|
TÔI
CÓ Ý KIẾN !
(10/2005)
Bắc
Ninh: Tìm lời giải để làng nghề truyền thống phát
triển bền vững
|
|
|
|
| Ô
nhiễm ở làng nghề Mẫn Xá |
|
Bắc
Ninh là một trong những tỉnh có nhiều làng
nghề nhất ở nước ta : 61 làng với những
sản phẩm nổi tiếng như sắt thép ( Đa Hội,
Châu Khê, Từ Sơn), giấy ( Phong Khê, Phú Lâm),
nấu rượu ( Đại Lâm, Tam Đa), đồ gỗ mỹ
nghệ Đồng Kỵ...
Nhờ phát triển kinh tế làng nghề
nhiều gia đình nơi đây đã đổi đời, đã có
“của ăn của để“, góp phần thay đổi
bộ mặt nông thôn Việt Nam. Song cùng với sự
giàu lên nhanh chóng là nạn ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng, làm ảnh hưởng đến sức khỏe
người dân, nhất là thế hệ tương lai. Vậy
đâu là lời giải để làng nghề truyền
thống phát triển bền vững?
Từ
dòng nguyên liệu phế thải đến công nghệ
lạc hậu....
Bước
chân đến đầu làng Mẫn Xá, chúng tôi đã
cảm thấy nghẹt thở bởi khí SO2, CO, Pb, Al...
cái mùi đặc trưng của một làng tái chế nhôm.
Chỉ quan sát cũng thấy ngay sự ô nhiễm nặng
nề từ những bãi sắt thép phế liệu bị ô
xy hóa, hoen rỉ chất cao hàng
mét đang chờ xử lý. Các loại nilon to
nhỏ vắt vẻo trên những hàng cây, bay là là
dưới đất.
|
Mặt
đường phủ một lớp bụi đen chỉ trực bốc lên mù
mịt mỗi khi có xe cộ qua lại... Nguy hiểm nhất là
những chất thải rắn độc hại như các bình chứa
thuốc sâu cũ hoặc các bình hóa chất quân đội
vứt bừa bãi ra đường làng ngõ xóm. Vậy mà, người
dân nơi đây vẫn thản nhiên chung sống hoà bình
với chất thải nguy hại. Nghề đúc nhôm, chì là thu
nhập chính của chính của dân xã Văn Môn, huyện Yên
Phong, nhất là hai thôn: Mẫn Xá và Quan Độ. Họ cô
đúc nhôm, chì thành nhôm thỏi từ phế liệu với công
nghệ cực kỳ lạc hậu. Nguyên liệu chủ yếu để
sản xuất là các loại phế liệu nhôm từ vỏ lon,
khung nhôm, xoong nồi, các chi tiết và bộ phận máy,
thậm chí là cả những bình hóa chất độc hại như
bình thuốc sâu, bình khí độc hại của quân đội
thải ra... Mỗi năm, Văn Môn thu gom tới 8.000 tấn
phế liệu các loại từ Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương,
Thanh Hóa, Quảng Trị... Để tái chế các loại phế
liệu này thành nhôm thỏi, 1 tạ nhôm thành phẩm
phải cần tới 80-100 kg than. Mỗi năm để cho ra thị
trường từ 4.500- 5000 tấn nhôm luyện và nhôm đúc
người sản xuất cần
tới 1.200-1.500 tấn than/năm.
Tại
một số cơ sở sản xuất lớn như: Hồng Tuấn, nhà
ông Chiến, ông Vinh ... đều có từ 3 - 6 lò cô đúc
nhôm. Bên cạnh những đống phế thải chưa qua xử lý
là hàng loạt thỏi nhôm mới "ra lò" đang
tỏa hơi nóng. Công nghệ sản xuất vô cùng lạc
hậu, thủ công với những lò đắp bằng đất: Các
phế liệu được nung chảy nhiều giờ liền trên
những chiếc chảo to. Công nhân chủ yếu là người
vùng khác đến phải liên tục khuấy đảo những
chảo nhôm trong nhiều giờ liên tục. Phương tiện
bảo hộ lao động của họ chỉ đơn thuần là
những chiếc khẩu trang thông thường, không quần áo
chuyên dụng, rất ít người đeo kính bảo vệ mắt.
Các xưởng sản xuất đều rất thấp, mái lợp tôn
xi măng lại không
có ống khói thoát khí nên hơi nóng tỏa ra từ lò
nung phế thải, bụi than, bụi nhôm, cộng thêm các
loại khí bay ra từ phản ứng nung chảy như CO, CO2,
SO2, NO... ứ đọng, không thoát nhanh được đã tạo
nên bầu không khí ô nhiễm nghiêm trọng. Nhiều người
lần đầu tiên bước chân vào những xưởng này đều
thấy ngột ngạt, khó thở, chảy nước mắt dàn
dụa, người sức yếu có thể ngất... Sản phẩm nhôm
thỏi sau khi ra lò không qua công đoạn làm mát mà hoàn
toàn làm mát bằng không khí.
Cũng
giống như Văn Môn, huyện Phong Khê là nơi sản xuất
giấy từ nguyên liệu giấy thải thu mua từ các nơi.
Giấy thải được ngâm, tảy rửa, nghiền nhỏ, ngâm
bể tráng, tráng tờ, ép nước, bóc tờ, phơi... để
sản xuất ra hàng loạt sản phẩm: giấy ăn, giấy
vệ sinh, giấy bao gói, bìa các tông, giấy viết học
sinh cho đến vàng mã... Mỗi năm, Phong Khê tung ra
thị trường khoảng 15.000 tấn giấy các loại. Công
nghệ tái chế giấy ở Phong Khê là công nghệ kiềm
lạnh, mô hình đơn giản phù hợp với quy mô sản
xuất nhỏ, trình độ kỹ thuật của người dân nên
chất lượng giấy không được cao. Trang thiết bị tái
chế hầu hết là máy móc cũ, tự tạo và mang tính
chắp vá, không đồng bộ nên tiêu tốn nhiều năng lượng
và nguyên liệu. Sản xuất chủ yếu dựa vào kinh
nghiệm nên hiệu quả sản xuất không cao. Đáng chú
ý là vấn đề vệ sinh công nghiệp không được quan
tâm nên môi trường ngày càng ô nhiễm, đặc biệt là
nguồn nước thải từ sản xuất giấy. Do nguyên
liệu là giấy loại nên nhà sản xuất phải sử
dụng hóa chất như: kiềm,
nước Javen, chất tảy quang học trong công đoạn ngâm,
tảy, nghiền. Trong quá trình ngâm tảy như vậy cũng
đã thải ra môi trường sống những loại khí thải
độc hại như hơi kiềm, khí C l2 ... Nước thải kèm
theo các loại hóa chất độc hại, bột giấy, xơ
sợi... được xả trực tiếp ra môi
trường mà không qua xử lí. Hậu qủa là đoạn
sông Ngũ huyện khê chảy quanh huyện Phong Khê đều
bị ô nhiễm nặng nề, không chỉ mang màu đen ngòm
như nước cống mà trên mặt nổi xơ giấy kèm theo mùi
hôi nồng nặc. Vì
quá trình sản xuất đi từ "tả pí lù" các
loại phế liệu nên ngoài chất thải là các bụi, khói,
khí, hơi nóng còn có thêm các loại chất thải rắn
như xỉ nhôm, xỉ than, các loại ô xít
kim loại từ cô đúc nhôm; đinh ghim, băng dính,
cát sạn, và giấy lề
loại từ sản xuất giấy mà không được thu gom xử
lý tập trung. Chỉ tính riêng hai làng nghề này cũng
đã thải ra môi trường hàng tấn thải rắn các
loại. Tại đây, môi trường đất cũng đang bị ô
nhiễm nghiêm trọng. Nước thải cùng với rác thải
chất đống tại các thửa ruộng đã làm mất khả năng
canh tác, lúa non ở nhiều thửa ruộng gần các cơ
sở sản xuất bị chết hàng loạt.
