TÔI CÓ Ý KIẾN !
(26/3/2006)

Bó tay trước ô nhiễm sông Nhuệ
Nhập rác thải vào Việt Nam: Đua nhau ập về cảng biển

Rau Thanh Trì tồn dư nhiều hóa chất độc 

Xử lý nghiêm việc nhập rác thải công nghiệp

Kiên quyết không cho số hàng phế thải độc hại lưu trú ở cảng Việt Nam
  

Nhiều công trình kiến trúc ảnh hưởng  sinh thái ven biển  

Đắk Lắk: Cần..150 năm để khôi phục cảnh quan thiên nhiên   

Rừng ảo!
Các làng rau Hà Nội: Giữa vòng vây các nhà máy gây ô nhiễm 

Hải Phòng: Xử lý vụ nhập khẩu trái phép ắc quy chì đã qua sử dụng - cần chấm dứt "sự đã rồi" !
TP.HCM: Khu tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân ô nhiễm nặng

Sản xuất sạch - Xu thế cần nhân rộng
Bệnh viện Lao Nghệ An gây ô nhiễm trầm trọng
Hải Phòng: Mới tái xuất được 16 container ăcqui chì


Bó tay trước ô nhiễm sông Nhuệ

Giải pháp triệt để nhất nhằm giảm thiểu ô nhiễm sông Nhuệ, nguồn nước tưới cho 80.000 ha đất canh tác và nước sinh hoạt của gần 60.000 người dân Phủ Lý (Hà Nam), là phải xử lý nước thải trước khi đổ ra sông. Nhưng điều này lại khó thực hiện. 
* 60.000 dân Hà Nam phập phồng lo thiếu nước

Bà Đào Anh Điệp, Phó phòng môi trường, Sở Tài nguyên Môi trường Hà Tây, cho biết, doanh nghiệp đều biết quy định phải xử lý nước thải trước khi đổ ra môi trường. Nhưng vì lợi nhuận, rất ít đơn vị thực hiện. Nhà máy dệt Hà Đông (thuộc Công ty Dệt may Hà Nội) báo cáo đã kiểm soát các nguồn chất thải. Nhưng kết quả thanh tra cuối năm 2005 của Bộ Tài nguyên Môi trường cho thấy, đơn vị này đã xả trực tiếp ra sông Nhuệ mỗi ngày đêm 500 m3 nước thải, trong đó nước tẩy nhuộm chiếm 70%.

Tương tự, công ty TNHH may Việt - Pacific Hà Đông, dù có lắp đặt hệ thống xử lý nước thải, đã xử lý nước thải có chứa một số chất tẩy rửa có nguồn gốc nhập khẩu từ Hàn Quốc, Đức và Trung Quốc, nhưng Thanh tra Bộ Tài nguyên Môi trường phát hiện hệ thống không hoạt động thường xuyên và chưa đảm bảo công suất.

Cống nước thải từ làng lụa Vạn Phúc (Hà Tây) ven sông Nhuệ. Ảnh: N.T.

"Thực tế không phải lúc nào chúng tôi cũng thanh tra. Dựa vào báo cáo giám sát môi trường của doanh nghiệp, nếu phát hiện tỷ lệ sai số trên 30%, chúng tôi sẽ đi lấy mẫu nước phân tích. Nếu sai phạm nhẹ thì nhắc nhở và cho thời gian khắc phục. Nếu vẫn chưa khắc phục thì sẽ chuyển sang phòng thanh tra rồi xử phạt", bà Điệp nói. Tuy nhiên, với mức xử phạt hiện nay (Dệt Hà Đông bị phạt 3 triệu đồng), nhiều đơn vị chấp nhận nộp tiền rồi tiếp tục vi phạm.

Việc buộc doanh nghiệp phải xử lý nước thải đã khó, yêu cầu các làng nghề lại càng khó hơn. "Các làng nghề phải được quy hoạch tập trung trên một khu đất xa dân cư, các hộ dân đóng góp tiền xây khu xử lý nước thải. Còn với kiểu sản xuất thủ công, phân tán, khu sản xuất nằm xen khu dân cư thì không thể xử lý được nước thải", bà Điệp nói. Đây cũng chính là lý do khiến hơn 1.000 làng có nghề của Hà Tây đều vô tư xả thẳng nước ra sông ngòi.

Tình trạng này cũng tương tự như tại thành phố Hà Nội. Theo ông Đặng Dương Bình, Trưởng phòng Môi trường, Sở Tài nguyên Môi trường thành phố Hà Nội, ít nhất cũng phải đến năm 2020 thành phố mới xử lý được các nguồn chất thải trước khi đổ ra sông. Hiện mỗi giây các nhánh sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét đổ ra sông Nhuệ 30 m3 nước chất thải, trung bình một ngày đêm là 2.592.000 m3.

Giải pháp căn cơ nhất không thực hiện được, các nhà nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy lợi đã đề xuất giải pháp trước mắt là quản lý nguồn xả của Hà Nội, Hà Tây. Tại Hà Nội, 3 trạm bơm tiêu Đồng Bông I, Đồng Bông II, và Xuân Đỉnh sẽ ngừng vận hành và đóng cửa đập Thanh Liệt. Nước thải thành phố dẫn về Yên Sở và thoát ra sông Hồng qua trạm bơm Yên Sở. Theo tính toán, kinh phí dự kiến cho công tác bơm xả nước thải ra sông Hồng trong 6 tháng mùa khô là 1,8 tỷ đồng.

Theo ông Bình, giải pháp dẫn nước thải ra Hồng nhằm giảm thiểu ô nhiễm ở 2 tỉnh cuối nguồn là Hà Tây, Hà Nam, đã được Sở Tài nguyên Môi trường và Sở Giao thông công chính Hà Nội tính toán. Hiện đề án này đã được trình lên UBND thành phố. Bà Điệp cũng cho biết, tỉnh Hà Tây đang xây dựng một dự án xử lý nước thải trước khi đổ ra sông Nhuệ và Đáy. Tuy nhiên, tất cả hiện vẫn còn nằm trên giấy, việc triển khai thực tế vẫn xa vời.

Điều này đồng nghĩa nhiều năm nữa gần 60.000 dân thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam vẫn phập phồng nỗi lo thiếu nước trong mùa khô. Hàng chục nghìn nông dân canh tác trên 80.000 ha đất thuộc lưu vực sông Nhuệ vẫn canh cánh nỗi lo sông ô nhiễm, sản lượng, chất lượng các sản phẩm nông nghiệp bị giảm sút.

