TÔI CÓ Ý KIẾN !
(01/06)


Hà Nội: 60.000 tấn rác thải trong dịp Tết
Thái Nguyên: Sông Cầu ô nhiễm vì..."ông Công, ông Táo" !
Chung tay cho một giao thừa sạch  
Cuộc thi viết "Cộng đồng và môi trường
Cảnh báo về sự bùng phát cây trinh nữ đầm lầy ở Ba Vì (Hà Tây) và Sóc Sơn (Hà Nội)
Sách Đỏ Việt Nam: Nhìn vào mà lo
Đa dạng sinh học các khu rừng ở vùng thấp của Việt Nam  không còn nguyên vẹn
Hà Nội ô nhiễm nhiều hơn về mùa đông

Cần xã hội hóa hoạt động Bảo vệ môi trường
Hà Nội: Báo động ô nhiễm bụi - tiếng ồn

Sông Vua kêu cứu
An Giang: Nhà máy gây ô nhiễm, dân kêu cứu!
Đồng Nai: Báo động nạn đánh bắt thủy sản mang tính hủy diệt

Hãy cứu những dòng sông đang chết !
Hà Nội: Cần những giải pháp chiến lược để giảm thiểu ô nhiễm bụi
Đồng bằng sông Cửu Long:  Nguy cơ hủy hoại môi trường vì nuôi tôm cá

 

Hà Nội: 60.000 tấn rác thải trong dịp Tết

 

Thu gom rác thải đô thị

Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội cho biết, dự kiến trong dịp Tết Nguyên đán, Công ty sẽ thu dọn, vận chuyển và xử lý 60.000 tấn rác, trong đó ngày cao điểm là 30 và mùng 1 Tết Âm lịch thu gom khoảng 3.500 tấn/ngày, gấp 2 lần khối lượng ngày thường.

Ngoài ra, Công ty còn thu dọn, vận chuyển 10.000 tấn đất thải, sử dụng 49.000 m3 nước rửa đường, quét 11500 km đường bằng xe quét hút. 100% cán bộ, công nhân viên, phương tiện được huy động tăng ca, thêm giờ (đi làm sớm đầu ca 30 phút và làm thêm 30 phút cuối ca), đặc biệt trong đêm giao thừa, toàn bộ công nhân viên công ty đi làm đến sáng mùng 1 Tết, tập trung ở các khu vực bắn pháo hoa, khu trung tâm và các điểm vui chơi trong thành phố, thu dọn hết đất, rác thải.

Từ nay đến Tết, Công ty tiến hành duy trì sạch sẽ các nhà vệ sinh công cộng, chuẩn bị 60 nhà vệ sinh công cộng lưu động, sẵn sàng đưa ra phục vụ khi có yêu cầu, tổ chức kiểm tra thay thế các thùng rác  cũ, hư hỏng, lắp đặt thêm 200 đến 300 thùng rác các loại trên các tuyến phố và khu dân cư, tăng cường công tác rửa đường, quét hút bụi bằng xe chuyên dụng, tiến hành rửa đường luân phiên trên địa bàn từng quận kết hợp với 10 xe quét hút tập trung tại các trục đường chính, tuyến có nhiều phương tiện vận chuyển vật liệu xây dựng.

Tuyết Mai (Theo www.monre.gov.vn)  

 

 

Thái Nguyên: Sông Cầu ô nhiễm vì..."ông Công, ông Táo" !

 

Mặt sông Cầu sau Tết ông Công ông Táo

Ngày 23/1, tức một ngày sau "Tết ông Công, ông Táo), nhiều người dân Thái Nguyên không khỏi xót xa khi đi qua cầu Gia Bảy: dòng sông Cầu vốn đã bị ô nhiễm nặng, nay lại càng ô nhiễm hơn bởi tràn ngập những túi nilon. Một người dân Làng Đông ( Đồng Hỷ) bức xúc: Năm nào cũng vậy, cứ đến Tết ông Táo, người ta thi nhau mang túi nilon đựng cá chép thả xuống sông Cầu nên dòng sông Cầu đoạn chảy qua TP Thái Nguyên phủ kín những chiếc túi nilon, trôi dạt khắp nơi. Giá như người ta chỉ thả cá chép, giữ lại túi ni lon bỏ vào thùng rác thì tốt hơn cho môi trường…"

Sông Cầu vốn đã nổi tiếng vì ô nhiễm vì vì con người, không lẽ nay lại để thêm cả "ông Công, ông Táo" mang tiếng "góp phần" làm ô nhiễm dòng sông? Giáo dục ý thức gìn giữ môi trường cho nhân dân là một chuyện, nhưng môi trường sẽ được gìn giữ tốt hơn nếu các cơ quan chức năng cũng có ý thức, lường trước những tác động môi trường và cắm bảng hướng dẫn cho nhân dân, đồng thời đặt các thùng rác công cộng ở các bến sông.

Chuyện nhỏ, nhưng thể hiện ý thức lớn trong công tác bảo vệ môi trường.


Phương Cường - báo Thái Nguyên 

 

 

Sông Đồng Nai ô nhiễm trầm trọng

 

Trung bình mỗi năm sông Đồng Nai đổ ra biển 36 tỷ m3 nước và nguồn nước này có tầm quan trọng đặc biệt sống còn đối với các tỉnh thành trong phát triển kinh tế - xã hội: Cung cấp nguồn nước sinh hoạt, nước tưới, nuôi trồng thủy sản, du lịch sông nước và giao thông vận tải…  

Hàng ngày lưu vực sông Đồng Nai phải tiếp nhận nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp, chất thải rắn, thuốc trừ sâu đe dọa nghiêm trọng đến ô nhiễm nguồn nước của sông Đồng Nai.

Lưu vực sông Đồng Nai có khoảng 15 triệu người, các hoạt động phát triển kinh tế - xã hội trên các tỉnh, thành có sông đi qua rất đa dạng và phức tạp.

Các hoạt động này, một mặt gắn với khai thác, sử dụng nguồn nước, mặt khác tạo ra các chất thải hoặc vận chuyển chất thải vào nguồn nước. Nhưng quan trọng hơn cả là chức năng cung cấp nước sinh hoạt cho hàng chục triệu dân đang sinh sống ở các khu đô thị và khu công nghiệp tập trung ở phía hạ lưu.

Hiện nay vùng kinh tế trọng điểm này có 62 khu công nghiệp và khu chế xuất, khu vực này (hạ lưu - phía sau đập thủy điện Trị An nguồn nước đã có dấu hiệu ô nhiễm do tác động của phát triển kinh tế, đặc biệt là ô nhiễm môi trường nước trên các hệ thống kênh, rạch nội thành, nội thị và ven đô.

