|
NHẬP
KHẨU THÁO DỠ TẦU CŨ
VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
Hải
Phòng: 85% cơ sở phá dỡ tàu cũ vi phạm quy định bảo
vệ môi trường
Thanh
tra, kiểm tra phá dỡ tàu cũ tại Hải Phòng: KẾT QUẢ BƯỚC
ĐẦU
Bộ
TN&MT thanh tra 6 cơ sở phá dỡ tàu cũ TP. Hải Phòng: Phát
hiện nhiều sai phạm trong quản lý chất thải nguy hại
Tin
các báo sau cuộc Toạ đàm:
Ô
nhiễm quanh cảng Hải Phòng: Kho rác khổng lồ từ tàu cũ
Hải
Phòng “thả nổi” quản lý môi trường tại các cơ sở
phá dỡ tàu cũ
Nhập khẩu, phá dỡ
tàu cũ và vấn đề môi trườn (Website LHH)
Không
vì lợi ích trước mắt mà quên trách nhiệm với môi trườn
(Tạp chí BVMT)
Ngừng
ngay nhập khẩu tàu cũ để dỡ lấy sắt vụn
Nhập
khẩu, phá dỡ tàu cũ: Có biến Việt Nam thành bãi rác?
Nhập
tầu cũ để phá dỡ: 2 mâu thuẫn khó dung hòa
Thép giá rẻ, lợi bất cập
hại
Các
tin đã đưa (2) Các
tin đã đưa (1)
HẢI
PHÒNG: 85 % CƠ SỞ PHÁ DỠ TÀU CŨ VI PHẠM QUY ĐỊNH BẢO VỆ
MÔI TRƯỜNG
(Monre.gov.vn, ngày 20/08/2007)
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng
Chính phủ tại Công văn số 1844 ngày 10/11/2006 về xử lý
việc nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ, Bộ TN&MT
phối hợp với Bộ Công an và UBND thành phố Hải Phòng
tổ chức kiểm tra, thanh tra công tác bảo vệ môi trường
(BVMT) đối với 12 cơ sở có liên quan đến hoạt động
phá dỡ tàu cũ trên địa bàn Hải Phòng. Kết quả cho
thấy 6/7 cơ sở còn hoạt động trong lĩnh vực này vi
phạm quy định BVMT. Trong đó, Công ty TNHH Quý Hải có
dấu hiệu vi phạm pháp luật trong việc nhập khẩu "thân
vỏ tàu VIKTOR STRELTSOV"....
Gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Đó
là đánh giá khái quát của Bộ Tài nguyên và Môi trường
đối với các hoạt động phá dỡ tàu cũ tại Hải Phòng.
Theo Luật BVMT 2005, từ 1/7/2006, các hoạt động nhập
khẩu tàu cũ để phá dỡ bị cấm. Nhưng để tháo gỡ khó
khăn cho các doanh nghiệp đã ký hợp đồng nhập khẩu tàu
cũ trước ngày 1/7/2006 nhưng hàng cập cảng sau, Chính
phủ cho phép 9 trường hợp được thông quan trước ngày
30/11/2006.
Đáng
tiếc, các đơn vị này đã không thực hiện nghĩa vụ
BVMT. Có tới 4 cơ sở không lập báo cáo đánh giá tác động
môi trường hoặc Bản cam kết BVMT, 6 đơn vị vi phạm quy
định về quản lý chất thải nguy hại và cả 7 đơn vị
đều không có hệ thống thu gom, xử lý chất thải theo
quy định; dầu cặn, giẻ lau nhiễm dầu, amiăng đều chôn
lấp chung với chất thải thông thường, đốt hoặc bán
cho người dân, cơ sở không có chức năng thu gom và xử lý
chất thải nguy hại.
Công ty TNHH Quý Hải (318 Đà Nẵng) là
cơ sở phá dỡ 50 tàu cũ trước thời điểm 1/7/2006,
tiếp tục phá dỡ 2 tàu trong thời điểm Chính phủ cho phép
và nhập 1 thân tàu sau thời điểm nghiêm cấm nhập khẩu
tàu cũ. Công ty này đã nhập khẩu thân vỏ tàu biển, sà
lan đã qua sử dụng sau khi tháo gỡ, loại bỏ dầu mỡ,
cao su, amiăng và các thành phần phi kim loại khác từ nước
ngoài, nhưng không đúng quy định của pháp luật. Tại
thời điểm kiểm tra thân vỏ tàu này được phá dỡ
khoảng 30 %, trên thân vỏ tàu vẫn còn 2 máy lái, khoảng
2,2 tấn dầu cặn... Đã thế, Công ty TNHH Quý Hải còn
quản lý, vận chuyển và xử lý chất thải nguy hại không
đúng quy định về BVMT; không lập hồ sơ, đăng ký có phát
sinh nguồn thải nguy hại.
Giải pháp mạnh
Đoàn
kiểm tra và thanh tra đã lập Biên bản các vi phạm hành
chính của các cơ sở phá dỡ tàu cũ, chuyển Sở TN&MT
Hải Phòng xử phạt 6 cơ sở với tổng số tiền phạt là
66.500.000 đồng; yêu cầu các cơ sở khắc phục ngay vi
phạm, báo cáo về Bộ TN&MT trước ngày 31/12/2007.
Trong
Văn bản báo cáo Chính phủ kết quả đợt kiểm tra, thanh
tra trên, Bộ TN&MT kiến nghị UBND TP. Hải Phòng, các
tỉnh, thành phố có hoạt động phá dỡ tàu cũ chỉ đạo
các Sở, ban ngành liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát,
phát hiện và xử lý kịp thời việc nhập khẩu tàu cũ
hoặc thân vỏ tàu cũ trái với quy định của Luật BVMT;
công khai thông tin về tình hình ô nhiễm và việc thực
hiện các biện pháp BVMT của các cơ sở đã được
kiểm tra, thanh tra. Đặc biệt, Bộ đã kiến nghị tiếp
tục tổ chức kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm trong lĩnh
vực BVMT đối với các cơ sở phá dỡ tàu cũ trong nước...
Kiến nghị Bộ Giao thông vận tải chủ trì phối hợp
với các Bộ, ngành và địa phương có liên quan tăng cường
công tác kiểm tra, giám sát và ngăn chặn việc lợi dụng
nhập khẩu tàu cũ dưới hình thức sửa chữa, hoán cải
hoặc phục hồi để sử dụng nhưng sau đó phá dỡ... Đồng
thời kiến nghị Bộ Công an phối hợp với UBND TP. Hải
Phòng điều tra, làm rõ trách nhiệm của các bên có liên
quan trong việc nhập khẩu "thân vỏ tàu VIKTOR STRELTSOV"
về để phá dỡ của Công ty TNHH Quý Hải.
Thao Lan
Thanh
tra, kiểm tra phá dỡ tàu cũ tại Hải Phòng: KẾT QUẢ BƯỚC
ĐẦU
Hoàng Văn Vy, Thanh
tra Bộ Tài nguyên và Môi trường
(Tạp
chí BVMT tháng 4/2007)
Hải
Phòng là địa phương có lợi thế về điều kiện giao thông
thủy, bộ so với cả nước. Với lợi thế cảng nước sâu,
phát triển vận tải biển tại Hải Phòng là một trong
những động lực tăng trưởng quan trọng của Vùng kinh
tế trọng điểm Bắc bộ. Song song với sự phát triển
mạnh của ngành vận tải biển, những năm gần đây, ngành
công nghiệp đóng mới và sửa chữa tàu biển của Hải
Phòng cũng phát triển nhanh về cả quy mô đầu tư và số
lượng doanh nghiệp. Trong đó có sự đóng góp quan trọng
của hoạt động nhập khẩu và phá dỡ tàu cũ mà Hải Phòng
gần như là địa phương duy nhất trong cả nước có
hoạt động này.
Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ
tại Công văn số 1844/TTg-KG ngày 10/11/2006 về Xử lý
việc nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ, Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT) đã ban hành
Quyết định số 473/QĐ-BTNMT và Quyết định số 474/QĐ-BTNMT
thành lập đoàn thanh tra, kiểm tra 12 cơ sở phá dỡ tàu cũ
tại thành phố Hải Phòng. Từ ngày 10/4/2007, Đoàn thanh
tra của Bộ đã tiến hành làm việc với 12 cơ sở thuộc
đối tượng được thanh tra, kiểm tra và làm việc với
Sở TN&MT Hải Phòng để nắm thông tin quản lý hoạt
động phá dỡ tàu cũ tại Hải Phòng thời gian vừa qua.
