|
TÔI
CÓ Ý KIẾN !
(26/3/2006)
Bó
tay trước ô nhiễm sông Nhuệ
Nhập
rác thải vào Việt Nam: Đua nhau ập về cảng biển
Rau
Thanh Trì tồn dư nhiều hóa chất độc
Xử
lý nghiêm việc nhập rác thải công nghiệp
Kiên
quyết không cho số hàng phế thải độc hại lưu trú ở
cảng Việt Nam
Nhiều công trình kiến
trúc ảnh hưởng sinh thái ven
biển
Đắk Lắk: Cần..150 năm để khôi
phục cảnh quan thiên nhiên
Rừng
ảo!
Các làng rau Hà
Nội: Giữa vòng vây các nhà máy gây ô nhiễm
Hải
Phòng: Xử lý vụ nhập khẩu trái phép ắc quy chì đã qua
sử dụng - cần chấm dứt "sự đã rồi" !
TP.HCM:
Khu tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân ô nhiễm nặng
Sản
xuất sạch - Xu thế cần nhân rộng
Bệnh
viện Lao Nghệ An gây ô nhiễm trầm trọng
Hải
Phòng: Mới tái xuất được 16 container ăcqui chì
|
Bó
tay trước ô nhiễm sông Nhuệ
Giải pháp triệt để nhất nhằm giảm thiểu ô
nhiễm sông Nhuệ, nguồn nước tưới cho 80.000
ha đất canh tác và nước sinh hoạt của gần
60.000 người dân Phủ Lý (Hà Nam), là phải
xử lý nước thải trước khi đổ ra sông. Nhưng
điều này lại khó thực hiện.
*
60.000 dân Hà Nam phập phồng lo thiếu nước
Bà
Đào Anh Điệp, Phó phòng môi trường, Sở Tài
nguyên Môi trường Hà Tây, cho biết, doanh
nghiệp đều biết quy định phải xử lý nước
thải trước khi đổ ra môi trường. Nhưng vì
lợi nhuận, rất ít đơn vị thực hiện. Nhà
máy dệt Hà Đông (thuộc Công ty Dệt may Hà
Nội) báo cáo đã kiểm soát các nguồn chất
thải. Nhưng kết quả thanh tra cuối năm 2005
của Bộ Tài nguyên Môi trường cho thấy, đơn
vị này đã xả trực tiếp ra sông Nhuệ mỗi
ngày đêm 500 m3 nước thải, trong đó nước
tẩy nhuộm chiếm 70%.
Tương
tự, công ty TNHH may Việt - Pacific Hà Đông, dù
có lắp đặt hệ thống xử lý nước thải,
đã xử lý nước thải có chứa một số
chất tẩy rửa có nguồn gốc nhập khẩu từ
Hàn Quốc, Đức và Trung Quốc, nhưng Thanh tra
Bộ Tài nguyên Môi trường phát hiện hệ
thống không hoạt động thường xuyên và chưa
đảm bảo công suất.
|
|
|
Cống nước thải từ làng lụa Vạn Phúc (Hà Tây)
ven sông Nhuệ. Ảnh: N.T.
|
"Thực
tế không phải lúc nào chúng tôi cũng thanh tra.
Dựa vào báo cáo giám sát môi trường của
doanh nghiệp, nếu phát hiện tỷ lệ sai số trên
30%, chúng tôi sẽ đi lấy mẫu nước phân tích.
Nếu sai phạm nhẹ thì nhắc nhở và cho thời
gian khắc phục. Nếu vẫn chưa khắc phục thì
sẽ chuyển sang phòng thanh tra rồi xử phạt",
bà Điệp nói. Tuy nhiên, với mức xử phạt
hiện nay (Dệt Hà Đông bị phạt 3 triệu đồng),
nhiều đơn vị chấp nhận nộp tiền rồi
tiếp tục vi phạm.
Việc
buộc doanh nghiệp phải xử lý nước thải đã
khó, yêu cầu các làng nghề lại càng khó hơn.
"Các làng nghề phải được quy hoạch
tập trung trên một khu đất xa dân cư, các
hộ dân đóng góp tiền xây khu xử lý nước
thải. Còn với kiểu sản xuất thủ công, phân
tán, khu sản xuất nằm xen khu dân cư thì không
thể xử lý được nước thải", bà Điệp
nói. Đây cũng chính là lý do khiến hơn 1.000 làng
có nghề của Hà Tây đều vô tư xả thẳng nước
ra sông ngòi.
Tình trạng này cũng tương tự như tại thành phố
Hà Nội.
Theo ông Đặng Dương Bình, Trưởng phòng Môi
trường, Sở Tài nguyên Môi trường thành phố
Hà Nội, ít nhất cũng phải đến năm 2020 thành
phố mới xử lý được các nguồn chất thải
trước khi đổ ra sông. Hiện mỗi giây các nhánh
sông Tô Lịch, Kim Ngưu, Lừ, Sét đổ ra sông
Nhuệ 30 m3 nước chất thải, trung bình một ngày
đêm là 2.592.000 m3.
Giải
pháp căn cơ nhất không thực hiện được, các
nhà nghiên cứu của Viện Quy hoạch Thủy lợi
đã đề xuất giải pháp trước mắt là quản
lý nguồn xả của Hà Nội, Hà Tây. Tại Hà
Nội, 3 trạm bơm tiêu Đồng Bông I, Đồng Bông
II, và Xuân Đỉnh sẽ ngừng vận hành và đóng
cửa đập Thanh Liệt. Nước thải thành phố
dẫn về Yên Sở và thoát ra sông Hồng qua
trạm bơm Yên Sở. Theo tính toán, kinh phí dự
kiến cho công tác bơm xả nước thải ra sông
Hồng trong 6 tháng mùa khô là 1,8 tỷ đồng.
Theo
ông Bình, giải pháp dẫn nước thải ra Hồng
nhằm giảm thiểu ô nhiễm ở 2 tỉnh cuối
nguồn là Hà Tây, Hà Nam, đã được Sở Tài
nguyên Môi trường và Sở Giao thông công chính
Hà Nội tính toán. Hiện đề án này đã được
trình lên UBND thành phố. Bà Điệp cũng cho
biết, tỉnh Hà Tây đang xây dựng một dự án
xử lý nước thải trước khi đổ ra sông
Nhuệ và Đáy. Tuy nhiên, tất cả hiện vẫn còn
nằm trên giấy, việc triển khai thực tế
vẫn xa vời.
Điều
này đồng nghĩa nhiều năm nữa gần 60.000 dân
thị xã Phủ Lý, tỉnh Hà Nam vẫn phập phồng
nỗi lo thiếu nước trong mùa khô. Hàng chục
nghìn nông dân canh tác trên 80.000 ha đất
thuộc lưu vực sông Nhuệ vẫn canh cánh nỗi
lo sông ô nhiễm, sản lượng, chất lượng các
sản phẩm nông nghiệp bị giảm sút.
