TÔI CÓ Ý KIẾN !
(11/2005)

Kiên Giang: Lại nổi lên nạn khai thác hải sản có tính hủy diệt môi trường hàng loạt (11/2005)
Khai thác khoáng sản phải nộp phí môi trường (11/2005)
Xâm hại vịnh Hạ Long (11/2005)

Hồ ở Hà Nội: Lá phổi xanh đang bị gặm nhấm (11/2005)
Thanh Hoá: Các cơ sở sản xuất bột cá gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (11/2005)

Hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu tại TPHCM: Nhiều nguy cơ tiềm ẩn về môi trường (11/2005)  
Quần thể bò hoang lớn nhất Việt Nam đang bị đe dọa (11/2005)

Kiên Giang: Lại nổi lên nạn khai thác hải sản có tính hủy diệt môi trường hàng loạt (11/2005)

Tại ngư trường biển Tây thuộc tỉnh Kiên Giang gần đây lại nổi lên nạn khai thác hải sản có tính  hủy diệt hàng loạt. Người dân dùng xung điện, chất nổ khai thác ở vùng biển Kiên Hải Nam Du, cào bay, ánh sáng đèn cao áp cực mạnh ở ngư trường Phú Quốc, mặc dù lệnh cấm đã được ban hành từ lâu. Việc khai thác bừa bãi nói trên khiến cho vùng biển là một trong những ngư trường tốt nhất giới hạn hơn 100km ven bờ chạy dài từ An Minh cho đến tận biên giới Hà Tiên, là chỗ dựa sinh sản lớn của loài tôm cá có nguy cơ sẽ không còn nữa. Hàng ngàn hộ ngư dân trên vùng biển Kiên Hải, Hà Tiên, Phú Quốc chấp hành nghiêm chủ trương của Nhà nước đang lao đao vì ngư trường ngày càng cạn kiệt, khiến cho việc khai thác đánh bắt không bù đắp nổi chi phí.

Theo Chi cục Nguồn lợi Thủy sản (Sở Thủy sản Kiên Giang), mặc dù việc kiểm tra ngăn chặn xử phạt vẫn được tiến hành thường xuyên nhưng không thể ngăn chặn ngay được, bởi hiện Kiên Giang còn đến vài ngàn phương tiện chuyên khai thác đánh bắt gần bờ, quá lạc hậu cũ kỹ chưa được chuyển đổi. Nếu tính trung bình mỗi phương tiện có 3 lao động, thì cũng có đến gần 10.000 lao động loại này chưa kể mỗi lao động còn kéo theo miếng cơm manh áo của cả gia đình họ. Do vậy việc ngăn cấm phạt vạ vẫn cứ làm, việc họ lén lút qua mắt chính quyền, cơ quan chức năng tiếp tục khai thác trái phép bằng cào bờ xiệp mé, bằng xung điện vẫn cứ diễn ra. Có những phương tiện loại cào bờ xiệp mé đóng nhưng không được đăng ký, không ít ngư dân xem như lao động lậu, không chịu bất cứ khoản thuế nào đối với Nhà nước, cũng không được hưởng bất cứ khoản bảo hiểm nào theo qui định khi xảy ra tai nạn.

Nam Thắng

 

Khai thác khoáng sản phải nộp phí môi trường (11/2005)
 

(VietNamNet) - Nghị định 137 do Thủ tướng CP Phan Văn Khải vừa ký ban hành quy định rõ, các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản là đá, tràng thạch, sỏi, sét, thạch cao, cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên và sa khoáng titan (ilmenit) phải nộp phí bảo vệ môi trường.

Soạn: AM 619233 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Khai thác cát cũng phải nộp phí môi trường.

Theo đó, mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản được quy định bằng số tiền tuyệt đối tính trên một đơn vị sản phẩm khoáng sản tại nơi khai thác.

Ví như khai thác đá làm xi măng, khoáng chất công nghiệp, vật liệu xây dựng phải nộp 2.000 đồng/m3; khai thác sỏi là 4.000 đồng/m3; cát xây dựng (cát san lấp), cát vàng (cát xây tô) 2.000 đồng/m3; đất để san lấp 1.000 đồng/m3; nước khoáng thiên nhiên 2.000 đồng/m3; sa khoáng Titan 30.000 đồng/tấn...

Mức phí môi trường cao nhất áp với khai thác đá ốp lát, làm mỹ nghệ (granit, gabro, đá hoa... ), với 50.000 đồng/m3.

Đây là khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng 100% để hỗ trợ cho công tác bảo vệ môi trường tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng sản, như phòng ngừa và hạn chế các tác động xấu đối với môi trường. Đồng thời, khoản tiền này được dùng để khắc phục suy thoái, ô nhiễm do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra cũng như giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan môi trường tại địa phương.

VietnamNet

 

Xâm hại vịnh Hạ Long (11/2005)

Đổ đất lấn biển trên vịnh Hạ Long“Môi trường vịnh Hạ Long đang bị đe dọa, các hoạt động khai thác than, lấn biển, nuôi trồng thủy hải sản... ngày càng diễn ra với chiều hướng gia tăng..."

Ông Ngô Hùng, trưởng ban quản lý vịnh Hạ Long, bức xúc khẳng định: "Cứ đà này nếu không được ngăn chặn kịp thời, môi trường di sản thế giới vịnh Hạ Long sẽ bị hủy hoại nghiêm trọng”.

Từ trước đến nay, nói đến Quảng Ninh người ta thường nghĩ đến điểm du lịch nổi tiếng là vịnh Hạ Long, nhưng cũng ít ai biết được rằng bên cạnh đó là một vùng mỏ than ngày đêm hoạt động không ngưng nghỉ. Những con đường chính trong thành phố như Cao Xanh, Hà Lầm... phải thường xuyên tưới nước quanh năm vì bụi.

“Công nghiệp có khói” song hành với “công nghiệp không khói”

Theo ông Ngô Hùng, tình trạng ô nhiễm môi trường ở thành phố Hạ Long luôn được người dân và chính quyền quan tâm nhưng khi đi vào giải quyết vấn đề thì chỉ... giậm chân tại chỗ vì các công ty than ngày càng tăng công suất khai thác mỏ. Hiện nay, hầu hết nước thải mỏ và đất thải mang tính axít, độ đục cao đều được đổ trực tiếp ra vịnh mà không qua bất cứ qui trình xử lý nào.

Tại những mỏ than Hà Tu, cảng than Cầu Trắng, Cao Sơn... tình trạng đổ thải vẫn còn xảy ra. Tại các cảng than, tình trạng vận chuyển, bốc rót than trong “vùng bảo vệ tuyệt đối” vẫn có. Nhiều tàu trọng tải lớn đến nhận than không vào cảng được phải dùng biện pháp chuyển tải nên lượng than rơi vãi xuống vịnh Hạ Long khá nhiều.

Báo cáo hiện trạng môi trường vịnh Hạ Long năm 2004 cho biết: tại các khu vực ven bờ vịnh Hạ Long đã có những biểu hiện ô nhiễm cục bộ do tăng lượng chất rắn lơ lửng (TSS), giảm lượng ôxy hòa tan (DO); nitrơrit và khuẩn gây bệnh ColiForm tại các khu vực như Lán Bè, Vựng Đâng và cảng than ven bờ nam Cầu Trắng... đã gây độ đục xấp xỉ hoặc vượt tiêu chuẩn cho phép.