Ô nhiễm nước sông Đồng Nai từ đoạn cầu Hóa An - thành phố Biên Hòa đến dưới cầu Đồng Nai (QL 1A), ô nhiễm nước sông Sài Gòn đoạn từ Bình Phước đến Tân Thuận, nước sông Thị Vải bị ô nhiễm từ đoạn nhà máy Vedan đến dưới cảng Phú Mỹ, axít hoá sông Vàm Cỏ, sông Sài Gòn bị nhiễm mặn ở khu vực cửa sông và vùng ven biển.

Tuyến vận tải sông Đồng Nai rất quan trọng đối với giao thông thuỷ, hàng ngày có khoảng 500 lượt phương tiện trọng tải từ 500 đến 1000 tấn đi qua, chuyên chở vật liệu xây dựng, xăng dầu từ các tỉnh miền Đông đi miền Tây và ngược lại.

Tuy vậy các hoạt động giao thông lại gây ra các sự cố về môi trường, trong thời gian qua một loạt các vụ đắm tàu chở dầu đã xảy ra: vụ chìm tàu Neptune Aries của Saigon Petro ngày 03/10/1994 chở 1684 tấn dầu DO, ngày 27/11/1996 tàu Gemini bị đắm kéo theo 74 tấn dầu DO, vụ đắm sà lan chở dầu Hiệp Hòa tại sông Nhà Bè ngày 16/04/1999 khi vận chuyển 113.000 lít dầu DO…

Các tác nhân gây ô nhiễm chủ yếu là: các chất hữu cơ, chất thải từ con người, gia súc, chất thải của các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm, dầu, mỡ của các phương tiện giao thông.

Ô nhiễm chất thải công nghiệp mang tính cục bộ, nồng độ BOD5 và DO ở sông Đồng Nai từ Trị An đến Cát Lái 3 -10mlg/l, mức độ ô nhiễm do các chất độc hại như Cu, Pb, Zn, Fe, Hg, Cd… thuốc bảo vệ thực vật, phenol, dầu mỡ.

Riêng hàm lượng chất rắn lơ lửng ở vùng thượng nguồn vào mùa lũ khá cao, đây là hậu quả của quá trình rửa trôi, xói mòn đất, đặc biệt khi thảm thực vật ngày càng suy giảm.

Ngoài các nguồn gây ô nhiễm từ các khu công nghiệp tập trung, môi trường nước hệ thống sông Đồng Nai còn bị ảnh hưởng nặng nề bởi nước thải công nghiệp từ hàng vạn các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên các lưu vực sông do khó khăn trong kiểm soát và quản lý các đối tượng này. Theo quy hoạch đến năm 2010, toàn vùng sẽ có 74 khu công nghiệp được hình thành và hoạt động.

Nếu như tất cả các khu công nghiệp này lấp đầy diện tích đất thì mỗi ngày hệ thống sông Đồng Nai sẽ tiếp nhận khoảng 1,73 triệu m3 nước thải sinh hoạt, trong đó có 702 tấn cặn lơ lửng, 421 tấn BOD5, 765 tấn COD, 59 tấn nitơ tổng, 243 tấn dầu mỡ phi khoáng và nhiều kim loại nặng với các tác nhân gây ô nhiễm khác.

Con số này chưa tính đến các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đang tồn tại bên ngoài các khu công nghiệp tập trung như hiện nay.

Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, hậu quả về môi trường, với tải lượng ô nhiễm khả năng tự làm sạch của hệ thống sông Đồng Nai sẽ không được đảm bảo, mức độ ô nhiễm nguồn nước ngày một gia tăng và cuối cùng là gây những tác động xấu trở lại đối với các hoạt động kinh tế xã hội trên khu vực. Đặc biệt nghiêm trọng là cung cấp nước sinh hoạt cho 15 triệu cư dân đang phụ thuộc vào nguồn nước này.

Sau những báo động ô nhiễm của sông Đồng Nai, Bộ Tài nguyên & Môi trường cùng lãnh đạo của 12 tỉnh nằm trên lưu vực đã họp bàn và đưa ra thống nhất dành 1%GDP cho công tác bảo vệ môi trường và thành lập các Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực hệ thống sông Đồng Nai trước nguy cơ trở thành 1 dòng sông chết.

 Khánh Lê – GTVT (Theo www.monre.gov.vn)

  

Chung tay cho một giao thừa sạch

Có một bạn trẻ đi đón giao thừa, ngắm pháo hoa nổ bùm bùm khắp trời, ngắm cả cảnh người ta xả rác khắp nơi rồi về nhà trằn trọc không ngủ! ý tưởng hành động vì một giao thừa sạch ra đời từ đó.

Các bạn trẻ sẽ cùng nhau góp sức để có một Giao thừa sạch  (Nguồn ttvnol.com)

Năm nay, bước sang tuổi thứ hai, chương trình Giao Thừa Sạch của các tình nguyện trẻ có thêm người bạn mới – báo Tiền Phong – cùng sát cánh.

Tết và rác

Hồng Anh, sinh viên ĐH Dược Hà Nội, chính là người mất ngủ vì rác giao thừa năm nào. “Mọi người đi chơi xuân, bẻ lộc, ăn uống, rồi vứt rác tùm lum. Hồ Gươm sau đêm giao thừa nhem nhếch phát tội”, Hồng Anh kể lại.

Hương Lan, sinh viên ĐH Đà Nẵng, chẳng mấy khi đón giao thừa ngoài đường, lại băn khoăn: “Không phải ai cũng thiếu ý thức. Nhưng nhiều khi mở thùng rác ra đã đầy nhóc, đành phải vứt bừa chứ biết sao đây”.

Lan cho rằng lượng thùng rác bố trí không hợp lý ở một số tuyến phố đông người thực sự không tạo điều kiện cho người có ý thức xả rác đúng nơi quy định.

Lê Trung Hải, Quận Đoàn Bình Thạnh, TP Hồ Chí Minh, lại kêu rầm trời khi nhớ cảnh vườn hoa Nguyễn Huệ chỗ nào cũng đạp phải rác. “Hải nghe nói Xí nghiệp Môi trường Đô thị TP năm nay cho nhân viên nghỉ làm mùng một, mùng hai Tết. Đường phố chắc phải te tua lắm!”.

Hải kể mọi năm đi chơi giao thừa tới hai giờ sáng vẫn thấy mấy chú bác công nhân gom những xe rác tú hụ, đầy có ngọn, thế mà vẫn chưa hết. “Giá mỗi người có ý thức một chút”, Hải ao ước.

