẬP KHẨU, PHÁ DỠ TẦU CŨ VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG”
|
Cộng
đồng với Môi trường:
Ngày 26/9/2006, Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam (VUSTA) phối
hợp với Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt
Nam tổ chức cuộc Toạ đàm “NHẬP KHẨU, PHÁ DỠ TẦU CŨ
VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG”. "Cộng đồng với Môi trường”
xin đăng tải diễn biến của cuộc Toạ đàm và các
báo cáo đã được trình bày. |
Tường thuật
diễn biễn cuộc Toạ đàm
Vấn
đề BVMT xung quanh việc phá dỡ tàu cũ (Nguyễn Ngọc Sinh,
Lê Bích Thuỷ)
Pháp luật Thương mại
và Pháp luật Môi trường với vấn đề nhập khẩu tàu cũ
để phá dỡ (Nguyễn Văn Phương)
Nhập
khẩu, phá dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường (Nguyễn Tiến
Nghi)
Hiện
trạng môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu cũ tại Hải
Phòng (Đào Viết Tác)
Tham
luận của ông Nguyễn Văn Quý, Giám đốc C. ty TNHH Quý Hải,
Hải Phòng
Phá
dỡ tàu biển - ảnh hưởng môi trường và khuôn khổ pháp
lý hiện hành (Cục BVMT)
Mét
sè th«ng tin vÒ chÊt th¶i ë ViÖt Nam vµ mét vµi ý kiÕn liªn quan ®Õn viÖc b¶o vÖ m«i trêng
víi
viÖc ph¸ dì tÇu biÓn nhËp khÈu (Ph¹m V¨n T©n)
Tin
các báo sau cuộc Toạ đàm
Các
tin đã đưa trước
TOẠ ĐÀM
“NHẬP KHẨU, PHÁ DỠ TÀU CŨ VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG”
Như
tin đã đưa, sáng 26/9/2006, tại Hội trường 53 Nguyễn Du,
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam phối
hợp với Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt
Nam đã tổ chức buổi Toạ đàm về “Nhập khẩu, phá
dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường”. Tham dự cuộc
Toạ đàm có trên 70 đại biểu
đại diện cho các hiệp hội, hội trung ương và địa
phương, các doanh nghiệp, các nhà khoa học, các luật sư,
đại diện một số cơ quan quản lý và đông đảo các phóng
viên các báo, đài Trung ương và Hà Nội. Đồng chủ trì
Toạ đàm là PGS. TS. Hồ Uy Liêm, Phó Chủ tịch kiêm
Tông thư ký Liên hiệp Hội và TS. Nguyễn Ngọc Sinh, Chủ
tịch Hội BVTN&MT Việt
Nam.
Mở đầu cuộc Toạ đàm,
TS. Nguyễn Ngọc Sinh và Ths. Lê Bích Thuỷ đã trình bày báo
cáo “Tổng quan về phá dỡ tài cũ”, trong đó giới
thiệu sơ lược về lịch sử phá dỡ tàu cũ, về các
chất độc hại phát sinh trong quá trình đó, về các quy
định của quốc tế liên quan. Báo cáo đã cho thấy
nhiều hình ảnh về quá trình phá dỡ rất thủ công, không
bảo đamt môi trường và an toàn lao động ở các nước
châu Á, kể cả ở Việt Nam. B
áo cáo kết luận, phá dỡ tàu cũ là một ngành công
nghiệp gây ô nhiễm môi trường, các tàu cũ được đưa
đi phá dỡ chính là chất thải công nghiệp, thậm chí là
chất thải nguy hại. Báo cáo cũng chỉ ra xu hướng di
chuyển dịch vụ phá dỡ tàu cũ từ các nước phát
triển sang các nước nghèo – và đây là việc làm vi
phạm các quy định quốc tế.
Báo
cáo của ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội
Thép Việt Nam nêu lên những bức xúc trong việc nhận
thức của các doanh nghiệp ngành thép đối với các quy định
cụ thể của Luật
bảo vệ môi trường 2005 (Điều 42, 43), nhấn mạnh phế
liệu thép là nguyên liệu chính cho sản xuất thép
hiện nay (nhu cầu nhập khẩu phế liệu thép có
thể tới 2 triệu tấn/năm) và kiến nghị xem lại điều
42,2b và điều 43 mục 2 của Luật bảo vệ môi trường
2005 cũng như khẩn trương xây dựng hệ thống tiêu chuẩn
Việt Nam để áp dụng khi nhập khẩu phế liệu theo hướng
thuận tiện, thông thoanngs mà vẫn bảo đảm môi trường.
Báo caos cũng cho thấy
việc không cho phép nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương
tiện giao thông vận tải để phá dỡ là không hợp lý, là
gây thiệt thòi cho ngành thép và cho đất nước.
Ông
Nguyễn Văn Quý, Giám đốc Công ty TNHH Quý Hải cũng đồng
tình với nhiều lập luận và dẫn liệu mà ông NGuyễn
Tiến Nghi đã nêu ra, đồng thời nêu rõ những khó khăn mà
các doanh nghiệp nhập khẩu và phá dỡ tàu cũ đang gặp
phải do sự không nhất quán của một số quy định pháp
luật hiện nay. Ông nhấn mạnh rằng, theo ông, hiện nay các
quy định về việc cấm nhập khẩu về để phá dỡ chủ
yếu dựa vào các số liệu của nước ngoài, các số
liệu đã có từ trước năm 2000 mà thiếu hẳn các số
liệu thực tế của Việt Nam, rằng công tác làm luật
của chúng ta còn nhiều bất cập. Ông mong muốn nhanh chóng
có được các giải pháp kịp thời và có hiệu quả để
các doanh nghiệp giảm thiểu thiệt hại trước mắt và định
hướng kinh doanh lâu dài.
Báo
cáo “Hiện trạng môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu
cũ tại Hải Phòng” của TS. Đào Viết Tác và TS. Ngô Kim
Định (Hội BVTN&MT Hải Phòng) dường như đã trả
lời một số vấn đề đặt ra trước đó khi đưa ra các
số liệu điều tra nghiên cứu và kết luận rằng, tại
Hải Phòng, các cơ sở phá dỡ tàu cũ (9 cơ sở đã được
điều tra) phần lớn chưa thực hiện đúng các văn bản
quy phạm pháp luật về môi trường; các chất thải, kể
cả chất thải nguy hại phát sinh trong quá trình phá dỡ
phần lớn để rơi vãi tự do trên mặt đất, rơi xuống
sông; các phao quây dầu tại các cơ sở chỉ mang tính đối
phó; không có biện pháp để ngăn chặn hay giảm thiểu khí
thải độc hại và tiếng ồn; công nhân trực tiếp phá
dỡ chưa được trang bị đầy đủ trang bị bảo hộ lao
động.
Sau
khi phân tích các quy định của pháp luật thương mại và
pháp luật môi trường liên quan tới vấn đề nhập khẩu
tàu cũ để phá dỡ, ThS Nguyễn Văn Phương Đại học
Luật Hà Nội đã kết luận, theo quy định của Điều 80
Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1997, trong trường
hợp này phải áp dụng Luật Bảo vệ môi trường 2005, có
nghĩa là hành vi nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ là không
được phép. Và như vậy, theo điều 7 Luật doanh nghiệp
2005, nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ là hành vi bị pháp
luật hiện hành cấm, các doanh nghiệp sẽ không được
kinh doanh trong lĩnh vực này.
GS. TSKH Nguyễn Văn
Trương, Anh hùng lao động là người đầu tiên phát biểu
ý kiến, khẳng định việc nhập tàu cũ là một xu hướng
các nước giàu đem rác đến đổ cho các nước nghèo,
chúng ta không nên chỉ vì mục đích kinh tế mà làm cho đất
nước ta trở thành bãi rác thải của nước ngoài.