Nội dung thanh tra được tập trung chủ yếu vào việc tuân
thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường
(BVMT) từ việc nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ của các cơ
sở phá dỡ và công tác quản lý về BVMT đối với hoạt
động nhập khẩu và quá trình phá dỡ. Trong đó tập
trung rà soát hoạt động quản lý nhập khẩu, phá dỡ tàu
cũ sau thời điểm Luật Bảo vệ môi trường 2005 có
hiệu lực (1/7/2006).
Qua kết quả thanh tra cho thấy, từ năm 1994, hoạt động
nhập khẩu và phá dỡ tàu cũ đã bắt đầu diễn ra tại
Hải Phòng và ngày càng phát triển. Lúc đầu chỉ có vài
doanh nghiệp hoạt động nhập khẩu và phá dỡ những tàu
nhỏ. Theo thời gian, nhu cầu phế liệu tăng và năng lực
nhập khẩu của các cơ sở ngày càng lớn, kết hợp với
lợi nhuận thu được từ hoạt động phá dỡ tàu cũ khá
cao nên hoạt động nhập khẩu và phá dỡ tàu cũ ngày càng
phát triển. Từ vài cơ sở nhỏ lẻ ban đầu chỉ đủ
sức nhập khẩu và phá dỡ tàu có tự trọng vài chục
tấn, đến thời điểm phát triển rầm rộ nhất (gần
thời điểm tháng 7/2006) đã có hàng trăm cơ sở tham gia
hoạt động nhập khẩu và phá dỡ tàu cũ với những tàu
lớn vài ngàn tấn tự trọng được nhập khẩu để phá
dỡ, với quy mô phá dỡ từ vài chục đến hàng trăm tàu
lớn nhỏ các loại. Hoạt động phá dỡ chủ yếu được
thực hiện thủ công, tháo dỡ từng phần sau đó cắt
rời từng mảng bằng khí công nghiệp có hỗ trợ bằng
cần cẩu. Địa điểm tập kết tàu cũ để phá dỡ chủ
yếu nằm dọc bờ sông Cấm khoảng từ km 7 - km 8 Quốc
lộ 5 (cũ), đây cũng là khu vực mà môi trường đất và
nước bị ô nhiễm nặng do tồn lưu chất thải qua nhiều
năm phá dỡ tàu cũ. Sau thời điểm tháng 7/2006 do yêu
cầu BVMT đối với hoạt động phá dỡ tàu cũ, các quy định
về BVMT đối với hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ
ngày càng chặt chẽ, quản lý xuất nhập khẩu được tăng
cường, nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện, năng
lực xử lý ô nhiễm theo quy định đã tự chuyển đổi
sang ngành nghề khác. Đến thời điểm được thanh tra,
kiểm tra hoạt động nhập khẩu thân, vỏ tàu cũ tại
cảng Hải Phòng đã hoàn toàn chấm dứt, số các cơ sở
đang hoạt động phá dỡ còn lại một tàu cuối cùng về
đến cảng Hải Phòng cuối năm 2006 và một số ít cơ
sở đang dừng hoạt động để nghe ngóng tình hình triển
khai quy định mới, trước khi quyết định tiếp tục
nhập hẩu thân, vỏ tàu cũ để phá dỡ hay chuyển đổi
sang ngành nghề kinh doanh khác.
Xét về góc độ kinh tế và về mặt xã hội, hoạt động
nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ thời gian qua đã tạo việc làm
và thu nhập thường xuyên cho hàng ngàn lao động, góp
phần tăng thêm nguồn thu cho ngân sách địa phương, tăng
doanh thu đáng kể cho doanh nghiệp. Hoạt động phá dỡ tàu
cũ cũng góp phần giảm áp lực nguồn nguyên liệu đầu vào
cho ngành công nghiệp sản xuất thép trong nước, việc tháo
dỡ máy móc, trang thiết bị tàu thủy của tàu cũ nhập
từ nước ngoài được tái sử dụng để thay thế, sửa
chữa hoặc lắp ráp tàu mới sản xuất trong nước, tạo
ra nguồn linh kiện máy thủy quan trọng để hình thành
mạng lưới các cơ sở dịch vụ sửa chữa tàu thủy, làm
tiền đề cho sự phát triển các cơ sở công nghiệp sửa
chữa và đóng mới tàu thủy tại TP Hải Phòng. Bên cạnh
đó, hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ thời gian qua
cũng tạo áp lực không nhỏ cho công tác BVMT, nguy cơ ô
nhiễm môi trường đất, môi trường nước bởi dầu mỡ
khoáng và kim loại nặng tại các khu vực phá dỡ ngày càng
trầm trọng. Sau khi kết thúc thanh tra tại các cơ sở,
kiểm tra thực tế tại hiện trường khu vực phá dỡ và
thu thập các thông tin liên quan đến công tác quản lý
nhập khẩu tàu cũ để phá dỡ thời gian qua có thể
thấy: Công tác quản lý nhập khẩu
và phá dỡ tàu cũ đã được phối hợp và triển
khai tương đối đồng bộ giữa các ngành: Hải quan,
TN&MT, Công an... nên việc kiểm tra, giám sát, tiêu độc,
khử trùng trước khi làm thủ tục thông quan được thực
hiện nghiêm túc; Hoạt động phá dỡ sau khi được thông
quan đều được các cơ sở phá dỡ lập phương án BVMT,
phòng cháy chữa cháy trong quá trình phá dỡ; được các cơ
quan chuyên môn của TP chấp thuận phương án trước khi
tiến hành phá dỡ; Các cơ sở phá dỡ
đã có ý thức triển khai các biện pháp xử lý
giảm thiểu ô nhiễm môi trường: Dùng phao quây thu gom
dầu và rác thải mặt nước quanh tàu được phá dỡ, thu
gom dầu thải, các loại chất thải phi kim loại... Do quy
định của Luật Bảo vệ môi trường hết sức chặt
chẽ, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát hoạt động
nhập khẩu thân, vỏ tàu cũ để phá dỡ được thực
hiện nghiêm túc, quyết liệt nên các cơ sở không đáp
ứng được điều kiện quy định tại Điều 42 và 43
Luật Bảo vệ môi trường đã tự động dừng hoạt động
nhập khẩu thân, vỏ tàu cũ để phá dỡ. Tuy nhiên, việc
quản lý hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ thời
gian qua còn bộc lộ một số vấn đề cần được quan tâm
giải quyết như: Việc kiểm tra trước khi thông quan chủ
yếu là quan sát, kể cả cơ quan giám định cũng chỉ
bằng phương pháp quan sát phụ thuộc vào chủ quan của người
kiểm tra, nên có trường hợp thân vỏ tàu cũ được thông
quan trong khi máy móc tàu chưa được tháo dỡ và làm
sạch hoàn toàn dầu, mỡ; các thành phần phi kim loại chưa
được loại bỏ trước khi nhập là chưa phù hợp với
Quyết định số 12/2006/QĐ-BTNMT ngày 8/9/2006 của Bộ trưởng
Bộ TN&MT về việc ban hành Danh mục phế liệu được
phép nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất. Sau khi chấp
thuận phương án phá dỡ, việc kiểm tra giám sát chưa thường
xuyên của các cơ quan chuyên môn của TP nên có tình
trạng các cơ sở tổ chức phá dỡ tàu cũ ngoài khu vực
lập phương án đã được chấp thuận và khó khăn cho công
tác quản lý, giám sát việc thực hiện. Việc quản lý,
thu gom, xử lý chất thải nguy hại của cả cơ quan quản
lý và đối tượng bị quản lý còn chưa được quan tâm
đúng mức, thể hiện ở việc chưa có hồ sơ đăng ký phát
sinh chất thải nào được cấp (trong số các đơn vị
được thanh tra, kiểm tra có phát sinh chất thải nguy hại,
đều không có loại hồ sơ này). Chất thải nguy hại chưa
được xử lý theo quy chế quản lý chất thải nguy hại,
hầu hết các cơ sở xử lý chôn lấp chất thải nguy
hại cùng với chất thải thông thường, đốt hoặc bán
thanh lý trôi nổi trên thị trường; Công tác thanh tra,
kiểm tra, xử lý vi phạm về BVMT đối với các cơ sở
hoạt động phá dỡ tàu cũ tại TP Hải Phòng kết quả còn
khiêm tốn, còn có những vi phạm chưa được xử lý kịp
thời theo quy định của pháp luật. Trong 6 cơ sở bị xử
phạt, có 5 đơn vị vi phạm và bị xử phạt từ 2 - 3 hành
vi vi phạm hành chính. Một số vi phạm đáng chú ý của các
cơ sở là: 100% các đơn vị được thanh tra, kiểm tra không
có hệ thống xử lý nước thải trước khi xả ra môi trường;
không có giấy phép xả nước thải vào nguồn nước và
xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép; 100% các đơn
vị được thanh tra, kiểm tra có phát sinh chất thải nguy
hại vi phạm quy chế quản lý chất thải nguy hại: không
có hồ sơ đăng ký chủ nguồn thải chất thải nguy hại;
bán hoặc ký hợp đồng vận chuyển, xử lý chất thải
nguy hại cho tổ chức, cá nhân không có giấy phép vận
chuyển, xử lý chất thải nguy hại; 100% bãi phá dỡ tàu
cũ bị ô nhiễm dầu, mỡ khoáng, rỉ sắt..., môi trường
đất và nước sông Cấm tại khu vực phá dỡ có hàm lượng
dầu mỡ khoáng và kim loại nặng vượt tiêu chuẩn cho phép.