Giao thừa sạch nối ba miền

Mỗi ngày toàn TP Hà Nội có khoảng 2000 tấn rác được thu gom, xử lý (chưa kể lượng rác trong các ngày lễ, Tết). Lượng rác thu gom chỉ đạt 50-60% tổng lượng rác thải. Năm 2005, tổng lượng rác của Hà Nội ước tính lên đến 850.000 tấn.

Tại TP Hồ Chí Minh, lượng rác thải lên tới 6000 – 7000 tấn/ngày đêm. Cứ sau mỗi năm, khối lượng rác lại tăng từ 10 – 15%. Rác đang là gánh nặng đối với ngân sách nhà nước khi phải chi ra hàng nghìn tỷ đồng mỗi năm cho việc xử lý. ước tính lượng rác xả ra dịp Tết Bính Tuất tại TP Hồ Chí Minh có thể lên tới 9.500 tấn – 10.000 tấn/ngày.

Lượng chất thải rắn sinh hoạt thu gom tại đô thị lớn nhất nước này cũng không khá hơn so với Thủ đô Hà  Nội.

Bắt đầu từ ý tưởng của Hồng Anh, năm ngoái, chiến dịch Giao thừa sạch đầu tiên ra đời với chừng 50 bạn trẻ Hà Nội đi phát túi bóng và băng đô bảo vệ môi trường cho những người du xuân và các tụ điểm ăn uống xung quanh hồ Hoàn Kiếm.

Song song với hoạt động này, “Tết sạch không rác” cũng thu hút 30 tình nguyện viên ở TP Hồ Chí Minh với các hoạt động tương tự.

Thấy hoạt động này hay quá, thành viên mạng lưới Tình nguyện viên Việt Nam tại Đà Nẵng cũng đòi tham gia Giao thừa sạch Tết năm nay. Họ liên kết với nhau qua điện thoại, thư điện tử và diễn đàn www.vnvolunteer.net.

Dưới sự bảo trợ của báo Tiền Phong, hơn 200 bạn trẻ tình nguyện khắp ba miền sẵn sàng chung tay hành động vì một giao thừa sạch.

Kịch bản: Tổ chức tuyên truyền, vận động nhân dân bỏ rác đúng nơi quy định; phân chia tình nguyện viên tại các điểm nóng về xả rác như chốt bán kem Thủy Tạ, Tràng Tiền (Hà Nội); phát túi giấy tại các bãi cỏ, nơi tụ tập ăn uống để thu gom rác; phát băng đô bảo vệ môi trường; chiếu phim chủ đề bảo vệ môi trường; đẩy các thùng rác di động xung quanh hồ Hoàn Kiếm (Hà Nội), tuyến đường hoa Nguyễn Huệ (TP Hồ Chí Minh).

Poster Giao thừa sạch 2005

Nhân viên Văn phòng Quốc hội cũng tham gia

“Cứ nhằm bạn bè, người quen, họ hàng mà lôi đi”, Tuấn Giang, sinh viên ĐH Thương mại Hà Nội, thành viên chủ chốt trong ban tổ chức, kể. Gần đến ngày tập huấn là tên Ziang Còi (nickname của Tuấn Giang) bị réo ầm ầm trên vnvolunteer.net: “Mau post địa điểm, thời gian đi chứ”, “Sao đến giờ này vẫn chưa thấy gì cả Ziang Còi ơi?”.

“Mình đang đi xin tài trợ để in áo đồng phục và băng rôn câu đối”, Ziang Còi áo da cặp da, phóng cái ào vào sảnh toà soạn báo Tiền Phong vừa nói vừa xuýt xoa vì lạnh.

Mấy hôm Hà Nội gió rét quất rào rào trên đường, Tuấn Giang vẫn sáng đi học, chiều lo xin tài trợ, chạy giấy tờ thủ tục làm Giao thừa sạch với UBND TP Hà Nội.

“Xuân về cảnh vật xinh tươi mát mặt khách lại qua, Tết đến môi trường xanh sạch ấm lòng người thu dọn”, đôi câu đối với nét thư pháp bay bổng này Giang “xin chữ” của một người khá nổi tiếng trong hội Thư pháp Hà Nội.

“Nếu có tài trợ tụi mình sẽ làm 15 bộ câu đối treo dọc hồ Hoàn Kiếm, in áo gió đồng phục, làm thêm băng đô, mua thêm thùng rác. Nếu không, chắc cái gì cũng phải teo lại quá!”.

Theo Giang, khó khăn trong hoạt động của các bạn là “người ta tưởng bọn mình là nhóm sinh viên tình nguyện của Trung ương Đoàn. Nhưng sau mới biết bọn mình vô danh tiểu tốt, tự nguyện đứng ra tổ chức với nhau nên nhiều nơi e dè…”.

Bức xúc nữa là nhiều doanh nghiệp lợi dụng giao thừa để khuyến mãi làm rác chồng thêm rác. Năm ngoái, đội Giao thừa sạch của Giang đang phát túi giấy, băng đô cho khách du xuân, một xe ô tô của Mobiphone ào tới phát lì xì.

Thế là a la xô, cả vạt đường ven hồ Hoàn Kiếm rợp đỏ phong bao bị vứt lại sau khi người ta lấy tiền bên trong. “Lúc đấy mình thấy bất lực quá”, Giang kể lại.

“Đến giờ có 150 bạn đăng ký tham gia ở Hà Nội, 60 bạn ở TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Giang vừa nhận được email đăng ký đi “nhặt rác” đêm giao thừa của một nhân viên Văn phòng Quốc hội, một bác sĩ BV Lao & Bệnh phổi Trung ương”, Ziang Còi tít mắt.

Mơ ước một giao thừa sạch đã kết nối các bạn trẻ ba miền như thế.

Mỹ Hằng (Tienphongonline)

Chương trình Giao thừa sạch của nhóm tình nguyện viên vì cộng đồng do báo Tiền Phong bảo trợ:

Giai đoạn I: Từ  7h30 ngày 24/1/2006 đến 19h30 ngày 28/1/2006.

Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá nhằm thu hút sự quan tâm của cộng đồng đối với chiến dịch.
Tổ chức tập huấn cho các tình nguyện viên.|
Chiếu phim đề tài bảo vệ môi trường.

Giai đoạn II: Từ 19h30 ngày 28/1/2006 (30 Tết) đến 1h30 ngày 29/1/2006 (Mùng 1 Tết).