Sở
Tài nguyên và Môi trường Bắc Ninh cho biết: Do ô
nhiễm môi trường số người dân bị nhiễm các
bệnh về đường hô hấp như bệnh phổi, viêm phế
quản; bệnh về mắt, bệnh da liễu ... ngày càng tăng.
Nồng độ khí SO2 và CO2 đo được tại cổng trường
tiểu học của xã Văn Môn cao hơn tiêu chuẩn cho phép
là 1,1 lần đối với CO2 và 1,1-
5,6 lần đối với SO2 khiến trẻ em thường
bị mắc bệnh còi xương.
Nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm ở các làng
nghề, nhất là ở Phong Khê tăng cao, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sự phát triển bình thường của trẻ
em.
...Vẫn
là bình mới rượu cũ
Sở
Tài nguyên và Môi trường tỉnh đã có
giải pháp tách
các hộ sản xuất ra khỏi khu dân cư, tập trung thành
một cụm công nghiệp riêng. Tuy nhiên, giải pháp
này cho đến nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Bắc
Ninh có tới 61 làng nghề truyền thống nhưng mới
chỉ tập trung được một số ít làng vào cụm công
nghiệp như cụm công nghiệp Châu Khê, Đình Bảng, Tân
Hồng, Tiên Sơn, Phong Khê, Đồng Quang...
Tại
các cụm công nghiệp tập trung, các cơ sở sản
xuất được đầu tư đầy đủ về cơ sở vật
chất, hệ thống đường nước thải và xử lý rác
thải, chất thải rắn. Tuy nhiên, sự tập trung các cơ
sở sản xuất vào cụm công nghiệp này
mới chỉ dừng lại ở mức độ di chuyển sự
ô nhiễm từ địa điểm này sang một địa điểm khác,
chứ chưa thực sự làm thay đổi hay bớt đi sự ô
nhiễm. Bởi một trong các nguyên nhân chính dẫn đến
ô nhiễm môi trường nghiêm trọng đó công nghệ
sản xuất lạc hậu, chắp vá. Hiện nay, vì lợi
nhuận mà những cơ sở này khi di chuyển sang cụm công
nghiệp tập trung vẫn vận hành công nghệ cũ lạc
hậu. Bên cạnh đó, tại nhà riêng họ vẫn duy trì dây
chuyền sản xuất cũ. Hai dây chuyền sản xuất lạc
hậu, chắp vá này cùng song song tồn tại. Vậy giải
pháp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bắc
Ninh chỉ là nửa vời, khác nào "bình mới rượu
cũ" - còn có tác dụng gì nữa !
Ông
Ngô Đức Hảo, Giám đốc xí nghiệp sản xuất giấy
Đức Huỳnh thuộc cụm công nghiệp Phong Khê cho
biết: Việc áp dụng phương pháp xử lý nước thải
cục bộ chung cho các cơ sở trong cụm thì không
thiết thực vì giá sản phẩm sẽ tăng rất nhiều,
không có lợi cho nhà sản xuất. Mặt khác, nước
thải của mỗi cơ sở lại có những tạp chất riêng
không giống nhau. Do đó phương pháp tốt nhất là
tự bản thân mỗi cơ sở nên áp dụng phương pháp
xử lý lắng lọc sơ bộ trước khi thải ra môi trường,
sau đó dần dần sẽ áp dụng công nghệ xử lí theo
tiêu chuẩn của nhà nước.
Cần
một thế vững như “kiềng ba chân
Để
tìm ra giải pháp hợp lý vừa phát triển kinh tế làng
nghề truyền thống vừa bảo vệ được môi trường,
đảm bảo sức khỏe cho người dân, nhất là thế
hệ tương lai, thiết nghĩ cần sự
tham gia đồng bộ của nhà nước, người dân và
chính quyền địa phương để tạo ra thế vững như
“kiềng ba chân” là: phát triển kinh tế, phát
triển xã hội và phát triển môi trường bền vững.
Về
phía chính quyền địa phương có thể hỗ trợ về
vốn, để người dân thay đổi công nghệ lạc hậu,
chuyển giao công nghệ, khuyến khích người dân áp
dụng sản xuất sạch hơn, chính sách ưu tiên ưu đãi
đối với những cơ sở sản xuất có đầu tư cho môi
trường, tuyên truyền sâu rộng hơn nữa về những tác
hại do ô nhiễm làng nghề gây ra để làm thay đổi
nhận thức của người dân... Đối với người dân
cần sớm nhìn nhận thấy cái lợi lâu dài bỏ qua cái
lợi trước mắt vì cái họ mất mới là cái lớn -
đó là nòi giống, thế hệ trẻ tương lai. Chính
quyền địa phương và người sản xuất cần cùng
với nhà nước thực hiện tốt việc di dời, chuyển
giao công nghệ mới hiện đại, xử lý tốt nước
thải, chất thải rắn và khí thải. Có như vậy
mới mong rằng chúng ta vừa phát triển hài hòa giữa
kinh tế làng nghề với bảo đảm môi trường bền
vững.
(www.monre.gov.vn)
|
|
Tàn sát chim, cò ở miền Tây
Những vườn chim, cò
ở Đồng bằng sông Cửu Long luôn là điểm đến ưa
thích của du khách ở vùng đất sông nước hữu tình
này. Thế nhưng, thời gian gần đây, các vườn chim,
cò nổi tiếng đang đứng trước nguy cơ bị đóng
cửa.