Qua đợt thanh tra, kiểm tra, Đoàn đã tiến hành lập biên
bản vi phạm hành chính đối với 6 cơ sở đang hoạt động
(1 cơ sở đang phá dỡ và 5 cơ sở đang hoạt động nhưng
đã chuyển đổi ngành nghề khác) chuyển Chánh thanh tra
Sở TN&MT Hải Phòng đề nghị xử phạt vi phạm hành
chính với tổng số tiền 83.750.000 đồng. Các hành vi vi
phạm hành chính bị xử lý chủ yếu là vi phạm các quy
định về quản lý chất thải nguy hại (4 cơ sở), xả nước
thải vượt tiêu chuẩn cho phép (3 cơ sở), không có cam
kết BVMT (2 cơ sở) và thực hiện không đúng một trong
những nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường
đã được phê duyệt (1 cơ sở).
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp luật về BVMT ngày càng
hoàn thiện, các quy định của pháp luật về BVMT liên
quan đến hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ ngày càng
chặt chẽ cộng với sự phối hợp kiểm tra, giám sát thường
xuyên của các cơ quan chức năng dù còn nhiều ý kiến khác
nhau trong việc giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát
triển kinh tế với công tác BVMT trong hoạt động nhập
khẩu và phá dỡ tàu cũ. Tuy nhiên, với quy định cấm
nhập phương tiện vận tải đã qua sử dụng để phá
dỡ như quy định tại Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường
2005 là cần thiết. Chúng ta không thể vì một chút lợi
nhỏ trước mắt mà tiếp tục hủy hoại môi trường, để
lại hậu quả xấu cho xã hội và cho thế hệ mai sau.
|
|
BỘ
TN&MT THANH TRA 6 CƠ SỞ PHÁ DỠ TÀU CŨ TP. HẢI PHÒNG:
PHÁT HIỆN NHIỀU SAI PHẠM TRONG QUẢN LÝ CHẤT THẢI
NGUY HẠI
Theo chỉ đạo của
Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định số 473 ngày
5/4/2007, Đoàn Thanh tra Bộ TN&MT đã tiến hành
thanh tra 6 Công ty phá dỡ tàu cũ trên địa bàn TP.
Hải Phòng trong 3 ngày 10, 11 và 12/4/2007. PV báo Tài
nguyên & Môi trường đã ghi nhận kết quả thanh
tra bước đầu của Đoàn, phát hiện các đơn vị không
có bản cam kết bảo vệ môi trường, đặc biệt
việc quản lý, vận chuyển, xử lý các chất thải
nguy hại đều không đúng quy định pháp luật.
Rác và chất thải
nguy hại tập kết chung với mặt bằng sản xuất
Sau 3 ngày Đoàn
Thanh tra tiến hành thanh kiểm tra đối với 6 đơn
vị: Nhà máy Đóng tàu Phà Rừng, Công ty Công nghiệp
tàu thủy Ngô Quyền, Công ty TNHH Qúy Hải, Cổ phần
thương mại Duy Linh, Cổ phần thương mại Bến Nước,
Công ty Thương mại Nam Ninh đều có ghi nhận chung là
các cơ sở chưa có nơi thu gom, xử lý chất thải đúng
Luật Bảo vệ môi trường, tập kết rác thải chung
với mặt bằng phá dỡ, duy nhất có doanh nghiệp
Bến Nước không còn mặt bằng sản xuất vì đã
ngừng hoạt động từ tháng 7/2006. Việc này khiến lúc
phá dỡ, dầu cặn trong thân tàu và các loại rác
thải khác sẽ vương vãi, loang trên bề mặt, tạo thành
những khoảnh đất chết khi dầu ngấm xuống.
Sáng 11/4, Đoàn
Thanh tra làm việc với Công ty Quý Hải, ông Nguyễn
Xuân Quý – Giám đốc Công ty cho biết: “Rác thải
sinh hoạt được thu gom rồi ký hợp đồng với Công
ty Môi trường đô thị Hải Phòng để vận chuyển
đến nơi quy định. Riêng rác thải công nghiệp được
bán thanh lý cho các cơ sở làm chất đốt, bê tông tái
sử dụng làm vật liệu san lấp, bông thủy tinh bán
cho các nơi làm vật liệu cách nhiệt... Đối với
chất thải nguy hại như dầu thải sẽ bán cho các
đơn vị làm nhiên liệu đốt lò xi măng và nấu thép...”.
Tuy nhiên, khi kiểm tra hiện trường, phát hiện
nhiều gỉ sắt đã tạo thành mùn trộn lẫn với đất
nằm ngơm ngam bề mặt sản xuất. Những ô đất
khoảng 1,5m2 đến 2m2 bị ngấm dầu đen ngòm. Ngoài
ra, còn nhiều giẻ dầu, xốp, bông thủy tinh... vẫn
tồn trên bãi chưa được dọn sạch. Một số công
nhân làm việc tại bãi nói, giẻ lau dầu máy được
thu gom, đốt tự nhiên ngay trong mặt bằng sản xuất.
Ông Hoàng Văn Vy, Phó trưởng phòng Phòng Thanh
tra Môi trường và Tài nguyên nước (Bộ TN&MT) –
Trưởng đoàn khẳng định: “Các loại chất thải
nguy hại của đơn vị được bán cho những đơn vị
không có chức năng thu gom, xử lý theo Luật Bảo vệ
môi trường. Việc này cho thấy, họ đã không thực
hiện đăng ký Chủ nguồn thải các chất thải nguy
hại với Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố”.
Những sai phạm trên
đều xảy ra tương tự với các doanh nghiệp khác.
Theo biên bản được Đoàn Thanh tra lập, các Công ty
đều chưa có cam kết bảo vệ môi trường khi tiến
hành hoạt động phá dỡ mà chỉ có phương án phá
dỡ với từng con tàu khi nhập cảng. Điều đáng nói
là các bãi phá dỡ đều nằm ven bờ sông Cấm, nên
việc ảnh hưởng đến lưu vực sông là khó tránh
khỏi, dù chưa có kết luận chính thức là dò dỉ
dầu, nhưng tại thời điểm thanh tra thấy có váng
dầu loang ở mặt nước ven sông. Riêng Công ty Công
nghiệp tàu thủy Ngô Quyền còn kinh doanh thêm khí ôxy,
nitơ. Cống nước thải của Công ty này được đổ
chung vào nguồn nước thải của các hộ dân xung
quanh, rồi nhập vào sông Cấm.
Thân, vỏ tàu nhập
về chưa được làm sạch dầu mỡ...
Đa số tàu phá dỡ được các Công
ty nhập về từ Liên bang Nga, Ba Lan, Đức... Tuy nhiên,
thời điểm Đoàn tiến hành thanh tra thì 1 Công ty đã
ngừng sản xuất, 4 Công ty đã không nhập thêm tàu mà
chỉ phân loại, xử lý các phế liệu còn lại, duy có
doanh nghiệp Quý Hải vẫn đang phá dỡ 2 thân vỏ tàu.
Một thân, vỏ tàu tên Viktor Streltsov thông quan ngày
16/2/2007 đã phá dỡ được 30% vẫn neo ven dòng sông
Cấm, thân vỏ tàu khác tên Alksnine thông quan ngày
18/9/2006 đã phá dỡ được 80% và chuyển lên bãi
cạn.