Tại Hà Nội:
Tổ chức tuyên truyền, vận động dân bỏ rác đúng nơi quy định
Phân chia tình nguyện viên tại hai điểm nóng về xả rác là kem Thủy Tạ và kem Tràng Tiền
Phát túi giấy tại các bãi cỏ, nơi tụ tập ăn uống để thu gom rác.
Đẩy các thùng rác di động dọc phố Đinh Tiên Hoàng từ ngã tư Tràng Tiền – Hàng Khay đến quảng trường Đông Kinh Nghĩa Thục và ngược lại; dọc theo phố Đinh Tiên Hoàng từ đài phun nước tới ngã tư Bà Triệu – Hàng Khay và ngược lại.

Tại Đà Nẵng:
Phân chia tình nguyện viên dọc đường Bạch Đằng, cầu Sông Hàn.
Phát băng đô bảo vệ môi trường.
Đẩy các thùng rác di động dọc đường Bạch Đằng.

Tại TP Hồ Chí Minh:
Tổ chức tuyên truyền, vận động dân bỏ rác đúng nơi quy định.
Phân chia tình nguyện viên tại nhà hát thành phố, nhà văn hoá thanh niên, tuyến đường vườn hoa Nguyễn Huệ.
Phát túi giấy tại các bãi cỏ, nơi tụ tập ăn uống để thu gom rác.
Phát băng đô bảo vệ môi trường.

 

 

Cảnh báo về sự bùng phát cây trinh nữ đầm lầy ở Ba 

 

 

Vì (Hà Tây) 

 

và Sóc ///// ///// ///// ///// /////

 

Cảnh báo về sự bùng phát cây trinh nữ đầm lầy ở Ba Vì (Hà Tây) và Sóc Sơn (Hà Nội)
PGS.TS Nguyễn Đình Hoè 
 

·        Có nguồn gốc từ Châu Mỹ, cây Trinh nữ đầm lầy (TNĐL) đã gây ra thảm hoạ sinh thái ở một số tỉnh Nam Bộ, nay đã thấy lan tràn ở Ba Vì (Hà Tây) và Sóc Sơn (Hà Nội).

·        Cần hành động khẩn cấp để ngăn chặn thảm hoạ sinh thái liên quan với cây TNĐL.

·        Nhận diện kẻ thâm nhập lặng lẽ

Cây TNĐL có rất nhiều tên gọi khác nhau, và cũng chính nhờ đó mà sự bùng phát trên diện rộng của nó chưa thu hút sự chú ý đúng mức của cộng đồng.

Tên khoa học của TNĐL là Mimosa pigra, có họ hàng với cây Trinh nữ bò lan (cây xấu hổ). Khi khẽ chạm vào lá, lá cũng cụp lại đầy vẻ ngượng ngùng, e thẹn. Nhưng ngoài cái tên là TNĐL, nó còn nhiều tên khác như Trinh nữ trâu, Trinh nữ Tây, Trinh nữ nhọn, Trinh nữ móng rồng, Trinh nữ thân gỗ, Mai dương, Móc mèo Mỹ, cây Bẽn lẽn,  Trinh nữ  móng mèo, cây Gai nhọn, cây Nhạy cảm, cây Run rẩy, cây Hiểm độc,… và nhiều tên nước ngoài khác không có thuật ngữ tương đương trong tiếng Việt.

Lá, hoa của TNĐL cũng giống như cây xấu hổ bò lan bản địa, nhưng TNĐL khác hẳn cây xấu hổ bò lan ở chỗ nó là cây bụi có thân gỗ, mọc cao đến 2m, tạo thành những bụi cây rậm rạp. Bản lá, chùm quả và hoa cũng lớn hơn, cành vươn dài và chịu được gió mạnh.

TNĐL thuộc họ Đậu, vốn quê hương ở vùng nhiệt đới Châu Mỹ (từ phía Nam Mêhicô kéo xuống đến Bolivia, Brasil, phần Bắc Chile) vì vậy mà nó có tên là Móc mèo Mỹ. Thân và cành TNĐL đầy gai nhọn, đâm vào da gây cảm giác rất tê buốt vì trong nhựa cây có một chất độc đối với người và nhiều loài động vật, với cái tên rất mỹ miều: độc tố Trinh nữ (mimosine). Cũng vì thế mà không có loài động vật nào sử dụng TNĐL làm thức ăn cũng như dám đi xuyên qua các đám cây TNĐL dày đặc.

TNĐL là loài cây thích nghi rất rộng, có thể sống được trên đất ruộng màu, đất nương rẫy, đất đồi khô và chua, nhưng nó đặc biệt ưa thích vùng đất ẩm bán ngập nước ao, hồ, đầm lầy, ruộng nước… Có thể gặp những thảm dày TNĐL ngâm thân quanh năm dưới nước, chỉ cần nhô đựơc phần chóp cành mang chùm hoa màu hồng hình quả bông lên khỏi mặt nước. Sức sinh trưởng và tái sinh của TNĐL thật đáng ngạc nhiên: từ một gốc cây bị chặt, có thể nhanh chóng nảy cả chục chồi non. Một trảng cây bụi sau khi bị cháy trụi, TNĐL là loài tái sinh đầu tiên. Tuy nhiên, khả năng phát tán của TNĐL chủ yếu nhờ hạt. Thân cây mảnh dẻ nhưng có đến hàng chục chùm quả đầy lông tơ, có dạng gần như chùm quả đậu ván nhưng dài hơn và nhiều hạt hơn. Khi quả khô, hạt tách ra, bay theo gió, cuốn theo dòng nước. Trong đất, hạt TNĐL có khả năng ngủ rất dài, sau 20 năm kể từ khi rời khỏi cây mẹ, hạt vẫn có thể nảy mầm. Các nhà khoa học xác định khả năng bành trướng của cây TNĐL theo hàm mũ của cơ số 2: trong điều kiện tự nhiên thuận lợi, một diện tích cây TNĐL sẽ tăng lên gấp đôi mỗi năm. Sau 10 năm, 1 ha TNĐL có thể phát triển thành 1024 ha (tức là 1 ha x 210).

·          Thảm hoạ sinh thái do TNĐL gây ra

Không rõ bằng con đường nào mà từ  quê hương vùng nhiệt đới Châu Mỹ, TNĐL đã thâm nhập và gây ra thảm hoạ sinh thái ở nhiều nơi thuộc Châu ÚC, Châu Phi và Đông Nam Á.

