|
TÔI
CÓ Ý KIẾN !
(11/2005)
Kiên
Giang: Lại nổi lên nạn khai thác hải sản có tính hủy
diệt môi trường hàng loạt (11/2005)
Khai
thác khoáng sản phải nộp phí môi trường (11/2005)
Xâm
hại vịnh Hạ Long (11/2005)
Hồ ở Hà Nội: Lá
phổi xanh đang bị gặm nhấm (11/2005)
Thanh Hoá: Các cơ sở sản xuất bột cá gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng (11/2005)
Hệ thống cửa hàng bán lẻ xăng dầu tại TPHCM:
Nhiều nguy cơ tiềm ẩn về môi trường (11/2005)
Quần thể bò hoang lớn
nhất Việt Nam đang bị đe dọa (11/2005)
|
Kiên
Giang: Lại nổi lên nạn khai thác hải sản có tính
hủy diệt môi trường hàng loạt (11/2005)
|
|
|
|
Tại
ngư trường biển Tây thuộc tỉnh Kiên Giang gần đây
lại nổi lên nạn khai thác hải sản có tính
hủy diệt hàng loạt. Người dân dùng xung điện,
chất nổ khai thác ở vùng biển Kiên Hải Nam Du, cào
bay, ánh sáng đèn cao áp cực mạnh ở ngư trường
Phú Quốc, mặc dù lệnh cấm đã được ban hành
từ lâu. Việc khai thác bừa bãi nói trên khiến cho
vùng biển là một trong những ngư trường tốt
nhất giới hạn hơn 100km ven bờ chạy dài từ An
Minh cho đến tận biên giới Hà Tiên, là chỗ dựa
sinh sản lớn của loài tôm cá có nguy cơ sẽ không
còn nữa. Hàng ngàn hộ ngư dân trên vùng biển Kiên
Hải, Hà Tiên, Phú Quốc chấp hành nghiêm chủ trương
của Nhà nước đang lao đao vì ngư trường ngày càng
cạn kiệt, khiến cho việc khai thác đánh bắt không
bù đắp nổi chi phí.
Theo
Chi cục Nguồn lợi Thủy sản (Sở Thủy sản Kiên
Giang), mặc dù việc kiểm tra ngăn chặn xử phạt
vẫn được tiến hành thường xuyên nhưng không
thể ngăn chặn ngay được, bởi hiện Kiên Giang còn
đến vài ngàn phương tiện chuyên khai thác đánh
bắt gần bờ, quá lạc hậu cũ kỹ chưa được
chuyển đổi. Nếu tính trung bình mỗi phương tiện
có 3 lao động, thì cũng có đến gần 10.000 lao động
loại này chưa kể mỗi lao động còn kéo theo
miếng cơm manh áo của cả gia đình họ. Do vậy
việc ngăn cấm phạt vạ vẫn cứ làm, việc họ lén
lút qua mắt chính quyền, cơ quan chức năng tiếp
tục khai thác trái phép bằng cào bờ xiệp mé,
bằng xung điện vẫn cứ diễn ra. Có những phương
tiện loại cào bờ xiệp mé đóng nhưng không được
đăng ký, không ít ngư dân xem như lao động lậu,
không chịu bất cứ khoản thuế nào đối với Nhà
nước, cũng không được hưởng bất cứ khoản
bảo hiểm nào theo qui định khi xảy ra tai nạn.
Nam
Thắng
|
|
Khai
thác khoáng sản phải nộp phí môi trường (11/2005)
|
|
(VietNamNet)
- Nghị định 137 do Thủ tướng CP Phan Văn Khải vừa
ký ban hành quy định rõ, các tổ chức, cá nhân khai
thác khoáng sản là đá, tràng thạch, sỏi, sét,
thạch cao, cát, đất, than, nước khoáng thiên nhiên và
sa khoáng titan (ilmenit) phải nộp phí bảo vệ môi trường.
|
|
|
Khai
thác cát cũng phải nộp phí môi trường.
|
Theo đó,
mức thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác
khoáng sản được quy định bằng số tiền tuyệt đối
tính trên một đơn vị sản phẩm khoáng sản tại nơi
khai thác.