“Theo quy định
của pháp luật, các thân vỏ tàu cũ có chứa nhiều
chất thải nguy hại, vì vậy khi đưa về Việt Nam thì
các doanh nghiệp phải làm sạch”, ông Vy cho biết.
Song, khi kiểm tra hiện trường tàu Viktor Streltsov thì
vẫn còn một số bộ phận máy móc, sắt thép, bông
thủy tinh, xốp cách nhiệt dính dầu mỡ, chưa được
phân lọc sạch. Theo báo cáo mà Giám đốc Nguyễn Xuân
Quý cung cấp, lượng dầu mỡ thải được thu hồi
từ tàu Viktor Streltsov khoảng 2,2 tấn. Tuy nhiên, đánh
giá này không thể chính xác, vì quan sát trực quan,
tại bề mặt phá dỡ của Công ty còn nhiều vết
dầu loang và không thể tính được lượng dầu này.
Bên cạnh việc
kiểm tra hiện trường, Đoàn thanh tra đã lấy mẫu các
nguồn chất thải của 5 doanh nghiệp (không lấy mẫu
đối với Công ty Bến Nước vì không có mặt bằng
sản xuất). Ông Hoàng Văn Vy cho biết: “Thời gian
tới Đoàn sẽ thanh kiểm tra ở một số cơ sở
tỉnh Phú Thọ. Riêng các cơ sở phá dỡ tàu cũ
cảng Hải Phòng, Đoàn sẽ có kết luận chính thức
về mức độ vi phạm và xử lý trong 2 ngày 2 và 3/5
tới”. Chúng tôi sẽ tiếp tục thông tin vấn đề này
trong các số sau.
Thiệu Anh (MONRE NET)
|
|
Ô
NHIỄM QUANH CẢNG HẢI PHÒNG: KHO RÁC KHỔNG LỒ TỪ TÀU
CŨ
|
|
SGGP,
ngày 24/10/2006
|
|
|
|
Cục
Hải quan Hải Phòng đang tạm giữ 2 con tàu cũ được
nhập về (trị giá hơn 1 triệu USD) vì vi phạm Luật
Bảo vệ môi trường. Nhiều tuần qua, đã có khá
nhiều ý kiến trái ngược xung quanh quy định của
luật khi cấm nhập khẩu tàu cũ vào Việt Nam để
“xẻ thịt”. Trong khi đó, hàng ngày hàng giờ,
hoạt động nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ đang biến
Hải Phòng thành một kho rác ngoại khổng lồ.
“Chiến trường” ngổn ngang
|
|
|
Cảnh
tượng ngổn ngang trong một hiện trường xả
thịt tàu cũ ở Hải Phòng.
|
Cả
một đoạn dài 3 - 4km chạy dọc khu vực cảng Hải
Phòng, cứ vài trăm mét lại mọc lên một công ty
chuyên phá dỡ tàu cũ. Bên những con tàu đồ sộ đang
bị khoan, rút, cưa, đập tan hoang là những kho bãi
sắt thép phế liệu nằm ngổn ngang.
Trước
đây, hoạt động phá dỡ chủ yếu với tàu nội địa,
nay lại toàn tàu cũ của nước ngoài. Đầu tư chỉ
vài trăm triệu đồng vốn cố định nhưng doanh thu
nhiều khi lên tới hàng chục tỷ đồng.
Theo TS Đào Viết Tác và TS Ngô Kim Định, thuộc Hội
Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Hải Phòng, đất
cảng Hải Phòng là nơi có năng lực phá dỡ tàu cũ
vào loại cao nhất nước hiện nay.
Hiện
ở đây có khoảng 300 doanh nghiệp chuyên nhập khẩu
và “xẻ thịt” tàu với tổng năng lực phá dỡ
100.000-120.000 tấn/năm. Trong đó, những “đại gia”
gồm Nhà máy Sửa chữa tàu biển Phà Rừng, Công ty
Phá dỡ tàu cũ, nhập khẩu phế liệu Hải Phòng, Công
ty Cơ khí công nghiệp và phá dỡ tàu cũ Hải Phòng,
Nhà máy Sửa chữa tàu biển Nam Triệu...
Mỗi cơ
sở kinh doanh nhập khẩu tàu cũ như vậy thường có
1 - 4 khu bãi phá dỡ nằm dọc lưu vực sông Cấm đổ
ra cửa khẩu Hải Phòng. Trong đó, lớn nhất là Nhà
máy Sửa chữa tàu biển Phà Rừng với tổng diện tích
bãi phá dỡ 4.000m2, mỗi năm “mổ” được khoảng
30.000 tấn thép phế liệu.
Mất nhiều hơn được
Tuy nhiên, TS Đào Viết Tác khẳng định, cơ sở hạ
tầng cũng như công nghệ của các doanh nghiệp phá
dỡ tàu cũ tại Hải Phòng hiện rất thô sơ, lạc
hậu. Phần lớn các doanh nghiệp chưa quan tâm đầu tư
công nghệ xử lý, khắc phục hậu quả ô nhiễm môi
trường.
Bởi
vậy, tình trạng ô nhiễm môi trường cả đất, khí
thải và nước quanh lưu vực nói riêng, trên toàn địa
bàn Hải Phòng nói chung đã ở mức đáng báo động
do chính hoạt động phá dỡ tàu cũ gây ra suốt
nhiều năm qua.
Trước biểu hiện nguy hại trên, hai chuyên gia của
Liên hiệp các Hội KH-KT Việt Nam Nguyễn Ngọc Sinh và
Lê Bích Thủy đã thực hiện một đợt điều tra
về mức ô nhiễm ở cảng Hải Phòng.
Theo đó,
các chuyên gia phát hiện rằng việc phá dỡ một con
tàu cũ có thể đem lại 90%-95% nguồn thép phế liệu
nhưng đã “đẻ” ra cả một núi chất độc hại
(chiếm 15%-20% trọng lượng tàu), gồm: nước bẩn
ở đáy tàu, nước ballast, dầu và nhiên liệu gây ra
sự cố tràn dầu, đặc biệt là sơn và lớp sơn
bảo vệ thân tàu, các mảnh kim loại.
Theo TS
Nguyễn Ngọc Sinh, lớp sơn chứa rất nhiều chất độc
hại đã bị cấm sử dụng như chì, kẽm, thủy ngân,
asen...
|
|
|
Cưa
cắt tàu cũ bằng những công nghệ thô sơ, lạc
hậu đã gây nhiều khói bụi và khí độc, làm
tổn hại sức khỏe con người.
|
Công
ty Cơ khí công nghiệp và phá dỡ tàu cũ Hải Phòng,
trong 5 năm, đã nhập 21 tàu cũ với tổng trọng lượng
68.000 tấn.
Sau khi
cắt phá đã để lại 12.850 tấn rác và số rác này
được đem... chôn lấp ngay tại bãi của công ty bên
sông Cấm. “Ai cũng biết những hóa chất này rất
độc hại. Trong đó, thủy ngân ảnh hưởng đến
hệ thần kinh. Bụi amiăng sẽ tích tụ trong cơ thể,
gây khó thở, dẫn đến ung thư sau này. Nhiễm độc
chì sẽ gây thiếu máu. Nhiễm asen sẽ ung thư phổi,
hệ tiêu hóa, gan, thận” - TS Nguyễn Ngọc Sinh
khẳng định.
Theo điều tra của Sở TN-MT Hải Phòng, hiện dọc sông
Cấm, đặc biệt là quanh lưu vực cảng Hải Phòng,
nguồn nước đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, nhiều nơi
lênh láng váng dầu. Trên bờ, rác thải công nghiệp
chất lên thành đống, không còn nơi để chôn lấp.
Tuy nhiên, những tác động tới sức khỏe và bệnh
tật của cư dân thì chưa cơ quan nào thống kê được.