GS. Trần Hiếu
Nhuệ, Viện trưởng
Viện nước và Kỹ huật môi trường, TS. Phạm Quang
Hiệp, Viện trưởng Viện Phát triển nông thôn, Hội Bảo
vệ thực vật Việt Nam nhấn mạnh việc phải đánh giá
hết tác hại đối với môi trường của việc nhập
khẩu và phá dỡ tàu cũ và cảnh báo rằng, cần phải
rút ra bài học từ các nước khác để tránh phải trả
giá về môi trường.
TS. Nguyễn Ngọc
Sinh cung cấp thêm các thông tin để khẳng định xu thế
các nước phát triển đang đẩy ngành phá dỡ tàu cũ gây
ô nhiễm và không kinh tế sang các nước đang phát triển
châu Á, chỉ ra mức độ rất thấp về sự bền
vững về môi trường của Việt Nam,đã được diễn đàn
kinh tế thế giới công bố. Đấy là những cảnh tỉnh
về nhập khẩu tầu để
phá dỡ. Tiến sỹ cũng nêu câu hỏi: tại sao một ngành
như công nghiệp thép của Việt Nam lại dựa phần chính
vào nhập khẩu phế liệu thép trong khi chúng ta có mỏ
sắt Thạch Khê với trữ lượng trên 500 triệu tấn và
nhiều nguồn khác.
Ông Nguyễn Tiến
Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội thép Việt Nam cho biết sản
lượng thép của nước ta hiện nay dựa vào sắt thép
phế liệu thu gom trong nước (800.000 tấn/năm), nhưng phải
nhập tới 260.000 tấn, trong đó phá dỡ tàu cũ chiếm
khoảng 25 %. Ngành thép cũng đang nỗ lực để đến năm
2010 sẽ chủ động hơn trong việc cung cấp thép cho đất
nước.
Ông Hứa Chiến
Thắng, Văn phòng Uỷ ban Nhà nước về điều tra cơ bản
quản lý tài nguyên biển thông báo, Cục Hàng hải Việt
Nam đã hoàn thành công trình nghiên cứu về ô nhiễm môi
trường ven biển, trong đó kết luận không nên nhập tàu
cũ về phá dỡ vì gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Hơn nữa, Việt Nam chưa có khả năng xử lý chất thải
nguy hại, nếu đổ chất thải của quá trình phá dỡ tàu
cũ ra môi trường thì sẽ ảnh hưởng tới sức khoẻ
của cộng đồng và rất tốn kém để khắc phục hậu
quả.
Ông Giám đốc
Nguyễn Văn Quý nêu nhận xét là ngay cả các nước tiên
tiến như Đức, Bỉ vẫn phá dỡ tàu cũ; còn ở Việt Nam
thì công nghệ hạ thuỷ tàu cũng cũng dùng tới vài chục
tấn mỡ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường, trong
khi đó các công ty Việt Nam chỉ nhập tàu cũ là tàu đánh
cá, tàu chở hàng, tỷ lệ độc hại dưới 5 % thì lại
không được nhập.
Ông Phạm Văn
Tân, Phó Tổng thư ký Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ
thuật Việt Nam cho biết hiện có trên 1 triệu tàu bị đánh
chìm dưới đáy đại dương, ở Việt Nam thời gian gần
đây chất thải tăng gấp 3 lần. Ta vẫn phải phá dỡ
tàu cũ của ta, nhưng phải hoàn thiện công nghệ và bảo
đảm an toàn cho người lao động. Cơ sở nào gây ô
nhiễm cũng sẽ phải bị xử lý.
Ông Nguyễn Quang
Tuyến, Đại học Luật Hà Nội đề xuất giải pháp
giải quyết tình thế là các tàu nhập trước 1/7/2006 có
thể cho phép phá dỡ,
nhưng phải xử lý môi trường; còn về lâu dài, phải
kiểm tra các doanh nghiệp phá dỡ tàu,
nếu không đủ năng lực bảo đảm môi trường thì
phải chuyển đổi ngành nghề.

Ông Nguyễn Đình
Minh, Vụ trưởng Văn phòng Chính phủ, ông Trương Mạnh
Tiến , Vụ trưởng Bộ Tài nguyên & Môi trường cho
rằng, Pháp luật cấm tức là các doanh nghiệp không được
nhập khẩu tàu về để phá
dỡ, chỉ phá dỡ các tàu trong nước
hoặc chuyển sang các ngành nghề khác.
Bà Trần Ngọc
Hiếu, Công ty Lâm Sinh Hùng một lần nữa nêu lên những
bức xúc của các doanh nghiệp mong muốn Nhà nước sớnm
có các giải pháp để tháo gỡ vướng mắc trước mắt
cho các doanh nghiệp.
Kết thúc cuộc
Toạ đàm, PGS. TS. Hồ Uy Liêm thay mặt Chủ toạ kết
luận:
- Theo quy định của Pháp luật môi trường, hiện nay
hành vi nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ là không được
phép. Do vậy, cần ngừng ngay việc nhập khẩu để
phá dỡ tàu cũ.
- Trước mắt cần có các biện pháp xử lý hợp lý,
tháo gỡ cho các doanh nghiệp nhập khẩu tàu cũ
về phá dỡ liên quan đến mốc thời gian có hiệu
lực của Luật bảo vệ môi trường 2005 (1/7/2006). Nhưng
đây chỉ là các tình huống cụ thể, không được là
tiền lệ cho các trường hợp khác.
- Đồng thời, các cơ quan liên quan của Nhà nước
cần nhanh chóng đưa ra các đánh giá khoa học, kể cả
hệ thống tiêu chuẩn cần thiết cho việc bảo
vệ môi trường và bảo đảm sức khoẻ người lao động
trong quá trình phá dỡ tàu cũ.
Các vấn đề
liên quan đến nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ và môi trường
là những vấn đề phức tạp, phản ánh nhiều xung đột
giữa các khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường, do
vậy, rất cần một thái độ ứng xử thận trọng,
nghiêm túc và khoa học của những người quan tâm.
VP
Hội
VẤN
ĐỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG XUNG QUANH VIỆC PHÁ DỠ TẦU CŨ
TS.
Nguyễn Ngọc Sinh, Ths.Lê Bích Thuỷ
I. TÌNH HÌNH CHUNG
Hàng năm có khoảng 45.000 tàu
biển hoạt động chuyên chở hàng hoá trên thế giới bao
gồm: tàu chở hàng, chở container, tàu chở tủ lạnh,
chở xe tăng, chở các loại hàng hoá chuyên dụng.... Trung
bình mỗi năm có 700 tàu sẽ phải phá dỡ, sau khoảng 29 năm
vận hành trên biển. Khi hết khả năng chạy trên biển,
những tàu này sẽ được bán đi để phá dỡ, và 95%
trọng lượng của tàu sẽ được tái sử dụng.
Vào những năm 1970, việc phá
dỡ tàu biển thuộc loại công nghệ cao, thường được
tiến hành ở nhà máy sửa chữa tàu của một số nước
như Anh, Đài Loan, Tây Ban Nha, Mêhicô và Braxin. Đến
những năm 1980, do yêu cầu các chi phí về bảo vệ môi trường
và sức khoẻ con người ở các nước trên ngày càng cao nên
việc phá dỡ tàu biển đã bắt đầu được chuyển dần
sang các nước nghèo thuộc châu á. Cho đến năm 1993, một
nửa số tàu cần phá huỷ trên thế giới đã được
chuyển đến Trung Quốc để phá dỡ. Vào những năm cuối
của thập niên 90, ấn Độ trở thành nước đứng đầu
thế giới trong lĩnh vực này (chiếm 70%), sau đó đến
Pakistan, Bangladesh và Trung Quốc. Ước tính có khoảng
100.000 công nhân đang làm việc trong các công ty phá dỡ tàu
trên thế giới.