Chợ Phụng Hiệp (Hậu Giang) được nhiều người
biết đến không chỉ vì có khu chợ nổi thuộc
loại lớn nhất miền Tây, mà còn do nơi đây là điểm
chuyên buôn bán các loại động vật hoang dã, quý
hiếm. Đến chợ Phụng Hiệp vào những ngày lũ về
sẽ thấy một đội quân “tiếp thị” chim, cò, dơi...
hùng hậu. Chỉ cần bỏ ra 12.000 -17.000 đồng, khách
hàng sẽ dễ dàng mua được một con cò to béo, hoặc
dơi, quạ giá từ 50.000 đến 80.000 đồng/kilôgam.
Tương tự, trên quốc lộ 1A thuộc địa phận Sóc Trăng,
Bạc Liêu, Cà Mau, có rất nhiều người tay xách nách
mang những “chùm” cò, gà nước... chào mời hết
sức nhộn nhịp. Tại thị xã Sóc Trăng, có một quán
nhậu trên đường 30 Tháng 4 lúc nào cũng nườm nượp
khách đến thưởng thức món cháo dơi nấu đậu xanh
và rượu tiết dơi, mặc dù giá một con dơi làm
sẵn tại đây được “đẩy” lên từ 300.000 -
400.000 đồng.
Còn tại những quán nhậu bình dân gần khu vực vườn
cò Bằng Lăng (Thành phố Cần Thơ), món cò rô ti cũng
được chào mời hết sức rôm rả. Một chủ quán
nhậu ở trung tâm huyện Thốt Nốt tiết lộ: “Mấy
ngày nay lũ về nên cá, tôm đầy đồng. Đây là
dịp để tụi nhỏ bắt các loài chim, cò từ vườn
cò Bằng Lăng bay ra đồng tìm thức ăn”. Cũng theo
chủ quán này, chỉ cần chịu khó “núp” ngoài đồng
nửa ngày là một người có thể săn bắt được
cả chục con cò.
Từ lâu, chùa Dơi (hay còn gọi là chùa Mã Tộc) ở
thị xã Sóc Trăng trở thành điểm đến quen thuộc
của khách du lịch trong và ngoài nước. Điểm đặc
biệt của ngôi chùa này là có
một đàn dơi quạ rất lớn đến trú ngụ. Khi
mặt trời vừa khuất bóng thì đàn dơi đi tìm thức
ăn, sáng lại bay về chùa. Lợi dụng quy luật này, nên
thời gian gần đây, ở Sóc Trăng đã xuất hiện
một đội ngũ chuyên dùng súng hơi “phục kích” hướng
dơi bay để triệt hạ. Đại đức chủ trì chùa Dơi
lo lắng: “Rất nhiều lần, các ngành chức năng ở
Sóc Trăng và TP Cần Thơ bắt được một đội ngũ
chuyên săn bắt dơi quạ của chùa và đã đem dơi
bắt được thả về chùa. Thế nhưng, vì dơi quạ ngày
càng được ưa chuộng tại các nhà hàng, khách
sạn... nên đội ngũ săn dơi sẵn sàng dùng mọi
thủ đoạn để tiêu diệt đàn dơi".
Cùng chung số phận với chùa Dơi, trong những ngày
qua, khi mực nước lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long càng
dâng cao thì cũng là lúc lượng cò tại các vườn
chim ở Bạc Liêu, Cà Mau và Thành phố Cần Thơ càng
vơi dần. Ông Nguyễn Ngọc Thuyền, chủ vườn cò
Bằng Lăng, than: “Nhiều tổ cò còn thấy đủ cò
mẹ, cò cha hôm trước, nhưng hôm sau thì chỉ còn
lại mỗi cò con nằm bất động vì đói. Xót lắm,
nhưng mình tôi thì không thể nào ngăn nổi bọn săn
bắt cò!”.
Theo một thống kê mới nhất, trong vòng 10 năm qua,
tỉnh Cà Mau đã mất đi hơn 10 sân, vườn chim, với
một số lượng lên đến hàng trăm ngàn con. Cùng
với tình trạng giảm về số lượng, một số loài
chim quý hiếm cũng dần biến mất như sếu đầu đỏ,
quạ, chim sen, chằng bè...
Gần đây, tình trạng dùng các loại thuốc hóa học
để thuốc chim đáng báo động. Kỹ sư Lê Thị
Liễu, người được xem là “vú nuôi” của vườn
chim Lâm Viên, phường 1, Thành phố Cà Mau, tỏ vẻ
tiếc nuối: “Lượng chim, cò đã giảm hơn phân
nửa chỉ trong vòng 15 năm qua. Ngay bây giờ, chúng ta
phải quyết liệt gìn giữ, bảo vệ đàn chim nếu không
thì chẳng bao lâu nữa, Cà Mau sẽ không còn thấy bóng
dáng loài này”.
(www.Thiennhien.net)
|
|
Bắc Kạn: Bệnh viện Đa khoa tỉnh gây ô nhiễm
trầm trọng
|
|
|
|
Hiện nay, Bệnh viện Đa khoa
Bắc Kạn đang gây ô nhiễm trầm trọng trong khu
vực, khiến người dân sinh sống ở đây rất bức
xúc.
Theo chân một người dân sống
tại tổ 10 phường Minh Khai dạo một vòng quanh
bệnh viện, chúng tôi được tận mắt chứng kiến
một cảnh tượng kinh hoàng bởi các chất thải
bệnh viện, bông băng cuốn theo các dòng nước
nhờ nhờ màu hồng có lẫn máu mủ chảy theo cổng
chính của bệnh viện qua đường Quốc lộ 3, tràn
xuống khu vực dân cư rồi đổ xuống mương Bản
Cạu. Từ đây, dòng nước bị ô nhiễm này chảy
thẳng xuống sông Cầu thơ mộng. Cánh đồng Pá
Danh nằm sau bệnh viện lại bị toàn bộ dòng nước
thải bể phốt của cả bệnh viện, khiến không khí
quanh bệnh viện nồng nặc mùi xú uế.
Các hộ dân sống gần khu vực
dòng nước thải bệnh viện này cho biết: những ngày
nắng nóng gia đình của họ luôn phải chịu không
khí hôi thối bốc lên; còn ngày mưa thì phải
chịu đựng mùi tanh lợm. Đã nhiều lần người dân
đề nghị bệnh viện và chính quyền địa phương
có biện pháp xử lý các nguồn chất thải độc
hại từ bệnh viện gây ô nhiễm môi trường; nhưng
tất cả “ vẫn chìm trong im lặng“.