Như Trang (Theo VNExpress.net)

Nhập rác thải vào Việt Nam: Đua nhau ập về cảng biển

 

"Việt Nam sẽ trở thành bãi rác thải khi được phép nhập khẩu xe ôtô cũ từ ngày 1.5 tới" - lời cảnh báo trên chưa biết có diễn ra hay không thì ngày 21.3.2006, tại cảng Hải Phòng, 4/46 container của cái gọi là "thiết bị văn phòng đã qua sử dụng" được kiểm tra đã phát hiện ra toàn là rác thải.

Trước đó, năm 2005, hàng trăm ngàn tấn ắcquy chì phế thải cũng đã được phát hiện tại cảng biển này. Lùi về xa hơn là rác nhựa, rác sắt thép đua nhau ập về cảng biển. Rõ ràng việc ngăn chặn rác thải nhập khẩu ồ ạt về Việt Nam chưa có lời giải.

 

Những container rác thải công
nghiệp mới được nhập về cảng
Chùa Vẽ (Hải Phòng).

Chiều 22.3, ngay sau khi vừa trở về từ Hải Phòng để chứng kiến việc mở container và kiểm tra hàng hoá của 4/46 container nói trên, tiến sĩ Trần Thế Loãn - Trưởng phòng Kiểm soát ô nhiễm- Cục Bảo vệ môi trường - đã có cuộc làm việc với phóng viên báo Lao Động.

- Đã hơn một lần các cơ quan chức năng, mà cụ thể là Bộ Tài nguyên - Môi trường cảnh báo về tác hại của việc nhập khẩu phế thải vào VN, nhưng việc nhập khẩu (NK) không những không giảm, mà còn gia tăng? Ông có thể cho biết nguyên nhân vì sao?

- Theo tôi, mục tiêu cao nhất của các DN là lợi nhuận nên để có lợi nhuận, DN đã bằng mọi cách NK vào trong nước cả những thứ mà DN biết chắc bị cấm. Tuy nhiên, cũng không loại trừ nhiều trường hợp chính các cơ quan chức năng tiếp tay cho DN, như vụ hàng chục ngàn tấn ắcquy chì NK mà báo chí đã lên tiếng gần đây tại cảng Hải Phòng.
 

Trước đó, một lãnh đạo địa phương đã đồng ý cho nhập để tăng nguồn thu cho địa phương. Ngay như vụ NK thiết bị văn phòng đã qua sử dụng này cũng vậy. Nếu cố tình vận dụng sai, cho rằng thiết bị văn phòng không cấm nhập thì lẽ đương nhiên, DN vẫn cứ nhập về mà không cần biết hậu quả ra sao.

- Có thể thấy việc thực hiện trên thực tế đang có "vấn đề", chứ không phải chúng ta chưa có quy định cụ thể về việc cấm nhập chất thải?

- Đúng như vậy. Theo Quyết định 2504 của Bộ Thương mại quy định về xuất nhập khẩu hàng hoá và Luật Bảo vệ môi trường năm 1994 quy định là "cấm nhập chất thải". Mà theo định nghĩa của luật: "Những thứ đã bị loại bỏ trong quá trình sản xuất đó là chất thải", do đó, những linh phụ kiện được chất đống, lộn xộn, không rõ nguồn gốc xuất xứ trong các container kể trên chiểu theo quy định không thể nói là còn giá trị sử dụng được. Đây là đống chất thải phải bị loại bỏ và cấm nhập khẩu vào VN.

- Theo Nghị định 138/NĐ-CP (NĐ quy định việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan), thì mức phạt cao nhất là 70 triệu đồng cho loại sai phạm này, theo ông đã đủ sức răn đe các hành vi vi phạm?

 

Việc nhập khẩu phế thải vào VN
vẫn tiếp tục gia tăng.

-         Mức xử phạt theo NĐ 138/NĐ-CP 70 triệu đồng/lần vi phạm là mức phạt cao nhất, nhưng trên thực tế nhiều DN không bị xử phạt ở mức này. Mức xử phạt như trên là tương đối nhẹ, chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm. Thực tế đã chứng minh, thời gian qua mặc dù đã có nhiều cảnh báo, nhưng bằng cách này, cách khác, DN vẫn nhập rác thải về và được núp dưới nhiều hình thức như nhập phế liệu cho sản xuất, tái chế để tái xuất. Vì vậy, tới đây các cơ quan nhà nước cần có chế tài xử phạt mạnh hơn mới đủ sức răn đe.

- Rõ ràng là cơ chế phối hợp giữa các ngành chức năng cũng còn có "lỗ hổng", chưa nói là nhiều khi còn "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược", ông có cho rằng nguyên nhân một phần do chúng ta thiếu nhất quán và buông lỏng kiểm soát, giám sát?

- Đúng là khâu phối hợp giữa các lực lượng đang có vấn đề. Nhưng hiện quy định là lực lượng hải quan làm nhiệm vụ kiểm soát hàng hoá, khi nào có yêu cầu phối hợp Cục Bảo vệ môi trường mới vào cuộc, mà thường là xử lý khi "sự đã rồi" (các lô hàng đã được NK vào VN chứ không cản được các lô hàng phế thải khi chưa vào lãnh thổ), vì vậy hạn chế đáng kể hiệu quả phòng chống, phát sinh chi phí xử lý, tiêu huỷ. Quan điểm của Bộ TNMT cũng như Cục BVMT là chất phế thải đã là hàng cấm thì không có chuyện xin phép, hay phạt cho tồn tại mà phải buộc xuất ra khỏi VN và trả về nước XK.


Hồng Quân thực hiện
  (Theo Laodong.com)

Rau Thanh Trì tồn dư nhiều hóa chất độc

Các mẫu rau muống, cần và cải xoong lấy tại thôn Bằng B (Hoàng Liệt, Thanh Trì) chứa nhiều hóa chất bảo vệ thực vật, một số loại bị cấm sử dụng. Riêng chất cholopyrifos trong rau muống vượt chuẩn cho phép gần 20 lần.