Tương tự như ở một số nước
ASEAN, ở Việt Nam vấn đề phá dỡ tàu biển cũ cũng đã
được thực hiện. Ngoài một cơ sở đã hoạt động từ
trước khi có Luật Bảo vệ môi trường có hiệu
lực(1/1994), còn có một số cơ sở đã và đang xin phép
thực hiện công việc này.
Việc phá dỡ các tàu cũ đem
lại một nguồn nguyên liệu mới (chủ yếu là thép) cho
ngành công nghiệp thép của các nước đang phát triển.
ở ấn Độ, sản lượng thép thu hồi của công nghiệp phá
dỡ tàu biển đóng góp khoảng 15% sản lượng thép hàng năm.
Tuỳ thuộc vào kích thước và chức năng của tàu, tàu phá
dỡ có trọng lượng (không chở hàng) khoảng từ 5.000 đến
40.000 tấn (trung bình là 13.000 tấn), trong đó 95% trọng lượng
sẽ là thép, vỏ tàu chứa khoảng từ 10 đến 100 tấn sơn,
trong sơn này chứa chì, cadmium, asen, kẽm, crôm, organotins.
Các tàu này cũng chứa các chất thải độc hại khác:
chất chống rò rỉ có chứaPolychlorinated Biphenyls(PCB),
khoảng 7,5 tấn là các loại amiăng, vài tấn dầu thải các
loại (dầu động cơ, dầu đáy tàu, dầu làm nguội...). Các
toa tàu còn chứa đến 1.000m3 nước thải có lẫn dầu.
Vấn đề quản lý một cách đúng
đắn về mặt môi trường đối với công việc phá dỡ tàu
biển hiện nay đang được thế giới quan tâm.
Hội nghị Toàn cầu lần đầu
tiên về phá dỡ tàu được tổ chức ngày 23 tháng 6 năm
1999 tại Amsterdam (Hà Lan) với sự tham gia của 150 chuyên
gia ngành công nghiệp hàng hải đã nhất trí coi đây là
vấn đề quan trọng cần được nghiên cứu kỹ về các
khía cạnh kỹ thuật và pháp lý.
Tại cuộc họp Nhóm Công tác
kỹ thuật của Công ước Basel, tổ chức tại Geneva từ
ngày 14-16 tháng 4 năm 1999 đại diện các nước thành viên
Công ước Basel đã thảo luận vấn đề nói trên và
nhất trí đề nghị:
- Ban thư ký Công ước cần
tiến hành thu thập và xử lý các nghiên cứu và số
liệu đã có liên quan đến việc phá dỡ tàu biển từng
phần hoặc toàn bộ sau đó thông báo cho các nước thành
viên biết.
- Ban Thư ký cử đại diện tham
dự các kỳ họp của Tổ chức hàng hải quốc tế (IMO);
tiến hành hợp tác với IMO trong quá trình nghiên cứu và
làm rõ vấn đề này.
Hội nghị lần thứ 5 các nước
thành viên Công ước Basel (tại Thuỵ Sĩ tháng 12 năm 1999)
quyết định giao cho Nhóm Công tác kỹ thuật, thông qua Ban
Thư ký Công ước Basel tiến hành hợp tác với IMO nghiên
cứu và xây dựng Hướng dẫn kỹ thuật về quản lý
một cách đúng đắn về mặt môi trường đối với
việc phá dỡ từng phần hoặc toàn bộ tàu đi biển; yêu
cầu Nhóm Công tác kỹ thuật và Tiểu nhóm tư vấn kỹ
thuật và pháp lý xem xét các vấn đề pháp lý liên quan
đến phá dỡ từng phần và toàn bộ tàu đi biển. Hai cơ
quan này có trách nhiệm báo cáo với Hội nghị lần thứ
6 các nước thành viên Công ước Basel về kết quả thực
hiện nhiệm vụ nói trên.
Để tìm hiểu rõ ràng hơn về
vấn đề bảo vệ môi trường xung quanh việc phá dỡ tàu,
dưới đây chúng tôi xin điểm lại một số nội dung chính.
Cần phải nói thêm rằng nhiều nội dung được nêu ở đây
cũng sẽ có quan hệ mật thiết với vấn đề bảo vệ môi
trường xung quanh việc xúc rửa tàu - một vấn đề mà chúng
tôi sẽ đề cập trong một bài viết khác sẽ được đăng
trong Tạp chí Bảo vệ Môi trường số tới.
II. CÁC LOẠI CHẤT THẢI CHỦ
YẾU PHÁT SINH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁ DỠ TÀU BIỂN CŨ VÀ ẢNH
HƯỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN MÔI TRƯỜNG VÀ SỨC KHOẺ CON NGƯỜI
Phần lớn tầu biển cần phá
dỡ trong giai đoạn hiện nay là những tàu được đóng
từ những năm 1970, mà ở vào thời điểm đó chưa có văn
bản pháp qui nào trên thế giới cấm sử dụng các loại
hoá chất độc hại. Chính điều này đã cho phép các nhà
sản xuất sử dụng những loại hoá chất độc
nhất(miễn là rẻ) có khả năng bảo vệ được tàu
khỏi bị hoen rỉ, tránh bị các sinh vật biển (như con hà)
bám. Để cách nhiệt tốt và hạn chế hoả hoạn , người
ta đã sử dụng rất nhiều amiăng. Để dễ nhận biết tàu
trên biển trong sương mù họ đã sơn thân tàu màu sáng và
để tránh bị xói mòn vỏ tàu họ sử dụng ôxít chì và
chromate kẽm. Để thân tàu không thể tăng trọng lượng
bởi các sinh vật biển bám vào, họ đã dùng sơn có
chứa các chất chống ăn bám như thuỷ ngân, asen, và
tributyl tin (TBT)....
Các chất thải độc hại chính
phát sinh trong quá trình phá dỡ tàu là:
1. Amiăng : Amiăng thuộc nhóm khoáng
sản có chứa các sợi nhỏ, mỏng. Có ba loại amiăng chính
: Amiăng trắng (dạng sợi Chrysotile), amiăng nâu (dạng
sợi amosite) và amiăng xanh (dạng sợi crocidolite). Amiăng thường
tìm thấy trong rất nhiều bộ phận khác nhau của tàu như
phòng cách nhiệt và các ống cách nhiệt, phòng chịu
lửa, các ống thông hơi, hút khí, các nguyên liệu làm dây
cáp điện, sàn và trần tàu... Amiăng là một chất độc
hại, gây ung thư phổi và các bệnh ung thư khác.
2. Nước bẩn ở đáy tàu và nước
ballast: Vấn đề quan trọng nhất trong quá trình phá dỡ tàu
là phải xử lý được nước thải của tàu mà chủ yếu
là nước bẩn ở đáy tàu và nước ballast.
Nước bẩn ở đáy tàu bao gồm
các loại nước bẩn đã sử dụng, bị ứ đọng và các
loại chất lỏng khác như bụi nước lắng đọng, nước
chảy từ các van và ống dẫn.... Nước bẩn ở đáy tàu
có chứa các chất ô nhiễm như dầu, mỡ, muối vô cơ và
kim loại (asen, đồng, crôm, chì và thuỷ ngân). Trong khi tàu
bị phá dỡ, nước bẩn đáy tàu sẽ có thêm nước mưa
(vì thân tàu đã bị mở) và như vậy sẽ chứa thêm cả
amiăng và các mảnh kim loại nhỏ bắn ra trong lúc cắt, phá
tàu.