Ví như
khai thác đá làm xi măng, khoáng chất công nghiệp,
vật liệu xây dựng phải nộp 2.000 đồng/m3; khai thác
sỏi là 4.000 đồng/m3; cát xây dựng (cát san lấp), cát
vàng (cát xây tô) 2.000 đồng/m3; đất để san lấp
1.000 đồng/m3; nước khoáng thiên nhiên 2.000 đồng/m3;
sa khoáng Titan 30.000 đồng/tấn...
Mức
phí môi trường cao nhất áp với khai thác đá ốp lát,
làm mỹ nghệ (granit, gabro, đá hoa... ), với 50.000 đồng/m3.
Đây là
khoản thu mà ngân sách địa phương được hưởng
100% để hỗ trợ cho công tác bảo vệ môi trường
tại địa phương nơi có hoạt động khai thác khoáng
sản, như phòng ngừa và hạn chế các tác động
xấu đối với môi trường. Đồng thời, khoản
tiền này được dùng để khắc phục suy thoái, ô
nhiễm do hoạt động khai thác khoáng sản gây ra cũng
như giữ gìn vệ sinh, bảo vệ và tái tạo cảnh quan
môi trường tại địa phương.
VietnamNet
|
|
Xâm
hại vịnh Hạ Long (11/2005)
“Môi
trường vịnh Hạ Long đang bị đe dọa, các hoạt động
khai thác than, lấn biển, nuôi trồng thủy hải
sản... ngày càng diễn ra với chiều hướng gia tăng..."
Ông Ngô Hùng, trưởng ban quản lý vịnh Hạ Long,
bức xúc khẳng định: "Cứ đà này nếu không
được ngăn chặn kịp thời, môi trường di sản
thế giới vịnh Hạ Long sẽ bị hủy hoại nghiêm
trọng”.
Từ trước đến nay, nói đến Quảng Ninh người ta
thường nghĩ đến điểm du lịch nổi tiếng là
vịnh Hạ Long, nhưng cũng ít ai biết được rằng bên
cạnh đó là một vùng mỏ than ngày đêm hoạt động
không ngưng nghỉ. Những con đường chính trong thành
phố như Cao Xanh, Hà Lầm... phải thường xuyên tưới
nước quanh năm vì bụi.
“Công nghiệp có khói” song hành với “công
nghiệp không khói”
Theo ông Ngô Hùng, tình trạng ô nhiễm môi trường
ở thành phố Hạ Long luôn được người dân và chính
quyền quan tâm nhưng khi đi vào giải quyết vấn đề
thì chỉ... giậm chân tại chỗ vì các công ty than ngày
càng tăng công suất khai thác mỏ. Hiện nay, hầu
hết nước thải mỏ và đất thải mang tính axít, độ
đục cao đều được đổ trực tiếp ra vịnh mà không
qua bất cứ qui trình xử lý nào.
Tại những mỏ than Hà Tu, cảng than Cầu Trắng, Cao Sơn...
tình trạng đổ thải vẫn còn xảy ra. Tại các
cảng than, tình trạng vận chuyển, bốc rót than trong
“vùng bảo vệ tuyệt đối” vẫn có. Nhiều tàu
trọng tải lớn đến nhận than không vào cảng được
phải dùng biện pháp chuyển tải nên lượng than rơi
vãi xuống vịnh Hạ Long khá nhiều.
Báo cáo hiện trạng môi trường vịnh Hạ Long năm
2004 cho biết: tại các khu vực ven bờ vịnh Hạ Long
đã có những biểu hiện ô nhiễm cục bộ do tăng lượng
chất rắn lơ lửng (TSS), giảm lượng ôxy hòa tan
(DO); nitrơrit và khuẩn gây bệnh ColiForm tại các khu
vực như Lán Bè, Vựng Đâng và cảng than ven bờ nam
Cầu Trắng... đã gây độ đục xấp xỉ hoặc vượt
tiêu chuẩn cho phép.
“Nước ở vịnh Hạ Long không còn trong xanh nữa”
- ông Nguyễn Thế Hưng, nhà ở phố Hải Trường, phường
Hồng Hải, đã thốt lên như vậy. Ông cho biết mấy
năm trước còn ra tắm ở vịnh nhưng từ mùa hè năm
ngoái đến nay ông không dám đặt chân xuống vịnh vì
sợ... bẩn.