Trước sự lo ngại của người dân về độ an toàn của các loại rau trồng ở khu vực Thanh Trì (Hà Nội), một trong những nguồn cung cấp rau chủ yếu cho nội thành, Bộ Y tế đã lấy mẫu rau ở thôn Bằng B, phường Hoàng Liệt, để xét nghiệm. Tiến sĩ Trần Đáng, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh thực phẩm, cho biết, họ đã lấy mẫu rau muống, cần và cải xoong, mỗi loại 3 mẫu bao gồm cả rau mới cắt và rau bán ở cửa hàng. Kết quả kiểm định tại Viện Dinh dưỡng cho thấy, các loại rau trên tồn dư nhiều loại hóa chất bảo vệ thực vật, trong đó có các chất đã bị cấm sử dụng như monitor, BHC, Endrin, Heptachlor. Riêng hàm lượng chất cholopyrifos trong rau muống là 1,97 mg/kg, trong khi tiêu chuẩn cho phép là 0,1 mg/kg rau tươi.

Theo ông Trần Đáng, tình trạng trên cho thấy có hiện tượng lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật trong các hộ trồng rau ở đây. Qua khảo sát, các chuyên gia phát hiện nhiều bao bì đựng hóa chất bảo vệ thực vật ở khu vực trồng rau, trong đó có những loại đã bị cấm hoặc nhãn viết hoàn toàn bằng tiếng Trung Quốc.

"Chính quyền địa phương cần chấn chỉnh việc bán hóa chất bảo vệ thực vật trên địa bàn và hướng dẫn người dân thuốc nào được phép, thuốc nào không. Tôi từng hỏi nhiều người dân và được cho biết là họ trồng rau mấy đời rồi nhưng không biết thuốc nào bị cấm. Họ phun những hóa chất giúp rau mọc lên thật nhanh, tươi non mơn mởn mà không biết rằng sự lạm dụng đó sẽ gây độc cho người dùng" - ông Đáng nói.

Tiến sĩ Trần Đáng cũng lo ngại về nguồn nước tưới cho rau ở khu vực Thanh Trì. Vùng canh tác này nhận nước tưới từ sông Tô Lịch, nơi "tập kết" chất thải công nghiệp, bệnh viện và sinh hoạt chưa hề qua xử lý. Kết quả xét nghiệm kể trên của Bộ Y tế cho thấy, hàm lượng kim loại nặng trong các loại rau đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép. Tuy nhiên, kết quả kiểm nghiệm do Viện Môi trường và Phát triển bền vững thực hiện trước đó cho thấy, hàm lượng nhiều kim loại nặng như chì, cadimi, đồng, asen... trong các loại rau ở thôn Bằng B đã vượt mức cho phép nhiều lần.

(Theo VNExepress)

 

Xử lý nghiêm việc nhập rác thải công nghiệp

 

Rác thải điện tử nhập khẩu vào cảng Hải Phòng

Dư luận chưa hết bức xúc trước vụ nhập khẩu trái phép các container ắc-quy chì vào nước ta qua cảng Hải Phòng thì mới đây, ngày 21/3, khi tiến hành mở kiểm tra 46 container chứa thiết bị văn phòng đã qua sử dụng được nhập về cảng Hải Phòng, lực lượng chức năng lại phát hiện hàng hóa trong các container này là rác thải công nghiệp.

Ông Nguyễn Sĩ Tráng, Ðội trưởng Kiểm soát Hải quan (Cục Hải quan Hải Phòng) cho biết: 46 container (loại 40 phít) này được nhập từ Hồng Công về cảng Hải Phòng cuối năm 2005. Xét thấy việc vận chuyển các lô hàng này có dấu hiệu nghi vấn, Cục Hải quan Hải Phòng đã phối hợp Cục Ðiều tra chống buôn lậu (Tổng cục Hải quan) và Công an Hải Phòng xác minh nguồn gốc

. Số container này chia thành 18 lô hàng, được khai  là thiết bị văn phòng đã qua sử dụng, đơn vị đứng tên làm dịch vụ là Công ty TNHH Liên Quốc, địa chỉ tại 169B Lê Thánh Tông, quận Ngô Quyền (TP Hải Phòng), song đến nay vẫn không có chủ hàng nhận. Ðể bảo đảm quản lý Nhà nước về hải quan và các quy định của pháp luật, Cục Hải quan Hải Phòng đã ra quyết định kiểm tra toàn bộ số hàng  nêu trên.

 Trong ngày 21/3, Ðội kiểm soát Hải quan phối hợp các đơn vị chức năng  kiểm tra lô hàng bốn container trong số 46 container nói trên, kết quả đây là khay giấy máy photocopy, máy in kim, máy in laser đã tháo nhiều bộ phận bên trong; bóng hình và máy thu hình, điện thoại cố định... hầu hết đều đã cũ,nhiều chiếc vỏ bị vỡ, giập nát. Sơ bộ, các cơ quan chức năng nhận định, đây là chất thải được loại bỏ từ thiết bị văn phòng đã qua sử dụng.

 Tiếp đó, ngày 22/3, đoàn kiểm tra tiếp tục mở hai container trong lô hàng thì một container chứa bản vi mạch điện tử, còn container kia là máy thu hình nguyên chiếc cỡ lớn (30-45 inh), đều đã qua sử dụng. Trong ngày 23/3, container thứ bảy được kiểm tra, kết quả cũng chỉ là "chất thải từ thiết bị văn phòng". Theo đại diện của Công ty TNHH Liên Quốc, công ty chỉ là đại lý vận tải và giao nhận, không biết chủ hàng là ai, và họ có thể sẽ không đòi được cước phí vận chuyển và phí tổn lưu kho bãi.

 Cục Hải quan Hải Phòng cho biết, công việc kiểm tra và điều tra xác minh vụ việc vẫn tiếp tục, chỉ đến khi hoàn tất việc kiểm tra, làm rõ toàn bộ 46 container nêu trên chứa hàng hóa gì mới có thể xác định được hành vi, đưa ra kết luận và hướng giải quyết cuối cùng. Trước mắt, các đơn vị liên quan đang xúc tiến việc kiểm tra, cố gắng hoàn thành cuối tuần tới. Tùy theo mức độ vi phạm, có thể khởi tố hình sự hoặc xử phạt hành chính ở mức cao nhất.

