|
TÔI
CÓ Ý KIẾN !
(08/2006)
HUYỆN
TAM NÔNG- ĐỒNG THÁP: “XẺ” THỊT VƯỜN QUỐC GIA TRÀM
CHIM
|
|
|
Một
góc nhà ăn của VQGTC và những
cái
ao do gia đình ông Phó Chủ tịch
huyện
đào.
|
Vườn quốc gia Tràm Chim (thuộc huyện Tam Nông, tỉnh
Đồng Tháp) được thành lập theo Quyết định số
253/1998/QĐ-TTg, ngày 29.12.1998 của Thủ tướng Chính phủ,
với diện tích tự nhiên là 7.588ha. Nhưng hiện nay, diện
tích đất của vườn quốc gia này đã và đang bị chính
quyền địa phương và một số cán bộ huyện Tam Nông
"xẻ thịt"...
Mưu
toan bất thành
Vườn quốc gia Tràm Chim (VQGTC) thuộc hệ thống rừng
đặc dụng được thành lập trên cơ sở Khu bảo tồn thiên
nhiên ngập nước Tràm Chim. Theo quyết định của Thủ tướng
Chính phủ, diện tích tự nhiên của VQGTC là 7.588ha, bao
gồm: Phân khu bảo vệ nghiêm ngặt 6.889ha; phân khu phục
hồi sinh thái 653ha và phân khu hành chính dịch vụ 46ha.
Thế nhưng, khi tiến hành đo đạc, cắm mốc thì diện tích
của VQGTC chỉ còn lại 7.313ha. Do một phần đất của vườn
được cắt giao cho huyện Tam Nông quản lý để cấp đất
cho dân, nhằm làm giảm áp lực mâu thuẫn giữa VQGTC và
nhân dân địa phương về tranh chấp đất đai. Mặc dù
Ban quản lý đã có sự "nhún nhường" như vậy,
nhưng vẫn chưa làm hài lòng chính quyền sở tại.
Ngày 31.3.2005, UBND huyện Tam Nông đã làm đề nghị
số 35/ĐN.UB gửi UBND tỉnh đề nghị "cắt" 46ha
đất thuộc phân khu hành chính và dịch vụ của VQGTC giao
cho địa phương quản lý. Theo UBND huyện Tam Nông, đây là
khu vực thuận lợi cho việc xây dựng phát triển các
dịch vụ du lịch, đồng thời là khu vui chơi giải trí đáp
ứng nhu cầu của nhân dân địa phương...
Ngay sau đó, ngày 21.4.2005, Sở Tài nguyên - Môi trường
Đồng Tháp đã có công văn số 162 đề nghị thu hồi đất
của VQGTC giao cho UBND huyện Tam Nông quản lý. Rất may là
các đề nghị này đã bị UBND tỉnh bác bỏ.
Vì
lợi ích của ai?
Theo
Giám đốc VQGTC Huỳnh Thế Phiên cho biết: Thời gian gần
đây, ông đã nhiều lần được UBND huyện Tam Nông và
UBND tỉnh đánh tiếng và ép giao phần đất 46ha của phân
khu hành chính và dịch vụ của VQGTC cho UBND huyện Tam Nông
xây dựng trung tâm văn hoá thể dục thể thao.
Trao đổi với chúng tôi, ông Phiên cho biết: Khi còn là
Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và lúc này là Giám đốc
VQGTC, ông kiên quyết phản đối việc giao 46ha đất trên
cho chính quyền địa phương quản lý, vì như thế, khi
triển khai các hạng mục phát triển du lịch sinh thái
VQGTC sẽ không có đất xây dựng. Còn diện tích thuộc
khu bảo vệ nghiêm ngặt thì không thể xâm phạm.
Ngay cả khi đất chưa giao về cho huyện thì ông Lê Hoàng
Nam - Phó Chủ tịch UBND huyện Tam Nông - cũng đã xí
phần. Lúc còn là giám đốc của VQGTC, ông đã được
cấp căn nhà (của VQGTC) và một phần đất từ nguồn
VQGTC. Bằng các mối quan hệ, ông Nam được cấp thêm
một phần đất phía sau hậu khu hành chính của VQGTC
hiện tại. Sau đó, ông lại tiến hành đào hai cái ao
rất sâu để làm khu du lịch sinh thái.