“Nước ở vịnh Hạ Long không còn trong xanh nữa” - ông Nguyễn Thế Hưng, nhà ở phố Hải Trường, phường Hồng Hải, đã thốt lên như vậy. Ông cho biết mấy năm trước còn ra tắm ở vịnh nhưng từ mùa hè năm ngoái đến nay ông không dám đặt chân xuống vịnh vì sợ... bẩn.

Những mối đe dọa...


Theo thống kê của Ban quản lý vịnh Hạ Long, hiện nay khu vực Hạ Long - Cẩm Phả có 21 dự án lấn biển và 17 dự án đổ bùn thải. Những dự án này nếu làm đúng qui trình và qui định sẽ giúp thành phố Hạ Long giải quyết tốt vấn đề qui hoạch đô thị.

Bên cạnh đó, các dự án lấn biển đều nhằm mục đích đô thị hóa và xây dựng những điểm du lịch, giải trí... góp tăng phần hấp dẫn đối với du khách khi đến với vịnh Hạ Long. Thế nhưng các dự án này hiện đang là mối đe dọa trực tiếp nghiêm trọng đến vùng di sản.

Theo qui định, các dự án lấn biển phải tuân thủ nghiêm ngặt những qui định như: đắp bờ vây, chống bồi lắng bùn cát trước khi đổ thải; phải có báo cáo đánh giá tác động môi trường, có phương án kỹ thuật thi công; thực hiện quan trắc môi trường; nạo vét bùn khi hoàn thành dự án. Dự án phải thực hiện đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, đúng qui trình san lấp mặt bằng, hút và vận chuyển đất, đá, bùn đúng nơi qui định.

Mới đây nhất, Công ty cổ phần quốc tế Hoàng Gia làm dự án công viên đã “vô tư” lấn biển trong khi chưa được UBND tỉnh phê duyệt qui hoạch. Đến khi các cơ quan chức năng biết thì... việc đã rồi. UBND tỉnh xử lý bằng cách giao Sở Tài chính cùng các ngành liên quan nghiên cứu... đề xuất giá tiền sử dụng đất với phần diện tích đất mà công ty đã lấn chiếm (!).

Bên cạnh đó, hiện tượng phá, mất rừng ngập mặn lại diễn ra với mức độ báo động. Theo thống kê từ năm 1998 - 2003, diện tích rừng ngập mặn ven bờ vịnh Hạ Long đã mất 866 héc-ta. Trong đó diện tích rừng ngập mặn bị phá để nuôi trồng thủy sản chiếm 732 héc-ta. Theo đánh giá của Sở Khoa học-Công nghệ Quảng Ninh, rừng ngập mặn ven bờ vịnh Hạ Long bị phá hủy đồng thời giảm sản lượng hải sản và làm tăng nồng độ ô nhiễm ven bờ, phát tán chất ô nhiễm ra vịnh.

Hiện nay, thành phố Hạ Long có 5 mỏ khai thác lộ thiên, 3 mỏ khai thác hầm lò và 5 cảng. Tại thị xã Cẩm Phả có 7 mỏ khai thác lộ thiên, 14 mỏ khai thác hầm lò và 10 cảng. Bên cạnh đó, Hạ Long và Cẩm Phả còn có 4 nhà máy tuyển than đang hoạt động.

Qui trình khai thác mỏ, khai thác lộ thiên là bốc xúc đất đá và đổ thải ra các bãi thải của mỏ. Bốn bãi thải ven bờ vịnh Hạ Long hiện nay lúc nào cũng trong tình trạng quá tải như bãi thải nam Đèo Nai rộng 230 héc-ta, bãi thải tuyển than Cửa Ông rộng 125 héc-ta...Tổng lượng nước thải mỏ hằng năm đổ ra vịnh là 30 triệu mét khối.

Và hậu quả việc san lấp mặt bằng, lấn biển vô tổ chức đã làm diện tích rừng ngập mặn bị mất, dòng chảy bị thu hẹp, tốc độ dòng chảy cao cuốn theo đất đá gây lắng đọng trầm tích cho vịnh Hạ Long.

Việc lắng đọng trầm tích này còn liên quan đến các dự án hút bùn, đổ thải. 17 dự án đổ bùn thải xuống vịnh Hạ Long có tổng khối lượng là 4.742.155 mét khối (đã thực hiện được 4.507.829 mét khối). Tuy nhiên, chưa có cơ quan quản lý nào giám sát được việc đổ thải tùy tiện này tại vịnh Hạ Long. Có nhiều dự án tự tiện xả bùn vào vùng bảo vệ tuyệt đối và vùng đệm di sản vịnh Hạ Long.

Năm 2004 có 1.551.000 lượt khách đổ về Hạ Long. Do lượng khách tăng nên các dịch vụ tàu thuyền cũng tăng theo. Hầu hết các tàu không có thiết bị thu gom và xử lý nước thải, toàn bộ được thải trực tiếp ra vịnh. Nhiều tàu bán xăng dầu vẫn đi lại tự do mua bán trên vịnh mà không gặp một trở ngại nào. Chất thải và rò rỉ của những cây xăng dầu di động này đều trực tiếp xả xuống vùng di sản.

Do du khách thích đi thăm làng chài trên vịnh nên những hộ dân trên bờ “dời đô” xuống vịnh để kinh doanh nhà bè ăn uống hoặc nuôi trồng thủy hải sản. Hiện nay có 126 bè neo đậu sai qui định và tất cả các bè này đều không có giấy phép vệ sinh môi trường, đều thải chất thải trực tiếp xuống biển.

Bên cạnh đó, việc nuôi trồng hải sản bằng đầm, đăng, rào lại rất phổ biến. Tại Thành phố Hạ Long có 1.140 héc-ta, huyện Hoành Bồ 686 héc-ta, thị xã Cẩm Phả có 500 héc-ta. Hiện tượng này đã làm thay đổi kết cấu đất ven bờ vịnh, tăng nguy cơ xói lở, bồi lắng, tăng độ đục của nước.

Tháng 7-2005, kiểm tra 21 dự án lấn biển thì chỉ có:
- 5 dự án thực hiện nạo vét bùn
- 1 dự án báo cáo định kỳ về công tác môi trường
- 2 dự án thực hiện quan trắc môi trường
- 11 dự án chưa có báo cáo đánh giá tác động môi trường
- 16 dự án có thiết kế kỹ thuật thi công
- 12 dự án không thực hiện việc đắp bờ, vây cát chống bồi lắng 

(VietnamNet)

Quần thể bò hoang lớn nhất Việt Nam đang bị đe dọa (11/2005)

Các nhà nghiên cứu cho biết quần thể bò hoang tại Khu bảo tồn Ea Sô (tỉnh Đắc Lắc) - khu hệ động vật móng guốc lớn nhất Việt Nam - đang đứng trước nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng do sinh cảnh bị thu hẹp và nạn săn bắn bất hợp pháp.

Thời gian gần đây, mặc dù cán bộ kiểm lâm tại khu vực này đã tích cực ngăn chặn người dân vào rừng săn bắn nhưng do lực lượng mỏng nên không thể ngăn chặn triệt để việc săn bắn động vật trái phép. Năm 2004 tại khu vực này có 2 con bò tót bị bắn chết. Từ đầu năm đến nay cũng đã có một con bò tót bị bắn chết và 2 con bò hoang chết không rõ nguyên nhân.