Cho đến nay, vẫn chưa có cơ
quan chức năng nào điều tra cụ thể tác hại của
ô nhiễm môi trường từ bệnh viện này gây ra; nhưng
thực tế đã có nhiều người dân quanh khu vực
bệnh viện bị mắc bệnh viêm xoang và các bệnh
truyền nhiễm khác.
Khi bị chất vấn về tình
trạng này, ông Hoàng Văn Linh, Giám đốc Bệnh
viện Đa khoa Bắc Kạn cho biết: Đầu năm 2004
Bệnh viện đã được đầu tư xây dựng một hệ
thống xử lý chất thải y tế trị giá gần 1,3
tỷ đồng, nhưng hệ thống này chỉ có chức năng
xử lý chất thải rắn như: bông, băng, gạc, xi
lanh, ... còn chất thải lỏng chảy theo cống thoát
nước ra ngoài đường vẫn chưa được xử lý.
Theo ông Linh, chất thải mặt sàn của bệnh viện
gồm máu mủ từ các ca phẫu thuật, nước thải
sinh hoạt, nước thải bể phốt là những nguồn gây
ô nhiễm lớn cần phải được lọc và xử lý
bằng hóa chất; nhưng do chưa có dự án xây dựng
hệ thống xử lý nên bệnh viện đành để mặc và
chịu ô nhiễm chung với bệnh nhân và người dân
xung quanh.
Ngoài ra, hệ thống xử lý
chất thải rắn của bệnh viện mới được xây
dựng lại đặt cạnh khoa lây và khoa tâm thần
kinh. Cứ mỗi giờ, hệ thống này lại hoạt động
trong 10 phút, gây nên tiếng ồn lớn khiến nhiều
bệnh nhân thường bị giật mình, đau đầu, khó
chịu. Đáng chú ý là tiếng ồn còn làm giảm
hiệu quả điều trị đối với bệnh nhân khoa tâm
thần kinh. Lò đốt chất thải nằm gần khu bệnh
nhân cũng thường xuyên hoạt động thải khói ra
ngoài khiến bầu không khí xung quanh có mùi khét.
Bệnh viện Đa khoa Bắc Kạn
hiện có 320 giường bệnh thường xuyên kín bệnh
nhân. Tính ra, mỗi bệnh nhân có 1-2 người thân chăm
sóc cộng thêm hơn 200 cán bộ, nhân viên của bệnh
viện; nên lượng chất thải mỗi tháng khoảng
4.000 m3 nước thải y tế, chưa kể nước thải bể
phốt, nước thải sinh hoạt. Tất cả đều đang
chảy tràn lan xung quanh bệnh viện và khu dân cư
tạo nên nguy cơ rất cao về lây lan các loại bệnh
tật.
Điều đáng nói là hơn 1 tỷ
đồng vừa được đầu tư để xây dựng hệ
thống xử lý chất thải tại bệnh viện này; nhưng
do thiết kế kỹ thuật không hợp lý, chất thải
mặt sàn vẫn gây
ô nhiễm cho khu vực bệnh viện và dân cư xung
quanh. Không biết ai là người chịu trách nhiệm
về tình trạng này và chẳng lẽ các cơ quan chức
năng , chính quyền địa phương
lại bó tay, mặc cho sức khoẻ của người dân
bị đe doạ từng giờ, từng ngày?
(www.monre.gov.vn)
|
|
Hà Nam: Những đàn cò đang kêu cứu
Gần
một tháng nay, tại Chợ chiều xã Nhật Tân, huyện
Kim Bảng (tỉnh Hà Nam) xuất hiện rất nhiều người
bán cò. Những con cò tội nghiệp được nhốt trong
lồng, mỗi lồng từ 30 đến 50 con và được bày bán
la liệt chạy dài trên 100 mét dọc theo đường chợ,
với giá bán từ 3.000 đến 5.000 đồng/một con.
Vào mùa này, cò không chỉ được bán ở chợ Nhật
Tân mà hầu khắp các chợ lân cận và ở thị xã
Phủ lý cũng có rất nhiều lồng cò được bày bán
hoặc chở trên xe rong khắp thị xã. Ước tính mỗi
ngày có từ 1.000 đến 2.000 con cò bị bắt, trở thành
những món ăn đặc sản của một số nhà hàng và
của người dân địa phương.
Nhìn những con cò di cư đi tránh rét bị bắt, bị găm
mí mắt bằng những chiếc lông cánh cứng của chính
nó, bị buộc túm chân lại với nhau, hoặc cheo lơ
lững trên những chiếc nghi đông xe đạp trở đi
khắp phố phường trước khi bị hành quyết, nhiều
người tự hỏi: phải chăng những con người của vùng
đồng chiêm trũng Hà Nam đang muốn những "con cò
bay lả bay la" đi vào ca dao của dân tộc bị
tuyệt chủng và chỉ còn lại trong ký ức của con cháu
họ.
Qua tìm hiểu mới biết: những người đi bẫy cò ở
đây mỗi năm có hai vụ: một vụ vào tháng 3 và
một vụ vào tháng 8. Những kẻ đi bẫy cò ở xã
Nhật Tân chủ yếu là đàn ông, họ đi từ 1- 2 giờ
sáng. Để bắt được cò, họ dùng những que tre vót
nhỏ có phết nhựa và mang đi cắm chi chít ở những
nơi cò hay đậu, và buộc sẵn ở đó 1-2 con cò mồi
để dẫn dụ. Những chỗ cắm que nhựa thường là
những vùng có nước lấp xấp, đàn cò bay qua thấy
cò mồi, tưởng lầm là nơi an toàn liền sà cánh
xuống để kiếm mồi, lập tức bị nhựa làm dính cánh
không thể bay lên được và bị bắt một cách dễ dàng.
Điều đáng nói là ở Nhật Tân có hàng trăm hộ đua
nhau đi bẫy cò khi đến“ thời vụ“ và hầu như
không có ai ngăn cản. Họ cũng hoàn toàn không hiểu
về tác hại việc làm của mình. Qua việc sự việc
này mới biết: bấy lâu nay ở Hà Nam người ta nhắc
nhiều đến việc giữ gìn và bảo vệ môi trường
sinh thái, nguồn gen sinh học...nhưng giữa nói và làm
trở nên trái ngược. Thế rồi, hàng ngày vẫn có hàng
trăm con cò đã “đậu phải cành mềm” để bị nướng
chả, sáo măng.