Những mối đe dọa...

Theo thống kê của Ban quản lý vịnh Hạ Long, hiện
nay khu vực Hạ Long - Cẩm Phả có 21 dự án lấn
biển và 17 dự án đổ bùn thải. Những dự án này
nếu làm đúng qui trình và qui định sẽ giúp thành
phố Hạ Long giải quyết tốt vấn đề qui hoạch đô
thị.
Bên cạnh đó, các dự án lấn biển đều nhằm mục
đích đô thị hóa và xây dựng những điểm du
lịch, giải trí... góp tăng phần hấp dẫn đối
với du khách khi đến với vịnh Hạ Long. Thế nhưng
các dự án này hiện đang là mối đe dọa trực
tiếp nghiêm trọng đến vùng di sản.
Theo qui định, các dự án lấn biển phải tuân thủ
nghiêm ngặt những qui định như: đắp bờ vây,
chống bồi lắng bùn cát trước khi đổ thải; phải
có báo cáo đánh giá tác động môi trường, có phương
án kỹ thuật thi công; thực hiện quan trắc môi trường;
nạo vét bùn khi hoàn thành dự án. Dự án phải
thực hiện đúng hồ sơ thiết kế được duyệt, đúng
qui trình san lấp mặt bằng, hút và vận chuyển đất,
đá, bùn đúng nơi qui định.
Mới đây nhất, Công ty cổ phần quốc tế Hoàng Gia
làm dự án công viên đã “vô tư” lấn biển trong
khi chưa được UBND tỉnh phê duyệt qui hoạch. Đến
khi các cơ quan chức năng biết thì... việc đã rồi.
UBND tỉnh xử lý bằng cách giao Sở Tài chính cùng các
ngành liên quan nghiên cứu... đề xuất giá tiền sử
dụng đất với phần diện tích đất mà công ty đã
lấn chiếm (!).
Bên cạnh đó, hiện tượng phá, mất rừng ngập
mặn lại diễn ra với mức độ báo động. Theo
thống kê từ năm 1998 - 2003, diện tích rừng ngập
mặn ven bờ vịnh Hạ Long đã mất 866 héc-ta. Trong đó
diện tích rừng ngập mặn bị phá để nuôi trồng
thủy sản chiếm 732 héc-ta. Theo đánh giá của Sở
Khoa học-Công nghệ Quảng Ninh, rừng ngập mặn ven
bờ vịnh Hạ Long bị phá hủy đồng thời giảm
sản lượng hải sản và làm tăng nồng độ ô
nhiễm ven bờ, phát tán chất ô nhiễm ra vịnh.
Hiện nay, thành phố Hạ Long có 5 mỏ khai thác lộ
thiên, 3 mỏ khai thác hầm lò và 5 cảng. Tại thị xã
Cẩm Phả có 7 mỏ khai thác lộ thiên, 14 mỏ khai thác
hầm lò và 10 cảng. Bên cạnh đó, Hạ Long và Cẩm
Phả còn có 4 nhà máy tuyển than đang hoạt động.
Qui trình khai thác mỏ, khai thác lộ thiên là bốc xúc
đất đá và đổ thải ra các bãi thải của mỏ.
Bốn bãi thải ven bờ vịnh Hạ Long hiện nay lúc nào
cũng trong tình trạng quá tải như bãi thải nam Đèo
Nai rộng 230 héc-ta, bãi thải tuyển than Cửa Ông
rộng 125 héc-ta...Tổng lượng nước thải mỏ hằng
năm đổ ra vịnh là 30 triệu mét khối.
Và hậu quả việc san lấp mặt bằng, lấn biển vô
tổ chức đã làm diện tích rừng ngập mặn bị
mất, dòng chảy bị thu hẹp, tốc độ dòng chảy cao
cuốn theo đất đá gây lắng đọng trầm tích cho
vịnh Hạ Long.
Việc lắng đọng trầm tích này còn liên quan đến các
dự án hút bùn, đổ thải. 17 dự án đổ bùn thải
xuống vịnh Hạ Long có tổng khối lượng là
4.742.155 mét khối (đã thực hiện được 4.507.829 mét
khối). Tuy nhiên, chưa có cơ quan quản lý nào giám sát
được việc đổ thải tùy tiện này tại vịnh Hạ
Long. Có nhiều dự án tự tiện xả bùn vào vùng
bảo vệ tuyệt đối và vùng đệm di sản vịnh Hạ
Long.