Bên cạnh đó, trong khu bảo tồn đang có 2 trại nuôi bò có thể gây tác động bất lợi đối với bò hoang vì theo các chuyên gia, bò nhà có thể truyền bệnh sang bò hoang.

Tiến sĩ Phạm Trọng Ảnh, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật và Thạc Sĩ Nguyễn Mạnh Hà, Trung tâm nghiên cứu và Tài nguyên Môi trường trong quá trình nghiên cứu mới đây đã bắt gặp 12 đàn bò hoang tại khu vực khu bảo tồn Ea Sô, trong đó có 8 đàn bò tót và 4 đàn bò rừng./.

Theo TTXVN

Hồ ở Hà Nội: Lá phổi xanh đang bị gặm nhấm (11/2005)

Nhà và rau muống đã Trong vòng mười năm trở lại đây, đã có hơn 20 hồ bị "mất tích" trên bản đồ, tương đương với gần 200 héc-ta diện tích mặt nước bị bốc hơi.

Phải mất khá nhiều lần hỏi thăm, sau cùng phải nhờ một người dẫn đường, hết quẹo trái, quẹo phải theo những con ngách chật hẹp đầy ổ gà, chúng tôi mới tìm được đường vào hồ Văn Chương (thuộc phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà Nội).

Thú thực, nếu không được sự dẫn đường của người trong ngõ thì tôi chắc chắn là mình đã đi nhầm đường bởi cái hiện lên trước mắt tôi không thể gọi là hồ được. Đó gần như là một khu đất đọng nước thải um tùm cỏ dại. Xung quanh bãi hoang đó, nhà cao tầng có, thấp tầng có, hiện đại có, tạm bợ có đua nhau mọc lên trong tư thế lúc nào cũng sẵn sàng tiến mãi ra chính giữa hồ. Và từ những ngôi nhà, rác rưởi, nước thải tuồn xuống tạo nên một mùi hôi thối rất đặc trưng của những khu bãi rác.

Chị Hà, một người dân ở đây bức xúc: "Ngày xưa, hàng nghìn thanh niên xung phong của Hà Nội bỏ hàng trăm ngày công mới đào được hồ Văn Chương. Nhớ ngày ấy nước cứ trong văn vắt, trẻ con muốn nhìn từ bên này hồ sang bên kia hồ phải dùng ống nhòm. Vậy mà bây giờ thì nhà bên kia hồ gần như trở thành hàng xóm chung giậu với nhà bên này. Nghĩ mà xót, bao nhiêu công sức đổ xuống nay trở thành công cốc".

Cùng chịu chung số phận nhưng hồ Huy Văn có vẻ may mắn hơn vì vẫn còn một khoảng mặt nước, mặc dù cái khoảng toen hoẻn chứa thứ nước đặc quánh đấy khiến cho người ta sợ hãi hơn là thích thú. Cũng có thể do hồ Huy Văn nằm cạnh UBND phường Văn Chương nên mới giữ được như thế chăng?

Bà cụ Nhung năm nay đã gần 80 tuổi, bán quán nước bên hồ kể, ban đầu những nhà ở bên hồ đổ đất xuống với hy vọng có thêm một khoảng đất để nuôi lợn. Sau dần, khoảng đất đó phình to quá, "ông" phường "giật mình" bèn biến nó thành một cái chợ dân sinh cho cả làng. Thế là không chỉ rác sinh hoạt mà tất cả rác rưởi của chợ cũng được tuồn xuống hồ. Chuyện đấy xảy ra từ 10 năm nay.

Đến giờ, diện tích khoảng chợ ở đây đã lên đến 300 mét vuông. Đấy là chưa kể xung quanh hồ có hơn 100 hộ gia đình sinh sống. 100% những hộ này đã và đang tiếp tục công cuộc "đẻ đất" cho cá nhân mình. Có hộ diện tích lấn chiếm đã lên đến hàng trăm mét vuông. "Rác của cư dân khu này một ngày cần hơn một xe chuyên dụng để chở đến nơi tập kết, nhưng rác trong hồ thì cả chục xe chở chẳng hết". Đây là lời tâm sự của một công nhân Công ty Môi trường đô thị chuyên thu gom rác khu vực ven hồ Huy Văn.

Trao đổi với chúng tôi, ông Ngô Tiến Ngọc, Phó Chủ tịch UBND phường Văn Chương cho biết: Từ năm 2004, sau khi báo chí "kêu" nhiều quá, thành phố có quyết định kè lại hồ Huy Văn. Nhưng quyết định đã có từ lâu mà không ai triển khai cả. Bây giờ, ngay việc giữ nguyên trạng hồ cũng khó chứ chưa nói đến chuyện sẽ "đòi" lại phần đất bị lấn chiếm.

Hồ Hào Nam đã được "kè" bằng những móng nhà cao tầng vững chãi, phần còn lại được chia thành những ruộng rau muống. Nhưng như thế vẫn may mắn vì còn được gọi là "hồ" vì hiện tại, nhiều hồ có đến mà hỏi người dân thì chỉ những người đã từng ở ít nhất là 20 năm tại Hà Nội mới có thể nhớ ra. Hồ Đấu nằm gần Khách sạn Kim Liên (Đống Đa) là ví dụ. Đến bây giờ hỏi lại chẳng có mấy ai biết rằng nơi toà cao ốc tọa lạc đoạn đầu phố Phạm Ngọc Thạch trước đây đã từng có một cái hồ.

Theo thống kê từ cơ quan chức năng, vào năm 1994, nội thành Hà Nội còn có trên 40 hồ với tổng diện tích hơn 850 héc-ta. Tuy nhiên, cho tới thời điểm hiện tại, nội thành chỉ còn 19 hồ, chiếm tổng diện tích khoảng 547 héc-ta. Như vậy trong vòng chục năm đã có trên 20 hồ bị "mất tích" trên bản đồ, tương đương với gần 200 héc-ta diện tích mặt nước bị bốc hơi. Trong khi hồ thì ngày càng giảm mà mật độ dân số ngày càng tăng, nhiều nơi ở Hà Nội đang nghẹt thở vì bụi bặm và ô nhiễm. Xin hãy cứu lấy hồ khi còn chưa muộn!

Nhóm PV KTXH - Báo Công an nhân dân

 

Thanh Hoá: Các cơ sở sản xuất bột cá gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng (11/2005)

 

Theo Sở Tài nguyên môi trường Thanh Hoá, 3 cơ sở sản xuất bột cá làm thức ăn gia súc thuộc Công ty đầu tư phát triển thuỷ sản Tư Hùng, Công ty cổ phần nông sản Thanh Hoá và HTX Đại Hải tại cụm cảng cá Lạch Bạng, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng đến sức khoẻ của hơn 20.000 người dân trong khu vực. Trong đó, riêng ô nhiễm khí thải  từ các lò hơi, lò sấy, lò nghiền và các bãi cá chết dự trữ làm nguyên liệu chế biến vượt mức cho phép trên dưới 15 lần đến 44 lần...