Trao đổi với chúng tôi về việc làm của ông Nam, Giám
đốc VQGTC Huỳnh Thế Phiên bức xúc: Nhiều đoàn chuyên
gia quốc tế vào nghiên cứu khoa học và tìm hiểu đầu tư
tại VQGTC tỏ vẻ bất bình khi thấy nơi đây bị xà
xẻo.
Một khu vực bảo tồn sinh thái đất ngập nước điển hình
của vùng ĐBSCL, đang được đầu tư, xây dựng theo mẫu
chuẩn quốc gia, không thể chấp nhận kiểu xén bớt tuỳ
tiện như đề nghị của chính quyền huyện Tam Nông.
Hồng
Thuỷ (Laodong.com)
BÁO
ĐỘNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NUÔI TRỒNG THUỶ SẢN
Nhiều tỉnh ở ĐBSCL đang ngày
càng bị ô nhiễm môi trường nuôi thủy sản nặng hơn,
trong đó có Bến Tre, tôm sú, cá, nghêu, sò... năm nào cũng
bị chết, năm sau chết nhiều hơn năm trước. Bến Tre đã
có nhưng giải pháp nào giải quyết tình trạng ô nhiễm
những vùng nuôi thủy sản?
Bà Trần Thị Thu Nga, Phó giám đốc
Sở Thủy sản Bến Tre cho biết, nghề nuôi thủy sản
Bến Tre hình thành khá sớm, nhưng phải đến năm 2000,
Bến Tre mới thành công trong mô hình nuôi tôm sú thâm
canh, năng suất đạt trên 9 tấn/ha, lợi nhuận rất cao,
đánh dấu một bước đột phá cho nghề nuôi thủy sản
của Bến Tre.
Từ năm 2000 đến nay, nghề nuôi
thủy sản ở Bến Tre phát triển khá mạnh theo hướng thâm
canh ở vùng nước mặn (tôm sú, nghêu, sò, hến...), ở vùng
nước lợ và nước ngọt phát triển nhiều loại hình và
đối tượng nuôi khá phong phú như nuôi tôm càng xanh
liền canh liền cư, nuôi tôm càng xanh bán thâm canh, nuôi cá
tra tăng sản, nuôi cá sấu, baba, cá đồng... mang lại
hiệu quả kinh tế cao.
Tính đến giữa năm 2006, tổng
diện tích nuôi thủy sản của Bến Tre đạt 43.000 ha,
trong đó chuyên nuôi tôm biển là 32.755 ha, với 6.570 ha nuôi
tôm sú thâm canh và bán thâm canh. Sản lượng thủy sản
nuôi đạt 70.000 tấn/năm (riêng tôm đạt 25.000 tấn/năm),
diện tích nuôi nghêu đạt 4.600 ha, tôm càng xanh 2.000 ha và
cá da trơn đạt 60 ha.
Trong 6 tháng đầu năm nay, Bến
Tre đã chế biến được 8.420 tấn thành phẩm đông lạnh
các loại, tăng 87,54%, xuất khẩu hàng thủy sản đạt
8.109 tấn, tăng 107%, trị giá xuất khẩu đạt hơn 25
triệu USD, tăng 55,31% so với cùng kỳ năm 2005.Số lượng
diện tích và sản lượng nuôi trồng tăng mạnh nhưng
thiệt hại do ô nhiễm môi trường cũng tăng nhanh không kém.
Theo Sở Thủy sản Bến Tre, tôm
sú thâm canh và bán thâm canh thả nuôi trước ngày 1/3/2006
bị thiệt hại 82, 18 ha, chiếm tới 78% diện tích thả nuôi,
tập trung ở các xã Thạch Trị, Bình Thới, Định Trung
thuộc huyện Bình Đại.
Riêng diện tích thả nuôi sau ngày
1/3/2006 bị thiệt hại 554,10 ha, chiếm 11,42% diện tích
thả giống, tăng 253,1 ha so với cùng kỳ năm 2005. Tôm sú
nuôi thâm canh và bán thâm canh chết nhiều nhất trong tháng
4/2006 do nhiễm virus đốm trắng ở giai đoạn 20 đến 45
ngày tuổi.