(www.Thiennhien.net)
|
|
Trà Vinh: Rừng lá trước nguy cơ bị xoá sổ
|
|
Rừng lá có vai trò rất quan
trọng trong việc giữ đất, chống sạt lở ở các
bãi bồi khu vực ven sông, ven biển; cây lá còn dùng
làm vật liệu xây dựng nhà ở nhiều hộ dân ở vùng
nông thôn. Tuy nhiên trước lợi nhuận của con tôm
sú mang lại, nhiều người dân tự ý phá rừng lá,
đào ao nuôi tôm. Trong khi đó, chính quyền địa phương
và các ngành chức năng gần như buông lỏng công tác
quản lý, chưa có những biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt...
khiến diện tích rừng lá ngày một giảm, ảnh hưởng
lớn đến môi trường ở khu vực ven sông, ven
biển. Theo Chi cục Kiểm lâm tỉnh Trà Vinh, hiện
nay rừng lá ở các xã ven biển thuộc huyện Duyên
Hải giảm mạnh và đang đứng trước nguy cơ bị
xoá sổ. Toàn huyện Duyên Hải hiện chỉ còn 1.000
ha rừng lá, giảm hơn 3.000 ha so với năm 1998
(www.monre.gov.vn)
|
Các
tin khác:
Hà
Nội: Cây xanh kêu cứu (9/2005)
Thái Bình: Thiếu quy
hoạch, làng nghề ô nhiễm nặng (9/2005)
Cà Mau: Mất gần 10 sân
chim (9/2005)
Đau
xót rừng phòng hộ Gò Công
(9/2005)
Phá
rừng thượng nguồn sông Hương làm... trang trại (9/2005)
·
Tận
diệt thú rừng (8/2005)
·
Nghẹt
thở ở các làng nghề (8/2005)
·
Sản
xuất gia đình phải cam kết bảo vệ môi trường
(8/2005)
·
Thiếu
quy hoạch đồng bộ, Thái Bình bị ô nhiễm môi trường
(8/2005)
·
Đừng
để Việt Nam trở thành bãi rác
·
Hà
Nội: Bãi “rác” gây... ô nhiễm
·
Đừng
để Việt Nam trở thành bãi rác
·
Từ
tháng 2/2005 sẽ kiểm soát chặt chẽ khí thải của
ô-tô
·
''Rác
đầy Đầm Nại, ai lo?''
·
Hồ
văn, văn miếu : nguy cơ biến thành nơi đổ... rác (4/2004)
·
Hiểm
hoạ túi ni lông
·
Bà
Rịa-Vũng Tàu: Khốn đốn với rác thải
·
Sa
mạc hoá đất liền vì... nuôi tôm?
·
Kiến
nghị không đổ rác thải tại bãi Tràng Cát (Hải
Phòng)
·
Kiến
nghị diệt toàn bộ rùa tai đỏ ở hồ Gươm
·
''Cần
sớm ngăn chặn nạn lấn chiếm đất rừng ở Khu Bảo tồn
thiên nhiên núi Chúa''
·
''Nỗi
lo cảnh quan môi trường Khu du lịch Cà Ná''
·
Người
dân Tràng Cát (Hải Phòng): Bao giờ hết sống chung với
rác?
·
Kênh
Thầy Cai - An Hạ bị ô nhiễm nặng: Hàng ngàn hộ dân
kêu cứu
·
Dân
phố Bần hít khói
·
TP
HCM không nên 'ôm rác'
·
Cần
kịp thời ngăn chặn nạn săn bắn chim ở Phá Hạc Hải
·
Vì
sao dân xã Việt Hùng không chấp nhận khu chôn lấp rác
thải?
·
Khánh
Hoà cần có chế tài xử lý rác thải y tế
|
Hà
Nội: Cây xanh kêu cứu (9/2005)
|
|
|
|
Hà
Nội hiện có khoảng 200 nghìn cây xanh, thuộc 700
loài khác nhau. Tuy nhiên, hiện nay tình trạng cây
xanh trên các tuyến phố bị gãy đổ, chặt phá
khá phổ biển. Điều này không chỉ ảnh hưởng
trực tiếp tới cảnh quan môi trường đô thị mà
còn nguy hiểm với người đi đường.
Hiểm
họa được báo trước
Nhiều
người coi tuyến đường Hoàng Diệu, Phan Đình Phùng
là đẹp nhất Hà Nội bởi phố mát ngợp giữa hàng
cây xà cừ cổ thụ. Phố Thợ Nhuộm, Đại Cồ
Việt... rực rỡ hoa bằng lăng. Mùa thu, phố Bà
Triệu, đường Quang Trung lại nồng nàn hoa
sữa... Sự hiện diện của cây xanh trong thành
phố không chỉ góp phần điều hòa môi trường
sống mà còn tỏa bóng mát cho các tuyến đường,
tạo nên cảnh quan môi trường hài hòa cho đô
thị. Tuy nhiên, hiện nay, trong những ngày có mưa
kéo dài hoặc trời nổi giông gió thì tình trạng
cây xanh bị gãy đổ đã trở thành vấn đề khá
bức xúc, khiến người đi đường lúc nào cũng nơm
nớp lo sợ. Năm 2003 toàn thành phố có hàng trăm
cây đổ và gây cành. Năm 2004, thành phố xảy ra
gần 90 vụ cây đổ và hàng trăm cây khác gãy tán.
Sau mỗi trận mưa giông, lòng đường lại ngổn
ngang cành cây, nhiều cây cổ thụ hàng trăm năm
tuổi bật gốc phá hoại nhà cửa, làm sập
cống, gây tắc nghẽn giao thông.
Chỉ
trong tháng 5-2004 trên phố Hai Bà Trưng, Quang Trung,
Huỳnh Thúc Kháng, Trần Nhân Tông đã xảy ra bốn
vụ đổ cây cổ thụ, làm hư hỏng gần 10 chiếc
xe máy, đè nát 1 ô-tô và làm 2 người đi đường
bị trọng thương. Sang mùa mưa bão năm nay, tuy
thời tiết thuận hơn những năm trước, ít có mưa
giông lớn, nhưng trên địa bàn toàn thành phố đã
xảy ra trên 20 vụ cây đổ, hàng chục cây gãy cành.
Hè năm nay, trên đường Nguyễn Trãi, một cây xà
cừ cổ thụ đổ chắn ngang đường khiến tuyến
đường ùn tắc 4 km trong suốt 3 giờ liền. Cuối
tháng 7 đầu tháng 8, do ảnh hưởng của bão tình
trạng dỗ cây gãy cành xảy ra rất nhiều trên các
tuyến đường như: Trần Nhân Tông, Lý Thường
Kiệt, Nguyễn Du... làm hư hỏng các phương tiện
đang đậu đỗ di chuyển, gây ùn tắc giao thông và
phá hủy công trình công cộng, dân sinh.