Khả năng gây hại của TNĐL là do sự phát tán rất nhanh và độc tính của cây. Có tính cạnh tranh lớn, chúng nhanh chóng chiếm chỗ của các loài cây bản địa. Dưới các bụi TNĐL, hầu như không có loài cây nào sinh sống được. Gia súc và động vật hoang dại cũng tránh đi xuyên qua các bụi cây có gai sắc và độc này. Đất nông nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản bị chúng xâm lấn nhanh chóng làm giảm diện tích canh tác và năng suất nuôi trồng. Các thảm TNĐL làm mất chỗ kiếm ăn của nhiều loại chim nước (ví dụ sếu đầu đỏ), từ đó làm giảm lượng khách du lịch đến thăm. Các khoảnh cây bụi bên ngoài diện tích canh tác nông nghiệp là nơi cư trú của các nhóm côn trùng có ích, có chức năng kiểm soát dịch hại cây trồng. Khi nơi cư trú bị TNĐL chiếm lĩnh, côn trùng có ích phải di cư đi nơi khác hoặc giảm sút; điều đó kéo theo việc tăng khả năng bùng phát dịch hại trong ruộng cây trồng.

Thảm hoạ sinh thái do TNĐL gây ra ở miền Bắc Australia đã tiêu tốn một khoản kinh phí  khổng lồ cho công tác kiểm soát và nghiên cứu phòng trừ. Chỉ riêng trong thời gian 1996 - 1997, Australia đã phải chi đến 11 triệu Đô la Mỹ cho việc này.

TNĐL xuất hiện ở nước ta vào khoảng giữa thế kỷ trước. Đến đầu thập niên 1980, chúng xuất hiện rải rác ở các vùng đất ngập nước các tỉnh Đồng Tháp và Đồng Nai, 10 năm sau, TNĐL đã thực sự là một thảm hoạ sinh thái. Các nhà khoa học dự báo, nếu không có biện pháp phòng trừ hiệu quả, trong thời gian không xa, toàn bộ 5000 ha đồng cỏ ngập nước theo mùa - nơi kiếm ăn của Sếu đầu đỏ - ở Vườn Quốc gia Tràm Chim (Đồng Tháp) sẽ bị TNĐL chiếm lĩnh hoàn toàn. Các cánh đồng ở trung và hạ lưu sông Đồng Nai đang mất dần vì TNĐL. Khoảng 100 ha ruộng của xã Gia Viễn, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng gần như bị bỏ hoang vì TNĐL mọc dày đặc. Công tác phát quang TNĐL để phục hoá đồng ruộng ở một vài nơi đã tốn đến 15 ngày công một sào, nhưng TNĐL vẫn tái sinh. TNĐL xâm lấn khoảng 100 ha Bàu Chim và đang tấn công sang các Bàu Cá và Bàu Sấu - những điểm du lịch hấp dẫn của Vườn Quốc gia Nam Cát Tiên. Mỗi năm, Vườn bỏ ra từ 50 đến 100 triệu đồng để chặt hạ TNĐL  nhưng vẫn không thể cản trở chúng tái sinh và lan rộng. TNĐL còn phát triển dày đặc ở một số vùng ven hồ Trị An (Đồng Nai), gây hại cho công tác duy trì bảo dưỡng hồ và nghề thuỷ sản.

·        Cảnh báo về TNĐL ở Ba Vì (Hà Tây) và Sóc Sơn (Hà Tây)

Vào đầu những năm 1980, mới chỉ gặp lẻ tẻ TNĐL ở ven hồ Đồng Mô. Đến nay, TNĐL đã lan rộng ra nhiều địa điểm xung quanh chân núi Ba Vì, trong phạm vi các huyện Ba Vì và Thạch Thất (Hà Tây). Ngoài khu vực hồ Đồng Mô, TNĐL còn phát triển mạnh ở khu di tích lịch sử K9, ven hồ Tiên Sa, trên các nương rẫy bỏ hoang hoặc đang canh tác ở Minh Quang, xóm Quýt, Yên Sơn…

? Sóc Sơn (Hà Nội), TNĐL mọc rải rác trên bờ ruộng, ven đường ô tô, thậm chí ngay trong lòng nhiều mương dẫn nước phía bắc sân bay Nội Bài, đặc biệt đang lấn mạnh vào hồ thuỷ lợi ở khu vực Đền Sóc. Trên bờ ruộng ở nhiều cánh đồng lúa đã thấy xuất hiện các khóm cây TNĐL trĩu quả, hiện tượng mà mấy năm trước còn chưa gặp.

Tạo điều kiện cho TNĐL lan nhanh là sự thiếu hiểu biết của nhân dân địa phương về tác hại của cây TNĐL. Rất nhiều người được hỏi cho biết họ không để ý đến loài cây này, thậm chí không biết tên cây là gì. Một số gia đình còn trồng TNĐL làm bờ rào vì chúng mọc nhanh, dễ trồng và có gai độc. Bà con triệt hạ cây TNĐL bằng cách chặt và đào bỏ gốc khi thấy chúng xuất hiện trong ruộng cây trồng hay vườn nhà mình, nhưng không ai quan tâm khi chúng mọc trong các vùng đất công cộng như sườn đồi, mương nước, hồ thuỷ lợi hoặc trên đất của các cơ quan, đơn vị quản lý. Cứ vậy, sau mỗi mùa mưa, cây TNĐL lại mở rộng phạm vi lấn chiếm trong sự bàng quan của cộng đồng.

Đã đến lúc nhà quản lý, nhà khoa học và cộng đồng cần hợp sức hành động khẩn cấp để ngăn ngừa cây TNĐL ở bất cứ nơi nào chúng xuất hiện.

Sách Đỏ Việt Nam: Nhìn vào mà lo


Hươu sao đã tuyệt chủng
trong thiên nhiên.

Từ năm 2001 đến 2003, Đề án tu chỉnh và soạn thảo Sách Đỏ Việt Nam 2004 do Trung tâm Khoa học tự nhiên và Công nghệ quốc gia, nay là Viện Khoa học - Công nghệ Việt Nam chủ trì đã ra đời, có sự tham gia của đông đảo cán bộ khoa học các ngành trong cả nước. Kết quả đề án cho thấy mức độ bị đe dọa ở từng thành phần động, thực vật trong thiên nhiên có sự thay đổi đáng báo động.

Sách Đỏ Việt Nam gồm các phần: Động vật, Thực vật. Lần đầu tiên được soạn thảo và công bố trong các năm 1992 và 1996, Sách Đỏ Việt Nam nhanh chóng đi vào cuộc sống, được sử dụng rộng rãi ở các ngành, địa phương, làm căn cứ xem xét, đánh giá, xử lý các trường hợp vi phạm luật lệ, quy định của Nhà nước về cấm săn bắt, khai thác, vận chuyển, buôn bán các loài động, thực vật hoang dã có nguy cơ bị đe dọa, cũng như đề xuất các biện pháp bảo vệ cần thiết cho từng đối tượng.