Ông Trần Hùng Vương, Chủ tịch UBND xã Hải Thanh, địa phương liền kề cụm cảng cá Lạch Bạng cho biết:  từ đầu năm 2003 đến nay hơn 16.200 người dân trong xã phải khốn khổ vì mùi hôi thối nồng nặc, phải sử dụng nước nhiễm bẩn, rất nhiều người đã bị đau mắt hột, viêm phổi, bệnh đường ruột. Mặc dù đã có nhiều văn bản và hàng trăm đơn thư phản ánh, kiến nghị của chính quyền và bà con nhân dân các xã trong vùng song sự việc đến nay vẫn chưa được xử lý, giải quyết. Ông Vương cho biết thêm, từ năm 2004 đến nay, các ngành chức năng đã 6 lần đến cụm cảng cá Lạch Bạng kiểm tra, đánh giá tác động môi trường, lập biên bản đề nghị các cơ sở chế biến bột cá triển khai các biện pháp xử lý bảo vệ môi trường, song sự việc đâu vẫn hoàn đó khiến cho người dân trong vùng rất bất bình. Gần đây nhất, ngày 29/8 gần 400 người dân  quá bức xúc, đã kéo đến 3 nhà máy chế biến bột cá yêu cầu lãnh đạo phải có biện pháp xử lý chống ô nhiễm nhưng đã bị từ chối không tiếp, khiến một số người quá khích đã ném đất đá, đập phá tường rào...

Cụm cảng cá Lạch Bạng được xây dựng và đưa vào hoạt động từ năm 2002. Đã có 9 doanh nghiệp được UBND tỉnh Thanh Hoá cấp phép đầu tư hoạt động trong các lĩnh vực thu mua chế biến hải sản, sản xuất bột cá làm thức ăn gia súc, dịch vụ cung ứng xăng dầu, đá lạnh...đây là những cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường rất lớn. Từ khi đi vào hoạt động , các doanh nghiệp  chưa có báo cáo về tác động môi trường và bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường. Riêng 3 cơ sở sản xuất bột cá  mỗi cơ sở công suất chế biến 30 tấn/ngày gây ô nhiễm môi trường nặng nhất. Điều khiến nhiều người bất bình là các cơ sở sản xuất bột cá ở cụm cảng Lạch Bạng gây ô nhiễm môi trường kéo dài nhiều năm, đã nhiều lần các cơ quan có thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản song sự việc vẫn không được xử lý dứt điểm.

Duy Hoàng (Theo www.monre.gov.vn)

 

Hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu tại TPHCM: Nhiều nguy cơ tiềm ẩn về môi trường (11/2005)

Những con số... giật mình

Cây xăng 102 Trần Phú (quận 5) nằm sát đường và Nhà máy Thuốc lá.
 

Khoảng 15% cửa hàng xăng dầu (CHXD) của thành phố “vô tư” thải hơi xăng dầu vào không khí, làm ô nhiễm môi trường và tạo ra nguy cơ sự cố cháy nổ do không khí có đẫm hơi xăng. Đó là con số vừa được ngành chức năng đưa ra trong nhiều cuộc họp về thực trạng mạng lưới bán lẻ xăng, dầu của thành phố.

Theo các cơ quan này, 15% các cửa hàng nêu trên vẫn sử dụng kỹ thuật bơm, hút xăng hở, đã lạc hậu thay vì phải dùng ống hút kín để sang, chiết xăng nên hơi xăng, dầu có khả năng thoát ra ngoài, tạo ra nguy hiểm như đã nêu.

Đã vậy, nhiều CHXD trong số này còn nằm quá gần nhà dân hoặc các khu vực sinh hoạt công cộng khác nên nếu có xảy ra sự cố thì khả năng gây hỏa hoạn, thương vong cho người dân là rất lớn.

Mặc dù khu vực TPHCM ít có mưa dông kèm sấm, chớp nhưng nguy cơ cháy nổ CHXD do sét đánh cũng không phải được miễn trừ hoàn toàn. Thế nhưng, trong 454 CHXD xây dựng sau 1975 cũng mới có 70% trang bị cột thu lôi (con số 569 CHXD là tính cả số CHXD xây dựng từ trước 1975 - nhiều CHXD xây dựng trước 1975 đã cũ kỹ, không đảm bảo an toàn).

Bên cạnh đó, có lẽ lâu nay ít xảy ra cháy nổ do điện nên rất nhiều CHXD đã lơ là, thiếu quan tâm phòng bị nguy cơ này đúng mức. Trong số 454 CHXD được xây dựng sau năm 1975 có tới 53% cửa hàng không có thiết bị phòng điện nổ và 54% không có hệ thống tiếp địa chống tĩnh điện! Đây quả là thực tế đáng lo, nếu không sớm khắc phục thì hậu họa là khó lường.

Tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh môi trường cũng còn bị nhiều CHXD xem nhẹ. Trong 569 CHXD vẫn còn 22 CHXD thường xuyên nằm trong tình trạng ngập nước nhiều và vừa. Riêng các CHXD xây dựng sau 1975 vẫn còn 20% chưa có hệ thống thoát nước mưa, đặc biệt hơn 57% CHXD chưa có hệ thống xử lý nước nhiễm bẩn xăng dầu và có tới 86% CHXD không bố trí hố gạn dầu. Một cán bộ của ngành xăng dầu thừa nhận, việc nước nhiễm bẩn xăng dầu không được xử lý trước khi xả thải ra hệ thống thoát nước của thành phố đã làm gia tăng mức độ ô nhiễm ở các con sông, kênh của TP (các cống thoát nước của thành phố đều đổ nước ra hệ thống sông, kênh, rạch).

Sẽ có sự thay đổi lớn

Để khắc phục những bất cập nêu trên, nhiều cơ quan chức năng cho rằng, phải giải tỏa ngay một số CHXD thiếu các điều kiện tối thiểu về an toàn. Theo đó, trong hai năm 2006-2007 sẽ giải tỏa trước 71 CHXD vi phạm nặng các lỗi về pháp lý và xây dựng. Thời kỳ 2007-2010 tiếp tục giải tỏa thêm 70 CHXD. Số cửa hàng được phép tồn tại, phải bổ sung một số điều kiện về an toàn để đáp ứng an toàn PCCC và môi trường, an toàn giao thông.

Tiến trình giải tỏa sẽ được thực hiện từng bước để vừa không tạo ra khoảng trống trong dịch vụ thương mại xăng dầu của thành phố vừa để cho các doanh nghiệp có đủ thời gian chuẩn bị tái hoạt động. Và để “bù” vào số CHXD bị giải tỏa, Sở Thương mại thành phố cho rằng, giai đoạn 2005-2010 thành phố cần xây mới thêm 153 CHXD, trong đó nội thành thêm 77 CHXD. Như vậy, đến năm 2010, tuy hơn 100 CHXD phải giải tỏa nhưng về cơ bản sẽ không ảnh hưởng đến việc cung ứng xăng dầu cho nhân dân.

Đó là việc của những năm sau, trong thời gian trước mắt, theo Sở Tài nguyên-Môi trường thành phố, các CHXD phải lắp đặt hệ thống thu hồi hơi xăng dầu phát sinh trong lúc nhập và xuất hàng. Ngoài ra, một trong những vấn đề rất quan trọng đối với các CHXD là kiểm soát, chống sự rò rỉ xăng dầu từ bồn chứa ngầm ra môi trường đất.