VĂN PHÚC-TRẦN LƯU
|
|
HẢI
PHÒNG "THẢ NỔI" QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TẠI CÁC
CƠ SỞ PHÁ DỠ TÀU CŨ
|
|
|
|
|
|
|
Khu phá dỡ
tàu (ảnh minh họa)
|
|
Hải Phòng là nơi có nhiều địa điểm
thuận lợi cho việc phá dỡ tàu, từ lâu đã có
nhiều doanh nghiệp “đầu tư” vào ngành nghề
này. Những lạch phá dỡ của Hợp tác xã
Bạch Đằng, Xí nghiệp Kim khí công nghiệp và
phá dỡ tàu cũ; cầu tầu của Công ty VISDEMCO, Công
ty Vận tải thủy số 4, Xí nghiệp Xây dựng Ngô
Quyền, Vật Cách; bến cơ khí 82, nhà máy sửa
chữa tàu biển Phà Rừng; nhà máy sửa chữa và
đóng tàu Nam Triệu...luôn sẵn sàng “xẻ
thịt” những con tàu già nua, cũ kỹ, khả
năng phá dỡ từ 100.000 tới 120.000 tấn/năm.
|
Thực tế cho
thấy hạ tầng kỹ thuật của các cơ sở phá dỡ tàu
cũ tại Hải Phòng rất thô sơ, không phù hợp cho công
việc này, vì khi xây dựng không phải cho mục địch
phá dỡ tàu cũ. Công nghệ phá dỡ nói chung còn lạc
hậu, công đoạn cắt hoàn toàn do công nhân thực
hiện trực tiếp, chưa tự động hóa. Phương pháp
cắt chủ yếu bằng khí công nghiệp , axêtylen-ôxy,
nếu không có biện pháp phòng ngừa rất dễ gây cháy
nổ. Nhà máy tàu biển Phà Rừng, có năng lực phá
dỡ vào loại lớn nhất, mỗi năm có khả năng phá
dỡ 30.000 tấn, công nghệ cắt phá chủ yếu cũng là
dùng điện, khí công nghiệp và axytêlen-ôxy. Tàu được
phá dỡ có rất nhiều kích thước khác nhau từ vài
trăm tấn đến hàng vạn tấn, bao gồm rất nhiều
chủng loại như tàu chở hàng khô, tàu chở dầu,
chở gas, khí hóa lỏng, tàu chở tủ lạnh, tàu đánh
cá... Việc phá dỡ lại do rất nhiều thành phần
kinh tế từ các đơn vị kinh tế của nhà nước
tới tư nhân, lại thường tận dụng bến bãi, lao động
nhàn rỗi (thậm chí có nhóm tư nhân phá dỡ không có
mặt bằng bến bãi, phải thuê) không mấy chú trọng
đến công tác đầu tư công nghệ chưa nói tới
việc bảo vệ môi trường. Mặc dù chất lượng không
khí tại một số khu vực như tại Cty VISDEMCO,
Cty Công nghiệp và Phá dỡ tàu cũ... chưa vượt quá
giới hạn cho phép; nhưng chất lượng môi trường nước
lại có vấn đề. Theo kết quả khảo sát, lấy mẫu
phân tích chất lượng nước tại các khu phá vực phá
dỡ, cho thấy mẫu nước lấy ở các lacanh tàu phá
dỡ hầu hết các chỉ tiêu đều vượt xa tiêu
chuẩn cho phép. Hầu hết các cơ sở phá dỡ tàu
tại Hải Phòng chưa thực hiện đúng các văn bản pháp
quy về bảo vệ môi trường hoặc có thực hiện nhưng
chưa đầy đủ: khi đưa tàu vào phá dỡ không
lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình lên
các cơ quan quản lý, hoặc báo cáo chỉ mang tính
chất hình thức; chưa có biện pháp phòng chống cháy
nổ, tràn dầu và các biện pháp ứng cứu khi có sự
cố môi trường. Các chất thải nguy hại phát sinh
trong quá trình phá dỡ như Amiăng, dầu, nước bẩn
ở đáy tầu, nước ballast, sơn, lớp sơn bảo vệ...
đều rơi vãi tự do trên mặt đất, mặt nước;
phần thu gom lại để lẫn cùng chất thải sinh
họat, đổ vào bãi rác chung của thành phố. Cho tới
nay, tất cả các cơ sở phá dỡ tàu cũ đều dùng các
tấm xốp kê vòng quanh con tàu phá dỡ làm phao ngăn
dầu . Loại phao này chỉ mang tính chất đối phó
với cơ quan quản lý môi trường, hoàn toàn không có
khả năng ngăn chặn dầu loang. Rỉ sắt phát sinh
trong quá trình phá dỡ thường được dùng san lấp
mặt bằng. Một số chất thải rắn như cao su,
nhựa, gỗ vụn được gom vào đốt hoặc đổ vào bãi
rác chung...
Cho tới nay
việc khảo sát, đánh giá tác động môi trường
của các cơ sở phá dỡ tàu cũ tại Hải Phòng vẫn
chưa được quan tâm đúng mức. Một phần do việc phá
dỡ tàu quá phân tán, theo thời vụ, nhưng chủ yếu
là do các cơ sở này chưa thấy hết nguy cơ tiềm
ẩn của công nghệ phá dỡ tàu cũ đối với môi trường
và sức khỏe con người. Cơ quan chức năng của thành
phố cũng chưa có biện pháp tích cực để giải
quyết vấn đề này.
Nguyễn
Hải (Hải Phòng) (Mạng Monre.gov.vn)
|
|
NHẬP
KHẨU, PHÁ DỠ TÀU CŨ VÀ VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
(Mạng VUSTA)
|
|
Đó là
chủ đề tọa đàm do Liên hiệp các hội
KH&KT Việt Nam phối hợp với Hội Bảo
vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam
tổ chức sáng 26/9/2006 tại Hà Nội. Cùng
với cuộc tọa đàm do Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam và báo Diễn đàn
doanh nghiệp tổ chức trước đó, tại
cuộc tọa đàm này, một lần nữa vấn đề
dung hòa giữa phát triển kinh tế với bảo
vệ môi trường lại được đặt ra.
Khi
các luật “vênh” nhau
Xuất
phát điểm của 2 cuộc tọa đàm là những
phản ứng của một số doanh nghiệp có
hoạt động liên quan đến việc nhập
khẩu, phá dỡ tàu cũ và Hiệp hội Thép
Việt Nam đối với Luật Bảo vệ môi trường
(có hiệu lực ngày 1/7/2006) và Nghị định
12/2006/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Thương
mại. Cụ thể, mục b, khoản 2, Điều 42 nêu:
Cấm nhập khẩu máy
móc, thiết bị, phương tiện giao thông
vận tải đã qua sử dụng để phá dỡ.
Còn Nghị định 12 thì cấm nhập khẩu
vật tư, phương tiện đã qua sử dụng.
Trong
khi trước đó, các doanh nghiệp kinh doanh thép
phế liệu đang hoạt động theo Nghị định
số 49/2006/NĐ-CP ngày
18/5/2006
của Chính phủ, cho phép mua bán tàu biển cũ
để phá dỡ. Khoản 2, Điều 23 Nghị định
này quy định: tàu biển nhập khẩu để phá
dỡ phải đảm bảo các điều kiện: không
sửa chữa hoán cải hoặc phục hồi để
sử dụng vào mục đích khác; có phương án
phá dỡ, biện pháp phòng chống cháy nổ và
phòng ngừa ô nhiễm môi trường được các
cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; có
quyết định mua, bán tàu biển của các
cấp có thẩm quyền. Như vậy, Nghị định
49 có hiệu lực thi hành mới được một
tháng thì đã bị Nghị định 12 và Luật
Bảo vệ môi trường phủ định.
Điều
19 Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày
9/8/2006
của Chính phủ (hướng dẫn thi hành một
số điều của Luật Bảo vệ môi trường)
cũng quy định: sẽ xử phạt hành chính
hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự tùy
theo tính chất, hành vi vi phạm môi trường.
Phạt tiền từ 25-40 triệu đồng nếu các
hành vi nêu trên gây ô nhiễm môi trường
hoặc nhập khẩu máy móc, thiết bị, phương
tiện vận tải đã qua sử dụng để phá
dỡ không đúng với quy định của pháp
luật về bảo vệ môi trường. Nếu theo
quy định này thì đương nhiên doanh nghiệp
vẫn được nhập tàu cũ và nếu vi phạm
những quy định trên thì sẽ bị xử
phạt.
Bình
luận về sự thiếu đồng bộ, không ăn
khớp giữa các quy định nêu trên, TS
Nguyễn Quang Tuyến (ĐH Luật Hà Nội) cho
rằng, “công nghệ” làm luật ở Việt
Nam là công nghệ vá săm xe đạp, thủng đâu
vá đấy, còn quy trình làm luật thì
“nghiệp dư”.