Ballast là loại nước rất đặc
trưng (là nước ở các bến cảng, nước biển) được bơm
vào các bồn tàu nhằm mục đích thăng bằng tàu. Có một
số loại nước ballast trên tàu trong khi tàu vận hành như:
- Nước ballast sạch: Là nước
biển được bơm vào các bồn tàu chỉ định trước
nhằm giữ cho tàu thăng bằng do vậy nước này không
chứa dầu. Loại nước ballast sạch này có thể chứa các
chất ô nhiễm như: kim loại (sắt, đồng, crôm) và các hoá
chất.
- Nước ballast nhiên liệu đậm
đặc : Trong khi tàu vận hành trên biển, nước ballast nhiên
liệu đậm đặc là nước biển được sử dụng như
một dạng nhiên liệu khi mà nhiên liệu đã dùng hết
nhằm giữ cân bằng cho tàu. Như vậy bồn tàu luôn đầy
bởi nhiên liệu, nước biển hoặc cả hai. Tuỳ thuộc vào
tỷ lệ giữa nước biển và nhiên liệu trong lúc phá dỡ
tàu, các chất ô nhiễm trong nước ballast nhiên liệu đậm
đặc có thể chứa các nhiên liệu, các vi sinh có trong
dầu nhiên liệu, dầu, mỡ, kim loại và xăng dầu chứa
hydrocacbon.
- Nước ballast bẩn: Loại nước
này được tạo thành khi bơm nước biển vào các bồn
chứa nhiên liệu rỗng nhằm tăng khả năng cân bằng cho tàu.
Các chất ô nhiễm trong loại nước này có chứa: Nhiên
liệu còn lại trong bồn, các vi sinh trong nhiên liệu,
dầu, mỡ, xăng và kim loại (đồng, niken, bạc, kẽm).
Những loại nước bẩn kể trên
đều có chứa các chất ô nhiễm nguy hại. Trong loại nước
thải này có chứa kim loại, là thành phần rất khó tiêu
huỷ trong quá trình xử lý nên chúng sẽ làm ô nhiễm môi
trường và gây tác hại đến sức khoẻ con người như
nhiễm độc chì, gây bệnh ung thư. Khi được thải ra
biển các kim loại này sẽ tích tụ dần trong các sản
phẩm biển và sẽ tăng nồng độ ô nhiễm kim loại trong
các sinh vật biển cũng như trong cơ thể con người. Ngoài
ra, các nước thải này cũng chứa các chất hữu cơ độc
hại như các dung môi và PCBs. Đây là những chất gây ung
thư và làm rối loại các chức năng của gan, thận,
tim.... Thải các chất hữu cơ độc hại này ra môi trường
sẽ tạo các khí độc hại khác. Nước thải này cũng
chứa dầu và nhiên liệu, đây là những chất gây độc
cho cá và các động vật thuỷ sinh khác trong nước biển.
Những nước thải này cũng có thể bị chảy tràn lên
bờ và vùng ven biển nên nó sẽ tiêu diệt các loại cây
ven biển và động vật thuỷ sinh thuộc vùng này như chim,
cá, và các loài động vật khác. Ngoài ra nước ballast còn
chứa các vi sinh vật gây bệnh khác, nên khi loại nước này
thải ra môi trường sẽ tác động xấu đến hệ sinh thái,
thay đổi tính cân bằng sinh thái ở khu vực phá dỡ tàu.
3. Dầu và nhiên liệu : Một số
tàu phá dỡ có chứa dầu diesel, dầu tự nhiên và dầu nhân
tạo. Dầu ở đây bao gồm xăng dầu đã lọc (dầu diesel,
xăng, kerosen) và dầu không xăng như dầu nhân tạo (silicon
lỏng), mỡ động vật, dầu thực vật.... Dầu, nhiên
liệu và cặn dầu có thể tìm thấy ở khắp nơi trên tàu,
thậm chí trên cả các máy móc của tàu và các hệ thống
ống dẫn. Sự có mặt của các loại dầu gây nguy hiểm
cho người công nhân trong quá trình phá dỡ chính vì rất
dễ gây cháy. Ngoài ra, trong quá trình tiếp xúc với dầu
thải, người công nhân có nguy cơ tiếp xúc với các hoá
chất độc hại, ảnh hưởng đến gan, mật, tim và hệ
thần kinh . Nếu những dầu thải này mà rò rỉ ra môi trường
sẽ ảnh hưởng rất lớn đến môi trường, nếu dầu
bị rò rỉ với khối lượng lớn sẽ gây ra sự cố tràn
dầu, ảnh hưởng đến các loại động vật hoang dã, gây
ngộ độc cho các loại động vật khác và ảnh hưởng đến
chuỗi thực phẩm của con người.
4. Sơn và lớp sơn bảo vệ : Sơn
và lớp sơn bảo vệ có thể tìm thấy ở mặt trong và
mặt ngoài con tàu. Thường ở những con tàu cũ, lớp sơn
có thể dễ bắt cháy và chứa rất nhiều chất độc
hại như PCBs, kim loại nặng (chì, barium, cadmi, crôm,
kẽm). Các nguyên tố chì như tetraoxide chì đỏ (Pb3O4) và
crôm chì được dùng nhiều trong thành phần sơn tàu
biển.Thông thường, loại sơn có chứa khoảng 30% kim
loại nặng được dùng nhiều để sơn tàu nhằm bảo vệ
bề mặt tàu khỏi bị xói mòn. Để tránh cho thân tàu
khỏi bị các sinh vật biển bám, người ta dùng loại sơn
không chỉ chứa thuỷ ngân, asen và chì mà còn chứa các
hoá chất khác như tributyl tin (TBT) và Tributyl tin
chloride(TBTCl). Đây là những hoá chất rất độc và đã
bị cấm sử dụng tại các nước EU từ năm 1989.
Những hoá chất và dung môi được
sử dụng trong lúc tháo dỡ các mảng sơn sẽ thải ra môi
trường các chất hữu cơ bay hơi (VOCs) và các chất ô
nhiễm không khí. Các biện pháp phá dỡ cơ học sẽ sản
sinh ra bụi(dạng hạt nhỏ) và khí thải có chứa chì và
các độc chất khác. Những chất ô nhiễm này sẽ gây
hại đến sức khoẻ con người như ngộ độc cấp tính và
ngộ độc mãn tính, gây ra các bệnh ung thư. Thí dụ, chì
có thể gây ra ngộ độc, ảnh hưởng lâu dài đến hệ
thần kinh và ung thư. Các chất thải có được trong quá
trình phá dỡ, cạo sơn sẽ ảnh hưởng đến môi trường,
gây ô nhiễm đất và ô nhiễm nước mặt ở khu vực phá
dỡ tàu.
5. Các mảnh kim loại : Các mảnh
kim loại đựơc tạo ra trong quá trình phá dỡ tàu biển.
Đầu tiên người ta cắt tàu ra thành những mảng lớn,
sau đó cắt nhỏ những mảng này theo đúng kích thước và
yêu cầu của người mua. Trong quá trình cắt nhỏ này sẽ
có rất nhiều mảnh kim lọai nhỏ hình thành và được
chia làm hai loại: kim loại màu và kim loại đen. Khi cắt
nhỏ kim loại bằng các loại đèn khò với nhiệt độ
khoảng từ 3.500-4.000oC sẽ sản sinh ra khói và các hạt
bụi kim loại như măngan, crôm, niken, sắt, nhôm, amiăng và
chì. Và trong quá trình cắt nhỏ này cũng có thể xảy ra
các đám cháy nhỏ khi bắt phải dầu hoặc cặn dầu. Thường
những đám cháy này không lâu nhưng cũng đủ để sản
sinh ra các khí độc như NOx và SOx. Những mảnh vụn kim
loại trong quá trình cắt sẽ bị thải ra môi trường gây
ô nhiễm nước và đất bởi một số kim loại nặng như
chì. Người công nhân trong quá trình cắt nhỏ kim loại cũng
bị nhiễm độc chì qua không khí và bụi kim loại, do
vậy cũng ảnh hưởng đến sức khoẻ, gây ung thư và các
loại bệnh kinh niên khác.