Hiện nay, hầu hết các CHXD ở thành phố đều đã được xây dựng từ nhiều năm trước, phần lớn bồn chứa xăng dầu của các cửa hàng này đã bị ăn mòn từ bên ngoài do tiếp xúc với đất và bị ăn mòn bề mặt bên trong do cặn bẩn đóng lại. Nếu những bồn này được tiếp tục sử dụng thì sẽ gây ô nhiễm môi trường và gây ra nguy cơ cháy nổ rất cao.

Do vậy, các CHXD được phép tồn tại lâu dài và ngay cả khi phải giải tỏa trong một vài năm tới cũng phải có kế hoạch ngưng chứa, súc rửa bồn chứa xăng thường xuyên để kiểm tra và sửa chữa những chỗ bị hỏng, hoặc thay bể mới nếu bể đã xuống cấp trầm trọng. Các CHXD phải tính đến giải pháp đặt bồn chứa trong hầm bê tông cốt thép như một số nước trên thế giới để dễ kiểm soát sự rò rỉ và khi duy tu, bảo dưỡng bể dễ dàng hơn.

Về phía doanh nghiệp kinh doanh vận tải xăng, dầu khó khăn chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp tư nhân, hoạt động với quy mô nhỏ. Phần lớn họ thiếu tiền để đầu tư, cải tạo CHXD theo đúng quy định. Và do đó, tuy nhất trí với chủ trương cải tạo lại hệ thống kinh doanh bán lẻ xăng dầu của thành phố nhưng các doanh nghiệp này mong muốn nhận được sự hỗ trợ của nhà nước với các hướng cụ thể như cho vay với lãi suất ưu đãi, miễn thuế sử dụng đất.

Châu Trúc (Theo SGGP)

 

Các tin khác:

 

Trưng cầu ý kiến về Lôgô của Hội (10/2005)  
Dùng chất nổ đánh cá bị phạt đến 10 triệu đồng  (10/2005)
Sơn La: Cam go cuộc chiến với "lâm tặc" (10/2005)
Vĩnh Phúc: Nguồn nước sinh hoạt ở các xã ven sông Hồng bị ô nhiễm (10/2005)
Thú rừng nơi di sản: Tiếng kêu vô vọng (10/2005)
Nước thải bệnh viện ở TPHCM: Xử lý... như không (10/2005)
Hải Dương: Hầu hết các nhà máy xi măng lò đứng không đảm bảo tiêu chuẩn môi trường (10/2005)
Hà Nội: "Thừa rác và bụi, thiếu cây xanh !" (10/2005)

Dùng chất nổ đánh cá bị phạt đến 10 triệu đồng  (10/2005)

 

 

(VietNamNet) - Quy định về Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản nêu rõ, ngư dân sử dụng chất nổ để khai thác thuỷ sản hoặc tàng trữ trái phép chất nổ, kíp nổ, dây cháy chậm trên tàu cá sẽ bị cơ quan chức năng phạt từ 5 đến 10 triệu đồng.

Soạn: AM 592206 gửi đến 996 để nhận ảnh này

Các rạn san hô có nguy cơ mất dần trước nạn đánh bắt bằng chất nổ.

Nghị định 128 của Chính phủ cũng đưa ra quy định về mức phạt đối với hành vi tàng trữ, sử dụng kích điện hoặc sử dụng trực tiếp điện từ máy phát điện trên tàu cá để khai thác thuỷ sản, như phạt 1-2 triệu đồng với tàu cá dưới 30 sức ngựa; 2-4 triệu với tàu cá 30 đến dưới 90 sức ngựa và 4-6 triệu đồng với tàu cá 90 sức ngựa trở lên.

Bên cạnh đó, ngư dân sẽ bị phạt 1-3 triệu đồng nếu xả nước thải, dầu mỡ, hoá chất, các loài động vật, thực vật có độc tố hoặc các chất thải có hại khác vào môi trường sống, sinh sản, sinh trưởng tự nhiên của các loài thuỷ sản hoặc vào môi trường vùng nuôi trồng thuỷ sản, vượt tiêu chuẩn cho phép dưới hai lần. Mức phạt sẽ nâng lên 5-10 triệu đồng nếu xả chất thải độc hại vượt tiêu chuẩn cho phép từ hai lần trở lên. Đặc biệt, số tiền phạt có thể là 15 đến 30 triệu đồng khi xả các chất đặc biệt nguy hại vào môi trường sống của các loài thuỷ sản.

Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định sẽ phạt đến 5 triệu đồng nếu ngư dân khai thác, huỷ hoại trái phép các rạn đá ngầm, rạn san hô, các bãi thực vật ngầm, rừng ngập mặn và hệ sinh cảnh khác, trừ hành vi neo đậu tàu cá trong trường hợp bất khả kháng; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép san hô.

Khai thác thủy sản có kích thước quá nhỏ, đe dọa đến nguồn lợi tự nhiên cũng bị xử phạt tùy theo kích cỡ và khối lượng khai thác.

Tại nước ta, hiện tượng dùng mìn đánh bắt cá quanh dải san hô, khai thác san hô làm vật lưu niệm, nguyên liệu xây dựng, bắt cá tôm có giá trị kinh tế sống ẩn vào san hô vẫn xảy ra suốt dọc ven biển miền Trung, từ Quảng Nam Đà Nẵng tới Ninh Thuận và Bắc Bộ. Tệ hơn, nhiều loại cá có nguy cơ bị tiệt chủng do việc khai thác quá độ, nhất là các tàu đánh cá bằng lưới vét. Những việc làm này đã phá hoại những rạn san hô, sự đa dạng sinh học dưới đáy biển và điều đặc biệt nguy hiểm là làm cạn kiệt nguồn lợi tự nhiên mà biển đem lại.

(Theo VietNamNet)

 

Sơn La: Cam go cuộc chiến với "lâm tặc" (10/2005)

 

Vùng Tây Bắc vốn nổi tiếng với những cánh rừng bạt ngàn gỗ pơ mu, đinh, nghiến, táu và trong những cánh rừng đó còn tồn tại nhiều loại thú quý hiếm như hổ, voi, bò rừng, các loài linh trưởng, loài chim… Tuy nhiên đây cũng là một địa bàn mầu mỡ để bọn buôn bán lâm sản hoạt động.  Trực tiếp đối mặt với “lâm tặc” là những những nhân viên kiểm lâm thuộc Hạt phúc kiểm lâm K 45 đặt tại xã Lóng Luông, huyện Mộc Châu (Sơn La), một hạt phúc kiểm lâm duy nhất có mặt trên trục quốc lộ  số   6.