Chính
những quy định thiếu đồng bộ kể trên
đã khiến nhiều doanh nghiệp “khóc dở,
mếu dở”. Công ty Phá dỡ tàu biển Quý
Hải đang có 2 tàu cũ nằm chờ tại cảng
Hải Phòng, 2 tàu nữa sẽ về trong tháng 9
này. Công ty Duy Linh, chi nhánh Công ty Sửa
chữa tàu biển Phà Rừng, cũng đang lưu kho
cảng 4 tàu biển. Hiện tại, các doanh
nghiệp đang phải chịu mọi chi phí bến bãi,
lưu kho, lãi ngân hàng, trả lương công nhân
đang chờ việc...
Lợi
trước mắt, hại lâu dài
Nếu
vấn đề chỉ là sự thiếu đồng bộ
của các quy định thì chỉ cần điều
chỉnh lại. Thế nhưng ở tọa đàm này,
tiếng nói của các nhà khoa học, nhà môi
trường rất mạnh mẽ, dứt khoát về nguy
cơ ô nhiễm môi trường do hoạt động phá
dỡ tàu cũ gây ra.
 |
| ThS
Lê Bích Thủy trình bày tổng quan
về phá dỡ tàu cũ. |
Cái lợi về kinh tế do
hoạt động này thì có thể thấy rõ. Theo
nghiên cứu của TS Nguyễn Ngọc Sinh và ThS
Lê Bích Thủy, thì trên thế giới có
khoảng 45.000 tàu biển hoạt động/năm.
Tuổi thọ trung bình của mỗi tàu là 25-30
năm; có khoảng 700 tàu được phá dỡ/năm,
trong đó 95% trọng lượng tàu được thu
hồi là thép. 90% số tàu được phá dỡ
tại các nước đang phát triển và ngành
“công nghiệp” này đem lại việc làm cho
khoảng 100.000 người. Chủ cơ sở phá dỡ
tàu cũ có thể hưởng lợi khoảng hàng
triệu USD từ hoạt động này. Ở
Việt Nam, thép phế liệu thu hồi từ tàu cũ
đã góp phần làm giảm áp lực về nguyên
liệu cho ngành công nghiệp thép vồn còn
non trẻ
(chiếm khoảng 25%). Hơn nữa, theo ông
Nguyễn Tiến Nghi, Phó Chủ tịch Hiệp hội
Thép Việt Nam, Ủy viên BCH Hội KHKT Đúc -
Luyện
kim
Việt Nam, so với thép phế liệu thu gom
trong nước và nhập khẩu, thép lấy từ tàu
cũ ít tạp chất hơn, do đó giảm giá
thành trong khâu sản xuất, chế
biến. Ông Nghi cũng cho biết, hiện nay ở nước
ta, ngoài Công ty Gang Thép Thái Nguyên có
thể tự chủ được 60% lượng phôi thép
thì đa số các doanh nghiệp trong ngành, kể
cả công ty liên doanh, đều phải nhập phôi
thép từ nước ngoài. Vì thế, nếu áp
dụng Luật Bảo vệ môi trường thì
“thật thiệt thòi cho ngành thép và cho đất
nước”.
Tuy
nhiên, theo các nhà khoa học, nhà môi trường,
cái hại do phá dỡ tàu cũ còn “tiềm
ẩn” nhưng sẽ gây hậu quả lâu dài đối
với môi trường và sức khỏe cộng đồng.
Cũng
theo nghiên cứu của TS Sinh và ThS Thủy,
trong quá trình phá dỡ tàu cũ sẽ sản sinh
nhiều chất độc hại như thủy ngân, amiăng,
chì, asen, crôm, dioxin... gây ung thư và
bệnh về thận, các chất hữu cơ (TBT,
TBTO, TBTCI) ảnh hưởng đến thần kinh. Theo
tính toán, mỗi con tàu khi phá dỡ xong có
một lượng phế thải không tận dụng được
(khoảng 15% đối với tàu do các nước tư
bản đóng, 20% với tàu của các nước
XHCN). Hai nhà khoa học cũng thu thập được
những hình ảnh về hoạt động phá dỡ tàu
ở một số nước châu Á và ở Việt
Nam
.
Những hình ảnh này cho thấy công nhân phá
dỡ tàu chủ yếu là người nghèo, không
được trang bị các công cụ bảo vệ khi làm
việc. Điều đó có nghĩa là những chất
độc hại sinh ra khi phá dỡ tàu sẽ trực
tiếp ảnh hưởng đến người lao động,
sau đó do quá trình xử lý sơ sài sẽ gây
ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
và hậu quả thì các thế hệ tương lai gánh
chịu.
Nghiên
cứu của TS Đào Viết Tác và TS Ngô Kim Định
(Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
Hải Phòng) cho thấy tại Hải Phòng, địa
phương có năng lực phá dỡ tàu vào loại
cao nhất nước, hạ tầng kỹ thuật của các
cơ sở phá dỡ tàu cũ còn kém hoặc không
phù hợp. Công nghệ phá dỡ tại Việt Nam
nói chung và ở Hải Phòng nói riêng còn
lạc hậu, công đoạn cắt hoàn toàn do công
nhân thực hiện trực tiếp với phương pháp
chủ yếu bằng khí công nghiệp, axetylen, điện,
dễ gây cháy nổ nếu không có biện pháp
an toàn nghiêm ngặt. Chủ cơ sở thuộc
nhiều thành phần kinh tế khác nhau, thường
tận dụng bất cứ nơi nào có bến bãi,
mặt bằng, lực lượng lao động nhàn rỗi
để thực hiện phá dỡ tàu.
Các
nhà khoa học cũng lấy mẫu nước, không khí
để nghiên cứu và kết quả cho thấy mẫu
nước ở khu vực tàu phá dỡ hầu hết đều
vượt xa chỉ tiêu cho phép.
Chính
vì tác hại đến môi trường và sức
khỏe con người nên ngay từ những năm 90
của thế kỷ trước, hoạt động phá dỡ
tàu đã dịch chuyển từ các nước phát
triển sang các nước đang phát triển.
Cộng đồng quốc tế cũng có nhiều quy định
nghiêm ngặt với hoạt động này như Công
ước
Basel
coi nhập khẩu các loại tàu cũ để phá
dỡ là nhập chất thải vào nước nước
nhập khẩu. Các tổ chức Hàng hải quốc
tế và Lao động quốc tế đều có những
quy định liên quan đến hoạt động này. Và
ở Việt
Nam
,
như đã nêu ở trên, Luật Bảo vệ môi trường
cấm nhập tàu cũ để phá dỡ.
Hướng
xử lý
ThS
Nguyễn Văn Phương cho biết, theo quy định
tại Điều 80 Luật ban hành văn bản quy
phạm pháp luật (1997) thì: “Trong trường
hợp các văn bản quy phạm pháp luật có
quy định khác nhau về cùng một vấn đề
thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý
cao hơn. Trong trường hợp các văn bản quy
phạm pháp luật về cùng một vấn đề do
cùng một cơ quan ban hành mà có quy định
khác nhau thì áp dụng quy định của văn
bản được ban hành sau”. Như vậy, phải
áp dụng Luật Bảo vệ môi trường (2005),
nghĩa là hành vi nhập khẩu tàu cũ để phá
dỡ là không được phép.
 |
| TS
Nguyễn Quang Tuyến |
Thế nhưng nếu chỉ theo
những quy định đôi khi “lạnh lùng”
của luật pháp thì người bị thiệt ở đây
chính là doanh nghiệp. Vì thế, TS Nguyễn
Quang Tuyến đề nghị một giải pháp “tình
thế” là cho các doanh nghiệp thực hiện
nốt những hợp đồng ký trước ngày
1/7/2006 (ngày Luật Bảo vệ môi trường có
hiệu lực thi hành), kèm theo những quy định
nghiêm ngặt về bảo vệ môi trường. Về
lâu dài, theo ông Tuyến, các doanh nghiệp
cần sắp xếp, chuyển đổi ngành nghề
hoạt động. Các bộ Công nghiệp, Tài nguyên
Môi trường, Thương mại cần họp bàn để
trình Chính phủ biện pháp tháo gỡ khó khăn
cho ngành thép.
Theo
đa số đại biểu dự tọa đàm, trong
thời gian tới, cần thiết phải có những
nghiên cứu về tác động môi trường của
hoạt động phá dỡ tàu cũ tại Việt
Nam
.