Như
Trang (Theo VNExpress.net)
|
Nhập rác
thải vào Việt Nam: Đua nhau ập về cảng biển
"Việt
Nam sẽ trở thành bãi rác thải khi được phép
nhập khẩu xe ôtô cũ từ ngày 1.5 tới" - lời
cảnh báo trên chưa biết có diễn ra hay không thì
ngày 21.3.2006, tại cảng Hải Phòng, 4/46 container
của cái gọi là "thiết bị văn phòng đã qua
sử dụng" được kiểm tra đã phát hiện ra
toàn là rác thải.
Trước đó, năm 2005, hàng trăm ngàn tấn ắcquy chì
phế thải cũng đã được phát hiện tại cảng
biển này. Lùi về xa hơn là rác nhựa, rác sắt
thép đua nhau ập về cảng biển. Rõ ràng việc ngăn
chặn rác thải nhập khẩu ồ ạt về Việt Nam chưa
có lời giải.
|
|
|
Những container rác thải công
nghiệp mới được nhập về cảng
Chùa Vẽ (Hải Phòng).
|
Chiều
22.3, ngay sau khi vừa trở về từ Hải Phòng để
chứng kiến việc mở container và kiểm tra hàng hoá
của 4/46 container nói trên, tiến sĩ Trần Thế Loãn
- Trưởng phòng Kiểm soát ô nhiễm- Cục Bảo vệ
môi trường - đã có cuộc làm việc với phóng
viên báo Lao Động.
- Đã hơn một lần các cơ quan chức năng,
mà cụ thể là Bộ Tài nguyên - Môi trường cảnh
báo về tác hại của việc nhập khẩu phế thải
vào VN, nhưng việc nhập khẩu (NK) không những
không giảm, mà còn gia tăng? Ông có thể cho biết
nguyên nhân vì sao?
- Theo tôi, mục tiêu cao nhất của các DN là lợi
nhuận nên để có lợi nhuận, DN đã bằng mọi
cách NK vào trong nước cả những thứ mà DN biết
chắc bị cấm. Tuy nhiên, cũng không loại trừ
nhiều trường hợp chính các cơ quan chức năng
tiếp tay cho DN, như vụ hàng chục ngàn tấn ắcquy
chì NK mà báo chí đã lên tiếng gần đây tại
cảng Hải Phòng.
Trước đó, một lãnh đạo địa phương đã đồng ý
cho nhập để tăng nguồn thu cho địa phương. Ngay
như vụ NK thiết bị văn phòng đã qua sử dụng
này cũng vậy. Nếu cố tình vận dụng sai, cho
rằng thiết bị văn phòng không cấm nhập thì lẽ
đương nhiên, DN vẫn cứ nhập về mà không cần
biết hậu quả ra sao.
- Có thể thấy việc thực hiện trên thực
tế đang có "vấn đề", chứ không phải
chúng ta chưa có quy định cụ thể về việc cấm
nhập chất thải?
- Đúng như vậy. Theo Quyết định 2504 của Bộ Thương
mại quy định về xuất nhập khẩu hàng hoá và
Luật Bảo vệ môi trường năm 1994 quy định là
"cấm nhập chất thải". Mà theo định nghĩa
của luật: "Những thứ đã bị loại bỏ trong
quá trình sản xuất đó là chất thải", do đó,
những linh phụ kiện được chất đống, lộn xộn,
không rõ nguồn gốc xuất xứ trong các container kể
trên chiểu theo quy định không thể nói là còn giá
trị sử dụng được. Đây là đống chất thải
phải bị loại bỏ và cấm nhập khẩu vào VN.
- Theo Nghị định 138/NĐ-CP (NĐ quy định
việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan),
thì mức phạt cao nhất là 70 triệu đồng cho loại
sai phạm này, theo ông đã đủ sức răn đe các
hành vi vi phạm?
|
|
|
Việc
nhập khẩu phế thải vào VN
vẫn tiếp tục gia tăng.
|
-
Mức
xử phạt theo NĐ 138/NĐ-CP 70 triệu đồng/lần vi
phạm là mức phạt cao nhất, nhưng trên thực tế
nhiều DN không bị xử phạt ở mức này. Mức xử
phạt như trên là tương đối nhẹ, chưa đủ sức
răn đe các hành vi vi phạm. Thực tế đã chứng
minh, thời gian qua mặc dù đã có nhiều cảnh báo,
nhưng bằng cách này, cách khác, DN vẫn nhập rác
thải về và được núp dưới nhiều hình thức như
nhập phế liệu cho sản xuất, tái chế để tái
xuất. Vì vậy, tới đây các cơ quan nhà nước
cần có chế tài xử phạt mạnh hơn mới đủ sức
răn đe.
- Rõ ràng là cơ chế phối hợp giữa các
ngành chức năng cũng còn có "lỗ hổng", chưa
nói là nhiều khi còn "trống đánh xuôi, kèn
thổi ngược", ông có cho rằng nguyên nhân một
phần do chúng ta thiếu nhất quán và buông lỏng
kiểm soát, giám sát?
- Đúng là khâu phối hợp giữa các lực lượng đang
có vấn đề. Nhưng hiện quy định là lực lượng
hải quan làm nhiệm vụ kiểm soát hàng hoá, khi nào
có yêu cầu phối hợp Cục Bảo vệ môi trường
mới vào cuộc, mà thường là xử lý khi "sự
đã rồi" (các lô hàng đã được NK vào VN
chứ không cản được các lô hàng phế thải khi chưa
vào lãnh thổ), vì vậy hạn chế đáng kể hiệu
quả phòng chống, phát sinh chi phí xử lý, tiêu
huỷ. Quan điểm của Bộ TNMT cũng như Cục BVMT là
chất phế thải đã là hàng cấm thì không có
chuyện xin phép, hay phạt cho tồn tại mà phải
buộc xuất ra khỏi VN và trả về nước XK.
Hồng Quân thực hiện
(Theo Laodong.com)
Rau
Thanh Trì tồn dư nhiều hóa chất độc
Các mẫu rau muống, cần và cải xoong lấy tại thôn
Bằng B (Hoàng Liệt, Thanh Trì) chứa nhiều hóa
chất bảo vệ thực vật, một số loại bị cấm
sử dụng. Riêng chất cholopyrifos trong rau muống vượt
chuẩn cho phép gần 20 lần.