Nguyên nhân là do môi trường nước
bị ô nhiễm hữu cơ ở mức độ cao, chất lượng giống
không tốt, thời tiết biến đổi thất thường, nhiều
hộ nuôi không tuân thủ về lịch thời vụ nuôi đã được
UBND tỉnh quy định và không tuân thủ quy trình kỹ thuật
nuôi. Hiện ở Bến Tre vẫn còn tình trạng xả thải bùn
đáy ao, xả thải mầm bệnh ra môi trường tự nhiên làm
cho môi trường nuôi ngày càng ô nhiễm nặng hơn.
Bà Trần Thị Thu Nga cho biết,
tỉnh Bến Tre đã chú trọng thực hiện đồng bộ nhiều
giải pháp để nghề nuôi thủy sản phát triển ổn định
và bền vững như: quy hoạch vùng nuôi, quản lý mùa vụ
nuôi, quản lý chặt chẽ chất lượng con giống, cải
tiến quy trình kỹ thuật nuôi, đầu tư cơ sở hạ tầng
thủy lợi, đa dạng hóa đối tượng nuôi, tổ chức lại
sản xuất, nâng cao ý thức quản lý cộng đồng..., trong
đó giải pháp tổ chức lại sản xuất, nâng cao ý thức
quản lý cộng đồng là một trong những giải pháp quan
trọng mang tính nguyên tắc cho nuôi thủy sản bền vững.
Bến Tre là một trong số ít
tỉnh đã kịp phát hiện ra rằng muốn nuôi thủy sản
bền vững không thể để các hộ riêng lẻ tự phát nuôi
mà phải tổ chức lại sản xuất theo hình thức chuyển
hộ sản xuất cá thể thành cộng đồng nuôi trên tinh
thần tự nguyện với các hình thức tổ hợp tác, ban
quản lý vùng nuôi để mọi người chia sẻ trách nhiệm
bảo vệ môi trường bằng sự đầu tư hợp tác sản
xuất, quản lý môi trường theo tiêu chí hướng dẫn của
Bộ Thủy sản, tiến đến việc cấp giấy chứng nhận vùng
nuôi an toàn.
Hiện Bến Tre đã có 113 tổ
hợp tác nuôi tôm sú và trên 90% số tổ hợp tác sản
xuất kinh doanh đạt hiệu qủa khá cao. Tổ hợp tác nuôi
tôm có nhiều ưu điểm như: giúp cho việc thực hiện quy
hoạch phát triển nuôi thủy sản thuận lợi, hoàn chỉnh
hơn, bảo vệ môi trường nuôi, hạn chế dịch bệnh lây
lan và việc áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào nuôi
thủy sản được tập trung hơn nhiều so với hình thức
nuôi nhỏ lẻ, tự phát của người dân.
Những tổ hợp tác này sẽ phát
triển thành các hợp tác xã và Liên hiệp các tổ hợp tác
nuôi thủy sản. Sở Thủy sản sẽ hỗ trợ các tổ hợp
tác về kỹ thuật nuôi, kinh nghiệm quản lý kinh tế hợp
tác và những biện pháp bảo vệ môi trường nuôi.Ngoài
tổ hợp tác, tỉnh Bến Tre còn thành lập 114 ban quản lý
vùng nuôi (một hình thức tổ chức mới) nhằm mục đích
nâng cao ý thức quản lý cộng đồng, cộng đồng người
nuôi cùng tham gia vào việc quản lý môi trường chung.
Ban quản lý được những hộ nuôi
thủy sản trong vùng tín nhiệm bầu ra, là những người có
uy tín, có trình độ kỹ thuật, tinh thần trách nhiệm
cao, sẵn sàng chia sẻ thông tin, kinh nghiệm về kỹ
thuật, quản lý, thị trường, giá cả... cho những người
nuôi trong vùng. Ban quản lý vùng nuôi còn được quyền đình
chỉ mọi hoạt động nuôi thủy sản gây ảnh hưởng
xấu đến môi trường vùng nuôi.
Hoàng
Lộc (VNECONOMY)
NGƯỢC DÒNG SÔNG “CHẾT”
Ngũ Huyện Khê, dòng sông uốn
lượn qua các làng nghề: Đồng Kỵ, Phong Khê, Đa Hội...
của Bắc Ninh. Ngày ngày, hàng ngàn mét khối nước thải
và hàng chục tấn rác thải rắn từ các làng nghề tuôn
ra xối xả.
Dòng
sông phải đau đớn oằn mình hứng chịu, nước không còn
trong xanh, mà chuyển sang một màu đen đặc, hôi thối.