Bảo
vệ cây xanh, bắt đầu từ nhận thức
So
với cách đây khoảng 50 năm, khi Hà Nội mới được
giải phóng, số lượng cây xanh trong thành phố đã
tăng lên đáng kể. Hằng năm, thành phố đều
mở rộng diện tích cây xanh đồng thời có cơ
chế quản lý bảo vệ hợp lý. Riêng năm 2004, Công
ty công viên cây xanh đã trồng thêm gần 3.500 cây,
năm 2005 dự kiến sẽ trồng và cấp cho nhân dân
khoảng 5.000 cây các loại. Sự nỗ lực của thành
phố Hà Nội trong vấn đề phát triển mạng lưới
cây xanh, tạo cảnh quan môi trường đô thị là
rất lớn và đáng ghi nhận.
Tuy
nhiên, vấn đề bảo vệ cây xanh vẫn còn nhiều
điều phải bàn tới. Bên cạnh những lý do khách
quan như sự già cỗi của cây cối theo thời gian,
sâu bọ phá hoại, thì cây xanh bị gãy đổ còn có
tác nhân từ con người. Trong cơ chế thị trường,
khi mà vỉa hè, lòng đường cũng bị biến thành
nơi kinh doanh, buôn bán, thì số phận của cây
cối trở nên mong manh. Người ta sẵn sàng chặt cây
để mở rộng mặt tiền, lấn chiếm khoảng không
và họ cũng không ngần ngại đóng đinh, vạc
vỏ, cắt rễ, chặt cành để treo mắc hàng hóa,
dán panô, áp-phích quảng cáo. Tại nhiều tuyến
phố, không ít cây cổ thụ bị triệt phá bằng các
thủ đoạn ác độc như: đổ nước nóng, dầu
luyn, muối, láng xi-măng bịt gốc, cưa đến 2/3 cây
khiến cây dần chết khô, chết héo. Hiện tượng
bẻ cành hái lộc trong mỗi dịp xuân về cũng
khiến cây xanh bị xâm hại nghiêm trọng. Khi cây
xanh trong các vườn hoa, công viên được ban quản
lý bảo vệ nghiêm ngặt thì những người thiếu
ý thức giữ gìn tài sản của công lại ngang nhiên
mang dao, cưa để "hái lộc" những cây ven
đường.
Không
thể để tình trạng cây xanh trên các tuyến đường
bị triệt phá bởi hành vi thiếu ý thức, tư
lợi của một số người, đã đến lúc cơ quan
chức năng cần tăng cường hơn nữa công tác
quản lý, bảo vệ. Xử lý kịp thời và thích đáng
các trường hợp vì lại ích cá nhân mà có các hành
vi triệt phá cây xanh ảnh hưởng tới cảnh quan môi
trường, gây ra hiểm họa cho người, phương
tiện mỗi khi qua lại trên đường.
(Theo
Thennhien.net)
|
|
|
Về đầu trang
|
Thái Bình: Thiếu quy
hoạch, làng nghề ô nhiễm nặng (9/2005)
|
|
|
|
|
|
Ô nhiễm làng nghề
|
|
Hiện
nay, tỉnh Thái Bình có 162 làng nghề, góp
phần quan trọng phát triển kinh tế, giải
quyết lao động dôi dư, nâng cao thu nhập,
xóa đói giảm nghèo, nhưng do thiếu quy
hoạch nên gây ô nhiễm môi trường.
Trong
thời gian qua, các làng nghề phát triển
mang tính tự phát, không có quy hoạch, hầu
hết nằm xen kẽ trong các khu dân cư, trình
độ công nghệ thấp và thiết bị cũ, lao
động chưa được đào tạo; đồng thời
không có hệ thống xử lý chất thải, rác
thải...nên làm cho chất lượng môi trường
sống của nhân dân địa phương bị suy
giảm và bệnh nghề nghiệp ngày càng
nhiều. Điển hình như: nghề dệt đũi Nam
Cao, mỗi năm làng nghề này sử dụng 20
tấn ôxy già, 20 tấn nhớt thủy tinh
(Silicat Na2SiO2), 4,5 tấn xà phòng, 4 tấn
bồ tạt, 200 tấn than kíp lê, 108 nghìn
tấn nước....
|
Để
có được sản phẩm hoàn chỉnh tiêu thụ trên
thị trường, phải trải qua 2 lần nấu tẩy:
tẩy sợi và tẩy tấm. Tất cả các công đoạn này
đều làm thủ công nên rất độc hại, là một
trong những nguyên nhân chính gây bệnh các bệnh
đường ruột, tiêu hóa, ngoài da, viêm phổi...
Để
khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường tại
các làng nghề, thiết nghĩ các cấp chính quyền
địa phương cần triển khai đồng bộ các giải
pháp, đặc biệt là phải có quy hoạch và xây
dựng hệ thống thu gom xử lý nước thải, rác
thải, khí thải; đồng
thời phải đầu tư công nghệ và thiết hiện đại.
Tỉnh cũng cần có các chính sách khuyến khích
hỗ trợ làng nghề; giảm thuế, phí đối với các
cơ sở thực hiện tốt và có đầu tư cải
thiện môi trường, hỗ trợ vốn cho các dự án
cải thiện môi trường thông qua việc lập quỹ
bảo vệ môi trường. Công tác tuyên truyền nâng
cao nhận thức về môi trường cho cộng đồng,
khuyến khích người dân tham gia bảo vệ môi trường
nông thôn cần phải được thực hiện thường
xuyên hơn
(Theo
www.nea.gov.vn)
|
Về đầu trang
Cà Mau: Mất gần 10 sân
chim (9/2005)
Hiện
nay, tỉnh Cà Mau chỉ còn 19 sân chim, vườn chim, ít hơn
10 sân chim so với hơn hai thập kỷ qua do người dân phá
rừng làm rẫy, nuôi tôm và nhất là xảy ra nạn cháy
rừng tràm U Minh Hạ.
Các sân chim này được phân bố ở các huyện, gồm: Đầm
Dơi, Ngọc Hiển, Cái Nước, U Minh, Thới Bình và thành
phố Cà Mau, rộng khoảng 300 héc-ta với khoảng 80.000 con
chim, cò thuộc 24 họ và hơn 60 loài. Số lượng này chưa
bằng tổng đàn chim, cò ở riêng sân chim Đầm Dơi lúc
sung túc nhất có hơn 100.000 con vào những năm đầu
thập niên 80 của thế kỷ trước.