 

 Bắt “ lâm tặc“, lắm chuyện bi hài

 

Trong cơn mưa rừng ào ạt, thỉnh thoảng vẫn có một vài chiếc xe tải lại phóng vèo qua như để chạy trốn cơn mưa dữ dội này. Anh Trương Ngọc Tân, hạt trưởng Hạt phúc kiểm lâm K45 vẫn cùng đồng đội căng mắt nhìn ra màn mưa. Anh giãi bày: "Hiện nay, quốc lộ 6 đã tốt hơn trước, xe chạy qua đây nhiều, hầu hết là xe tốt nên phải luôn cảnh giác, vì đã có trường hợp anh em phát hiện trong các thùng hàng là gỗ, măng, thậm chí có cả thú rừng được chủ xe chở lậu". Theo như anh Tân, hiện tại không còn cảnh buôn bán vận chuyển lâm sản với khối lượng lớn, mà chủ yếu là nhỏ lẻ, từ đầu năm tới nay mới chỉ phát hiện và xử lý 29 vụ, các mặt hàng chủ yếu là gỗ và măng, lâm sản khác. Nhưng không vì thế mà bớt phức tạp vì các mặt hàng hầu hết là có giá trị như gấu, gỗ nhóm 1. Hơn nữa “lâm tặc” thường có thủ đoạn cất giấu rất tinh vi, ngang ngược, trắng trợn, lái xe sau khi bị chặn xe thường mang lơ via, cà lê, dao kiếm ra doạ nhân viên kiểm lâm là chuyện thường tình ở đây. Có trường hợp như xe mang biển số 89K- 3501 do lái xe Nguyễn Ngọc Kiên điều khiển, sau khi khám xét và phát hiện trên xe chở 500 kg sa nhân, Kiên đã ký vào biên bản nhận lỗi. Mọi chuyện tưởng chừng xong, nhưng Kiên lợi dụng lúc các chiến sĩ hạt kiểm lâm K45 truy đuổi xe khác nên đã vận chuyển hết số hàng này vào gửi nhà dân gần đấy, sau đó quay lại chửi bới, đòi viết đơn kiện tụng. Tuy nhiên nhờ người dân báo lại, các anh đã phát hiện và thu lại hết số hàng này, phạt 20 triệu đồng.

Vào tháng 3/2005, khi các anh kiểm tra xe chở ngô của  Nguyễn Văn Hùng mang biển 26K - 2448 phát hiện  xe chở gỗ nghiến, các tấm gỗ này đều được đóng thêm gỗ giả làm thang để leo lên xe bốc ngô, tuy nhiên có tới gần một chục tấm như vậy với khối lượng hơn 1 tấc. Anh Tân còn cho chúng tôi biết thêm rất nhiều thủ đoạn của bọn buôn bán lâm tặc, nếu như không tận mắt nhìn thấy, không tận tai nghe kể thì quả là không tin được về  trường  hợp  lái  xe khi  bị dừng xe đều lớn tiếng mạnh mồm bảo trên xe  không    gì. Nếu khám xét không thấy thì phải bồi thường thiệt hại cho hàng hoá, có trường hợp lái xe đã " hăng hái" cùng bốc dỡ hàng xuống cho kiểm lâm kiểm tra nhanh để xe "chúng em" còn đi, trên xe không có gì đâu". Đến khi mái tôn cuối cùng của thùng xe hai đáy được bóc ra thì chủ hàng mới đành ngậm ngùi ký vào biên bản vi phạm. Anh Tân còn cho biết, một số trường hợp vận chuyển thú rừng trên bằng xe du lịch 4 chỗ ngồi, đưa về xuôi tiêu thụ.

           

 Vì sao lâm sản vẫn bị ra khỏi rừng

 

Để trả lời cho câu hỏi này, anh Tân buồn bã giải  thích: hiện nay bọn“lâm tặc“ thường dùng các loại xe tải to như loại xe "4 chân", xe ôtô con để vận chuyển, trong khi đó tại hạt phúc kiểm lâm này chỉ có một chiếc xe Uoat, nên không "đuổi" được. Bên cạnh đó chế tài của Nhà nước không đồng bộ vì chỉ khi nghi ngờ xe có chứa lâm sản thì kiểm lâm mới được dừng, lợi dụng điều này, các lái xe có hàng cũng không dừng lại khi kiểm lâm chặn, vì vậy bắt buộc phải đuổi thì mới chặn được xe. Những cuộc rượt đuổi kéo dài hàng chục km mới bắt được là chuyện thường, có khi còn không đuổi được vì những xe tải to không những không dừng lại mà còn liên tục đánh võng, lạng lách làm cho xe của các chiến sĩ kiểm lâm không thể nào chen lên được, có lúc còn bị tai nạn, nếu như các xe này chạy qua khỏi địa phận của tỉnh Sơn La là hạt phúc kiểm lâm K45 không còn quyền lực nữa, đành phải nhờ cậy kiểm lâm tỉnh bạn. Anh Nguyễn Hữu Thuyên, một chiến sĩ lái xe của hạt chỉ về chiếc xe 26B - 1234 của trạm: "Chiếc xe này đã từng bị lật vào hồi đầu năm nay trong khi truy đuổi lâm tặc, may sao trần của xe bằng tôn nên 4 anh em ngồi trong không chết, phải đạp kính xe chui ra". Anh Thuyên còn cho biết, có những lúc biết rõ ràng trên xe có lâm sản, thậm chí là gấu con, nhưng không tài nào đuổi được do “lâm tặc” thường chở loại mặt hàng này bằng xe ôtô con chất lượng tốt, chạy nhanh. Bên cạnh đó, để phát hiện ra xe nào chở lâm sản, các anh phải phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tin từ cơ sở báo về, bên cạnh đó hệ thống liên lạc gặp lúc thời tiết kém thì không liên lạc được, vì vậy nguồn tin từ cơ sở cũng không gọi về được. Nhất là khi thời tiết phủ sương mù dày đặc thì bó tay nhìn các xe chạy qua.

Hạt phúc kiểm lâm K45 đã rất chú trọng vào công tác đầu tư cho các nguồn tin từ cơ sở, các anh đã lập được một mạng thông tin cơ sở rộng khắp từ Lai Châu, Điện Biên cho tới Sơn La. Bên cạnh đó, Hạt tăng cường công  tác tuần tra, kiểm soát trên đường, tập huấn, bồi dưỡng kinh nghiệm cho các chiến sĩ kiểm lâm của trạm nhằm hạn chế thấp nhất lượng lâm sản bị đưa ra khỏi rừng.

Hoàng Thành

Vĩnh Phúc: Nguồn nước sinh hoạt ở các xã ven sông Hồng bị ô nhiễm (10/2005)

 

Qua khảo sát và phân tích chất lượng nước sinh hoạt tại 15 xã nằm dọc ven sông Hồng thuộc địa bàn 3 huyện Vĩnh Tường, Yên Lạcvà Mê Linh (Vĩnh Phúc) cho thấy nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm nghiêm trọng do ảnh hưởng của mước bề mặt và hoạt động của dân sinh.

 Khu vực ven sông Hồng do thường xuyên bị ngập úng, nhất là vào mùa mưa lũ, nước từ sông tràn vào các ao, hồ, đầm, giếng, cuốn theo xác động vật, phân rác, làm cho nguồn nước mặt và cả nguồn nước ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng. Người dân vẫn phải sử dụng nước bề mặt tại các ao, hồ, sông, suối làm nước sinh hoạt hàng ngày.

Nhiều hộ dân đã tự đào giếng khai thác nguồn nước ngầm dùng cho sinh hoạt, nhưng nước bị vàng, đục, hàm lượng sắt vượt quá mức quy định hàng chục lần, không đảm bảo tiêu chuẩn nướcdùng cho uống và sinh hoạt. Theo số liệu của Trung tâm y tế các huyện, hiện nay ở các xã vùng ven đã có 9.430 người bị mắc bệnh đường ruột, 6.840 người mắc bệnh về mắt, 8.670 bị bệnh phụ khoa...