Những người dân sống ở ven sông đã gọi Ngũ Huyện Khê
là “dòng sông chết”.
Sông “chết”
Bắt nguồn từ vùng núi Tam Đảo
(Vĩnh Phúc), Ngũ Huyện Khê uốn mình chảy quanh Bắc Ninh
với chiều dài 24km.
Chúng tôi bắt đầu cuộc hành
trình ngược dòng từ phía hạ lưu sông, nơi tập trung
nhiều rác thải cặn bã nhất trước khi dòng Ngũ Huyện
Khê đổ vào sông Cầu.
Và những gì được tận mắt
chứng kiến khiến chúng tôi phải bàng hoàng...
Vừa đến chân đê thôn Châm Khê,
xã Phong Khê, đã thấy “phảng phất” một mùi tanh
nồng. Đứng trên cầu Chiêm Khê, nhìn xuống dòng sông, nước
một màu đen đặc. Hai bên bờ, từng mảng rác to hình thành
từ giấy vụn, dầu nhớt, xút, nhựa, xỉ than, đinh
ghim... tất cả quện lại trông giống như một đống
bầy nhầy, nhờn nhợt bốc mùi hôi thối kinh khủng.
Men theo con đê, chúng tôi đến
thôn Đào Xá - một trong hai thôn tập trung phần lớn số
nhà máy sản xuất giấy ở Phong Khê và cũng là nơi ô
nhiễm khủng khiếp nhất trên dòng Ngũ Huyện Khê. Đập vào
mắt là những đống rác ngồn ngộn nằm dọc theo bờ sông.
Bên trên, ống khói của các nhà
máy giấy đang “vô tư” phun ra những cột khói đen đặc.
Ngay sát mép nước, hàng chục ống nhựa nối từ trong khu
CN ra sông trông như những con rồng hung hãn tuôn nước
xối xả, đen ngòm.
Chị Nguyễn Thị Tám, công nhân
xưởng giấy nằm kề sát bờ sông than thở: “Cũng vì
miếng cơm manh áo mà phải đến cái nơi xó xỉnh này. Ngày
nào cũng phải ngửi mùi hôi thối, tay chân thì lở loét
hết cả”. Chị vừa nói tay vừa buộc lại chiếc khăn
bịt mặt kín mít, chỉ chừa riêng có đôi mắt thâm
quầng.
Sức khỏe người dân bị đe
dọa
Anh Vịnh, người thôn Dương Ổ
(Phong Khê) cho biết: “Mấy năm trước, chiều nào anh em
trong làng cũng ra sông tắm. Bây giờ, nước sông đen kịt
đi làm đồng về cũng chẳng dám xuống rửa chân nữa”.
Anh còn cho biết thêm, vì mạch nước
ngầm đã bị ô nhiễm nên cuộc sống của bà con rất khó
khăn. Một số ít hộ khá giả thì họ mua nước sạch
về sử dụng, còn lại các hộ khác vẫn phải dùng nước
từ giếng khoan.
Tại thôn Đào Xá, chúng tôi tình
cờ gặp cụ Tư – một nhà giáo về hưu. Cụ tâm sự
với đầy vẻ chua xót: “Ngày trước, năm nào tới mùa lúa
trổ bông hai bên ven sông cò về trắng đồng.
Bây giờ, cứ đến đầu khu công
nghiệp là chúng lại bay sang làng khác. Các chú xem, đến
chim không dám bay trên trời, cá không dám bơi dưới nước
thì hỏi làm sao con người sống nổi!”. Cụ vừa nói tay
vừa chỉ lên những ống khói cao đang phun khói đen kịt
trên bầu trời.
Hiện mức độ ô nhiễm tại các
làng nghề và của dòng Ngũ Huyện Khê là thực sự đáng
báo động.
Chẳng thế mà đến ông Lê Văn
Bậc, Phó chủ tịch UBND xã Phong Khê cũng phải nói rằng,
ở Phong Khê nhà nhà, người người đua nhau làm giấy.
Họ làm ăn, kinh doanh một cách tự phát. Đa số các cơ
sở vẫn chưa chú trọng đầu tư vào hệ thống xử lý nước
thải, chất thải. Tình trạng ô nhiễm đang diễn ra hết
sức nghiêm trọng.