Trước
sự lo ngại của người dân về độ an toàn của
các loại rau trồng ở khu vực Thanh Trì (Hà Nội),
một trong những nguồn cung cấp rau chủ yếu cho
nội thành, Bộ Y tế đã lấy mẫu rau ở thôn
Bằng B, phường Hoàng Liệt, để xét nghiệm. Tiến
sĩ Trần Đáng, Cục trưởng Cục An toàn vệ sinh
thực phẩm, cho biết, họ đã lấy mẫu rau muống,
cần và cải xoong, mỗi loại 3 mẫu bao gồm cả rau
mới cắt và rau bán ở cửa hàng. Kết quả kiểm
định tại Viện Dinh dưỡng cho thấy, các loại rau
trên tồn dư nhiều loại hóa chất bảo vệ thực
vật, trong đó có các chất đã bị cấm sử dụng
như monitor, BHC, Endrin, Heptachlor. Riêng hàm lượng
chất cholopyrifos trong rau muống là 1,97 mg/kg, trong
khi tiêu chuẩn cho phép là 0,1 mg/kg rau tươi.
Theo
ông Trần Đáng, tình trạng trên cho thấy có hiện
tượng lạm dụng hóa chất bảo vệ thực vật
trong các hộ trồng rau ở đây. Qua khảo sát, các
chuyên gia phát hiện nhiều bao bì đựng hóa chất
bảo vệ thực vật ở khu vực trồng rau, trong đó
có những loại đã bị cấm hoặc nhãn viết hoàn
toàn bằng tiếng Trung Quốc.
"Chính
quyền địa phương cần chấn chỉnh việc bán hóa
chất bảo vệ thực vật trên địa bàn và hướng
dẫn người dân thuốc nào được phép, thuốc nào
không. Tôi từng hỏi nhiều người dân và được
cho biết là họ trồng rau mấy đời rồi nhưng
không biết thuốc nào bị cấm. Họ phun những hóa
chất giúp rau mọc lên thật nhanh, tươi non mơn
mởn mà không biết rằng sự lạm dụng đó sẽ
gây độc cho người dùng" - ông Đáng nói.
Tiến
sĩ Trần Đáng cũng lo ngại về nguồn nước tưới
cho rau ở khu vực Thanh Trì. Vùng canh tác này nhận
nước tưới từ sông Tô Lịch, nơi "tập kết"
chất thải công nghiệp, bệnh viện và sinh hoạt chưa
hề qua xử lý. Kết quả xét nghiệm kể trên của
Bộ Y tế cho thấy, hàm lượng kim loại nặng trong
các loại rau đều nằm trong tiêu chuẩn cho phép.
Tuy nhiên, kết quả kiểm nghiệm do Viện Môi trường
và Phát triển bền vững thực hiện trước đó cho
thấy, hàm lượng nhiều kim loại nặng như chì,
cadimi, đồng, asen... trong các loại rau ở thôn
Bằng B đã vượt mức cho phép nhiều lần.
(Theo
VNExepress)
|
|
Xử lý nghiêm
việc nhập rác thải công nghiệp
|
|
|
|
|
|
Rác
thải điện tử nhập khẩu vào cảng
Hải Phòng
|
|
Dư
luận chưa hết bức xúc trước vụ nhập
khẩu trái phép các container ắc-quy chì vào nước
ta qua cảng Hải Phòng thì mới đây, ngày 21/3,
khi tiến hành mở kiểm tra 46 container chứa
thiết bị văn phòng đã qua sử dụng được
nhập về cảng Hải Phòng, lực lượng chức năng
lại phát hiện hàng hóa trong các container này
là rác thải công nghiệp.
Ông
Nguyễn Sĩ Tráng, Ðội trưởng Kiểm soát Hải
quan (Cục Hải quan Hải Phòng) cho biết: 46
container (loại 40 phít) này được nhập từ
Hồng Công về cảng Hải Phòng cuối năm 2005.
Xét thấy việc vận chuyển các lô hàng này có
dấu hiệu nghi vấn, Cục Hải quan Hải Phòng
đã phối hợp Cục Ðiều tra chống buôn lậu
(Tổng cục Hải quan) và Công an Hải Phòng xác
minh nguồn gốc
|
.
Số container này chia thành 18 lô hàng, được khai
là thiết bị văn phòng đã qua sử dụng, đơn vị
đứng tên làm dịch vụ là Công ty TNHH Liên Quốc,
địa chỉ tại 169B Lê Thánh Tông, quận Ngô Quyền
(TP Hải Phòng), song đến nay vẫn không có chủ hàng
nhận. Ðể bảo đảm quản lý Nhà nước về hải
quan và các quy định của pháp luật, Cục Hải quan
Hải Phòng đã ra quyết định kiểm tra toàn bộ
số hàng nêu trên.
Trong
ngày 21/3, Ðội kiểm soát Hải quan phối hợp các
đơn vị chức năng kiểm tra lô hàng bốn
container trong số 46 container nói trên, kết quả đây
là khay giấy máy photocopy, máy in kim, máy in laser đã
tháo nhiều bộ phận bên trong; bóng hình và máy thu
hình, điện thoại cố định... hầu hết đều đã
cũ,nhiều chiếc vỏ bị vỡ, giập nát. Sơ bộ, các
cơ quan chức năng nhận định, đây là chất thải
được loại bỏ từ thiết bị văn phòng đã qua
sử dụng.
Tiếp
đó, ngày 22/3, đoàn kiểm tra tiếp tục mở hai
container trong lô hàng thì một container chứa bản vi
mạch điện tử, còn container kia là máy thu hình
nguyên chiếc cỡ lớn (30-45 inh), đều đã qua sử
dụng. Trong ngày 23/3, container thứ bảy được
kiểm tra, kết quả cũng chỉ là "chất thải
từ thiết bị văn phòng". Theo đại diện của
Công ty TNHH Liên Quốc, công ty chỉ là đại lý
vận tải và giao nhận, không biết chủ hàng là ai,
và họ có thể sẽ không đòi được cước phí
vận chuyển và phí tổn lưu kho bãi.
Cục
Hải quan Hải Phòng cho biết, công việc kiểm tra và
điều tra xác minh vụ việc vẫn tiếp tục, chỉ đến
khi hoàn tất việc kiểm tra, làm rõ toàn bộ 46
container nêu trên chứa hàng hóa gì mới có thể xác
định được hành vi, đưa ra kết luận và hướng
giải quyết cuối cùng. Trước mắt, các đơn vị
liên quan đang xúc tiến việc kiểm tra, cố gắng hoàn
thành cuối tuần tới. Tùy theo mức độ vi phạm, có
thể khởi tố hình sự hoặc xử phạt hành chính
ở mức cao nhất.