 Theo Nghị định 138/NÐ-CP, mức phạt cao nhất là 70 triệu đồng/lần vi phạm, thực tế ít doanh nghiệp bị xử phạt ở mức này. Mức xử phạt như trên là tương đối nhẹ, chưa đủ sức răn đe các hành vi vi phạm. Theo một số cơ quan bảo vệ môi trường, Nhà nước cần có chế tài mạnh hơn để xử lý, ngăn ngừa các hành vi vi phạm. Với loại hàng hóa là rác thải công nghiệp, trong mọi trường hợp đều bị buộc tái xuất khỏi lãnh thổ Việt Nam. Nếu như không tìm ra người nhận, các cơ quan chức năng sẽ buộc Công ty TNHH Liên Quốc chịu trách nhiệm liên hệ với chủ hàng phía bên kia để tái xuất trở lại. 

 Ngày 23/3, UBND thành phố Hải Phòng đã có công văn 1496/UBND - MT về xử lý 46 container trên, yêu cầu Cục Hải quan Hải Phòng xác định rõ trách nhiệm của các chủ phương tiện vận chuyển, chủ hàng hoặc đại lý giao hàng đã vận chuyển trái phép chất thải vào nước ta, lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính, kiên quyết buộc vận chuyển số chất thải trên quay về nơi xuất phát và hoàn thành trước ngày 20/4, đồng thời, giao Sở Tài nguyên và Môi trường căn cứ thẩm quyền theo quy định chịu trách nhiệm giám sát, đôn đốc việc xử lý.

 QUANG HƯNG (Theo Nhân Dân điện tử)

 

Kiên quyết không cho số hàng phế thải độc hại lưu trú 
ở cảng Việt Nam

 

Cảng Hải Phòng

Trước thông tin 14 container ắc quy chì đã tái xuất khỏi Việt Nam, nhưng bị phía nước ngoài từ chối, phải quay trở lại cảng Việt Nam, Thứ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi Nguyên khẳng định, sẽ kiên quyết không cho số hàng phế thải độc hại này lưu trú ở cảng Việt Nam. Theo Thứ trưởng, đây là việc bắt buộc Việt Nam phải làm để bảo vệ môi trường quốc gia. Nếu không kiên quyết làm việc này, mức độ độc hại của số hàng này gây ra sẽ không lường hết được hậu quả.

Về phương án tiêu huỷ số hàng ắc quy chì phế thải nói trên của Cục Hải quan Hải Phòng và UBND TP. Hải Phòng, Thứ trưởng Phạm Khôi Nguyên kiên quyết bác bỏ. Bộ TN&MT không bao giờ cho "tạm nhập, tái xuất" mặt hàng độc hại này, đây là một cách làm "lậu", vi phạm nghiêm trọng Luật Môi trường. Bộ TN&MT yêu cầu các Sở TN&MT Hải Phòng và Quảng Ninh truy tìm và giám sát chặt chẽ những container chứa ắcquy chì phế thải "trôi nổi" trong lãnh thổ Việt Nam để đuổi bằng hết ra khỏi lãnh thổ Việt Nam.

 

(Việt Hùng – VTV)

 

 

Nhiều công trình kiến trúc ảnh hưởng đến cảnh quan
 môi trường sinh thái ven biển

 

Bờ biển Quy Nhơn (Bình Định)

Ngày 18/3, tại thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình Định) đã diễn ra Hội thảo khoa học “Quy hoạch và kiến trúc đô thị biển” do Hội Kiến trúc sư Việt Nam tổ chức với sự tham dự của đại diện Bộ Xây dựng; Tỉnh ủy, UBND  tỉnh Bình Định; Hội Kiến trúc sư Việt Nam và đông đảo các kiến trúc sư.

Tại Hội thảo, đã có 12 bản tham luận nhìn nhận, đánh giá hiện trạng cải tạo và phát triển các đô thị biển thời gian qua; phân tích những thế mạnh và các giá trị nổi bật của tài nguyên thiên nhiên bờ biển; từ đó, đi tới sự nhận thức đầy đủ hơn, chuyên nghiệp hơn về tổ chức không gian đô thị biển, về định tính và định hình diện mạo kiến trúc đô thị biển, tổ chức hành lang giao thông ven biển. Các tham luận đã bày tỏ sự quan ngại về tình trạng con người can thiệp làm mất cảnh quan môi trường sinh thái ven biển; những kiến trúc quay lưng ra biển, chiếm lưu không của biển… Đồng thời, những vấn đề về cơ cấu đô thị, hình thái kiến trúc, quản lý phát triển vẫn chưa được khai thác theo đúng giá trị của biển. Các đại biểu dự hội thảo cũng quan tâm tìm hiểu và bàn thảo quanh nhiều vấn đề “nóng” hiện nay của các đô thị biển, trong đó có Quy Nhơn, nhất là việc xây dựng đường ven biển, xử lý ô nhiễm môi trường biển, khai thác dải bờ biển. 

                                                                                                                                                                                                                                                           (Theo Báo Bình Định điện tử)

 

Đắk Lắk: Cần..150 năm để khôi phục cảnh quan thiên nhiên khu vực thác Thanh Nữ

 

Con suối Ea Reh chảy qua hai xã Chư M’ga và Ea M’ró (Chư M’ga, Đắc Lắc) rồi chảy về hạ lưu và đổ nước ra sông Sê Rê Pốc. Trên con suối này có một thác nước cao hơn 15 mét với 3 dòng chảy tràn bọt tung tóe trắng xóa trông giồng như làm tóc của người thiếu nữ nên người dân địa phương đặt cho cái tên thật thơ mộng là thác Thanh Nữ. Nơi đây, nước suối trong vắt chảy quanh năm, hơi nước bốc lên như làn khói trắng mát dịu. Phía chân thác có bãi đá tạo nhiều hình thù độc đáo xếp chồng lên nhau trông thật vui mắt; phía trên thác ở hai bên bờ suối chạy dài hơn 2 km là cánh rừng me xanh ngắt uốn lượn theo dạng địa hình tự nhiên, hòa lẫn với cảnh núi rừng hoang sơ làm cho thác nước đẹp hiếm có ở Tây Nguyên.

Thác Thanh Nữ nằm cách không xa thị trấn Quảng Phú, lại có đường đi vào thuận lợi nên nhiều người dân địa phương và du khách thường đến đây để chiêm ngưỡng cảnh đẹp tự nhiên. Ai đã từng đến đây một lần, đều muốn trở lại thăm thắng cảnh để tận hưởng cảnh đẹp nơi đây. Xét thấy thắng cảnh tự nhiên đẹp, có thể cho thu nguồn lợi về du lịch sinh thái và văn hóa, năm 2003, huyện Chư M’ga đã lập bộ hồ sơ gửi về Trung ương đề nghị xin được công nhận thác Thanh Nữ là danh lam thắng cảnh quốc gia. Sau khi xem xét tài liệu về cảnh đẹp của nơi này, năm 2005, Bộ Văn hóa và Thông tin đã cấp bằng chứng nhận thác Thanh Nữ là thắng cảnh du lịch văn hóa quốc gia.