Hơn nữa, cần nhanh chóng xây dựng và ban hành
thông tư hướng dẫn thực hiện Luật Bảo
vệ thiên nhiên môi trường, với danh mục
cụ thể các phế thải không được nhập
vào Việt
Nam
.
Bài:
Linh Ngọc; Ảnh: Quyết Chiến, Phi Long
|
|
KHÔNG
VÌ LỢI ÍCH TRƯỚC MẮT MÀ QUÊN TRÁCH NHIỆM BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG
(Tạp
chí BVMT, ngày 28/9/2006)
Luật
Bảo vệ môi trường 2005 đã được Quốc hội thông qua
ngày 29/11/2005 tại kỳ họp thứ 8 - Quốc hội khoá XI và
chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006. Tuy
nhiên, trong thời gian gần đây, một số doanh nghiệp
chuyên nhập khẩu, phá dỡ tàu cũ và Hiệp hội Thép
Việt Nam có rất nhiều ý kiến phản ánh việc kinh doanh
của doanh nghiệp mình đang bị Luật Bảo vệ môi trường
2005 “cản trở” hoặc “Nghị định đá Luật”
(Nghị định 49/CP). Để rộng đường dư luận và
khẳng định tính đúng đắn của một văn bản pháp
luật do Quốc hội thông qua và Chính phủ đã ban hành góp
phần BVMT đất nước trong quá trình phát triển và hội
nhập kinh tế quốc tế, ngày 26/9/2006, tại Hà Nội, Liên
hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên
hiệp Hội) đã tổ chức buổi tọa đàm “Nhập khẩu,
phá dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường”. Tham gia tọa
đàm có đại diện Văn phòng Chính phủ, Bộ Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Công nghiệp...; Hội Bảo vệ Thiên
nhiên và Môi trường Việt Nam, Hội BVTN&MT Hải Phòng,
Hiệp hội Thép Việt Nam, Đại học Luật Hà Nội, Đại
học Khoa học tự nhiên Hà Nội, các nhà khoa học, nhà
quản lý; đại diện 2 doanh nghiệp chuyên nhập, phá dỡ
tàu cũ tại TP Hải Phòng và hàng chục cơ quan báo chí
TW và Hà Nội...
Theo ThS. Lê Bích Thủy - Hội BVTN&MT Việt Nam, trên
thế giới có 45.000 tàu biển hoạt động /năm, tuổi
thọ trung bình là 25 - 30 năm mà mỗi năm thế giới phá
dỡ 700 con tàu tức là sẽ thu được hàng chục triệu
tấn thép (chiếm khoảng 95% khối lượng tàu). Hàng trăm
nghìn công nhân đang là việc cho các công ty phá dỡ tàu
(chủ yếu là thủ công) là những người nghèo, không có
đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động nên luôn đối
mặt với khả năng nhiễm các chất độc hại của tàu
cũ như: Amiăng, sơn thân tàu chứa nhiều ô xít chì, PCB,
thủy ngân, thạch tín (as), TBT...; dầu, xăng và nước
bẩn trong nước ballast; kim loại nặng... và gây ra các
bệnh nhiễm độc hệ thần kinh, ung thư da, phổi. Người
được hưởng lợi chính là những chủ phá dỡ tàu.
Họ “không cần biết” rằng, các tàu được đóng
từ những năm 60 - 70 của thế kỷ trước mang rất
nhiều chất độc hại ảnh hưởng đến sức khỏe và môi
trường, chi phí cho xử lý rất lớn nên các nước công
nghiệp phát triển đã bán, thậm chí còn cho không nhằm
đẩy đuổi những con tầu này ra khỏi đất nước họ.
Việc làm đó đã vi phạm Công ước Basel về quản lý
vận chuyển chất thải nguy hại xuyên biên giới. Do đó
khẳng định, phá dỡ tàu là một ngành công nghiệp gây
ô nhiễm môi trường, các tàu cũ được phá dỡ là
chất thải công nghiệp nguy hại, cho nên phải quản lý
chặt chẽ hoạt động phá dỡ, tránh làm tổn hại đến
môi trường và sức khỏe con người.
Ông Nguyễn Tiến Nghi, Phó chủ tịch Hiệp hội Thép
Việt Nam đưa ra ý kiến về lợi ích từ phá dỡ tàu cũ,
khoảng 95% thép được thu hồi phục vụ cho ngành luyện
thép do việc cung ứng trong nước không đủ cho phát
triển sản xuất. Luật Bảo vệ môi trường 2005 có
hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006 cấm nhập khẩu máy
móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải đã qua
sử dụng để phá dỡ nhưng trước đó, tại Nghị định
49/NĐ-CP ngày 18/5/2006 về đăng ký, mua bán tàu biển(điều
23, khoản 2) lại cho nhập. Vậy thì doanh nghiệp phải
thực hiện theo văn bản nào?
Cùng quan điểm với ông Nghi, ông Nguyễn Văn Quý, Giám
đốc công ty TNHH Quý Hải - Hải Phòng cho rằng, lượng
chất thải nguy hại trong các tàu cũ ít hơn tại các xưởng
đóng tàu. Trước đây chúng tôi vẫn làm, tạo điều
kiện việc làm cho công nhân, đóng góp cho ngân sách và
cung ứng cho các công ty thép, các làng nghề nguyên vật
liệu. Luật BVMT cấm nhập làm cho chúng tôi xoay sở không
kịp vì một số tàu nhập về trước ngày 1/7/2006 vẫn
nằm ở cảng chưa được thông quan, gây thiệt hại cho
doanh nghiệp. Đề nghị cơ quan chức năng cần có biện
pháp điều chỉnh cho phù hợp...
TS. Đào Viết Tác, Chủ tịch Hội BVTN&MT Hải Phòng-
Là địa phương có nhiều doanh nghiệp phá dỡ tàu
nhất, cho biết: Hải Phòng có rất nhiều cơ sở phá
dỡ tàu cũ, từ các công ty có máy móc thiết bị đến
việc phá dỡ hoàn toàn là thủ công, lao động chân tay.
Năng lực phá dỡ hiện nay là 100.000 – 120.000 tấn/năm
và ngày càng tăng nhanh do Hải Phòng có cảng biển,
luồng lạch thuận tiện để cho tàu cũ vào phá dỡ.
Lợi ích của việc phá dỡ là không phủ nhận nhưng tác
hại từ đây cũng không hề nhỏ. Đã phát hiện hiện tượng
chôn lấp chất thải nguy hại thải ra từ tàu với
chất thải sinh hoạt, điều này đặc biệt nguy hiểm vì
ẩn hoạ cho môi trường và sức khỏe con người. Nhà nước
cần có quan trắc, đánh giá cụ thể về các chất
thải nguy hại trong phá dỡ tàu cũ và doanh nghiệp nào
không tuân thủ các quy định về môi trường, có thưởng
phát nghiêm minh theo pháp luật. Bên cạnh đó, cơ quan
quản lý có hướng dẫn cụ thể doanh nghiệp và đưa ra
tiêu chí chung để giúp công tác quản lý thuận lợi hơn.
GS. TSKH Nguyễn Văn Trương, Viện trưởng Viện kinh tế
sinh thái và GS. TS Trần Hiếu Nhuệ (Hội BVTN&MT Việt
Nam) tỏ rõ quan điểm: tàu cũ là chất thải nên phải
quản lý chặt chẽ. Phát triển kinh tế phải đi đôi
với BVMT, đừng vì một số lợi ích kinh tế trước
mắt mà quên đi việc BVMT, bảo vệ sức khỏe người dân.
Đừng biến Việt Nam trở thành một bãi rác. Vừa qua, có
doanh nghiệp vì ham lợi nhuận đã cố tình nhập ắc quy
chì phế thải, rác thải điện tử,...nếu không quản lý
tốt và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm thì nguy cơ đó
sẽ trở thành hiện thực mà rất nhiều nước đang phát
triển đã và đang gặp phải.
TS Phạm Văn Tân (Liên hiệp Hội) cung cấp: trên thế
giới, hàng năm có hàng trăm con tàu cũ bị “đánh đắm”
ngoài biển khơi nhằm “giảm chi phí” cho việc xử lý
về môi trường. Hành vi này rất nguy hiểm và cần
phải ngăn chặn vì nó sẽ làm ô nhiễm trên diện rộng
trong thời gian dài, thậm chí ảnh hưởng ngay đến
những vùng xung quanh khu tàu “bị đắm”. Nếu sơ tính
từ 1 - 3% của các chất thải nguy hại của hàng trăm
nghìn tấn thép nhập vào Việt Nam thông qua phá dỡ tàu/năm
sẽ ra một con số thật đáng sợ. Nếu không được
quản lý, xử lý tốt nó sẽ gây ra hậu quả khôn lường
cho môi trường và con người. Đề nghị, nên điều
chỉnh Nghị định 49/CP cho phù hợp với Luật BVMT 2005 và
có cách tháo gỡ cho doanh nghiệp.