Theo
Nghị định 138/NÐ-CP, mức phạt cao nhất là 70
triệu đồng/lần vi phạm, thực tế ít doanh
nghiệp bị xử phạt ở mức này. Mức xử phạt như
trên là tương đối nhẹ, chưa đủ sức răn đe các
hành vi vi phạm. Theo một số cơ quan bảo vệ môi
trường, Nhà nước cần có chế tài mạnh hơn để
xử lý, ngăn ngừa các hành vi vi phạm. Với loại hàng
hóa là rác thải công nghiệp, trong mọi trường
hợp đều bị buộc tái xuất khỏi lãnh thổ Việt
Nam. Nếu như không tìm ra người nhận, các cơ quan
chức năng sẽ buộc Công ty TNHH Liên Quốc chịu trách
nhiệm liên hệ với chủ hàng phía bên kia để tái
xuất trở lại.
Ngày
23/3, UBND thành phố Hải Phòng đã có công văn 1496/UBND
- MT về xử lý 46 container trên, yêu cầu Cục Hải
quan Hải Phòng xác định rõ trách nhiệm của các
chủ phương tiện vận chuyển, chủ hàng hoặc đại
lý giao hàng đã vận chuyển trái phép chất thải vào
nước ta, lập hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính,
kiên quyết buộc vận chuyển số chất thải trên
quay về nơi xuất phát và hoàn thành trước ngày
20/4, đồng thời, giao Sở Tài nguyên và Môi trường
căn cứ thẩm quyền theo quy định chịu trách
nhiệm giám sát, đôn đốc việc xử lý.
QUANG
HƯNG (Theo Nhân Dân điện tử)
|
|
Kiên
quyết không cho số hàng phế thải độc hại lưu
trú
ở cảng Việt Nam
|
|
|
|
|
|
Cảng
Hải Phòng
|
|
Trước thông tin 14 container ắc quy chì đã tái
xuất khỏi Việt Nam, nhưng bị phía nước
ngoài từ chối, phải quay trở lại cảng
Việt Nam, Thứ trưởng Bộ TN&MT Phạm Khôi
Nguyên khẳng định, sẽ kiên quyết không cho
số hàng phế thải độc hại này lưu trú
ở cảng Việt Nam. Theo Thứ trưởng, đây là
việc bắt buộc Việt Nam phải làm để bảo
vệ môi trường quốc gia. Nếu không kiên
quyết làm việc này, mức độ độc hại
của số hàng này gây ra sẽ không lường
hết được hậu quả.
|
Về
phương án tiêu huỷ số hàng ắc quy chì phế thải
nói trên của Cục Hải quan Hải Phòng và UBND TP.
Hải Phòng, Thứ trưởng Phạm Khôi Nguyên kiên
quyết bác bỏ. Bộ TN&MT không bao giờ cho
"tạm nhập, tái xuất" mặt hàng độc hại
này, đây là một cách làm "lậu", vi phạm
nghiêm trọng Luật Môi trường. Bộ TN&MT yêu
cầu các Sở TN&MT Hải Phòng và Quảng Ninh truy tìm
và giám sát chặt chẽ những container chứa ắcquy
chì phế thải "trôi nổi" trong lãnh thổ
Việt Nam để đuổi bằng hết ra khỏi lãnh thổ
Việt Nam.
(Việt Hùng – VTV)
|
|
|
|
Nhiều
công trình kiến trúc ảnh hưởng đến cảnh quan
môi
trường sinh thái ven biển
|
|
|
|
|
|
Bờ biển Quy Nhơn (Bình Định)
|
|
Ngày 18/3, tại thành phố Quy Nhơn (tỉnh Bình Định)
đã diễn ra Hội thảo khoa học “Quy hoạch và
kiến trúc đô thị biển” do Hội Kiến
trúc sư Việt Nam tổ chức với sự tham
dự của đại diện Bộ Xây dựng; Tỉnh
ủy, UBND tỉnh Bình Định; Hội Kiến trúc
sư Việt Nam và đông đảo các kiến trúc
sư.
|
Tại Hội thảo, đã có 12 bản tham luận nhìn nhận,
đánh giá hiện trạng cải tạo và phát triển các
đô thị biển thời gian qua; phân tích những thế
mạnh và các giá trị nổi bật của tài nguyên thiên
nhiên bờ biển; từ đó, đi tới sự nhận thức đầy
đủ hơn, chuyên nghiệp hơn về tổ chức không gian
đô thị biển, về định tính và định hình diện
mạo kiến trúc đô thị biển, tổ chức hành lang
giao thông ven biển. Các
tham luận đã bày tỏ sự quan ngại về tình
trạng con người can thiệp làm mất cảnh quan môi
trường sinh thái ven biển; những kiến trúc quay lưng
ra biển, chiếm lưu không của biển… Đồng thời,
những vấn đề về cơ cấu đô thị, hình thái
kiến trúc, quản lý phát triển vẫn chưa được
khai thác theo đúng giá trị của biển. Các đại
biểu dự hội thảo cũng quan tâm tìm hiểu và bàn
thảo quanh nhiều vấn đề “nóng” hiện nay của
các đô thị biển, trong đó có Quy Nhơn, nhất là
việc xây dựng đường ven biển, xử lý ô nhiễm môi
trường biển, khai thác dải bờ biển.
(Theo
Báo Bình Định điện tử)
|
|
Đắk
Lắk: Cần..150 năm để khôi phục cảnh quan thiên
nhiên khu vực thác Thanh Nữ
|
|
|
|
Con
suối Ea Reh chảy qua hai xã Chư M’ga và Ea M’ró
(Chư M’ga, Đắc Lắc) rồi chảy về hạ lưu và đổ
nước ra sông Sê Rê Pốc. Trên con suối này có
một thác nước cao hơn 15 mét với 3 dòng chảy tràn
bọt tung tóe trắng xóa trông giồng như làm tóc
của người thiếu nữ nên người dân địa phương
đặt cho cái tên thật thơ mộng là thác Thanh Nữ.
Nơi đây, nước suối trong vắt chảy quanh năm, hơi
nước bốc lên như làn khói trắng mát dịu. Phía
chân thác có bãi đá tạo nhiều hình thù độc đáo
xếp chồng lên nhau trông thật vui mắt; phía trên
thác ở hai bên bờ suối chạy dài hơn 2 km là cánh
rừng me xanh ngắt uốn lượn theo dạng địa hình
tự nhiên, hòa lẫn với cảnh núi rừng hoang sơ làm
cho thác nước đẹp hiếm có ở Tây Nguyên.
Thác
Thanh Nữ nằm cách không xa thị trấn Quảng Phú,
lại có đường đi vào thuận lợi nên nhiều người
dân địa phương và du khách thường đến đây để
chiêm ngưỡng cảnh đẹp tự nhiên. Ai đã từng đến
đây một lần, đều muốn trở lại thăm thắng
cảnh để tận hưởng cảnh đẹp nơi đây. Xét
thấy thắng cảnh tự nhiên đẹp, có thể cho thu
nguồn lợi về du lịch sinh thái và văn hóa, năm
2003, huyện Chư M’ga đã lập bộ hồ sơ gửi về
Trung ương đề nghị xin được công nhận thác
Thanh Nữ là danh lam thắng cảnh quốc gia. Sau khi xem
xét tài liệu về cảnh đẹp của nơi này, năm
2005, Bộ Văn hóa và Thông tin đã cấp bằng chứng
nhận thác Thanh Nữ là thắng cảnh du lịch văn hóa
quốc gia.