Sau khi được cấp chứng nhận “danh lam thắng cảnh quốc gia“ huyện Chư M’ga đã chuẩn bị mọi điều kiện kêu gọi các nhà đầu tư góp vốn xây dựng nơi đây thành khu du lịch sinh thái, văn hóa. Trước khi tổ chức hội thảo bàn về thu hút vốn đầu tư và kế hoạch xây dựng khu du lịch thác Thanh Nữ, huyện cho người vào khảo sát lại khu danh thắng này. Thật đáng buồn, khi vào thăm lại nơi này, thì con suối Ea Reh trước đây dòng nước trong xanh quang năm chảy đầy nước đã bị khô cạn trơ cả đáy. Những vị trí trước đây được gọi là thác Thanh Nữ thì nay chỉ còn trơ lại những tảng đá to vách đứng nhô ra giữa lòng suối khô cạn. Tại hai bên bờ suối phía thượng lưu trước đây rừng nguyên sinh xanh ngắt, nay đã bị người dân trong vùng “cạo trọc“ để trồng ngô lai, đậu đỗ và cà phê. Hết rừng, suối Ea Reh không còn nước, thác Thanh Nữ thơ mộng cũng biến mất. Hiện nay, cảnh quan nơi đây đã bị xóa nhòa và biến thành vùng đồi trọc nhuốm màu nâu đỏ. Trước đây, cán bộ huyện còn trưng bằng “Chứng nhận danh thắng thác Thanh Nữ“ ở nơi trang trọng với niềm tự hào của huyện nhà. Giờ đây, thác Thanh Nữ không còn và kế hoạch xây dựng khu du lịch văn hóa sinh thái nơi đây cũng bị phá sản. Cũng từ đây, bằng chứng nhận danh thắng thác Thanh Nữ đã được Phòng Tài nguyên và Môi trương huyện Chư M’ga cất kỹ trong tủ như một kỷ vật của địa phương.

Luyến tiếc về một danh thắng cấp quốc gia bị biến mất, một số cán bộ huyện đề xuất ý kiến giải tỏa những hộ dân và phá bỏ những nương rẫy hoa màu hai bên suối để trồng lại rừng, nhằm khôi phục lại danh thắng mà thiên nhiên đã ban tặng này. Tuy nhiên, theo ý kiến của các nhà khoa học thì, muốn trồng lại rừng và phục hồi điều kiện sinh thái nơi đây để có danh thắng gần như trước, cũng phải mất thời gian 150 đến 200 năm nữa mới có được. Do vậy, việc phục hồi danh thắng này thật xa vời!.

Nguyễn Tiên Tri (Theo MonreNet)

 

Rừng ảo!


Hàng trăm héc-ta đất rừng dự án
không hề có hiệu quả ở huyện
Hiệp Đức đang được người dân
chặt bỏ để trồng lại rừng mới



Hơn 13 năm, các dự án trồng rừng ở Quảng Nam đã không thực hiện được mục tiêu của Chính phủ.

Hàng chục tỉ đồng vốn đầu tư cho chương trình trồng rừng đi về đâu chẳng ai biết. Hàng ngàn héc-ta đất trồng rừng theo dự án nay chẳng thấy rừng đâu, trong khi cả trăm nghìn hộ nông dân nghèo không có đất sản xuất...

Chúng tôi đi qua nhiều huyện ở Quảng Nam để tìm những khu rừng của dự án 327, PAM 4304... nhưng chẳng thấy bởi trên hồ sơ, sổ sách nghiệm thu, quyết toán thì có rừng, còn trên thực địa chỉ là những khu đồi núi phủ đầy dây leo và cây dại. Nhiều người dân lắc đầu bảo rằng: “Nếu các anh muốn đi tìm đất của các dự án trồng rừng thì ngay dưới chân. Còn tìm cây mọc trên đất để làm thuốc cũng không có...”.

Những dự án trên giấy


Hàng trăm héc-ta rừng dự án 327
trồng hơn 10 năm nay ở xã Sông Trà,
Hiệp Đức, chỉ toàn lau lách và cây dại.
Người dân đang phá đốt để tự trồng lại



Để xử lý rừng dự án không hiệu quả, huyện Hiệp Đức thành lập đoàn liên ngành kiểm tra toàn bộ diện tích rừng dự án. Sau kết quả kiểm tra, lãnh đạo huyện báo cáo kết quả, đồng thời gửi văn bản cho UBND tỉnh ra “tối hậu thư” rằng sau 15 ngày, nếu tỉnh không trả lời thì huyện “tự xử” lấy.

Quá thời hạn vẫn không thấy tỉnh trả lời nên vào giữa tháng 9-2005, nông dân nghèo ở các xã Phước Gia, Phước Trà... đã tự ý phát đốt hơn 200 héc-ta đất rừng không hiệu quả để trồng lại rừng mới. Mặc dù chủ dự án phản đối quyết liệt, nhưng chính quyền các cấp ở huyện phải làm ngơ.

Theo báo cáo của đoàn kiểm tra này, hiện có hơn 1.116 héc-ta rừng trồng của các dự án 327, PAM 4304 có đầy đủ hồ sơ, sổ sách, nhưng trên thực tế lại không có rừng. Trong quá trình kiểm tra hồ sơ thấy có tên chủ hộ tham gia nhận trồng rừng. Nhưng kiểm tra thực tế thì không xác định được vị trí của rừng trồng. Kiểm tra dự án rừng 327 tại sáu xã của huyện, với diện tích rừng trên hồ sơ là 565,1 héc-ta, với 305 hộ tham gia, thì diện tích rừng trên không hề có rừng. Tại xã Phước Gia, trên sổ sách dự án rừng 327 do Chi cục Định canh định cư làm chủ đầu tư trên diện tích 200 héc-ta, nhưng kiểm tra thực tế cũng chẳng có rừng.