 

Sách Đỏ cần điều tra, thám sát, hệ thống. Cũng cần nhắc thêm rằng, trong khu vực châu á, ngay thời gian gần đây mới có một số nước soạn thảo xong và công bố đầy đủ Sách Đỏ hoàn chỉnh của nước mình. Hầu hết các quốc gia mới chỉ soạn thảo và công bố được một phần Sách Đỏ, Danh lục Đỏ hoặc Danh sách các loài bị đe dọa mà thôi. Kể từ thời gian công bố Sách Đỏ Việt Nam 1992 -1996, thực trạng thiên nhiên nước ta nói chung, đa dạng sinh học nói riêng đã có sự thay đổi và cần được cập nhật những thông tin mới. Do đó, việc tu chỉnh và soạn thảo Sách Đỏ Việt Nam 2004 là rất cần thiết.

 

Sau hai năm thực hiện, với sự cộng tác của trên 70 nhà khoa học, Viện Khoa học - Công nghệ Việt Nam đã hoàn thành việc soạn thảo cả 2 tài liệu cơ bản: Danh lục Đỏ Việt Nam 2004 và Sách Đỏ Việt Nam 2004, được Hội đồng nghiệm thu cấp Nhà nước đánh giá xuất sắc. Kết quả thực hiện Đề án tu chỉnh và soạn thảo Sách Đỏ Việt Nam 2004 (chưa ra mắt) cho thấy tình hình mới về đa dạng sinh học ở nước ta sau 10 năm. Tổng số loài động vật, thực vật hoang dã trong thiên nhiên đang bị đe dọa ở các mức khác nhau đã lên tới 857 loài, trong đó có 407 loài động vật và 450 loài thực vật. So với số liệu công bố trong Sách Đỏ Việt Nam 1992 -1996 là 709 loài bị đe dọa (359 loài động vật và 350 loài thực vật), có thể thấy rằng số loài hiện thời bị đe dọa tăng lên đáng kể. Điều đáng quan tâm hơn là mức độ bị đe dọa ở từng thành phần động, thực vật trong thiên nhiên cũng có sự thay đổi rất đáng báo động.


 
Trong thành phần động vật, ở Sách Đỏ Việt Nam 1992, mức độ bị đe dọa cao nhất của các loài chỉ ở thứ hạng Nguy cấp thì năm 2004 đã có tới 6 loài bị coi là tuyệt chủng trên lãnh thổ. Về thú rừng có 3 loài: Tê giác hai sừng, heo vòi, cầy rái cá có thể coi là tuyệt chủng hoàn toàn. Hươu sao chỉ còn tồn tại ở trạng thái nuôi dưỡng và đã tuyệt chủng ngoài thiên nhiên. Trong số các loài động vật sống dưới nước, loài cá chép gốc và cá sấu hoa cà cũng được coi là tuyệt chủng hoàn toàn trong thiên nhiên.


 
Hiện có 149 loài được coi là Nguy cấp, tăng hơn rất nhiều so với 71 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 1992. Có 46 loài được coi là Rất nguy cấp,  nhiều nhất là ở các nhóm: Thú rừng (12 loài), Chim (11), Bò sát lưỡng cư (9), Côn trùng (4)... Đáng chú ý là một số loài côn trùng có hình dáng, màu sắc đẹp bị săn bắt quá nhiều và đang là đối tượng Rất nguy cấp như: Cặp kìm sừng kiếm, cặp kìm lớn, bọ hung 3 sừng, cánh cam bốn chấm...

 

Trong thành phần thực vật, hiện chưa thấy có các loài bị coi là đã tuyệt chủng, song trong Sách Đỏ Việt Nam 1996, một số loài trước đây được xếp trong diện Sẽ nguy cấp nay phải chuyển sang diện Nguy cấp và Rất nguy cấp. Sách Đỏ Việt Nam 1996 mới chỉ có 24 loài thuộc diện Nguy cấp thì nay đã lên tới 192 loài, trong đó có 45 loài được coi là Rất nguy cấp.

 

Phần lớn số loài này thuộc ngành Mộc lan (hạt kín) và ngành Thông (hạt trần). Trong số các loài thực vật Rất nguy cấp hiện nay, có các cây gỗ quý như: Hoàng đàn rủ, hoàng đàn, bách vàng, bách tán Đài Loan, một số cây thuốc quý như: Ba gạc hoa đỏ, sâm vũ diệp, tam thất hoang, các loài thực vật đặc hữu của Việt Nam như: Giác đế Tam Đảo, sao lá cong. Cây cảnh quý hiếm như: Lan hài đỏ, lan hài điểm ngọc, lan hài Tam Đảo, lan hài Hê-len cũng được xếp vào dạng Rất nguy cấp.


 Trong Sách Đỏ Việt Nam 2004, số loài được đánh giá ở mức Sẽ nguy cấp cũng tăng rất nhiều. ở thực vật, động vật, số loài được xếp vào diện trên lần lượt là 209 và 173 loài. Số tăng nhiều hơn cả là nhóm: Chim, Cá nước ngọt, Thú, Côn trùng, Động vật biển. Riêng thực vật, ngành Mộc lan trước đây chỉ có 48 loài được coi là Sẽ nguy cấp thì nay tăng lên tới 180 loài. Một điều đáng lưu ý là, có những loài động vật hoang dã được coi là tuyệt chủng ngoài thiên nhiên trên lãnh thổ nước ta như: Tê giác hai sừng, heo vòi, cầy rái cá; hoặc có thể đã tuyệt chủng như bò sát hiện vẫn tồn tại ở một số quốc gia lân cận. Từ kết quả nêu trên có thể thấy mức độ đa dạng sinh học ở nước ta đang bị đe dọa nghiêm trọng.


 Việc hoàn thành soạn thảo Sách Đỏ Việt Nam 2004 ngoài ý nghĩa góp phần đánh giá tình hình đa dạng sinh học hiện thời, dự đoán được xu thế phát triển trong thời gian tới còn làm cơ sở để soạn thảo Luật Bảo vệ đa dạng sinh học ở Việt Nam đang được tiến hành. Đồng thời, nó cũng đặt ra những nhiệm vụ cấp bách về bảo tồn tài nguyên sinh vật thiên nhiên nước ta, không chỉ chú trọng các sinh vật có giá trị về kinh tế mà cả giá trị khoa học, văn hóa. Sách Đỏ Việt Nam sẽ ra mắt trong thời gian tới. Rồi đến lúc đó, tình hình sẽ lại còn nguy cấp hơn?