Sau
khi được cấp chứng nhận “danh lam thắng cảnh
quốc gia“ huyện Chư M’ga đã chuẩn bị mọi điều
kiện kêu gọi các nhà đầu tư góp vốn xây dựng
nơi đây thành khu du lịch sinh thái, văn hóa. Trước
khi tổ chức hội thảo bàn về thu hút vốn đầu tư
và kế hoạch xây dựng khu du lịch thác Thanh Nữ,
huyện cho người vào khảo sát lại khu danh thắng này.
Thật đáng buồn, khi vào thăm lại nơi này, thì con
suối Ea Reh trước đây dòng nước trong xanh quang năm
chảy đầy nước đã bị khô cạn trơ cả đáy.
Những vị trí trước đây được gọi là thác
Thanh Nữ thì nay chỉ còn trơ lại những tảng đá
to vách đứng nhô ra giữa lòng suối khô cạn. Tại
hai bên bờ suối phía thượng lưu trước đây
rừng nguyên sinh xanh ngắt, nay đã bị người dân
trong vùng “cạo trọc“ để trồng ngô lai, đậu
đỗ và cà phê. Hết rừng, suối Ea Reh không còn nước,
thác Thanh Nữ thơ mộng cũng biến mất. Hiện nay,
cảnh quan nơi đây đã bị xóa nhòa và biến thành
vùng đồi trọc nhuốm màu nâu đỏ. Trước đây, cán
bộ huyện còn trưng bằng “Chứng nhận danh thắng
thác Thanh Nữ“ ở nơi trang trọng với niềm tự hào
của huyện nhà. Giờ đây, thác Thanh Nữ không còn
và kế hoạch xây dựng khu du lịch văn hóa sinh thái
nơi đây cũng bị phá sản. Cũng từ đây, bằng
chứng nhận danh thắng thác Thanh Nữ đã được Phòng
Tài nguyên và Môi trương huyện Chư M’ga cất kỹ
trong tủ như một kỷ vật của địa phương.
Luyến
tiếc về một danh thắng cấp quốc gia bị biến
mất, một số cán bộ huyện đề xuất ý kiến
giải tỏa những hộ dân và phá bỏ những nương
rẫy hoa màu hai bên suối để trồng lại rừng,
nhằm khôi phục lại danh thắng mà thiên nhiên đã
ban tặng này. Tuy nhiên, theo ý kiến của các nhà
khoa học thì, muốn trồng lại rừng và phục hồi
điều kiện sinh thái nơi đây để có danh thắng
gần như trước, cũng phải mất thời gian 150 đến
200 năm nữa mới có được. Do vậy, việc phục
hồi danh thắng này thật xa vời!.
Nguyễn Tiên Tri (Theo MonreNet)
|
|
Rừng
ảo!

Hàng
trăm héc-ta đất rừng dự án
không hề có hiệu quả ở huyện
Hiệp Đức đang được người dân
chặt bỏ để trồng lại rừng mới
Hơn 13 năm, các dự án trồng rừng ở Quảng Nam đã
không thực hiện được mục tiêu của Chính phủ.
Hàng chục tỉ đồng vốn đầu tư cho chương trình
trồng rừng đi về đâu chẳng ai biết. Hàng ngàn héc-ta
đất trồng rừng theo dự án nay chẳng thấy rừng đâu,
trong khi cả trăm nghìn hộ nông dân nghèo không có đất
sản xuất...
Chúng tôi đi qua nhiều huyện ở Quảng Nam để tìm
những khu rừng của dự án 327, PAM 4304... nhưng
chẳng thấy bởi trên hồ sơ, sổ sách nghiệm thu,
quyết toán thì có rừng, còn trên thực địa chỉ là
những khu đồi núi phủ đầy dây leo và cây dại.
Nhiều người dân lắc đầu bảo rằng: “Nếu các
anh muốn đi tìm đất của các dự án trồng rừng thì
ngay dưới chân. Còn tìm cây mọc trên đất để làm
thuốc cũng không có...”.
Những dự án trên giấy

Hàng
trăm héc-ta rừng dự án 327
trồng hơn 10 năm nay ở xã Sông Trà,
Hiệp Đức, chỉ toàn lau lách và cây dại.
Người dân đang phá đốt để tự trồng lại
Để xử lý rừng dự án không hiệu quả, huyện
Hiệp Đức thành lập đoàn liên ngành kiểm tra toàn
bộ diện tích rừng dự án. Sau kết quả kiểm tra, lãnh
đạo huyện báo cáo kết quả, đồng thời gửi văn
bản cho UBND tỉnh ra “tối hậu thư” rằng sau 15 ngày,
nếu tỉnh không trả lời thì huyện “tự xử”
lấy.
Quá thời hạn vẫn không thấy tỉnh trả lời nên vào
giữa tháng 9-2005, nông dân nghèo ở các xã Phước
Gia, Phước Trà... đã tự ý phát đốt hơn 200 héc-ta
đất rừng không hiệu quả để trồng lại rừng
mới. Mặc dù chủ dự án phản đối quyết liệt, nhưng
chính quyền các cấp ở huyện phải làm ngơ.
Theo báo cáo của đoàn kiểm tra này, hiện có hơn
1.116 héc-ta rừng trồng của các dự án 327, PAM 4304 có
đầy đủ hồ sơ, sổ sách, nhưng trên thực tế
lại không có rừng. Trong quá trình kiểm tra hồ sơ
thấy có tên chủ hộ tham gia nhận trồng rừng. Nhưng
kiểm tra thực tế thì không xác định được vị trí
của rừng trồng. Kiểm tra dự án rừng 327 tại sáu
xã của huyện, với diện tích rừng trên hồ sơ là
565,1 héc-ta, với 305 hộ tham gia, thì diện tích rừng
trên không hề có rừng. Tại xã Phước Gia, trên sổ
sách dự án rừng 327 do Chi cục Định canh định cư
làm chủ đầu tư trên diện tích 200 héc-ta, nhưng
kiểm tra thực tế cũng chẳng có rừng.
Còn dự án PAM 4304 triển khai tại bảy xã trên diện
tích 340,1 héc-ta, được giao cho 63 hộ dân và 70,1 héc-ta
giao cho Trung tâm 05-06 thực hiện thì kiểm tra thực
tế chỉ có 58,7 héc-ta được xem là có hiệu quả
kinh tế, mà theo đoàn công tác là nếu thanh lý cũng
được 100 triệu đồng. Nếu tính số tiền đầu tư
2,5 triệu/héc-ta thì số tiền thu được trên diện tích
ít ỏi ấy sau hơn 13 năm không bằng số tiền đã đầu
tư ban đầu.