Còn dự án PAM 4304 triển khai tại bảy xã trên diện tích 340,1 héc-ta, được giao cho 63 hộ dân và 70,1 héc-ta giao cho Trung tâm 05-06 thực hiện thì kiểm tra thực tế chỉ có 58,7 héc-ta được xem là có hiệu quả kinh tế, mà theo đoàn công tác là nếu thanh lý cũng được 100 triệu đồng. Nếu tính số tiền đầu tư 2,5 triệu/héc-ta thì số tiền thu được trên diện tích ít ỏi ấy sau hơn 13 năm không bằng số tiền đã đầu tư ban đầu.

Một cán bộ lãnh đạo của huyện Hiệp Đức tỏ ra bức xúc khi cho rằng hơn 1.116 héc-ta rừng trồng dự án không hiệu quả là một lãng phí ghê gớm, đã làm nhân dân huyện ngày càng nghèo thêm. Với mức đầu tư mỗi héc-ta rừng dự án là 2,5 triệu đồng, thì với 1.116 héc-ta, Nhà nước đã bỏ ra nguồn vốn hơn 2,5 tỉ đồng.

Còn nếu tính số tiền đầu tư trồng rừng hàng trăm nghìn héc-ta ở 16 huyện thị của tỉnh Quảng Nam trong hơn 10 năm qua, có lẽ số tiền đầu tư ít nhất cũng trên 100 tỉ đồng. Đó là chưa nói sự lãng phí về đất đai. Với 1.116 héc-ta đất rừng kia, nếu giao cho nông dân trồng và quản lý, chỉ sau bảy năm người nông dân Hiệp Đức đã có trong tay gần 56 tỉ đồng (bình quân thu nhập mỗi héc-ta 50 triệu đồng).

Đó mới chỉ ở một huyện, nếu kiểm tra trên toàn tỉnh hẳn diện tích rừng trồng trên giấy sẽ lớn rất nhiều lần, và đau xót hơn là có một diện tích lớn đất rừng được các quan chức địa phương và những người có thế lực phù phép biến thành đất của mình, có sổ đỏ hẳn hoi, hiện vẫn chưa thống kê được.

Đất thiếu rừng, dân thiếu đất


Hàng trăm héc-ta rừng không hiệu quả
như thế này đã được chặt phá, dù là
còn sót lại những cây sao đen, chò



Sau nhiều lần đắn đo, ông Mạc Văn Tơ, một nông dân Cơ Tu ở xã Ba, huyện Đông Giang, quyết định đem cây keo trồng trên diện tích 0,5 héc-ta đất rừng gần nhà, nơi trước đây là rừng của dự án 327. Theo suy nghĩ của ông Tơ là đất để trống phí lắm, dẫu biết rằng việc làm của mình là sai phạm. Ông Tơ lý luận: “Rừng không hiệu quả thì mình trồng lại, Nhà nước có bắt tù thì chịu, chứ bỏ đất trống như thế này tiếc lắm cán bộ ơi!”.

Trường hợp của ông Tơ không phải là duy nhất xâm phạm đất rừng thuộc các dự án trồng rừng 327, 661 ở Đông Giang. Bởi thực tế diện tích đất trồng rừng dự án không hiệu quả, chiếm diện tích hàng trăm nghìn héc-ta tại các địa phương, trong khi người nông dân dù không đất sản xuất cũng không được phép đụng đến đất rừng dự án. Nhiều cán bộ ở các huyện ví von: “Những dự án kia đã chết nhưng không thể chôn được vì vướng nhiều chuyện nhạy cảm, khó nói...”.

Ông Phan Văn Chiến, trưởng thôn Tống Cói, xã Ba, huyện Đông Giang, bảo: “Nếu lấy đất rừng dự án không hiệu quả giao cho dân, thì chủ dự án biết phải ăn nói ra sao với dân và lấy gì để báo cáo kết quả công tác trồng rừng với cấp trên?! Chỉ riêng tại làng Tống Cói, một ngôi làng nhỏ của người Cơ Tu, đã có đến hơn 40 héc-ta đất rừng dự án 327, 661 không hiệu quả. Nhiều tờ trình gửi lên tỉnh kiến nghị bàn giao cho người dân phát triển trồng rừng kinh tế, nhưng nhiều năm nay vẫn không có hồi âm.

Chính quyền huyện Đông Giang bèn “nhắm mắt” làm ngơ, để mặc người dân tự phát trồng lại rừng, với điều kiện là chỉ được phát mà không được đốt để khỏi ảnh hưởng đến “cây dự án” và mang tiếng là phá rừng!

Với cái kiểu trồng rừng dự án như ở Quảng Nam, kỳ vọng mà Chính phủ đặt ra là phủ xanh đất trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái, chức năng phòng hộ... đã bất thành. Người dân sống trên đất rừng thì ngày càng nghèo thêm.

Khó có thể tin được sự vô trách nhiệm của các cơ quan chức năng từ tỉnh đến huyện (không hề kiểm tra, giám sát việc triển khai thực hiện dự án). Nhiều diện tích chỉ là “rừng trồng trên giấy” và “trồng trong phòng máy lạnh”. Nhiều nông dân nhận trồng rừng dự án bảo rằng rừng trồng xong không hề thấy chủ dự án về kiểm tra.

Họ trồng 1 héc-ta, được một số cán bộ “phù phép” biến thành nhiều héc-ta, bảo người nông dân ký nhận và “ném” cho một ít tiền công trồng. Đời nông dân nghèo, bảo ký nhận tiền là sướng, không hề biết rằng đã vô tình hợp thức hóa diện tích rừng trồng “ảo” cho một số cán bộ quản lý dự án...

Ông Bùi Duy Khánh, phó chủ tịch UBND huyện Hiệp Đức, cho rằng nguyên nhân dự án trồng rừng không hiệu quả là do thiếu một cơ chế quản lý. Còn ông Trần Thọ, trưởng Phòng Kinh tế huyện, thì cho rằng rừng dự án không hiệu quả là do chưa làm rõ quyền và lợi ích hưởng lợi của người dân trong công tác trồng, chăm sóc và bảo quản.

Anh Đặng Xuân Toàn, người nhận chăm sóc 15 héc-ta rừng PAM 4304 tại xã Quế Bình, Hiệp Đức, kể lại rằng toàn bộ số cây bạch đàn hơn 13 năm tuổi vừa thanh lý trị giá chưa đến 30 triệu đồng. Nếu so sánh thì chưa bằng 1 héc-ta rừng trồng cây nguyên liệu giấy mà người nông dân ở đây đang làm. Không riêng gì anh Toàn, nhiều nông dân ở vùng đất này khẳng định dù Nhà nước có cấm, bà con cũng chặt bỏ rừng không hiệu quả để trồng lại, vì không thể khoanh tay đứng nhìn đất bỏ hoang.