6. Hỗn hợp các loại máy móc trên
tàu: Có rất nhiều loại máy móc, thiết bị trên tầu
sẽ được loại bỏ trong quá trình phá dỡ tàu như hệ
thống lọc khí, hệ thống đốt cháy tự động, các
loại dây dẫn.... Khi các loại thiết bị này bị dỡ bỏ
khỏi tàu, thường chúng được các công nhân vận chuyển
bằng tay và đưa tới các xưởng phá dỡ. Nhiều khi,
những loại máy móc này không được che phủ cẩn thận nên
bị nước mưa chảy vào, rửa trôi các chất ô nhiễm bám
trong các máy này và thấm vào đất, gây ô nhiễm đất, nước
mặt và nước ngầm. Những người công nhân tiếp xúc
trực tiếp với các loại máy này sẽ bị nhiễm độc
bởi các chất độc có trong máy như amiăng, PCB, dầu và
nhiên liệu.
III. TÌNH TRẠNG Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC CHẤT THẢI ĐỘC HẠI ĐẾN
SỨC KHOẺ NGƯỜI CÔNG NHÂN TẠI MỘT SỐ CÔNG TY PHÁ DỠ
TÀU LỚN CỦA CÁC NƯỚC CHÂU Á
Để nghiên cứu tình trạng ô
nhiễm môi trường và ảnh hưởng của các chất thải độc
hại đến sức khoẻ con người, dưới đây chúng tôi xin
đưa ra tình trạng ô nhiễm môi trường một số nhà máy
phá dỡ tàu biển cũ điển hình trong khu vực châu á:
1. Alang- ấn Độ: Đây là một
trong những trung tâm phá dỡ tàu lớn nhất của ấn Độ
với khoảng 100 tàu được phá dỡ với đội ngũ công nhân
gần 40.000 người. Công nhân được bố trí ăn ở ngay
trong các lán tạm, cạnh nơi phá dỡ tàu. Tại đây ta có
thể quan sát thấy amiăng được vứt bừa bãi khắp nơi,
trên tàu, trên bờ, trong nhà, thậm chí trên cả những thùng
mà người phụ nữ đội ở trên đầu (Xem ảnh). Chính vì
vậy, công nhân ở đây bị nhiễm độc amiăng rất nhiều
vì họ không có dụng cụ bảo hộ lao động và điều
kiện sinh hoạt rất nghèo nàn. Các chất thải độc hại
khác được đổ thẳng ra biển hoặc ra vùng sản xuất nông
nghiệp lân cận. Tổ chức Hoà bình xanh đã phân tích
nồng độ các chất ô nhiễm trong nước biển, bùn, đất
trong vùng Alang cho thấy khu vực này có nồng độ ô
nhiễm tăng cao. Nước biển bị nhiễm độc dầu. Các
sản phẩm, nguyên vật liệu có chứa amiăng thì được bày
bán khắp nơi ở trong nước.
2. Jiangyin- Trung Quốc: Đây là
khu vực phá dỡ tầu gần Thượng Hải. Các công nhân ở
đây khi tách các nguyên liệu cách nhiệt bằng amiăng trên
tàu có mặc quần áo bảo vệ, tuy nhiên khu vực này không
được cách ly với các khu vực khác nên amiăng khuếch tán
tự do trong khắp cả khu vực phá dỡ tàu, gây nhiễm độc
cho các công nhân ở khu khác. Người công nhân dùng đèn
khò để cắt sắt không được đeo bình dưỡng khí, do
vậy họ đã hít trực tiếp các khí độc và bụi tro có
chứa kim loại nặng phát sinh trong quá trình cắt kim
loại. Kết quả phân tích mẫu tro bay trong quá trình cắt
kim loại ở đây của tổ chức Hoà bình xanh đã cho thấy
nồng độ kim loại nặng như asen, chì, cadmi và crôm rất
cao. Những chất ô nhiễm này có thể phân tán, gây ô
nhiễm đến khu vực dân cư lân cận qua sông Yangtze và ô
nhiễm các cánh đồng lúa. Một số vụ cháy nhỏ cũng đã
xảy ra ở đây và phát sinh các khí độc như NOx, SOx.
3. Cebu - Philippin: Đây là cơ sở
phá dỡ tàu biển nằm ở trung tâm nước Philippin do Chính
phủ Nhật quản lý và là chủ sở hữu. Quá trình phá
dỡ tàu ở Cebu có liên quan đến các loại hoá chất độc
như PCB và TBT. Các loại hoá chất này đã gây ô nhiễm môi
trường biển trong khu vực này. Công nhân ở đây cũng
bị nhiễm độc amiăng do không có quần áo bảo vệ trong
quá trình phá dỡ tàu. Ngoài ra người ta còn đốt ngoài
trời các loại chất thải có chứa dầu, mỡ, dây dẫn
nhựa trong khu vực phá dỡ, đây chính là nguồn sản sinh
ra dioxin, furan và các chất độc hại khác. Trong khu vực
nhà máy, người ta dùng nhiều loại lò đốt cũ của
Nhật không có thiết bị xử lý khí thải và tro thải, nên
tình trạng ô nhiễm môi trường không khí, nước và đất
ở khu vực này đang ngày càng trầm trọng.
4. Bangladesh: Tổ chức Hoà bình
xanh cũng đã kiểm tra khu phá dỡ tàu gần Chittagong thuộc
phía nam Bangladesh- một đất nước phụ thuộc rất nhiều
vào công nghiệp phá dỡ tàu để cung cấp nguồn nguyên
liệu thép cho sản xuất nội địa. Tại đây không hề có
một qui định nào về việc bảo vệ môi trường và sức
khoẻ người dân, không có biện pháp nào để quan trắc,
kiểm soát các nguồn gây ô nhiễm cũng như các dụng cụ
bảo hộ lao động cho hơn 25.000 công nhân làm việc. Nhà máy
này chủ yếu phá dỡ các loại tàu chở dầu- những
loại tàu đã bị ấn Độ từ chối không phá dỡ theo như
quy định luật pháp của ấn Độ. Chưa có kết quả
thống kê nào về tình hình tử vong cũng như bệnh tật
của công nhân thuộc nhà máy phá dỡ tàu này, nhưng với
điều kiện làm việc không có quần áo bảo vệ, tiếp xúc
trực tiếp với khí độc và các chất độc hại, chắc
chắn tỷ lệ thương tật và tử vong ở đây sẽ thuộc
loại cao nhất vùng. Các khu vực lân cận nhà máy phá dỡ
tàu cũng bị nhiễm độc, nước biển bị bao phủ bởi
lớp dầu mỡ và các sinh vật biển trong khu vực này
hoặc đã chết, hoặc phải di chuyển sang vùng khác để
sinh sống.
IV. CÁC QUI ĐỊNH PHÁP LÝ LIÊN
QUAN ĐẾN CÔNG NGHIỆP PHÁ DỠ TÀU CŨ
1. Một số hoá chất phát sinh
trong công nghiệp phá dỡ tàu cũ và tính độc hại của
chúng:
Như đã trình bày ở trên, trong
quá trình phá dỡ tàu phát sinh rất nhiều hoá chất độc
hại ảnh hưởng đến môi trường và sức khoẻ con người.
Đó là:
- Amiăng: Bụi amiăng tích tụ
trong cơ thể, gây khó thở. Trong trường hợp tiếp xúc lâu
dài sẽ bị ung thư phổi, hoặc ung thư màng tế bào bao
quanh các cơ quan của cơ thể (mesothelioma).
- Chì tích tụ trong máu
và xương do tiếp xúc qua đường hô hấp và đường
ăn uống. Nhiễm độc chì sẽ gây ra bệnh thiếu máu,
nhiễm độc hệ thần kinh và thận.