Một cán bộ lãnh đạo của huyện Hiệp Đức tỏ ra
bức xúc khi cho rằng hơn 1.116 héc-ta rừng trồng dự
án không hiệu quả là một lãng phí ghê gớm, đã làm
nhân dân huyện ngày càng nghèo thêm. Với mức đầu
tư mỗi héc-ta rừng dự án là 2,5 triệu đồng, thì
với 1.116 héc-ta, Nhà nước đã bỏ ra nguồn vốn hơn
2,5 tỉ đồng.
Còn nếu tính số tiền đầu tư trồng rừng hàng trăm
nghìn héc-ta ở 16 huyện thị của tỉnh Quảng Nam
trong hơn 10 năm qua, có lẽ số tiền đầu tư ít
nhất cũng trên 100 tỉ đồng. Đó là chưa nói sự lãng
phí về đất đai. Với 1.116 héc-ta đất rừng kia,
nếu giao cho nông dân trồng và quản lý, chỉ sau
bảy năm người nông dân Hiệp Đức đã có trong tay
gần 56 tỉ đồng (bình quân thu nhập mỗi héc-ta 50
triệu đồng).
Đó mới chỉ ở một huyện, nếu kiểm tra trên toàn
tỉnh hẳn diện tích rừng trồng trên giấy sẽ lớn
rất nhiều lần, và đau xót hơn là có một diện tích
lớn đất rừng được các quan chức địa phương và
những người có thế lực phù phép biến thành đất
của mình, có sổ đỏ hẳn hoi, hiện vẫn chưa
thống kê được.
Đất thiếu rừng, dân thiếu đất

Hàng
trăm héc-ta rừng không hiệu quả
như thế này đã được chặt phá, dù là
còn sót lại những cây sao đen, chò
Sau nhiều lần đắn đo, ông Mạc Văn Tơ, một nông dân
Cơ Tu ở xã Ba, huyện Đông Giang, quyết định đem cây
keo trồng trên diện tích 0,5 héc-ta đất rừng gần
nhà, nơi trước đây là rừng của dự án 327. Theo
suy nghĩ của ông Tơ là đất để trống phí lắm,
dẫu biết rằng việc làm của mình là sai phạm. Ông
Tơ lý luận: “Rừng không hiệu quả thì mình trồng
lại, Nhà nước có bắt tù thì chịu, chứ bỏ đất
trống như thế này tiếc lắm cán bộ ơi!”.
Trường hợp của ông Tơ không phải là duy nhất xâm
phạm đất rừng thuộc các dự án trồng rừng 327,
661 ở Đông Giang. Bởi thực tế diện tích đất
trồng rừng dự án không hiệu quả, chiếm diện tích
hàng trăm nghìn héc-ta tại các địa phương, trong khi
người nông dân dù không đất sản xuất cũng không
được phép đụng đến đất rừng dự án. Nhiều cán
bộ ở các huyện ví von: “Những dự án kia đã
chết nhưng không thể chôn được vì vướng nhiều
chuyện nhạy cảm, khó nói...”.
Ông Phan Văn Chiến, trưởng thôn Tống Cói, xã Ba,
huyện Đông Giang, bảo: “Nếu lấy đất rừng dự
án không hiệu quả giao cho dân, thì chủ dự án
biết phải ăn nói ra sao với dân và lấy gì để báo
cáo kết quả công tác trồng rừng với cấp trên?!
Chỉ riêng tại làng Tống Cói, một ngôi làng nhỏ
của người Cơ Tu, đã có đến hơn 40 héc-ta đất
rừng dự án 327, 661 không hiệu quả. Nhiều tờ trình
gửi lên tỉnh kiến nghị bàn giao cho người dân phát
triển trồng rừng kinh tế, nhưng nhiều năm nay vẫn
không có hồi âm.
Chính quyền huyện Đông Giang bèn “nhắm mắt” làm
ngơ, để mặc người dân tự phát trồng lại rừng,
với điều kiện là chỉ được phát mà không được
đốt để khỏi ảnh hưởng đến “cây dự án” và
mang tiếng là phá rừng!
Với cái kiểu trồng rừng dự án như ở Quảng Nam,
kỳ vọng mà Chính phủ đặt ra là phủ xanh đất
trống đồi núi trọc, cải thiện môi trường sinh thái,
chức năng phòng hộ... đã bất thành. Người dân
sống trên đất rừng thì ngày càng nghèo thêm.
Khó có thể tin được sự vô trách nhiệm của các cơ
quan chức năng từ tỉnh đến huyện (không hề kiểm
tra, giám sát việc triển khai thực hiện dự án).
Nhiều diện tích chỉ là “rừng trồng trên giấy”
và “trồng trong phòng máy lạnh”. Nhiều nông dân
nhận trồng rừng dự án bảo rằng rừng trồng xong
không hề thấy chủ dự án về kiểm tra.
Họ trồng 1 héc-ta, được một số cán bộ “phù phép”
biến thành nhiều héc-ta, bảo người nông dân ký
nhận và “ném” cho một ít tiền công trồng. Đời
nông dân nghèo, bảo ký nhận tiền là sướng, không
hề biết rằng đã vô tình hợp thức hóa diện tích
rừng trồng “ảo” cho một số cán bộ quản lý
dự án...
Ông Bùi Duy Khánh, phó chủ tịch UBND huyện Hiệp Đức,
cho rằng nguyên nhân dự án trồng rừng không hiệu
quả là do thiếu một cơ chế quản lý. Còn ông
Trần Thọ, trưởng Phòng Kinh tế huyện, thì cho
rằng rừng dự án không hiệu quả là do chưa làm rõ
quyền và lợi ích hưởng lợi của người dân trong
công tác trồng, chăm sóc và bảo quản.
Anh Đặng Xuân Toàn, người nhận chăm sóc 15 héc-ta
rừng PAM 4304 tại xã Quế Bình, Hiệp Đức, kể lại
rằng toàn bộ số cây bạch đàn hơn 13 năm tuổi
vừa thanh lý trị giá chưa đến 30 triệu đồng.
Nếu so sánh thì chưa bằng 1 héc-ta rừng trồng cây
nguyên liệu giấy mà người nông dân ở đây đang làm.