Trước thực trạng ô nhiễm
nặng nề của dòng sông, các cơ quan chức năng cũng đã
“xắn tay” vào việc. Năm 1999-2000, Sở NN-PTNT Bắc Ninh
đã cho triển khai dự án xây dựng bể lắng lọc nước
thải tại Phong Khê. Tuy nhiên, với sự phát triển ồ ạt
của các cơ sở sản xuất cộng với những khó khăn, khúc
mắc phát sinh trong quá trình triển khai, dự án đã
“chết” giữa chừng.
Và cho tới thời điểm hiện
tại, các cơ quan chức năng vẫn “bó tay”.
Trong khi đó, từng ngày, từng giờ những người dân vẫn
phải sống chung với rác thải. Việc xử lý còn chậm
trễ ngày nào thì sức khỏe, tính mạng của họ còn bị
đe dọa nghiêm trọng ngày đó.
Chỉ tính riêng 2 làng nghề
giấy Phong Khê và Phú Lâm, mỗi năm đã thải ra hàng trăm
tấn chất thải rắn và xả bừa bãi nước thải xuống sông.
Nước thải đổ trực tiếp xuống sông còn chất thải
rắn thì được tập kết thành những bãi rác trong làng và
đổ bừa bãi trên bờ sông Ngũ Huyện Khê.
Kết quả phân tích mẫu nước
ngầm ở độ sâu 40m tại Phong Khê đã xuất hiện coliform
và feca coliform. Nước thải tại đây có độ màu, độ đục
cao, chỉ số coliform vượt TCCP tới 11-18,6 lần. Hàm lượng
khoáng, dầu mỡ khiến nguồn nước sông ô nhiễm vượt
tiêu chuẩn cho phép 2,1-5,6 lần.
Theo đánh giá của Sở TNMT, với
mức độ hàm lượng các chất thải vượt quá tiêu
chuẩn cho phép gấp rất nhiều lần như vậy thì người dân
rất dễ mắc các loại bệnh về đường hô hấp, bệnh
ngoài da và nguy hiểm hơn cả là căn bệnh ung thư gây
chết người.
Xuân
Vũ (Tienphongonline)
|
|
|
|
|
|
|
|
LINH TRƯỞNG VIỆT NAM BỊ ĐE DOẠ TUYỆT
CHỦNG CAO NHẤT THẾ GIỚI
TP
- Chuyên gia quốc tế, dự khai mạc khóa đào
tạo chuyên sâu đầu tiên ở Việt Nam về
bảo tồn linh trưởng sáng 7/8 ở Hà Nội,
cảnh báo Việt Nam là một trong hai quốc gia
có số linh trưởng bị đe dọa tuyệt chủng
nhiều nhất thế giới.
Theo GS Herbert Covert, Đại học Colorado (Mỹ):
“Trong số 25 loài linh trưởng đang bị đe
dọa tuyệt chủng trên thế giới, Việt Nam có
5 loài”.
Cũng trong buổi khai mạc, ông Jake Burner thuộc Tổ
chức Bảo tồn Quốc tế (CI) có trụ sở ở
Washington nói “Việt Nam và Madagasca nhận
được sự quan tâm lớn nhất về thúc đẩy
các biện pháp cấp bách bảo tồn linh trưởng”.
Tuy nhiên trong khi Madagasca có hàng trăm chuyên gia đang
tham gia bảo tồn linh trưởng, ở Việt Nam,
số chuyên gia về lĩnh vực này vô cùng
hiếm.
Khóa đào tạo kéo dài ba tuần do Trường Đại
học KHTN HN và CI phối hợp tổ chức.
(Tienphongonline)
|
|
|
|
|
NHÀ
MÁY Ở BẮC CẠN, Ô NHIỄM Ở TUYÊN QUANG
Nhà
máy sản xuất giấy đế của Công ty cổ phần Trung Hoà
tại thôn Pác Pạu, xã Bình Trung, huyện Chợ Đồn, tỉnh
Bắc Cạn mới hoạt động chưa được một năm, nhưng
với lượng nước thải 200m3/ngày đêm thải ra sông Phó
Đáy, ô nhiễm môi trường từ nguồn nước này đã ảnh
hưởng trực tiếp tới tỉnh Tuyên Quang.