Sân chim Chà Là rộng 14 héc-ta có hệ thực vật
phong phú nhưng gần đây chim cò bay đi nơi khác và đang
đứng trước nguy cơ bị mất đi. Vườn chim Hồ Thị
Kỷ, huyện Thới Bình đã bị xóa sổ, chim bỏ đi không
thấy quay về. Những vườn chim tại rạch Bọng Két và
một số vườn chim ở Đầm Dơi tồn tại hàng chục năm
qua nhưng rồi chim, cò cũng bay đi hết do môi trường
sinh thái xáo trộn khiến môi trường sống của chim, cò
không an toàn
(Theo
www.nea.gov.vn)
Về đầu trang
Đau xót rừng phòng hộ Gò
Công (9/2005)
Chưa bao giờ rừng phòng hộ xung yếu Gò Công
Đông (Tiền Giang) lâm vào tình cảnh khốn khó như hiện
nay. Nhiều cánh rừng đang chết tràn lan mà chưa rõ nguyên
nhân và chưa tìm được giải pháp khắc phục. Song song
đó, mùa mưa bão đã đến kèm theo sóng biển đánh
thẳng vào bờ gây sạt lở nghiêm trọng...
Rừng chết từng ngày
Dọc theo tuyến đê từ xã Tân Thành đi Kiểng Phước,
buông tầm nhìn ra hướng biển là những dãy rừng đước
đang chết từng ngày. Rừng lớn, rừng nhỏ, rừng mới
trồng… nối bước nhau khô đọt, trơ cành, rũ lá,
nhiều nơi chỉ còn là thân cây khô quéo đứng chổng chơ
chờ ngày “đốn” làm củi đốt! Lão nông Bảy Nết
(Nguyễn Văn Nết), dân cố cựu ở rừng Gò Công đau lòng
nói: “Hết cả rồi! Dân xứ này mọi chuyện trông
cậy vào rừng. Vậy mà, bây giờ rừng chết sạch, dân
nghèo biết sống sao đây? “.
Cách nay khoảng 19 năm, lão Nết là một trong những người
đầu tiên “xung phong” ra biển Gò Công trồng rừng phòng
hộ. Ngày trước, vạt biển Gò Công dân cư thưa thớt.
Lão Nết là dân Kiểng Phước, lấy vợ sớm – sinh con
đông; nhưng không nghề.
Hàng ngày, vất vả làm mướn mưu sinh. Khi chính quyền
khuyến khích trồng rừng theo diện ăn chia “bảy -
ba”, Bảy Nết là người đi đầu. Lão kỳ vọng phủ
xanh rừng để mong thoát nghèo. Ngày ra rừng lập nghiệp
không có gạo ăn, không tiền mua dầu đốt! Ban ngày
trồng và giữ rừng, ban đêm xuống biển đẩy cá, thả
lưới, đào con lép chép… kiếm sống qua ngày. Cuộc đời
lão như định luật “ngày nằm rừng – đêm xuống
biển”.
Mười mấy năm dài trôi qua, 5 héc-ta rừng đước của lão
lớn nhanh vươn cao khỏi nóc nhà. Thấy rừng lớn, Bảy
Nết mừng ra mặt. Lão tính nhẩm: “Theo hợp đồng ăn
chia khi rừng đến tuổi khai thác, người trồng được
hưởng 70% - đơn vị quản lý nhận 30%.
Như vậy, với ngần ấy rừng, mỗi lần khai thác cũng
kiếm được vài chục triệu đồng. Có được tiền,
cất lại căn nhà, mua ít đồ, rồi còn tính chuyện cưới
vợ gả chồng cho tụi nhỏ… Cả đời lão chỉ mong
bấy nhiêu và xem đó như là trách nhiệm với con cái”.
Nhưng sự đời tréo ngoe. Rừng đước chưa kịp khai thác
thì chết lần chết mòn, đến nay hoang tàn hết. Lão nhìn
rừng xơ xác mà ngơ ngác...
Theo lão Nết và nhiều bà con cho biết, khoảng 3 năm
trở lại đây, rừng đước Gò Công xuất hiện hiện tượng
xuống lá, héo đọt, khô cành… vài tháng sau bắt đầu
chết. Nếu như năm đầu, rừng chết từng cụm bằng
chiếc đệm, người dân vội vã tìm giống trồng lại
ngay thì
năm sau, rừng chết lớn hơn và càng lúc lan rộng.
Báo động nhất là từ đầu năm 2005 đến nay, rừng
chết rất nhiều và không còn cách cứu vãn! Không riêng
gì khu rừng của lão Nết, mà hàng loạt khu rừng lân
cận khác của hộ ông Năm Chuyển, ông Đặng Văn Ngọt,
Phan Văn Liêm… cũng chết trên diện rộng. Theo ước tính
ban đầu, chỉ riêng xã Kiểng Phước có 79 héc-ta rừng
thì gần 50 héc-ta bị chết khô trong sự bất lực người
dân và ngành nông nghiệp.
Bế tắc giải pháp?
Rừng chết do đâu đang là câu hỏi đặt ra đối với
ngành nông nghiệp Tiền Giang và cũng là nỗi đau của
nhiều nông dân cả đời giữ rừng - bám biển Gò Công
Đông. Qua kết quả khảo sát của ngành chức năng và các
nhà khoa học cho thấy: Có 2 nguyên nhân cơ bản làm
rừng phòng hộ Gò Công Đông chết tràn lan. Thứ nhất,
điều kiện thiên nhiên không thuận lợi, đất đai cằn
cỗi, phèn mặn…
Từ tháng 3 kéo dài đến tháng 8 hàng năm, là thời điểm
khô hạn gay gắt, nước từ biển không lên được làm
cho rừng phòng hộ Gò Công bị khô nghiêm trọng. Nhiều
nơi đất nứt nẻ như “sa mạc”. Khi nguồn nước không
ra - vào, gây nên ô nhiễm và phèn trỗi lên dữ dội.
Thứ hai, hầu hết bà con sống dưới tán rừng đều nghèo,
nhiều năm giữ rừng nhưng không có thu nhập, làm cho
họ chán nản và thiếu chăm sóc.
Kênh mương cạn kiệt thiếu nạo vét hạ phèn, có nơi
người dân bao ví cục bộ để thả cá, tôm… kiếm
miếng ăn, vô tình làm úng, làm cho rừng chết nhiều hơn.
Vấn đề này, theo lý giải của Phòng Nông nghiệp
huyện Gò Công Đông, thì người dân có phần thiếu trách
nhiệm nhưng không thể trách họ. Bởi từ lúc nhận khoán trồng rừng đến
nay ai cũng “ôm bụng đói!”.
Trong khi tỉnh có chính sách hỗ trợ cho bà con trồng và
giữ rừng 200 ngàn đồng/ha/năm nhưng từ năm 1989 đến
nay họ mới được cấp chỉ một lần!? Ngoài 2 nguyên
nhân trên, mỗi năm khi đến mùa gió chướng, sóng biển
đánh thẳng vào gây sạt lở nghiêm trọng và hàng loạt
diện tích rừng bị cuốn trôi ra biển.