Không riêng gì anh Toàn, nhiều nông dân ở vùng đất
này khẳng định dù Nhà nước có cấm, bà con cũng
chặt bỏ rừng không hiệu quả để trồng lại, vì
không thể khoanh tay đứng nhìn đất bỏ hoang.
|
Tại khu rừng phòng hộ Phú Ninh, có 2,5 héc-ta
rừng dự án 327 được khai thác trắng trong khu
vực rừng phòng hộ. Một lãnh đạo Hạt Kiểm
lâm Phú Ninh bảo rằng trên 2,5 héc-ta rừng
trồng chỉ còn lại đúng 37 cây thì để làm gì
mà không chặt, để giao đất cho dân trồng, đảm
bảo hiệu quả phòng hộ cho hồ chứa nước
|
.
|
|
Hoài
Nhân & Phan Hoàng - Tuổi trẻ Online
|
|
Các
làng rau thuộc quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì - Hà
Nội:
Giữa vòng vây các nhà máy gây ô nhiễm

Người
trồng và bán rau rửa rau
trong dòng nước ô nhiễm.
Sông Tô Lịch trước khi đến vùng trồng rau phía nam
đã mang trong nó đủ loại nước thải từ các khu công
nghiệp... Khi đến vùng trồng rau này, nó còn chịu
thêm nước thải xả từ 16 nhà máy, bệnh viện...
Con sông là nguồn nước tưới chính của vùng rau Hoàng
Mai, Thanh Trì. Các độc tố trong từng lá rau, con cá
đang reo rắc bệnh tật, đe doạ sức khoẻ, sinh
mạng người dân. Không lẽ các nhà máy lại làm ngơ?
Phóng viên báo Lao Động đã tiếp tục tìm đến các
nhà máy đang xả nước thải trực tiếp ra các cánh
đồng trồng rau ở quận Hoàng Mai và huyện Thanh Trì.
Có thể đóng cửa nhà máy
Sông Tô Lịch chở nước thải từ các Khu Công
nghiệp Thượng Đình, các nhà máy dệt may ở quận
Hai Bà Trưng đổ về Hoàng Mai, Thanh Trì. Có thể nói
người dân nơi đây sống ở ngã ba giao các nguồn nước
thải. Tệ hại hơn khi xung quanh nhà cửa, ruộng vườn
của họ còn có thêm tới 16 nhà máy, cơ sở đang
xả thải trực tiếp. Theo ông Đỗ Ngọc Hải - Phó
trưởng phòng Quản lý môi trường: "Nguồn thải
ở đây có vấn đề. Có nhà máy trang bị hệ thống
xử lý nước thải nhưng hiệu suất xử lý không
cao. Nhà máy mạ và nhuộm là thải nhiều chất độc
hại nhất.
Lãnh đạo Xí nghiệp Dệt nhuộm Trung Thư dẫu nói là
mới trang bị dây chuyền sản xuất an toàn, với hệ
thống phân loại các luồng thải, nhưng mới ở mức
độ sơ cấp, nên nước thải vẫn chưa đạt tiêu
chuẩn. 5/16 nhà máy, xưởng sản xuất quanh Thanh Trì,
Hoàng Mai gây ô nhiễm nặng là Xưởng mạ kim, Bệnh
viện K, Viện Thực nghiệm vi sinh, Xí nghiệp dệt
nhuộm Trung Thư, Công ty Kim Hà Nội. Các nhà máy này
đã được kiểm soát từ vài tháng, nhưng cần phải
xử lý quyết liệt hơn. Từ nay đến năm 2008, Thành
phố Hà Nội sẽ rà soát toàn bộ hệ thống nước
thải của các nhà máy này, nếu không đạt yêu cầu
sẽ bị bắt buộc thay đổi công nghệ hoặc đóng
cửa". Ông Hải khuyến cáo, nếu tiếp tục sử
dụng nước thải cho mục đích tưới tiêu rau
trồng, người dân nên sử dụng chừng mực, nhất là
mùa khô và nên pha loãng và để lắng 5-7 ngày. Sở
đã có lịch đóng đập Thịnh Liệt định kỳ theo mùa
để giảm mức độ ô nhiễm cho vùng này.

Nước thải của một nhà máy
đổ vào sông Tô Lịch.
Báo cáo và thực tế
Ngày 17.3, cùng đoàn kiểm tra của Sở Tài nguyên Môi
trường và Nhà đất Hà Nội, PV báo Lao Động đã
tới Công ty cổ phần Xàphòng Hà Nội - đơn vị có
nước thải đổ ra sông Tô Lịch. Từ 1995 đến nay,
nhà máy chủ yếu gia công công đoạn đóng chai, đóng
hộp sản phẩm nước rửa bát và xàphòng bánh cho Công
ty Unilever. Ông Nguyễn Văn Dân, Giám đốc Công ty cho
biết: "Nhà máy chỉ sử dụng khoảng 50 mét
khối/ngày vào mục đích sinh hoạt nói chung. Còn nước
dùng cho sản xuất do Unilever cung cấp hoàn toàn".
Tuy nhiên, theo chính báo cáo gửi cho Unilever về chất
lượng nước thải và tổng lượng nước sử dụng
của nhà máy là 2.300 mét khối/tháng. Trong đó 1.500 mét
khối pha vào sản phẩm, 800 mét khối pha loãng, thau
rửa thiết bị. Cũng chính bản báo cáo này cho
biết: Nồng độ chất tải trọng thải BOD của Công
ty rất cao, thường xuyên ở mức trên 200 miligam/lít.
Những tháng đầu năm, con số này còn thậm chí là
430 miligam/lít - Công ty giải thích, nồng độ chất
tải trọng thải này quá lớn, họ sẽ pha loãng trước
khi đưa ra môi trường. Nhưng thử hỏi: Ai giám sát
việc "pha loãng này"?
Ông Vũ Ngọc Đạm - Trưởng phòng Tài nguyên môi trường,
Sở Tài nguyên Môi trường và Nhà đất Hà Nội -
nhận định: "Các Doanh nghiệp báo cáo là một
chuyện, còn thực tế lại có thể rất khác. Nhìn
chung, tình hình xả thải của các nhà máy còn rất
nghiêm trọng. Có nơi không chưa trang bị hệ thống
xử lý nước thải, hoặc có thì hoạt động theo
kiểu "năm thì mười hoạ" vào dịp có đoàn
thanh tra".
Chính quyền bị động

Công
ty cổ phần xàphòng Hà Nội
là một trong những cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm nhiều nhất.
Ông Tạ Văn Hải - Phó Chủ tịch xã Hoàng Liệt - cho
rằng: Nhận thức rất rõ nguy cơ ảnh hưởng của nước
thải tới môi trường sống và sản xuất rau, nhưng
việc chủ động đối phó với ô nhiễm môi trường
còn rất hạn chế.