- Asen có thể gây ung
thư phổi, da, hệ tiêu hoá, thận, gan và bàng quang.
Nhiễm độc asen cũng có thể gây nguy hiểm cho hệ
tuần hoàn, các tế bào thần kinh gây mất cảm giác
hoặc làm liệt.
- Một số đồng phân
của crôm có độc tính cao gây bệnh eczema (bệnh chàm),
bệnh đường hô hấp, thậm chí gây ung thư nếu hít
phải bụi và khói crôm.
- Các hoá chất hữu
cơ (TBT, TBTO, TBTCl) là những chất độc thần kinh. Các
chất này tích tụ trong máu, gan, thận và não. TBTO là
chất gây độc tức thời và cũng là chất gây đột
biến gen. Đối với các loài giáp sát, các hợp chất
hữu cơ này có thể ảnh hưởng đến nội tiết tố
(hệ thống hóc môn) gây tai biến sinh sản.
- PAHs (polycyclic
aromatic hydrocarbon compounds- các hợp chất hydro cácbon
mạch vòng thơm) có thể gây ra các loại bệnh ung thư,
trong đó có ung thư phổi, làm suy giảm hệ thống
miễn dịch và gây đột biến gen.
- Dioxin tích tụ trong
mô mỡ là chất gây ung thư và giảm hệ thống miễn
dịch.
2. Quy định của Công ước
Basel
Theo Công ước Basel, việc nhập
khẩu các loại tàu cũ để phá dỡ thực chất là một hình
thức nhập chất thải vào nước nhập khẩu. Hơn nữa,
chất thải ở đây là "chất thải kim loại độc
hại". Chính vì vậy, từ ngày 1 tháng 1 năm 1998, Công
ước Basel đã cấm xuất khẩu từ các nước EU đến các
nước không thuộc Tổ chức hợp tác phát triển kinh
tế(OECD) những loại tàu để phá dỡ trong đó có chứa
amiăng, asen, PCBs, kim loại nặng và sơn có chứa TBT.
3. Qui định của EU:
Qui chế của Cộng đồng châu Âu
(EEC) số 259/93 ngày 1/2/1993 là về việc kiểm soát và theo
dõi tất cả các hành động vận chuyển chất thải giữa
các nước EU và các nước ngoài EU. Như vậy, các tàu cũ
đưa đi phá dỡ cũng thuộc diện phải chịu sự kiểm soát
và theo dõi của Qui chế này.
4. Xu hướng của Tổ chức Hàng
hải quốc tế
Tháng 11 năm 1998, IMO tuyên bố
sẵn sàng xem xét việc " cấm sử dụng các hoá chất
hữu cơ (TBT, TBTO, TBTCl ) như một chất chống vi sinh bám tàu
dùng trong sơn từ năm 2003 và cấm sử dụng hoàn toàn
loại sơn có chứa các chất hữu cơ này đối với tàu
mới đóng từ năm 2008".
5.Qui định của các quốc gia:
a. Các nước công nghiệp phát
triển: Các nước này có rất nhiều qui định, hướng
dẫn cụ thể và nghiêm ngặt đối với công nghiệp phá
dỡ tàu. Thí dụ ở Đức, Luật quản lý chất thải và
bảo tồn nguyên liệu qui định rõ những chất thải có
chứa các chất như asen, kim loại nặng, sơn dầu, cặn
dầu, amiăng... cần phải được kiểm soát nghiêm ngặt và
có biện pháp xử lý, tiêu huỷ đảm bảo vệ sinh môi trường.
Hơn thế nữa, khi tàu nhập vào Đức để phá dỡ phải
tuân thủ nghiêm ngặt Luật về kiểm soát khí thải,
Luật về đánh giá tác động môi trường. Đặc biệt,
Luật về hoá chất của Đức cũng nghiêm cấm việc sử
dụng các hợp chất có chứa amiăng, asen, carbonate chì và
sulfat chì, PCBs, các hợp chất hữu cơ như TBT....
b. Các nước trong khu vực châu
á: Các nước trong khu vực này là thành viên của Công ước
Basel đều có đưa các yêu cầu trong các qui định luật
pháp của mình về việc phải tuân thủ nghiêm ngặt các
điều khoản của Công ước. Tuy nhiên có một thực tế là
trong khu vực này, hệ thống luật pháp bảo vệ môi trường
cũng như các văn bản pháp qui liên quan đến việc quản lý
các chất thải nguy hại nói chung và công nghiệp phá dỡ
tàu nói riêng còn chưa hoàn chỉnh, còn có nhiều lỗ
hổng do đó đã bị các các nhà đầu tư nước ngoài
lợi dụng, nhập khẩu các loại tàu có chứa các chất độc
hại vào các nước trong khu vực để phá dỡ.
6. Các hướng dẫn kỹ thuật:
Công ước Basel có ban hành một
loạt các hướng dẫn kỹ thuật trong việc xử lý, tiêu
huỷ các chất thải nguy hại có chứa Amiăng, Asen, chì,
dầu và cặn dầu, PCBs, sơn có chứa TBT...
Các nước công nghiệp phát
triển như Mỹ cũng có những hướng dẫn kỹ thuật cụ
thể trong việc xử lý, tiêu huỷ các loại chất thải phát
sinh trong quá trình phá dỡ tàu như nước thải, dầu
cặn, sơn, các loại hoá chất độc hại....
7. Nhận xét chung
Có thể nhận thấy rằng trên
thế giới, ở các khu vực và các quốc gia, các qui định
mang tính luật pháp về bảo vệ môi trường xung quanh
việc phá dỡ tàu cũ đã được ban hành và đang phát huy
tác dụng. Mặc dù vậy vẫn còn nhiều bất cập trong các
qui định này, đặc biệt là tính hệ thống của pháp
luật và tính hiệu quả thực thi của chúng.
Thực vậy, hiện nay trên thế
giới đang có xu hướng di chuyển dịch vụ phá dỡ tàu
từ các nước phát triển sang các nước nghèo, đây chính
là hình thức vận chuyển các chất thải nguy hại trên
qui mô toàn cầu, và hậu quả là các nước càng nghèo
sẽ nhận được ngày càng nhiều chất thải, đặc biệt
là chất thải nguy hại. Các tàu được đóng từ những năm
1970 là những tàu có chứa nhiều chất thải và hoá chất
độc hại nhất và giờ đây chúng đang được phá dỡ trên
bờ biển khu vực châu á, nơi không có sự kiểm soát nào
về môi trường và không có biện pháp an toàn lao động nào
được áp dụng. Tất cả các chủ tàu ở các nước EU giàu
có đều nhúng tay vào dịch vụ này và xuất những con tàu
hết thời hạn sử dụng của họ vào châu á. Đây chính
là hành động vi phạm Công ước Basel và các qui định
trong luật pháp của các nước thành viên EU là cấm xuất
khẩu các loại kim loại nhiễm độc sang các nước khác.
Một điều đáng lo ngại khác là
các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ phá dỡ tàu luôn tìm cách
vi phạm các qui định luật pháp của các quốc gia nhập
khẩu tàu để phá dỡ. Chủ tàu, các cơ quan chức năng,
doanh nghiệp phá dỡ tàu và đôi khi cả chính phủ các nước
nhập tàu vì quyền lợi kinh tế trước mắt đã quên
mất nguyên tắc vàng trong vấn đề bảo vệ môi trường
là: Tái sử dụng, tái sản xuất, tái chế càng nhiều càng
tốt và xử lý, tiêu huỷ các chất thải nguy hại phải
trong khả năng môi trường cho phép, đảm bảo an toàn và
vệ sinh môi trường.