Cam
kết một đằng, làm một nẻo
Ngày
7.7.2004, UBND tỉnh Bắc Cạn ra Quyết định số 1102/QĐ -
UB về việc cho phép Công ty cổ phần Trung Hoà đầu tư xây
dựng nhà máy sản xuất giấy đế xuất khẩu tại xã Bình
Trung, huyện Chợ Đồn với điều kiện nhà máy phải hoàn
thiện hồ sơ đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường với
Sở Tài nguyên & Môi trường (TNMT) tỉnh Bắc Cạn. Sau
đó, Sở TNMT tỉnh Bắc Cạn đã phê duyệt bản đăng ký
đạt tiêu chuẩn môi trường tại phiếu xác nhận số
989/XN-MTg ngày 23.11.2004. Trên cơ sở đó, nhà máy chính
thức được đi vào hoạt động từ tháng 10.2005 với
tổng mức vốn đầu tư 4,5 tỉ đồng, công suất 2.500
tấn giấy/năm và cam kết thực hiện đầy đủ các biện
pháp bảo vệ môi trường.
Tuy
mới đi vào hoạt động chưa được một năm, nhưng nhà máy
đã gây ô nhiễm môi trường tại nguồn nước sông Phó
Đáy.
Qua
các số liệu quan trắc môi trường và theo phản ánh của
nhân dân huyện Yên Sơn, Sở TNMT tỉnh Tuyên Quang cho
biết: Môi trường nước sông Phó Đáy chảy qua khu vực
tỉnh Tuyên Quang đã bị ô nhiễm và có hiện tượng cá
chết do bị ảnh hưởng bởi nước thải của Nhà máy
giấy Trung Hoà. Việc gây ô nhiễm đã ảnh hưởng đến
cả khu di tích lịch sử cây đa Tân Trào. Sau khi trao đổi,
thống nhất ý kiến, Sở TNMT tỉnh Bắc Cạn đã tiến hành
kiểm tra thực tế tại nhà máy giấy.
Đoàn
kiểm tra đã tiến hành lấy mẫu nước thải tại bể
lắng của nhà máy và điểm cuối cùng trước khi thải ra
sông Phó Đáy. Ông Trần Nguyên - Phó Giám đốc Sở TNMT
tỉnh Bắc Cạn khẳng định, nồng độ ô nhiễm đã vượt
quá tiêu chuẩn cho phép. Lý do: Hệ thống xử lý nước
thải của nhà máy không đúng với thiết kế xây dựng.
Cụ thể: Bể lắng thứ cấp xây dựng không đạt tiêu
chuẩn, xả thải trực tiếp ra môi trường mà không qua
xử lý đầy đủ. Đây là nguyên nhân chủ yếu gây nên
việc ô nhiễm môi trường nước sông Phó Đáy tại Tuyên
Quang.
Mất
bò mới lo làm chuồng
Trước
hành vi vi phạm Luật Bảo vệ môi trường của nhà máy,
Thanh tra Sở TNMT tỉnh Bắc Cạn đã ra quyết định xử
phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
và yêu cầu nhà máy xây dựng ngay bể lắng thứ cấp theo
đúng tiêu chuẩn trong thời gian quý III năm 2006. Nếu không
hoàn thành đúng thời hạn, Sở TNMT tỉnh Bắc Cạn sẽ đề
nghị UBND tỉnh đình chỉ hoạt động của nhà máy.
Khi
chúng tôi đến thực tế tại nhà máy, Giám đốc Nguyễn
Văn Yên đưa chúng tôi đi tham quan nhà máy và chỉ cho tôi
xem các bể lắng thứ cấp. Thực tế, đó chỉ là 3 cái
ao bằng cát sỏi chứ không hề được xây dựng kiên
cố. Ông Yên cho biết, vì đơn vị mới thành lập, còn
nhiều khó khăn nên chưa xây dựng được kiên cố (!?). Do
đó, nhà máy phải đắp tạm 3 cái ao để làm bể lắng?
Ông
Yên khẳng định, tuy là bể lắng bằng cát sỏi nhưng
vẫn đảm bảo yêu cầu lắng lọc nước thải (!?). Tuy
nhiên, trận lũ cuối tháng 4.2006 đã phá huỷ toàn bộ
hệ thống 3 bể (thực tế là 3 ao) lắng lọc thứ cấp
của nhà máy. Nhà máy đã cho công nhân khắc phục lại nhưng
vì bể là đất pha cát, lại bị phá vỡ quá lớn nên không
thể khắc phục được. Ao bị vỡ, nước thải không được
lắng lọc nữa mà xả trực tiếp ra môi trường.