Thực ra, từ vài năm gần đây, khi mà hồ chứa nước
Linh Đàm bị thu nhỏ thì nước thải sông Tô Lịch
mới trở thành nguồn nưới tưới chính trồng rau
tại đây. Khi thấy nguồn nước thải có biểu hiện
màu đen, mùi khó chịu, xã đã tổ chức các khoá
học về rau an toàn, về sử dụng hoá chất bảo vệ
thực vật cho người trồng rau. Nhưng vì việc giải
quyết ô nhiễm môi trường nằm ngoài khả năng của
xã, và xã chưa có những bằng chứng khoa học về
sự ô nhiễm - nên chưa thể quyết được việc gì
cả.
Còn chuyện người làm nông nghiệp thì bị thối móng
chân là bình thường. Tuy nhiên, báo chí đã nêu lên
gần đây, chúng tôi rất hoan nghênh, vì đây cũng là
yêu cầu các cơ quan quản lý vào cuộc, xem xét và đánh
gía chất lượng nước thải, ảnh hưởng với rau và
sức khoẻ người dân.
Sáng nay 19.3, Phó Chủ tịch UBND xã Hoàng Liệt Tạ Văn
Hải hứa sẽ cùng P.V báo Lao Động đối thoại cùng
với 2 nhà máy đang đóng trên địa bàn của xã đang
xả thải ra diện tích trồng rau của dân.
|
|
Nguyễn
Hằng - Lao Động
|
|
Hải
Phòng: Xử lý vụ nhập khẩu trái phép ắc quy chì
đã qua sử dụng - cần chấm dứt "sự đã
rồi" !
|
|
|
|
Việc tiếp tục gia hạn xử lý 39 contenner ắc
quy chì phế thải tồn động ở Cảng Hải Phòng đến
ngày chót (10/3) theo yêu cầu của UBND thành phố
Hải Phòng vẫn chưa trở thành hiện thực.
Theo tin từ Cục Hải quan Hải Phòng: đến hôm
nay, các doanh nghiệp (DN) mới thực hiện tái xuất
trở lại nước xuất khẩu 14 trong số 26 container
ắc quy chì phế thải theo dự kiến. Như vậy, vẫn
còn 12 container ắc quy chì cần tái xuất đang
"yên vị" tại cảng để chờ các chủ hàng
đến làm thủ tục xuất đi, đó là chưa kể 13
container ắc quy chì khác được phép xử lý trong nước,
nhưng không biết đến bao giờ mới hoàn tất. Rõ ràng,
việc "nhập vào" thì dễ, song việc tìm cách
"tái xuất" và xử lý hàng trăm tấn ắc
quy chì phế thải đang tồn đọng ở cảng Hải Phòng
trên thực tế thật không đơn giản và suôn sẻ chút
nào cho dù đã 2 lần lỡ hạn ( vào ngày 28/2 và ngày
10/3). Việc làm nghiêm túc này đối với các
container ắc quy chì phế thải đã buộc một số DN
có "thói quen" kinh doanh hàng phế thải vừa
cho tàu cập cảng phải vội "đằng sau
quay" để tái xuất ngay trở lại nước xuất
khẩu số hàng mang về, không được phép "lên
bờ". Cách đây chỉ vài ngày, Hải quan cũng đã
buộc một DN vừa nhập khẩu khối lượng lớn
thiết bị phế thải phục vụ văn phòng phải tái
xuất trở lại ngay, không cho hàng lưu cảng. Việc
làm đó là cần thiết.
Tuy nhiên, vẫn phải nhắc lại, việc Hải quan
đã cho phép các DN trong nước nhập khẩu và tái
xuất sang nước thứ ba hàng trăm nghìn tấn ắc quy
chì, thiết bị văn phòng,...phế thải từ năm 2003
đến nay là vi phạm Công ước Basel mà Việt Nam là
một thành viên và quy định của Chính phủ về
cấm nhập, tái xuất các mặt hàng phế thải, độc
hại, gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng đến
sức khoẻ con nguời. Thiết nghĩ, các điều quy định
có tính pháp lý đó không mới nhưng không rõ vì
sao mà các doanh nghiệp và Hải quan đều chưa
"thuộc" vẫn cứ cho phép nhập khẩu, kinh
doanh các hàng phế thải... Nhiều nguời còn nhớ, cách
đây vài năm, trước sự "lên tiếng" mạnh
mẽ của báo chí và dư luận, một DN nhập khẩu vào
cảng Hải Phòng hơn 5.000 tấn sắt vụn và chất
phi kim loại phế thải đã buộc phải tái xuất
khỏi cảng sau thời gian "lưu trú" tại bãi.
Thực tế ngày càng khẳng định, trong xu thế
hội nhập, mặc dù đất nước còn nghèo, song chúng
ta không thể tự biến mình, trước hết là ở các
bến cảng cứ trở thành các bãi chứa hàng phế
thải "tự giác" của nước ngoài, gây ô
nhiễm môi trường, ảnh hưởng lớn tới sự phát
triển bền vững. Thiết tưởng, Hải quan cần
phải gương mẫu, rút bài học kinh nghiệm để
phấn đấu trở thành người "lính gác" tin
cậy của hàng rào xuất, nhập khẩu hàng hoá qua các
cửa khẩu; cần thiết phải chủ động ngăn chặn,
chấm dứt ngay "sự đã rồi".
Trần
Việt (MonreNet)
|
|
|
|
TP.HCM:
Khu tiểu thủ công nghiệp Lê Minh Xuân ô nhiễm
nặng
|
|
|
|
Khu
tiểu thủ công nghiệp (TTCN) Lê Minh Xuân có 17 ha
tại ấp 1 xã Tân Nhựt (Bình Chánh, TP.HCM) đã
tiếp nhận 124 cơ sở sản xuất kinh doanh các sản
phẩm nhựa, nhuộm, xi mạ, cơ khí, chế biến thực
phẩm, thuốc bảo vệ thực vật... với quy mô vừa
và nhỏ từ các quận, huyện Bình Chánh, Bình Tân,
Tân Phú, Tân Bình, quận 111...di dời đến. Các
doanh nghiệp phải trình phương án bảo vệ môi trường
cho Sở TN&MT TP.HCM và UBND huyện Bình Chánh thẩm
định trước khi triển khai xây dựng. Thế nhưng,
qua kiểm tra, chỉ có 41 cơ sở được Sở TN&MT
TP.HCM thẩm định đủ tiêu chuẩn. Hơn 80 doanh
nghiệp còn lại chưa xây dựng hệ thống xử lý.
Anh
Đào Duy Nghĩa, cán bộ khu tiểu thủ công nghiệp Lê
Minh Xuân cho biết, hiện nay hầu hết các doanh
nghiệp đã đăng ký kinh doanh nhưng chưa được
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên chưa
mạnh dạn đầu tư hệ thống xử lý nước thải,
khí thải, tiếng ồn, khói bụi...mà xả thẳng ra môi
trường xung quanh, gây ô nhiễm trầm trọng.
| |