Khắc phục tình trạng trên, nhiều hộ dân đã  tự áp dụng các biện pháp xử lý nguồn nước phục vụ sinh hoạt  bằng các chất keo tụ để lắng đọng các tạp chất, chất rắn lơ lửng hoặc khử khuẩn bằng Cloramin B, bằng biện pháp hấp thụ bằng than hoạt tính, các bình lọc thô, lọc tinh... Tuy nhiên do không được hướng dẫn của các nhà chuyên môn nên hầu hết các việc lắp đặt các thiết bị đều không đúng quy trình, không đúng nguyên tắc, hệ thống xử lý nguồn nước không mang lại hiệu quả, nước không đảm bảo tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt. Các cơ quan chức năng cần sớm có biện pháp giúp người dân khắc phục tình trạng này.

Đào An

 

 

Thú rừng nơi di sản: Tiếng kêu vô vọng (10/2005)

Hồ Cường, một thợ săn khét tiếng với chiến lợi phẩm đầu sao laThịt rừng ven vùng di sản

Tôi bắt đầu chuyến “thưởng thức thịt rừng” bằng cách nghe lời ông bạn lên xã Sơn Trạch huyện Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Cái xã miền núi này là nơi vinh dự nhất Quảng Bình vì có di sản Phong Nha-Kẻ Bàng và cũng là “sào huyệt” của rất nhiều nhà hàng, quán sá có thịt thú rừng. Quán nào cũng cho in trang trọng danh thiếp để nhân viên tiện tiếp thị với khách.

Đội ngũ nhân viên tiếp thị ngay ngoài đường Hồ Chí Minh. Một nhân viên của quán Hương Giang tiếp thị với tôi rằng: “Xin ủng hộ quán em, quán em có đặc sản rừng tuyệt nhất”. Vừa nói, cô vừa rút đưa tấm danh thiếp in dòng chữ: “Đặc sản quê hương Rừng và biển”. Tấm danh thiếp có chữ rừng viết hoa rất ấn tượng.

Vào trung tâm xã, nhiều người của nhiều quán ra chèo kéo vào thưởng thức thịt rừng, tôi chọn quán gần đường lộ. Người đàn ông có nước da đen nhẻm tên P vừa xi-nhan cho những chiếc xe con, cả thảy 10 chiếc, vừa đon đả: “Thịt rừng lúc nào cũng sẵn sàng. Chú đi đông thì nên nhậu nhím, chồn hương, một ký 250.000 đồng, bảo đảm đầy đủ tiết lẫn mật, chữa được bệnh hen, bệnh “gút” thừa đạm và chữa luôn những ai có chứng… thần kinh”.

Lấy cớ khách đông, chúng tôi sang quán Hương Giang. Một chú chồn hương và một cô nhím nặng 6 kilôgam vừa được xẻ thịt và chế biến thành đủ các món “lăn, xào, hấp, nướng” thơm lừng cho khách đặt với giá gần 3 triệu đồng. Được biết, con chồn này mua từ các thợ săn là 800.000 đồng, nhím cũng có giá tương đương.

Thấy tôi tần ngần, bà chủ quán nhanh nhảu: “Thịt rừng có mang, nai, lợn, nhím, chồn… em dùng gì chị phục vụ liền”. Tôi gọi món lợn rừng nướng mọi. Chưa đầy chục phút, nhân viên đã phục vụ chúng tôi như ý.

Ra khỏi quán Hương Giang, chúng tôi đảo nhiều vòng ở trung tâm xã Sơn Trạch, ghé vào quán S.S, hỏi thịt rừng, chủ quán xới lởi: “Quán em giá cả phải chăng lắm, chỉ 200.000 đồng/cân thịt nhím, 250.000 đồng/cân thịt chồn có xương, heo rừng 150.000 đồng/ký không xương”. Tôi chê đắt, chủ T. phân bua: “Di sản mà anh, ở đây bữa ni họ bắt bớ dữ lắm không như trước đây mô…”.

“Xã hội hóa”... ăn thịt rừng

Ở Phong Nha, ngoài những quán bán thịt rừng chuyên nghiệp như trên, còn có vô số quán bán thịt rừng theo lối lẻ tẻ, khách hỏi thì gọi điện cho những quán lớn chuyển đến. Tình trạng này nhan nhản ở Đồng Hới và bùng ra ở cả các huyện Tuyên Hóa, Minh Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy... nghĩa là chuyện ăn nhậu thịt thú rừng gần như được “xã hội hóa” ở miền đất này.


Ở vùng Quy Đạt,
khỉ được xem là món ngon nhất



Leo Botrill, chuyên gia của FFI (Tổ chức bảo tồn động thực vật quốc tế) nhận xét: “Động vật hoang dã bị buôn bán, giết thịt thường xuyên bởi có sự hỗ trợ và làm ngơ của các cán bộ nhà nước. Một số trường hợp lãnh đạo thôn, lãnh đạo xã lại là lái buôn động vật hoang dã. Thậm chí ở thị trấn Quy Đạt, một công an lại là chủ một nhà hàng tiêu thụ động vật hoang dã”.

Theo lời của Leo Botrill, chúng tôi lên thị trấn Quy Đạt xác minh và chứng thực lời của Leo rất chính xác. Nhà hàng của vị công an này thuộc loại xịn nhất thị trấn rẻo cao này và đây cũng là địa điểm lui tới của các quan chức huyện Minh Hóa.

Ở Đồng Hới, mỗi lần nói đến đề tài thịt thú rừng, người ta thường nói đến ba quán đình đám ở Cộn là “nhất Quân (Quán Quân) nhì Hải (Hồng Hải) tam Huệ (Mỹ Huệ)”. Tổ hợp ba quán này mỗi ngày ngốn hàng tạ thịt rừng. Món ăn khách thường thích là tiết canh lợn rừng và vô số món tươi sống khác.

Mỗi quán có một chiêu dụ khách rất đặc biệt. Quán Quân dụ khách bằng cái tên quán như để khẳng định với khách chỉ có Quán Quân là số một về thịt rừng. Quán nằm sâu sau nhiều dãy nhà nhưng khách đông không đếm xuể, có hai lối vào quán, một lối dành cho khách còn lối kia dành cho những người chở thú rừng vào nhập.

Để khách tiện liên hệ, chủ quán còn cho ghi số điện thoại di động lên bảng hiệu dựng ngoài đường. Chúng tôi tiện tay móc máy gọi vào số 0912… (*), giọng chủ quán cất lên, tôi hỏi dò quán ông có thịt rừng những thức nào, ông chẳng cần e dè mà thông thoát nói: “Ưng gì có nấy, nhưng sẵn nhất là tiết canh lợn rừng, chồn, nhím, khỉ”.

Quán Mỹ Huệ nhốt thú rừng ngay cái hồ trước nhà để khách tiện chọn, còn quán Hồng Hải nhử khách bằng món thịt rừng hon. Khách đến những quán thú rừng này thường đi trên những chiếc xe con biển số xanh hẳn hoi và người dân vẫn thường “mát mẻ” rằng ngày nào quán thịt rừng không có xe biển số xanh mới là chuyện lạ!