Sau
khi đoàn kiểm tra của Sở TNMT một lần nữa đến làm
việc và yêu cầu nhà máy xây dựng lại bể lắng lọc,
nhà máy mới xây dựng "Đề án xả nước thải vào
nguồn nước" với những nghiên cứu kỹ lưỡng về cơ
sở xả thải, đặc trưng nguồn nước tiếp
nhận nước thải, hệ thống công trình xử lý xả nước
thải v.v... Từ đó, nhà máy mới xây dựng hồ sơ dự toán
hệ thống bể lắng lọc với số vốn hơn 127 triệu đồng.
Ông Yên cho biết, lần này, nhà máy sẽ xây dựng kiên
cố theo kiểu kè suối, đập tràn để nếu mưa lũ to, các
bể lắng cũng không bị ảnh hưởng. Nhà máy cam kết đến
cuối tháng 8.2006 sẽ xây xong bể.
Đây
có thể coi là cam kết cuối cùng?
Nguyễn Hoàng Lan (Laodong.com)
VỊNH HẠ LONG CÓ
BỊ RÚT KHỎI DANH SÁCH DI SẢN THIÊN NHIÊN THẾ GIỚI ?
TP - Đây là
vấn đề được dư luận rộng rãi quan tâm, nhất là sau
khi Tiền Phong và một số báo khác đưa tin về việc
UNESCO yêu cầu đánh giá mức độ ô
nhiễm vịnh Hạ Long.
|
|
|
Môi
trường – yếu tố quan trọng hàng đầu đối với
Di sản thiên nhiên thế giới vịnh Hạ Long
|
Thậm chí có thông
tin sẽ rút vịnh Hạ Long ra khỏi danh sách Di sản thiên
nhiên thế giới tại phiên họp thường niên của Ủy ban
Di sản thế giới (WHC) lần thứ 30, tổ chức từ ngày
8-16/7 tại Vilinus, thủ đô nước Cộng hòa Lithuania.
Trước nữa,
tại bức thư đề ngày 29/6/2006 gửi ông Nguyễn Hồng Quân,
Phó Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Ninh, ông Chu Shiu Ke -
Đại diện tổ chức UNESCO tại Hà Nội - đã lưu
ý ông Quân về việc Di sản thiên nhiên thế giới VHL
đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi áp lực phát triển
kinh tế, đặc biệt là quá trình đô thị hóa và việc phát
triển hạ tầng cơ sở du lịch, công nghiệp.
Những điều
này dẫn tới ô nhiễm môi trường từ chất thải các
mỏ than, việc chặt phá rừng sú vẹt ở các vùng đệm
để nuôi trồng thủy sản, đồng thời các cơ sở hạ
tầng cho ngành du lịch phát triển không phù hợp, nước
thải sinh hoạt đưa ra VHL chưa qua xử lý… và gần đây,
đặc biệt quan ngại về việc xây dựng nhà máy xi măng
Cẩm Phả…
UBND tỉnh
Quảng Ninh đã cử 3 cán bộ tham gia đoàn Việt Nam tại
phiên họp ở Vilinus.
Theo ông Nguyễn
Công Thái - Phó trưởng ban quản lý VHL, thành viên của đoàn,
tại kỳ họp, có 34 di sản bị đe dọa được đưa ra xem
xét, trong đó không có VHL, có 88 di sản cần phải báo cáo
giải trình và thảo luận tại kỳ họp, trong đó có 2 di
sản Việt Nam là VHL và Huế, cả hai báo cáo đều
được thông qua mà không cần phải thảo luận.
Ông Nguyễn Công
Thái cho biết: Việc báo cáo trong một hội nghị thường
niên là một việc bình thường. Còn nói phải trả lời
chất vấn, phải đưa ra thảo luận tại kỳ họp là điều
không có, và dĩ nhiên hoàn toàn không có việc vịnh Hạ
Long sẽ bị rút ra khỏi danh sách Di sản thiên nhiên thế
giới, cũng chưa bị đưa vào danh sách di sản thiên nhiên
bị đe dọa.
Tại kỳ họp,
WHC còn biểu dương Việt Nam và Ban quản lý vịnh Hạ Long
về những nỗ lực không ngừng trong việc bảo vệ môi trường
và báo cáo kịp thời về các vấn đề có liên quan.