V. VẤN ĐỀ PHÁ DỠ TÀU CŨ
Ở VIỆT NAM
Hiện nay, công nghiệp phá dỡ tàu
đang dần hình thành ở Việt Nam. Từ những năm 1990, khi
chưa có Luật Bảo vệ môi trường, ở Việt Nam đã có
một cơ sở phá dỡ tàu của quân đội đóng tại miền
Trung. Sau đó, đến khoảng những năm1997-1998, lại có thêm
một cơ sở xin đăng ký hoạt động phá dỡ tàu ở phía
Nam (tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu), và gần đây ở phía Bắc
(Hải Phòng) xuất hiện thêm một cơ sở nữa dự kiến
thực hiện việc phá dỡ tàu cũ.
Nhận thức được nguy cơ gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng trong quá trình phá dỡ tàu
cũ, sau khi Luật Bảo vệ môi trường được ban hành, Bộ
Khoa học, Công nghệ và Môi trường đã yêu cầu các cơ
sở phá dỡ tàu cũng như các cơ sở sản xuất kinh doanh
khác phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường.
- Đối với các cơ sở hoạt động
từ trước khi có Luật Bảo vệ môi trường: Bộ Khoa
học, Công nghệ và Môi trường đã chỉ rõ rằng hoạt động
của cơ sở phá dỡ tàu cũ sản sinh nhiều loại chất
thải khí, lỏng, rắn. Chính vì vậy, Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường yêu cầu cơ sở phải có các biện
pháp khống chế ô nhiễm nghiêm ngặt, phải có hệ thống
xử lý nước thải đạt TCVN, có bãi chôn lấp chất
thải rắn và có hệ thống xử lý khí thải đạt tiêu
chuẩn môi trường của Việt Nam. Công tác giám sát hoạt
động của cơ sở được giao cho Sở Khoa học, Công nghệ
và Môi trường địa phương.
- Đối với các cơ sở được hình
thành sau khi có Luật Bảo vệ môi trường: Bộ Khoa học,
Công nghệ và Môi trường khẳng định công nghiệp phá
dỡ tàu là một ngành công nghiệp có tiềm năng gây ô
nhiễm môi trường cao. Do vậy, Bộ yêu cầu các chủ đầu
tư phải đầu tư kinh phí để xử lý chất thải đạt tiêu
chuẩn môi trường. Bộ cũng khẳng định, nếu trong quá
trình hoạt động, cơ sở có dấu hiệu gây ô nhiễm thì
sẽ bị đình chỉ hoạt động và phải bồi thường
thiệt hại. Đặc biệt, theo yêu cầu của Bộ Khoa học, Công
nghệ và Môi trường thì chủ đầu tư chỉ thực hiện
việc phá dỡ tàu trong nước, không nhập tàu nước ngoài
để phá dỡ.
Như vậy, Việt Nam đã có những
biện pháp cần thiết bước đầu nhằm ngăn ngừa tình
trạng ô nhiễm môi trường do công nghiệp phá dỡ tàu gây
ra. Tuy nhiên, với những thông tin mới nhất về hoạt động
phá dỡ tàu cũ này, về tính độc hại và những nguy cơ
gây ô nhiễm môi trường do hoạt động đó gây ra, chúng
ta cần xem xét lại một cách toàn diện hoạt động này,
tăng cường hơn nữa các biện pháp phòng ngừa ô nhiễm,
kiểm tra, giám sát và ban hành các văn bản pháp qui, các
qui định, qui chế và các hướng dẫn kỹ thuật nhằm
bảo vệ môi trường và sức khoẻ người dân.
VI.
KẾT
LUẬN
- Phá dỡ tàu cũ là một ngành công nghiệp gây
ô nhiễm môi trường
- Các tàu cũ cần phá dỡ chính là chất
thải công nghiệp - chất thải công nghiệp nguy hại
- Xu hướng di chuyển dịch vụ phá dỡ tàu
từ các nước phát triển (Châu Âu) sang các nước nghèo
(Châu Á) là vi phạm các quy định Quốc tế
- Các doanh nghiệp phá dỡ tàu cũ chỉ quan tâm đến
lợi nhuận của mình chư không quan tâm đến công tác
bảo vệ môi trường và sức khoẻ cho người lao động.
- Các văn bản pháp luật quy định về phá dỡ tàu
đảm bảo vệ sinh môi trường và sức khoẻ cho người
lao động còn thiếu.
- Đối với Việt Nam, nếu cho phép phát triển công
nghiệp phá dỡ tầu cũ thì cần phải cân nhắc đến
các yếu tố sau: Môi trường
- Sức khoẻ - Kinh tế.
PHÁP
LUẬT THƯƠNG MẠI VÀ PHÁP LUẬT MÔI TRƯỜNG
VỚI VẤN ĐỀ
NHẬP KHẨU TÀU CŨ ĐỂ PHÁ DỠ
ThS.
NGUYỄN VĂN PHƯƠNG
Khoa pháp luật kinh tế, Đại học Luật Hà Nội
Hoạt động nhập khẩu tàu cũ để
phá dỡ chịu sự điều chỉnh của cả pháp luật thương
mại và pháp luật môi trường, các văn bản điều chỉnh
lĩnh vực này gồm:
-
Luật
thương mại 2005, Luật doanh nghiệp 2005
-
Nghị
định 59/2006/NĐ- CP ngày 12/6/2006 quy định chi tiết Luật
thương mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, kinh
doanh có điều kiện
-
Nghị định 12/2006/NĐ-CP
ngày 23/1/2006 quy định chi tiết Luật thương mại về
hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế và hoạt động đại
lý mua, bán, gia công và quá cảnh hàng hoá với nước ngoài.
-
Nghị
định 49/2006/NĐ-CP ngày 18/5/2006 về đăng ký và mua, bán tàu
biển
-
Luật
bảo vệ môi trường 2005
-
Nghị
định 80/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 về việc quy định chi
tiết và hướng dẫn một số điều của Luật bảo vệ môi
trường
-
Quyết
định 12/2006/BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục phế
liệu được phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất
1. Các quy định của pháp luật thương mại
Các quy định về ngành nghề cấm kinh doanh, hàng hoá
cấm nhập khẩu được quy định tại NĐ 59/2006/NĐ- CP ngày
12/6/2006 và NĐ 12/2006/NĐ-CP ngày 23/1/2006
đã cụ thể hoá Điều 25 Luật thương mại 2005.
Nghị định 59/2006/NĐ- CP ngày
12/6/2006 quy định quy định chung về hoạt động thương
mại về hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh, hàng hoá dịch
vụ hạn chế kinh doanh , hàng hoá dịch vị kinh doanh có điều
kiện. Danh mục hàng hoá, dịch vụ cấm kinh doanh (Phụ
lục I), hàng hoá, dịch vụ hạn chế kinh doanh (Phụ lục
II) và hàng hoá kinh doanh có điều kiện (Phụ lục III) không
đề cập tới hoạt động kinh doanh nhập khẩu tàu cũ để
phá dỡ.
Nghị định 12/2006/NĐ-CP ngày
23/1/2006 quy định Danh mục hàng hoá cấm xuất khẩu, cấm
nhập khẩu (Phụ lục số I), Danh mục hàng hoá xuất
khẩu, nhập khẩu theo giấy phép của Bộ thương mại
(phụ lục 2), Danh mục hàng hoá thuộc diện quản lý chuyên
ngành (phụ lục 3) cũng không đề cập tới tàu cũ (tàu
thuỷ cũ
Tuy nhiên, Điều 23 khoản 2 Nghị
định 49/2006/NĐ-CP ngày 18/5/2006 về đăng ký và mua, bán tàu
biển lại có quy định về điều kiện nhập khẩu
tàu biển để phá dỡ như sau:
a)
Không
được sửa chữa, hoán cải hoặc phục hồi để sử
dụng vào mục đích khác
b)
có
phương án phá dỡ, biện pháp phòng chống cháy, nổ và phòng
ngừa ô nhiễm môi trường được cơ quan có thẩm quyền
phê duyệt
c)
Có
Quyết định mua, bán tàu biển của cấp có thẩm quyền
Theo quy định này, khi các doanh
nghiệp đáp ứng đầy đủ các điều kiện nêu trên sẽ
có quyền nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ.