Người ta đã thống kê con số chi tiết rằng mỗi ngày Đồng Hới tiêu thụ 1.825 con lợn rừng, tính ra thịt là 500 kilôgam, 6.025 con cầy và chồn bị đánh chén, 9.125 con ba ba hoang dã bị hóa kiếp và mỗi tuần có 16 con nai bị xẻo thịt, một năm có hơn 11 tấn khỉ bị ép khô ( 8 kilôgam khỉ tươi được 1kilôgam khỉ khô) được tiêu thụ trên địa bàn Quảng Bình.

Thú rừng bị săn bắt từ đâu?


Danh thiếp của quán Hương Giang
với dòng quảng cáo công khai
“Đặc sản quê hương Rừng và biển”



Qua tìm hiểu, chúng tôi đã tìm ra lộ trình săn bắt của các nhóm thợ săn như nhóm xã Xuân Trạch huyện Bố Trạch thường săn thú ở khu vực rừng Chà Nòi huyện Minh Hóa, nhóm thợ săn xã Phúc Trạch thường vào rừng U Bò huyện Quảng Ninh, và theo cả những tay thợ săn có súng ở xã Thượng Hóa đổ về Phù Nhiêu.

Những địa danh trên đều thuộc khu vực Phong Nha-Kẻ Bàng. Còn thợ săn ở nơi khác đến thường đi săn ở những khu rừng xa hơn như Khe Nét ở Tuyên Hóa, Khe Nước Trong ở Lệ Thủy, Quảng Ninh. Mỗi thợ săn có thu nhập trung bình một tháng từ 900.000 đồng đến 1.500.000 đồng. Có thể nói không ngoa rằng núi rừng Quảng Bình ngày đêm tràn dấu lâm tặc, nghĩa là rừng xanh đang vô vọng kêu cứu.

Một thợ săn tên Hồ Cường ở bản Rum xã Kim Thủy, Lệ Thủy từng biểu diễn tài nghệ săn thú rừng với tôi bằng cách lấy cái bẫy gà lôi mang lên rừng, hai ngày sau một con gà so Trung bộ (một loài chim đặc hữu) sập bẫy; ngày sau một con thỏ vằn lại chui vào.

Loài thú này cũng là loại thú đặc hữu quý hiếm. Hồ Cường còn khoe là đã thịt một con niệc nâu, một loài chim bị đe dọa toàn cầu. Ông còn nói bản thân ông cũng đã từng giết được mấy con sao la, loài mà cả thế giới sững sờ khi được phát hiện vào những năm cuối của thế kỷ XX! Như để chứng minh, Hồ Cường lôi cái đầu sao la cho tôi xem một cách hồn nhiên.

Thú rừng đang bị giết từng ngày ở Quảng Bình, tiếng kêu cứu của chúng vang lên thống thiết từ trong di sản, ngoài di sản và ven di sản Phong Nha-Kẻ Bàng…

Minh Phong - Báo Sài Gòn giải phóng

 

Nước thải bệnh viện ở TPHCM: Xử lý... như không (10/2005)

 

Có hệ thống xử lý nước thải nhưng không sử dụng được. Nước thải bệnh viện không chảy vào bể xử lý mà chảy ngược vào phòng bệnh. Không có hệ thống xử lý nước thải… toàn bộ nước thải xả bỏ trực tiếp vào cống thoát nước sinh hoạt của thành phố... Đó là thực tế đang xảy ra tại nhiều bệnh viện, trung tâm y tế của TPHCM.

Có như không

Bệnh viện Đa khoa An Bình, cách nay gần 10 năm đã được UBND TPHCM cho phép đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải với kinh phí lên đến gần 854 tỷ đồng. Tuy nhiên, 10 năm qua phần lớn khối lượng nước sử dụng cho công tác khám chữa bệnh trung bình mỗi ngày lên đến 500m3. đều được xả thẳng vào cống nước thải sinh hoạt của thành phố mà không qua bất kỳ công đoạn xử lý nào. Chỉ có một ít chất thải trong số 3.150 mẫu bệnh phẩm xét nghiệm được xử lý sơ lược bằng… nước tẩy trước khi đổ vào cống.

Hệ thống cống thải của Bệnh viện An Bình đã bị sụp lún hoàn toàn, nước thải tự len lỏi tìm đường thoát vào khu dân cư.
 

Theo chính những người làm việc tại đây, nguyên nhân của tình trạng này là bể chứa nước xử lý được đặt ở… thượng nguồn. Nước thải không thể chảy ngược vào bể xử lý mà xuôi vào các phòng khám, chữa bệnh của bệnh viện. Để “chữa cháy”, đơn vị thi công đã xây thêm một bể thu gom nước thải ở hạ nguồn. Từ bể này nước thải được máy bơm, bơm chuyển nước vào bể xử lý ở thượng nguồn. Thế nhưng, giải pháp ấy cũng chỉ phát huy tác dụng trong vài năm đầu.

Từ năm 2001, nhiều bộ phận của hệ thống xử lý nước thải như máy điều hòa nước, máy khí nén, máy trộn hóa chất… bắt đầu bị hư. Hệ thống cống dẫn nước thải của bệnh viện bị bể, sụp lún. Hiện những người làm việc tại đây không xác định được chu trình thoát nước thải của bệnh viện mà chỉ thấy mỗi khi trời mưa lớn hoặc gặp lúc thủy triều lên, nước thải chảy dồn về khu phòng bệnh phía đường Trần Hưng Đạo gây ngập nặng, nhiều lúc ngập cao tới giường bệnh nhân.

Bệnh viện Chợ Rẫy cũng đã có hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp lắng lọc nhưng nước thải vẫn chưa được xử lý đạt yêu cầu. Bà Lê Thị Anh Thư, Trưởng khoa Chống nhiễm khuẩn giải thích, trung bình mỗi ngày bệnh viện nhận khoảng 2.500 bệnh nhân ngoại trú và 2.000 bệnh nhân nội trú. Khối lượng nước thải trong công tác khám chữa bệnh lên tới 3.000m3/ngày đêm, nhưng bể lọc nước thải chỉ xử lý được khoảng 300m3/lần lọc.

Hơn nữa, phương pháp xử lý lắng lọc qua 3 tầng cũng chỉ lọc được vi trùng thương hàn, tả mà không xử lý được vi khuẩn hiếm khí... nên nước thải có qua xử lý nhưng chưa diệt được hết mối nguy hại. Bệnh viện Chợ Rẫy đã làm dự án xây dựng mới hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh hóa kết hợp, tổng kinh phí khoảng 20 tỷ đồng - 30 tỷ đồng nhưng 3 năm qua vẫn chưa được Bộ Y tế duyệt kinh phí.

Tình trạng không đồng bộ nêu trên không phải là cá biệt mà còn khá phổ biến tại các bệnh viện như Nguyễn Tri Phương, Ung bướu, Trung tâm Chấn thương chỉnh hình, Hoàn Mỹ, Tai mũi họng (Trần Quốc Thảo), Trung tâm y tế các quận huyện như 6, 8, Nhà Bè, Hóc Môn, Bình Chánh… Không chỉ có thế, nhiều bệnh viện, trung tâm ý tế còn… chưa hề có hệ thống xử lý nước thải. Tại Bệnh viện Truyền máu huyết học, toàn bộ 1.700m3 nước thải/tháng của bệnh nhân và khoảng 300 mẫu nước tiểu, máu, tủy, mô tế bào sau khi xét nghiệm chỉ được sát khuẩn sơ lược bằng nước tẩy rồi thải thẳng ra hệ thốn