WHC cũng yêu
cầu Ban quản lý vịnh Hạ Long báo cáo về những tác
động tiềm tàng của Dự án Xi măng Cẩm Phả và Dự án
Cảng Cái Lân giai đoạn 2 vào tháng 2/ 2007 để nếu có điều
gì chưa rõ, WHC sẽ yêu cầu giải trình và xem xét tại
kỳ họp lần thứ 31 vào năm 2007.
Trần
Nhuận Minh (Theo Tienphongonline)
HẠ LONG: MÔI TRƯỜNG
DI SẢN ĐANG BỊ TÀN PHÁ
TP - Trước
cửa một số hang động lớn ở vịnh Hạ Long, như Thiên
Cung, Sửng Sốt... du khách vừa đặt chân lên bờ đã
thấy bày bán đủ thứ từ tăm, thuốc lá, các loại hoa
quả, hải sản...
|
|
|
Bán
hàng kiêm ăn xin – cảnh này bao giờ chấm dứt?
Ảnh: Cẩm Ninh
|
Với số lượng
vài ngàn lượt khách thăm mỗi ngày, vịnh Hạ Long
đang là nơi kiếm tiền của nhiều cư dân.
Chỉ một quả
ổi đã là 5.000 đồng, bao thuốc 12.000 đồng, chai nước
giá gấp đôi trên bờ.
Tại làng chài
Cửa Vạn, một số khu vực nuôi cá lồng bè, tàu du lịch
đưa khách ra tham quan mua hải sản thì lập tức bị một
đội quân bán hàng tấp ngay mạn tàu.
Những đứa
trẻ xuất thân từ những khu dân cư trên vịnh, hằng ngày
chỉ bám các tàu du lịch kiếm sống. Bán một cành san hô
lấy từ đáy vịnh sau khi luộc, ngâm vôi, tạo hình đơn
giản bán từ 50.000– 100.000 đồng nên họ bất chấp để
hành nghề.
Theo thống kê
của Ban quản lý vịnh Hạ Long, riêng 6 tháng đầu năm
2006 đã xử lý 32 vụ vi phạm quy định. Trong đó có 11
vụ vi phạm về tài nguyên môi trường, 6 vụ vi phạm an
ninh trật tự...
Đó là những
vụ điển hình và đã được BQL vịnh phối hợp với các
ngành chức năng xử lý kiên quyết. Tuy nhiên, tình trạng
vi phạm như bán hàng rong, ăn mày... cứ dẹp rồi lại đâu
vào đấy. Đáng lo nhất là một số hộ dân khai thác và
buôn bán trái phép san hô.
Mới đây, Đội
kiểm tra BQL Vịnh đã bắt giữ một thuyền gỗ tàng trữ
hàng chục kg san hô của một hộ dân sinh sống trên
vịnh. Chỉ trong tháng 6/2006, cơ quan chức năng đã phát
hiện 4 vụ tàng trữ và buôn bán loại hàng cấm này.
Tuy rất kiên
quyết xử lý nhưng san hô bằng nhiều cách vẫn được
đưa tới tay du khách, thậm chí có người còn rao bán cả
động vật quý hiếm.
Ông Phùng Đức
Tín – Phó trưởng ban quản lý Vịnh Hạ Long cho
biết: “Thực tế chúng tôi đã bắt, phạt nhiều lần,
rồi tuyên truyền, bắt ký cam kết... tạo cả việc làm
thu nhập ổn định cho họ nhưng chỉ một thời gian đâu
lại hoàn đó.
Môi trường du
lịch, môi trường di sản bị tàn phá ngay trong lòng vịnh
khiến những người làm công tác quản lý và du khách
bức xúc.
Thế nhưng, khó
khăn trong việc quản lý lại xảy ra ngay trong hệ thống
quản lý, khi BQL vịnh không thể tự xử phạt và chưa có
thẩm quyền xử lý các vi phạm hành chính nên khi phát
hiện đối tượng vi phạm phải báo cho Công an, Thanh tra Tài
nguyên&Môi trường, Chi cục Nguồn lợi thủy sản...
vừa mất thời gian đủ các thành phần mà hiệu quả không
cao.
Phạm
Thành Duy (Theo
Tienphongonline)
|