Tại khu rừng phòng hộ Phú Ninh, có 2,5 héc-ta rừng dự án 327 được khai thác trắng trong khu vực rừng phòng hộ. Một lãnh đạo Hạt Kiểm lâm Phú Ninh bảo rằng trên 2,5 héc-ta rừng trồng chỉ còn lại đúng 37 cây thì để làm gì mà không chặt, để giao đất cho dân trồng, đảm bảo hiệu quả phòng hộ cho hồ chứa nước

.

Hoài Nhân & Phan Hoàng - Tuổi trẻ Online

 

Các làng rau thuộc quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì - Hà Nội:
 Giữa vòng vây các nhà máy gây ô nhiễm


Người trồng và bán rau rửa rau
trong dòng nước ô nhiễm.



Sông Tô Lịch trước khi đến vùng trồng rau phía nam đã mang trong nó đủ loại nước thải từ các khu công nghiệp... Khi đến vùng trồng rau này, nó còn chịu thêm nước thải xả từ 16 nhà máy, bệnh viện... Con sông là nguồn nước tưới chính của vùng rau Hoàng Mai, Thanh Trì. Các độc tố trong từng lá rau, con cá đang reo rắc bệnh tật, đe doạ sức khoẻ, sinh mạng người dân. Không lẽ các nhà máy lại làm ngơ?

Phóng viên báo Lao Động đã tiếp tục tìm đến các nhà máy đang xả nước thải trực tiếp ra các cánh đồng trồng rau ở quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì.

Có thể đóng cửa nhà máy

Sông Tô Lịch chở nước thải từ các Khu Công nghiệp Thượng Đình, các nhà máy dệt may ở quận Hai Bà Trưng đổ về Hoàng Mai, Thanh Trì. Có thể nói người dân nơi đây sống ở ngã ba giao các nguồn nước thải. Tệ hại hơn khi xung quanh nhà cửa, ruộng vườn của họ còn có thêm tới 16 nhà máy, cơ sở đang xả thải trực tiếp. Theo ông Đỗ Ngọc Hải - Phó trưởng phòng Quản lý môi trường: "Nguồn thải ở đây có vấn đề. Có nhà máy trang bị hệ thống xử lý nước thải nhưng hiệu suất xử lý không cao. Nhà máy mạ và nhuộm là thải nhiều chất độc hại nhất.

Lãnh đạo Xí nghiệp Dệt nhuộm Trung Thư dẫu nói là mới trang bị dây chuyền sản xuất an toàn, với hệ thống phân loại các luồng thải, nhưng mới ở mức độ sơ cấp, nên nước thải vẫn chưa đạt tiêu chuẩn. 5/16 nhà máy, xưởng sản xuất quanh Thanh Trì, Hoàng Mai gây ô nhiễm nặng là Xưởng mạ kim, Bệnh viện K, Viện Thực nghiệm vi sinh, Xí nghiệp dệt nhuộm Trung Thư, Công ty Kim Hà Nội. Các nhà máy này đã được kiểm soát từ vài tháng, nhưng cần phải xử lý quyết liệt hơn. Từ nay đến năm 2008, Thành phố Hà Nội sẽ rà soát toàn bộ hệ thống nước thải của các nhà máy này, nếu không đạt yêu cầu sẽ bị bắt buộc thay đổi công nghệ hoặc đóng cửa". Ông Hải khuyến cáo, nếu tiếp tục sử dụng nước thải cho mục đích tưới tiêu rau trồng, người dân nên sử dụng chừng mực, nhất là mùa khô và nên pha loãng và để lắng 5-7 ngày. Sở đã có lịch đóng đập Thịnh Liệt định kỳ theo mùa để giảm mức độ ô nhiễm cho vùng này.


Nước thải của một nhà máy
đổ vào sông Tô Lịch
.



Báo cáo và thực tế

Ngày 17.3, cùng đoàn kiểm tra của Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội, PV báo Lao Động đã tới Công ty cổ phần Xàphòng Hà Nội - đơn vị có nước thải đổ ra sông Tô Lịch. Từ 1995 đến nay, nhà máy chủ yếu gia công công đoạn đóng chai, đóng hộp sản phẩm nước rửa bát và xàphòng bánh cho Công ty Unilever. Ông Nguyễn Văn Dân, Giám đốc Công ty cho biết: "Nhà máy chỉ sử dụng khoảng 50 mét khối/ngày vào mục đích sinh hoạt nói chung. Còn nước dùng cho sản xuất do Unilever cung cấp hoàn toàn".

Tuy nhiên, theo chính báo cáo gửi cho Unilever về chất lượng nước thải và tổng lượng nước sử dụng của nhà máy là 2.300 mét khối/tháng. Trong đó 1.500 mét khối pha vào sản phẩm, 800 mét khối pha loãng, thau rửa thiết bị. Cũng chính bản báo cáo này cho biết: Nồng độ chất tải trọng thải BOD của Công ty rất cao, thường xuyên ở mức trên 200 miligam/lít. Những tháng đầu năm, con số này còn thậm chí là 430 miligam/lít - Công ty giải thích, nồng độ chất tải trọng thải này quá lớn, họ sẽ pha loãng trước khi đưa ra môi trường. Nhưng thử hỏi: Ai giám sát việc "pha loãng này"?

Ông Vũ Ngọc Đạm - Trưởng phòng Tài nguyên môi trường, Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội - nhận định: "Các Doanh nghiệp báo cáo là một chuyện, còn thực tế lại có thể rất khác. Nhìn chung, tình hình xả thải của các nhà máy còn rất nghiêm trọng. Có nơi không chưa trang bị hệ thống xử lý nước thải, hoặc có thì hoạt động theo kiểu "năm thì mười hoạ" vào dịp có đoàn thanh tra".

Chính quyền bị động


Công ty cổ phần xàphòng Hà Nội
là một trong những cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm nhiều nhất.



Ông Tạ Văn Hải - Phó Chủ tịch xã Hoàng Liệt - cho rằng: Nhận thức rất rõ nguy cơ ảnh hưởng của nước thải tới môi trường sống và sản xuất rau, nhưng việc chủ động đối phó với ô nhiễm môi trường còn rất hạn chế.