Theo quy định tại Điều 4 Luật
doanh nghiệp 2005 thì “kinh doanh là việc thực hiện một,
một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu
tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung
ứng dịch vụ trên thi trường nhằm mục đích sinh
lợi”.
Luật thương mại điều chỉnh
hoạt động thương mại gồm mua, bán hàng hoá... nhằm
mục đích sinh lợi. Hoạt động nhập khẩu tàu cũ để
phá dỡ là hoạt động sinh lợi và vì vậy chịu sự điều
chỉnh của Luật thương mại và các văn bản về lĩnh
vực này. Hoạt động nhập khẩu tàu cũ (là hoạt động
mua hàng quốc tế) không phải là một hoạt động thương
mại đặc thù và từ đó không thể áp dụng Điều 4
khoản 2 Luật thương mại 2005: “Hoạt động thương mại
đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng
quy định của luật đó”. Hoạt động thương mại đặc
thù được hiểu là những hoạt động thương mại có tính
chất chuyên biệt và không được quy định trong luật thương
mại mà được quy định trong các văn bản pháp luật khác.
(Ví dụ như Hợp đồng vận chuyển hàng hải được quy
định trong Luật hàng hải 2005, Hợp đồng vận chuyển
bằng đường sắt được quy định trong Luật đường
sắt 2005)
Theo các quy định này thì hoạt động
nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ không bị pháp luật thương
mại cấm.
2. Quy định của Luật bảo vệ môi
trường 2005
Điều 42 quy định về bảo vệ môi trường trong
nhập khẩu, quá cảnh hàng hoá như sau:
1. Mỏy múc, thiết bị, phương tiện, nguyờn liệu,
nhiờn liệu, hoỏ chất, hàng hoỏ nhập khẩu phải đáp
ứng tiờu chuẩn mụi trường.
2. Cấm nhập khẩu mỏy múc, thiết bị, phương
tiện, nguyờn liệu, nhiờn liệu, hoỏ chất, hàng hoỏ sau
đây:
a) Mỏy múc, thiết bị, phương tiện không đạt tiờu
chuẩn mụi trường;
b) Máy móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận
tải đó qua sử dụng để phá dỡ;
c) Nguyờn liệu, nhiờn liệu, vật liệu, hoỏ chất, hàng
hoỏ thuộc danh mục cấm nhập khẩu;
d) Máy móc, thiết bị, phương tiện bị nhiễm chất
phúng xạ, vi trựng gõy bệnh, chất độc khác chưa được
tẩy rửa hoặc không có khả năng làm sạch;
đ) Thực phẩm, thuốc y tế, thuốc bảo vệ động
vật, thực vật đó hết hạn sử dụng hoặc khụng đạt
tiờu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm.
3. Khi mỏy múc, thiết bị, phương tiện, nguyờn
liệu, nhiờn liệu, hoỏ chất, hàng hoỏ thuộc đối tượng
quy định tại khoản 2 Điều này nhập khẩu thỡ chủ hàng
húa phải tỏi xuất hoặc tiờu huỷ, thải bỏ theo quy định
của pháp luật về quản lý chất thải; trường hợp gây
hậu quả nghiờm trọng đến môi trường thỡ tuỳ tớnh
chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý hành chớnh hoặc
truy cứu trỏch nhiệm hỡnh sự; nếu gõy thiệt hại thỡ
phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Danh mục phế liệu được phép
nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất ban hành kèm theo
Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT
ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định tại mục 1: Thân, vỏ tàu biển (kể
cả sà lan) đã qua sử dụng sau khi đã được tháo gỡ,
loại bỏ dầu, mỡ, cao su, amiăng và các thành phần phi
kim loại khác tại nước hoặc lãnh thổ xuất khẩu.
Như vậy, theo quy định của Luật bảo vệ môi trường
2005 và các văn bản hướng dẫn thì hành vi nhập
khẩu tàu cũ (nguyên
chiếc, chưa loại bỏ các thành phần không phải là kim
loại) để phá dỡ là không được phép.
3. Nhận xét:
Tồn tại sự mâu thuẫn giữa luật thương mại và
luật môi trường trong vấn đề nhập khẩu tàu cũ để
phá dỡ:
Theo nguyên tắc chung, tổ chức, cá
nhân khi thực hiện hoạt động nhập khẩu hàng hoá, ngoài
việc phải thực hiện những quy định của pháp luật thương
mại còn phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường
theo quy định của Luật bảo vệ môi trường. Các quy định
của Luật bảo vệ môi trường được xem là những điều
kiện “kèm theo” nhưng với tính chất bắt buộc thực
hiện. Khi không tuân
thủ những quy định của Luật bảo vệ môi trường thì
tổ chức, cá nhân đó không được phép thực hiện hoạt
động đó.
Tuy nhiên, Điều 42 Luật bảo vệ môi trường “đi
xa” hơn nguyên tắc chung này thông qua việc nghiêm cấm
thực hiện hành vi cụ thể mà quy định hiện hành của
pháp luật thương mại không cấm. Các hàng hoá cấm
nhập khẩu được quy định trong các văn bản pháp luật
thương mại dựa trên các cơ sở như: để bảo vệ an
ninh quốc phòng, văn hoá... và môi trường. Sự bất cập
này xuất phát từ nguyên nhân chưa rà soát một cách đầy
đủ các lĩnh vực cần bảo vệ trước hoạt động nhập
khẩu hàng hoá cụ thể trong quá trình xây dựng pháp
luật
Có thể khẳng định rằng, về cùng một vấn đề:
nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ, giữa pháp luật thương
mại và pháp luật môi trường có những quy định theo hai
hướng khác nhau.
Hướng xử lý: Theo quy định tại Điều
80 Luật
ban hành văn bản quy phạm pháp luật 1997 quy định về vấn đề áp dụng văn bản quy
phạm pháp luật thì: Trong trường hợp các
văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng
một vấn đề, thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý
cao hơn. Trong
trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật về cùng
một vấn đề do cùng
một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau, thì áp
dụng quy định của văn bản được ban hành sau.
Luật thương mại được Quốc
hội thông qua ngày 14/6/2005; có hiệu lực ngày 1/1/2006 và
Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày
29/11/2005; có hiệu lực ngày 1/7/2006. Các quy định không
cấm hoặc cho phép nhập khẩu có điều kiện tàu cũ để
phá dỡ của pháp luật thương mại được quy định tại
các Nghị định của Chính Phủ (NĐ 12/2006/NĐ-CP, NĐ
59/2006/NĐ-CP, NĐ 49/2005/NĐ-CP). Trong khi đó, quy định cấm
nhập khẩu tàu cũ (đã qua sử dụng) để phá dỡ được
quy định tại Luật bảo vệ môi trường, là loại văn
bản pháp luật có hiệu lực pháp lý cao hơn Nghị định.
Như vậy, theo quy định tại Điều
80 nêu trên thì phải áp dụng Luật bảo vệ môi trường
2005, có nghĩa là hành vi nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ là
không được phép.
Điều 7 Luật doanh nghiệp 2005 quy
định, doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có
quyền kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không
cấm. Nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ là hành vi bị pháp
luật hiện hành cấm. Do đó, các doanh nghiệp sẽ không
được kinh doanh trong lĩnh vực này.
NHẬP
KHẨU, PHÁ DỠ TÀU CŨ VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Nguyễn
Tiến Nghi
Phó Chủ tịch
Hiệp Hội Thép Việt Nam