Ông Nguyễn Văn Ra, Trưởng phòng Nông nghiệp huyện Gò Công
Đông than thở: “Thời tiết cả năm đều bất lợi đối
với rừng phòng hộ Gò Công. Mùa khô rừng chết vì
hạn, còn mùa mưa rừng bị cuốn trôi vì sạt lở. Mấy
năm qua, chúng tôi rất lo chuyện mất rừng nhưng đành bó
tay vì chưa có giải pháp”.
Cũng theo ông Ra, rừng phòng hộ ven biển đoạn Tân Thành
đến Kiểng Phước là khu vực “xung yếu”, đóng
vai trò cực kỳ quan trọng. Đây là nơi ngăn chặn sóng
biển, lũ lụt tràn vào các xã ở Gò Công nhưng lại là
nơi thường xuyên bị biển xâm thực gây xói lở nặng.
Những năm qua rừng bị mất nhiều làm cho nạn sạt lở
đê biển Gò Công ngày càng nghiêm trọng. Bình quân mỗi
năm lở ăn sâu vào đất liền từ 15- 20m và có chiều hướng
lan rộng. Trước tình hình trên, tỉnh Tiền Giang đề
nghị Bộ NN-PTNT hỗ trợ kinh phí kè kiên cố 3km lở
nguy hiểm. Bình quân 100 mét tốn khoảng 800 triệu đồng.
Do thiếu kinh phí nên đến nay chỉ làm được 1,9 kilômét.
Trao đổi với phóng viên Báo SGGP, ông Nguyễn Thiện Pháp,
Chi cục trưởng Chi cục thủy lợi Tiền Giang lo lắng:
“Kè là giải pháp rất tốn kém, nhưng chưa thể khẳng
định có chịu nổi với triều cường và bão lớn không?
Tại Gò Công, mỗi năm đến mùa chướng, sóng từ biển
đập vào dữ dội thấy ghê lắm. Nếu gặp gió từ
cấp 7 trở lên hoặc sóng thần… thì đê biển Gò Công nguy
mất. Do đó, chỉ có giữ được rừng mới là cách
bảo vệ đê an toàn nhất”.
Mấy năm gần đây, ngành nông nghiệp Tiền Giang khuyến
khích người dân trồng rừng. Nhưng trồng vừa xong thì
rừng lại chết, tốn tiền - tốn công vô ích. Vấn đề
bất cập ở rừng Gò Công là hệ thống thủy lợi yếu
kém không giữ được nước và hạ phèn.
Đặc biệt, lượng phù sa bên ngoài đê bị xói lở liên
tục nên rừng trồng không sống được. Mặt khác,
rừng Gò Công đến nay không có cán bộ kiểm lâm, trong
khi Phòng Nông nghiệp vừa thiếu người vừa không có
quyền phạt vạ những ai vi phạm… Rõ ràng, sự chồng
chéo trong việc quản lý rừng cộng với sự lỏng lẻo,
thiếu đầu tư của các ngành chức năng khiến rừng phòng
hộ Gò Công hoang phế và có nguy biến mất bất cứ lúc
nào.
Hiện tại, hàng loạt héc ta rừng xung yếu tiếp tục
chết và bờ biển đang vào “mùa” lở mạnh, có đoạn
gần sát chân đê, đe dọa vùng nuôi tôm công nghiệp và
đời sống hàng ngàn người dân. Thế nhưng đến giờ này
các ngành chức năng tỏ ra bế tắc, chưa tìm được
giải pháp đối phó, trong khi hàng trăm hộ sống dưới
tán rừng ngày càng khốn khó, không còn nghị lực giữ
rừng. Lúc chúng tôi rời khu rừng “chết”, rời
những căn chòi ọp ẹp, nhìn về phía xa, chúng tôi
thấy những đợt sóng đánh thẳng vào chân đê Gò Công;
kéo theo những cánh rừng “tội nghiệp” mất hút về
phía đại dương!
(Theo
www.nea.gov.vn)
Về đầu trang
Phá
rừng thượng nguồn sông Hương làm... trang trại (9/2005)
Vừa bị đốn hạ tận gốc, lại bị đốt
cháy trơ trụi, gần 30 ha rừng tự nhiên vùng thượng
nguồn sông Hương, thuộc xã Dương Hoà - huyện Hương
Thuỷ, thời gian gần đây đã nhanh chóng biến mất...
Chặt hạ rừng tự nhiên để làm trang trại cao su?
Khác với đại ngàn Trường Sơn thăm thẳm, do phải
hứng chịu hàng tấn đạn bom và hoá chất huỷ diệt
của Mỹ thả xuống thời chiến tranh, rừng tự nhiên thượng
nguồn sông Hương thuộc tiểu khu 162 còn sót lại đến
ngày nay hết sức hiếm hoi, chỉ vẻn vẹn vài trăm héc-ta
lọt thỏm giữa những trập trùng đồi trống núi
trọc.
Thoát ra được sự huỷ diệt của mưa bom bão đạn
chiến tranh, nhưng những khoảng rừng xanh tự nhiên quý
giá ở Dương Hoà hôm nay lại đang đứng trước nguy cơ
biến mất hoàn toàn bởi lâm tặc.
Từng có mặt tại nhiều điểm nóng phá rừng, như: khu
vực đầu nguồn sông Bồ, vùng rừng già giáp ranh 2
tỉnh Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế, rồi rừng nguyên
sinh nhánh hữu trạch sông Hương... nhưng chúng tôi chưa
bao giờ thấy được một cảnh tượng rừng tự nhiên
bị đốn hạ trên quy mô lớn, diễn ra hàng loạt và
trắng trợn như tại tiểu khu 162 - xã Dương Hoà.
La liệt những cây lớn vài chục năm tuổi, với đường
kính từ 5 - 35cm, đã bị đốn hạ không chút thương
tiếc. Tất cả nằm ngổn ngang tựa như những xác chết
khô vắt lên nhau. Rừng tự nhiên sau khi bị triệt hạ,
lại còn bị đốt cháy trơ trụi.
Phần nhiều cây lớn người dân chuyển về nhà làm
gỗ, củi. Cùng với hàng nghìn gốc lớn, số cây nhỏ còn
lại vẫn trơ thân cháy sém phơi ra giữa thanh thiên
bạch nhật, như minh chứng rõ ràng và sống động hơn
về một vụ chặt hạ rừng có tổ chức.
Khu vực rừng tự nhiên được “chọn” để đốn hạ
lọt thỏm giữa một thung lũng, từ đồng bằng nhìn lên
rất khó phát hiện. Dù đã được một người dân địa |