 
GS-TSKH Đặng Ngọc Thanh
Viện Khoa học-Công nghệ Việt Nam

(Theo Hà Nội mới)
 

 

Đa dạng sinh học các khu rừng ở vùng thấp của Việt Nam hầu như không còn nguyên vẹn

 

 

Nạn phá rừng đang làm suy giảm nghiêm trọng đa dạng sinh học của Việt Nam

Từ nhiều năm nay, Việt Nam đã thực hiện các Chương trình Quốc gia lớn về trồng rừng nhằm tăng độ che phủ như 327, 556 và 661. Các Chương trình này đã đẩy mạnh phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tái trồng rừng, đồng thời cải thiện công tác quản lý rừng, góp phần làm xoay chuyển chiều hướng tích cực. Nhờ vậy, độ che phủ rừng đã tăng tới 12,3 triệu ha tương đương 37,3% vào năm 2004, trong khi đó mục tiêu của Chương trình 5 triệu ha rừng nhằm tái che phủ 43% vào năm 2010. Tuy nhiên, chất lượng của các khu rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm và bị chia cắt. Hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc đang phục hồi. Rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm 3,4% năm 2000 và 4,6% năm 2004.

Theo đánh giá mới đây của các chuyên gia sinh học về tính đa dạng sinh học của các khu rừng ở vùng thấp của Việt Nam hầu như không còn nguyên vẹn và dấu hiệu để phục hồi hoàn toàn đang giảm đi nhanh chóng. Nguyên nhân là các vùng rừng giàu đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ. 

Năm qua, nạn phá rừng, mất rừng ngày càng nghiêm trọng, hàng ngàn ha rừng đang bị suy thoái- mất rừng và suy thoái rừng là nguyên nhân chính gây nên hiện tượng sa mạc hóa và làm nghèo đất tại nhiều địa phương. Tình trạng đó đã tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và  thách thức sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, như gây lũ lụt, hạn hán nghiêm trọng, gây khó khăn trong lĩnh vực cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở khu vực nông thôn càng đáng lo ngại hơn.

Phương Anh (www.monre.gov.vn)

 

Hà Nội ô nhiễm nhiều hơn về mùa đông

Người Hà Nội đã quá quen với việc ra đường là phải đeo khẩu trang. Ảnh Anh Tuấn

Gió mùa đông bắc không chỉ khiến tiết trời lạnh khô, mà còn làm gia tăng đáng kể ô nhiễm do gây ra hiện tượng nghịch nhiệt, khí bẩn không phát tán được lên cao. Điển hình là thành phố lớn như Hà Nội, ô nhiễm vào tháng 12, tháng 1 tăng gấp 4-5 lần so với giai đoạn tháng 7, 8.

Gió mùa đông bắc tràn qua Hà Nội từ ngày 15/11. Cho đến ngày 20/11, chất lượng không khí ở thành phố không tồi lắm nhờ có gió mạnh làm phát tán nhanh các chất ô nhiễm. Nhưng từ ngày 20 trở đi, khi chế độ xoáy nghịch hoàn toàn ngự trị trên một vùng rộng lớn bao trùm miền Bắc nước ta, độ ẩm không khí bắt đầu xuống thấp và gió yếu dần, hạn chế khả năng phát tán của khí quyển, làm tăng mức ô nhiễm, đặc biệt sau lúc chập tối (18h) và kéo dài cho đến gần sáng hôm sau. Từ gần trưa đến chiều, mức ô nhiễm giảm bớt, sau đó lại tăng lên.

Các nguồn phát tán ô nhiễm thường hoạt động vào ban ngày nên thông thường ô nhiễm không khí ban ngày cao hơn ban đêm. Nhưng với thời tiết khô hanh nửa đầu mùa đông, hàm lượng các chất ô nhiễm về ban đêm có thể cao hơn đến 2-3 lần. Đây là điều ít ai ngờ tới. Sở dĩ như vậy là vì có hiện tượng nghịch nhiệt do bức xạ về ban đêm. Nghịch nhiệt là hiện tượng trong lớp không khí vài trăm mét gần mặt đất, càng lên cao nhiệt độ không khí càng tăng, trái ngược với diễn biến thông thường (càng lên cao càng giảm). Trời nắng suốt ngày đốt nóng mặt đất, tối đến mặt đất vẫn ấm phát ra bức xạ hồng ngoại. Hơi nước và khí CO2 hấp thụ chúng làm cho lớp không khí sát mặt đất ấm lên và nhiệt độ không khí tăng theo độ cao cho đến vài trăm mét. Càng về khuya lớp nghịch nhiệt dày vài trăm mét này càng dâng lên cao làm cho hàm lượng bụi giảm bớt, nhưng sau đó sương mù xuất hiện trước lúc mặt trời mọc lại làm gia tăng ô nhiễm vào những giờ cao điểm buổi sáng.

Nghịch nhiệt bắt đầu xảy ra đúng vào giờ cao điểm buổi chiều làm ô nhiễm không khí trầm trọng thêm. Khí độc cùng bụi bặm do xe cộ thải ra và tung lên từ mặt đường khô khốc, từ các bếp đun nấu dùng than chất lượng thấp và chứa nhiều lưu huỳnh, không phát tán lên cao mà cứ tích tụ lại ở lớp sát mặt đất ngày càng đậm đặc. Chẳng may bị kẹt xe hàng giờ vào lúc đầu hôm, bạn có thể hít thở một lượng chất ô nhiễm tương đương với cả một ngày bình thường. Không chỉ có bụi, những khí độc như SO2, NOx, CO đều gia tăng trong mùa khô, nhất là về ban đêm.

Dấu hiệu nghịch nhiệt do bức xạ về ban đêm rất dễ nhận ra. Đó là trời nắng suốt ngày, độ ẩm không khí dưới 60-65% và lặng gió vào chập tối. Vào những ngày này, hạn chế ra ngoài đường về ban đêm là cách đề phòng an toàn nhất cho những ai mắc các chứng bệnh nhạy cảm với ô nhiễm không khí như bệnh hô hấp và tim mạch.

Hàng năm ở Hà Nội vào nửa đầu mùa đông, những đợt nghịch nhiệt về ban đêm thường xảy ra vài ngày sau khi gió mùa đông bắc tràn về và kéo dài có khi suốt mười ngày cho đến khi hướng gió thịnh hành chuyển sang đông nam, để sau đó lại bắt đầu đợt gió mùa đông bắc mới.