Đại diện giới luật gia, TS. Nguyễn Quang Tuyến và ThS.
Nguyễn Văn Phương (Đại học Luật Hà Nội) khẳng định,
Theo Điều 80, Luật Ban hành các văn bản quy phạm pháp
luật ghi rõ: giữa 2 văn bản là Luật và Nghị định có
quy định khác nhau thì phải thực hiện theo Luật. Cùng
một cấp ra 2 văn bản khác nhau thì thực hiện văn bản
ra sau. Như vậy, Luật BVMT 2005 là công sức của Quốc
hội, Chính phủ, các ban/ngành, đã được bàn bạc, tham
khảo rất kỹ và được các đại biểu Quốc hội
thảo luận qua 2 kỳ họp, được nhất trí thông qua ngày
29/11/2005. Điều đó thể hiện ý chí của toàn Đảng,
toàn dân ta trong quá trình phát triển và hội nhập, phát
triển phải đi đôi với BVMT tức là phải bền vững.
Thời gian qua, một số thông tin cho rằng Nghị định “đá”
Luật hay Luật “cản trở” sự phát triển kinh doanh là
sai. Luật đã được thông qua 8 tháng, doanh nghiệp phải
tự tìm hiểu các quy định của Luật, thấy được
thuận lợi, khó khăn của mình để điều chỉnh cho phù
hợp trước khi Luật có hiệu lực. Luật thì bất cứ cơ
quan, đơn vị, cá nhân nào cũng phải thực hiện. Các văn
bản trái với Luật thì phải điều chỉnh, sửa đổi,
thậm chí là hủy cho phù hợp với Luật. Ông Tuyến đề
xuất, trước mắt các tàu đã nhập, hoặc đã ký kết
các hợp đồng mua bán và thanh toán trước ngày 1/7/2006
thì cơ quan chức năng xem xét từng trường hợp cụ
thể cho thông quan, hạn chế thiệt hại cho doanh nghiệp.
Về lâu dài, các đơn vị, doanh nghiệp phá dỡ phải đầu
tư hệ thống phá dỡ hiện đại, đảm bảo tiêu chuẩn
môi trường. Các nhà quản lí nên có ngay Thông tư hướng
dẫn cụ thể giải quyết vấn đề này. Đồng thời, ra
bộ tiêu chuẩn các chất thải để áp dụng, so sánh...
Theo đại diện Văn phòng Chính phủ, Luật do Chính phủ
xây dựng, Quốc hội thông qua và các Bộ/ngành đã đồng
ý. Pháp luật cấm thì doanh nghiệp có hướng chuyển đổi
ngành nghề cho phù hợp. Ví như trước đây, Quyết định
406/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về cấm sản
xuất và đốt pháo, làng pháo Bình Đà (Hà Tây) gặp
rất nhiều khó khăn. Tuy vậy, xác định đây là một
chủ trương đúng đắn nên các cấp chính quyền và người
dân cùng khắc phục khó khăn, chuyển đổi ngành nghề,
đến nay cuộc sống đã ổn định. Mặt khác, cơ quan
quản lý chuyên ngành cần có bộ tiêu chuẩn các chất
thải sau này làm căn cứ để áp dụng và tránh được
những xung đột tương tự về lợi ích giữa doanh
nghiệp với cơ quan quản lý...
Tổng hợp các báo cáo và nhiều ý kiến trao đổi, kết
luận của ông Hồ Uy Liêm - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư
kí Liên hiệp Hội nêu rõ: Luật đã có hiệu lực thi hành
thì tất cả các cấp, các ngành và mọi người dân đều
phải thực hiện. Các văn bản trái với các quy định
của Luật đều phải chỉnh sửa cho phù hợp với
Luật. Bộ TN&MT, Bộ Công nghiệp, Tổng cục Hải quan
sớm có bàn bạc, đề ra hướng giải quyết hợp lý,
dứt điểm, hạn chế thiệt hại cho doanh nghiệp trong quá
trình thực hiện Luật BVMT 2005.
Tâm Đức
NGỪNG
NGAY NHẬP KHẨU TÀU CŨ ĐỂ DỠ LẤY SẮT VỤN
Đây là ý kiến của các nhà
khoa học, đại diên các cơ quan quản lý và một số
doanh nghiệp tại cuộc Tọa đàm về chủ đề: “Nhập
khẩu, phá dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường” do Liên
hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật VN tổ chức hôm
nay, tại Hà Nội.
|
|
|
Xử lý thép phế liệu nhập
khẩu tại cảng Hải Phòng. Ảnh : TP
|
Mặc dù có nhiều ý kiến khác
nhau, nhưng tất cả các đại biểu tham dự cuộc toan đàm
này đều thống nhất cho rằng nguyên tắc tối thượng
là: mọi người phải tuân thủ luật pháp, đặc biệt là
Luật Bảo vệ môi trường, khi Bộ luật này chính thức
có hiệu lực từ ngày 1/7/2006.
Quan điểm của đại diện
Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam là:
việc nhập, phá dỡ tàu cũ để lấy thép chỉ có lợi
cho một số cá nhân và doanh nghiệp, gây thiệt hại lâu
dài cho môi trường của nước ta, nhất là những công
nhân làm nghề phá dỡ tàu cũ và cư dân các khu vực
phụ cận.
Theo số liệu của Hội công
bố: Công ty công nghiệp tàu thủy Ngô Quyền (Hải Phòng)
trực thuộc Tông Công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam
chỉ có vốn liếng 200 triệu đồng (năm 1996) doanh thu 2
tỷ đồng, nhưng đến tháng 9/2001 đã có doanh thu 40 tỷ
đồng, nhưng người công nhân phải làm việc trong môi
trường độc hại và lương bình quân hàng tháng của
họ chỉ là 1 triệu đồng.
Đặc biệt, các chất độc
hại trong phá dỡ tàu như: ami ăng ( dùng để cách
nhiệt và chống hỏa hoạn trên tàu), ô xít chì, PCB (dùng
chống mài mòn), thạch tín, Thủy ngân (trộn vào sơn để
chống hà)...sẽ tồn lưu lâu dài trong môi trường và đe
dọa tới sức khỏe và tính mạng của con người.
Các chuyên gia này cho rằng:
Phá dỡ tàu biển lấy sắt thép là “Công nghiệp gây
chết người”. Mặc dù chỉ có thống kê về những
thiệt hại do nổ ga, nhiễm độc thủy ngân, ung thư
phổi do bụi amiăng, nhiễm độc chì và Asen... ở nước
ngoài, nhưng các tác giả này cũng thống kê được khá
cụ thể về một lượng rác thải khổng lồ của công
ty sản xuất khí công nghiệp-phá dỡ tàu cũ tại Việt
Nam đã thải ra trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2001.
Đồng thời cho biết: số rác
độc hại này này hoàn toàn không được xử lý, mà
chỉ chôn lấp sơ sài tại bãi phá dỡ của công ty. Nghiêm
trọng hơn cả là: những người lao động sống và làm
việc trong môi trường này không được trang bị các công
cụ bảo vệ cá nhân nào và họ rất dễ bị ảnh hưởng
đến sức khỏe.
Đại diện Hiệp hội Thép
Việt Nam và một số cơ sở chuyên phá dỡ tàu cũ mặc
dù khẳng định rằng: công nghiệp phá dỡ tàu cũ để
lấy thép đã mang lại hiệu quả rất lớn về kinh tế
(mỗi tấn thu lợi 200 USD), tạo nhiều việc làm cho người
lao động; đồng thời phàn nàn: do văn bản pháp quy
của nhà nước chồng chéo; còn nhiều ý kiến chỉ đạo
triển khai Luật BVMT khác nhau, thiếu thực tiễn, gây
phiền hà cho các doanh nghiệp.
Đặc biệt, các doanh nghiệp
thực hiện theo Nghị định 49 của Thủ tướng Chính
phủ chưa được bao lâu thì lại bị văn bản khác phủ
định |