Thực ra, từ vài năm gần đây, khi mà hồ chứa nước Linh Đàm bị thu nhỏ thì nước thải sông Tô Lịch mới trở thành nguồn nưới tưới chính trồng rau tại đây. Khi thấy nguồn nước thải có biểu hiện màu đen, mùi khó chịu, xã đã tổ chức các khoá học về rau an toàn, về sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật cho người trồng rau. Nhưng vì việc giải quyết ô nhiễm môi trường nằm ngoài khả năng của xã, và xã chưa có những bằng chứng khoa học về sự ô nhiễm - nên chưa thể quyết được việc gì cả.

Còn chuyện người làm nông nghiệp thì bị thối móng chân là bình thường. Tuy nhiên, báo chí đã nêu lên gần đây, chúng tôi rất hoan nghênh, vì đây cũng là yêu cầu các cơ quan quản lý vào cuộc, xem xét và đánh gía chất lượng nước thải, ảnh hưởng với rau và sức khoẻ người dân.

Sáng nay 19.3, Phó Chủ tịch UBND xã Hoàng Liệt Tạ Văn Hải hứa sẽ cùng P.V báo Lao Động đối thoại cùng với 2 nhà máy đang đóng trên địa bàn của xã đang xả thải ra diện tích trồng rau của dân.

Nguyễn Hằng - Lao Động

 

 

Hải Phòng: Xử lý vụ nhập khẩu trái phép ắc quy chì đã qua sử dụng - cần chấm dứt "sự đã rồi" !

 

Việc tiếp tục gia hạn xử lý 39 contenner ắc quy chì phế thải tồn động ở Cảng Hải Phòng đến ngày chót (10/3) theo yêu cầu của UBND thành phố Hải Phòng vẫn chưa trở thành hiện thực.

Theo tin từ Cục Hải quan Hải Phòng: đến hôm nay, các doanh nghiệp (DN) mới thực hiện tái xuất trở lại nước xuất khẩu 14 trong số 26 container ắc quy chì phế thải theo dự kiến. Như vậy, vẫn còn 12 container ắc quy chì cần tái xuất đang "yên vị" tại cảng để chờ các chủ hàng đến làm thủ tục xuất đi, đó là chưa kể 13 container ắc quy chì khác được phép xử lý trong nước, nhưng không biết đến bao giờ mới hoàn tất. Rõ ràng, việc "nhập vào" thì dễ, song việc tìm cách "tái xuất" và xử lý hàng trăm tấn ắc quy chì phế thải đang tồn đọng ở cảng Hải Phòng trên thực tế thật không đơn giản và suôn sẻ chút nào cho dù đã 2 lần lỡ hạn ( vào ngày 28/2 và ngày 10/3). Việc làm nghiêm túc này đối với các container ắc quy chì phế thải đã buộc một số DN có "thói quen" kinh doanh hàng phế thải vừa cho tàu cập cảng phải vội "đằng sau quay" để tái xuất ngay trở lại nước xuất khẩu số hàng mang về, không được phép "lên bờ". Cách đây chỉ vài ngày, Hải quan cũng đã buộc một DN vừa nhập khẩu khối lượng lớn thiết bị phế thải phục vụ văn phòng phải tái xuất trở lại ngay, không cho hàng lưu cảng. Việc làm đó là cần thiết.

Tuy nhiên, vẫn phải nhắc lại, việc Hải quan đã cho phép các DN trong nước nhập khẩu và tái xuất sang nước thứ ba hàng trăm nghìn tấn ắc quy chì, thiết bị văn phòng,...phế thải từ năm 2003 đến nay là vi phạm Công ước Basel mà Việt Nam là một thành viên và quy định của Chính phủ về cấm nhập, tái xuất các mặt hàng phế thải, độc hại, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến sức khoẻ con nguời. Thiết nghĩ, các điều quy định có tính pháp lý đó không mới nhưng không rõ vì sao mà các doanh nghiệp và Hải quan đều chưa "thuộc" vẫn cứ cho phép nhập khẩu, kinh doanh các hàng phế thải... Nhiều nguời còn nhớ, cách đây vài năm, trước sự "lên tiếng" mạnh mẽ của báo chí và dư luận, một DN nhập khẩu vào cảng Hải Phòng hơn 5.000 tấn sắt vụn và chất phi kim loại phế thải đã buộc phải tái xuất khỏi cảng sau thời gian "lưu trú" tại bãi.

Thực tế ngày càng khẳng định, trong xu thế hội nhập, mặc dù đất nước còn nghèo, song chúng ta không thể tự biến mình, trước hết là ở các bến cảng cứ trở thành các bãi chứa hàng phế thải "tự giác" của nước ngoài, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn tới sự phát triển bền vững. Thiết tưởng, Hải quan cần phải gương mẫu, rút bài học kinh nghiệm để phấn đấu trở thành người "lính gác" tin cậy của hàng rào xuất, nhập khẩu hàng hoá qua các cửa khẩu; cần thiết phải chủ động ngăn chặn, chấm dứt ngay "sự đã rồi".

Trần Việt (MonreNet)

 

 

 

TP.HCM: Khu tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân ô nhiễm nặng

 

Khu tiểu thủ công nghiệp (TTCN) Lê Minh Xuân có 17 ha tại ấp 1 xã Tân Nhựt (Bình Chánh, TP.HCM) đã tiếp nhận 124 cơ sở sản xuất kinh doanh các sản phẩm nhựa, nhuộm, xi mạ, cơ khí, chế biến thực phẩm, thuốc bảo vệ thực vật... với quy mô vừa và nhỏ từ các quận, huyện Bình Chánh, Bình Tân, Tân Phú, Tân Bình, quận 111...di dời đến. Các doanh nghiệp phải trình phương án bảo vệ môi trường cho Sở TN&MT TP.HCM và UBND huyện Bình Chánh thẩm định trước khi triển khai xây dựng. Thế nhưng, qua kiểm tra, chỉ có 41 cơ sở được Sở TN&MT TP.HCM thẩm định đủ tiêu chuẩn. Hơn 80 doanh nghiệp còn lại chưa xây dựng hệ thống xử lý.

Anh Đào Duy Nghĩa, cán bộ khu tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân cho biết, hiện nay hầu hết các doanh nghiệp đã đăng ký kinh doanh nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa mạnh dạn đầu tư hệ thống xử lý nước thải, khí thải, tiếng ồn, khói bụi...mà xả thẳng ra môi trường xung quanh, gây ô nhiễm trầm trọng.