Trong nửa sau mùa đông, không khí lạnh thường tràn về qua ngả vịnh Bắc bộ hình thành một kiểu thời tiết ẩm lạnh. Trong thời gian này thường thấy những ngày mù do có lớp nghịch nhiệt lơ lửng suốt ngày đêm ở độ cao vài trăm mét trong chế độ xoáy nghịch, cản trở sự phát tán các chất ô nhiễm cả ban ngày lẫn ban đêm. Bụi không phải do xe cộ tốc lên (vì mặt đường bị ẩm ướt) mà từ các nguồn khí thải và do quá trình chuyển hoá từ dạng khí sang những hạt bụi có kích thước rất bé.

Những diễn biến trên đây làm cho mức ô nhiễm không khí ở Hà Nội về mùa đông cao hơn mùa hè. Đỉnh điểm là vào các tháng 12-01, gấp 4-5 lần so với giai đoạn các tháng 7-8 (là thời điểm mưa nhiều và trời nóng làm cho các chất ô nhiễm dễ tiêu tan và phát tán lên cao). Sự tương phản giữa hai mùa còn do khối không khí lạnh đi qua Trung Quốc mang thêm chất ô nhiễm vào miền Bắc nước ta.

Bình thường, một người phải hít vào phổi 20 m3 không khí. Thế nhưng trong mùa đông, trung bình một mét khối không khí ở Hà Nội chứa 45 microgram (mg) SO2, 40 mg NO2, 31 mg O3, 180 mg các chất khí hữu cơ độc hại, 135 mg các hạt bụi kích thước dưới 10 micron và 65 mg hạt bụi kích thước dưới 2,5 micron. Để đạt tiêu chuẩn không khí, cần cắt giảm ít nhất 85 mg bụi kích thước dưới 10 micron trong một mét khối không khí mùa đông. Một nhóm nghiên cứu quốc tế về tác hại của loại bụi này đến sức khoẻ người dân Bangkok đã kết luận rằng, cứ giảm được 10 mg bụi trong 1 m3 khí, con số tử vong vì bệnh tim mạch sẽ giảm 1-2% và số tử vong vì bệnh hô hấp giảm 3-6%.

(Theo Tia Sáng)

 

Cần xã hội hóa hoạt động Bảo vệ môi trường

 

Thanh niên tham gia trồng cây

Năm 2005 là một năm bận rộn của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường (BVMT) sửa đổi, bổ sung được Quốc hội thông qua, Nghị định 67 về việc thu phí BVMT đối với nước thải được thực hiện, Nghị quyết 41 của Bộ Chính Trị được triển khai trên toàn quốc... Tuy nhiên, 2006 mới là năm thực sự vất vả và “hứa hẹn” một năm có rất nhiều việc phải làm...

Theo ông Trương Mạnh Tiến – Vụ trưởng Vụ Môi trường, công việc trước mắt là phải nhanh chóng xây dựng văn bản dưới Luật gồm 2 Nghị định (Nghị định hướng dẫn chi tiết một số điều của  Luật BVMT và nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực BVMT). Phải có một số thông tư, hướng dẫn đặc biệt là những thông tư liên quan đến chi tiêu tài chính từ ngân sách cho sự nghiệp môi trường, đây là lần đầu tiên sự nghiệp môi trường được ghi trong Luật Ngân sách Nhà nước nên phải có hướng dẫn thật tốt. Việc thực hiện chi 1% tổng chi ngân sách Nhà nước cho hoạt động BVMT có con số cụ thể là 2.900 tỉ đồng, 85% số đó (2.690 tỉ đồng) đưa về cho các địa phương, 15% cho các bộ, ngành TW và để thực hiện chiến lược BVMT Bộ TNMT sẽ có trên dưới 4% trong tổng số 2.900 tỉ đồng này. Nói một cách tổng quan nhất thì năm 2006 là năm tập trung cho việc thực hiện chiến lược BVMT quốc gia đến 2010 và định hướng đến năm 2020, sẽ ưu tiên hoàn thiện hệ thống các văn bản pháp luật trong chiến BVMT QG. Ngoài thông tư về tài chính, còn có những thông tư khác liên quan tùy theo các bộ, ngành mà trong văn bản Luật đã ghi rõ. Luật BVMT có hiệu lực từ 1/7/06 nhưng phải có giai đoạn chuẩn bị vất vả, nhanh và kịp thời để khi Luật có hiệu lực chúng ta có luôn những văn bản dưới Luật. Muốn quản lý tốt được môi trường thì phải có các tiêu chuẩn môi trường như tiêu chuẩn chất thải, rác thải... một cách chi tiết, vì vậy nhiệm vụ của Vụ MT là hình thành một lộ trình cho việc ban hành Tiêu chuẩn môi trường. Năm 2006 cũng sẽ ra đời Luật Tiêu chuẩn hóa (TCH) vì thế Luật BVMT và Luật TCH sẽ kết hợp để làm cho mảng tiêu chuẩn môi trường thuận lợi và đây là điểm mấu chốt để các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ thực hiện tốt Luật BVMT. Ông Tiến nhấn mạnh, tất cả những kế hoạch đề ra chỉ với mục tiêu để Luật BVMT thực sự đi vào cuộc sống. 

Tiếp tục ban hành các nghị định liên quan đến vấn đề thu phí môi trường, hiện đã có Nghị định 67 về thu phí BVMT đối với nước thải (qua hơn 1 năm thực hiện đã thu được hơn 200 tỉ đồng), sẽ có thêm nghị định về thu phí BVMT đối với khoáng sản và tới đây làm tiếp các nghị định khác nữa nhưng ưu tiên thu phí chất thải nguy hại, khí thải.

Trong lĩnh vực BVMT việc kế hoạch hóa là khâu cần thiết, gắn liền với việc chi 1%, nếu không đưa ra được những kế hoạch tốt sẽ không thu được kết quả cao. Tiếp nữa là mảng xã hội hóa, cũng được coi là mảng hết sức quan trọng, bởi vì không có sự tham gia của toàn xã hội thì không thể làm tốt được công tác BVMT trong thời gian tới. Ngay trong chiến lược BVMT quốc gia, chúng ta sẽ có một chương trình XHH hoạt động BVMT đồng thời có một chương trình lớn là toàn dân tham gia BVMT.

Nhìn chung, tất cả những việc chuẩn bị để thực hiện trong năm 2006 cũng như kế hoạch 5 năm (2006-2010) là làm tốt 36 chương trình ưu tiên trong chiến lược BVMT QG; tiếp tục đưa nghị quyết số