Năm 2004 có 1.551.000 lượt khách đổ về Hạ Long. Do
lượng khách tăng nên các dịch vụ tàu thuyền cũng
tăng theo. Hầu hết các tàu không có thiết bị thu
gom và xử lý nước thải, toàn bộ được thải
trực tiếp ra vịnh. Nhiều tàu bán xăng dầu vẫn đi
lại tự do mua bán trên vịnh mà không gặp một trở
ngại nào. Chất thải và rò rỉ của những cây xăng
dầu di động này đều trực tiếp xả xuống vùng di
sản.
Do du khách thích đi thăm làng chài trên vịnh nên
những hộ dân trên bờ “dời đô” xuống vịnh để
kinh doanh nhà bè ăn uống hoặc nuôi trồng thủy hải
sản. Hiện nay có 126 bè neo đậu sai qui định và
tất cả các bè này đều không có giấy phép vệ
sinh môi trường, đều thải chất thải trực tiếp
xuống biển.
Bên cạnh đó, việc nuôi trồng hải sản bằng đầm,
đăng, rào lại rất phổ biến. Tại Thành phố Hạ
Long có 1.140 héc-ta, huyện Hoành Bồ 686 héc-ta, thị xã
Cẩm Phả có 500 héc-ta. Hiện tượng này đã làm thay
đổi kết cấu đất ven bờ vịnh, tăng nguy cơ xói
lở, bồi lắng, tăng độ đục của nước.
Tháng
7-2005, kiểm tra 21 dự án lấn biển thì chỉ có:
- 5 dự án thực hiện nạo vét bùn
- 1 dự án báo cáo định kỳ về công tác môi trường
- 2 dự án thực hiện quan trắc môi trường
- 11 dự án chưa có báo cáo đánh giá tác động môi
trường
- 16 dự án có thiết kế kỹ thuật thi công
- 12 dự án không thực hiện việc đắp bờ, vây cát
chống bồi lắng
(VietnamNet)
|
|
Quần thể bò hoang
lớn nhất Việt Nam đang bị đe dọa (11/2005)
Các
nhà nghiên cứu cho biết quần thể bò hoang tại Khu
bảo tồn Ea Sô (tỉnh Đắc Lắc) - khu hệ động
vật móng guốc lớn nhất Việt Nam - đang đứng trước
nguy cơ bị đe dọa nghiêm trọng do sinh cảnh bị thu
hẹp và nạn săn bắn bất hợp pháp.
Thời gian gần đây, mặc dù cán bộ kiểm lâm tại
khu vực này đã tích cực ngăn chặn người dân vào
rừng săn bắn nhưng do lực lượng mỏng nên không
thể ngăn chặn triệt để việc săn bắn động vật
trái phép. Năm 2004 tại khu vực này có 2 con bò tót
bị bắn chết. Từ đầu năm đến nay cũng đã có
một con bò tót bị bắn chết và 2 con bò hoang chết
không rõ nguyên nhân.
Bên cạnh đó, trong khu bảo tồn đang có 2 trại nuôi
bò có thể gây tác động bất lợi đối với bò
hoang vì theo các chuyên gia, bò nhà có thể truyền
bệnh sang bò hoang.
Tiến sĩ Phạm Trọng Ảnh, Viện Sinh thái và Tài nguyên
Sinh vật và Thạc Sĩ Nguyễn Mạnh Hà, Trung tâm nghiên
cứu và Tài nguyên Môi trường trong quá trình nghiên
cứu mới đây đã bắt gặp 12 đàn bò hoang tại khu
vực khu bảo tồn Ea Sô, trong đó có 8 đàn bò tót và
4 đàn bò rừng./.
|
|
Theo
TTXVN
|
|
Hồ ở Hà Nội: Lá
phổi xanh đang bị gặm nhấm (11/2005)
Trong vòng mười
năm trở lại đây, đã có hơn 20 hồ bị "mất tích"
trên bản đồ, tương đương với gần 200 héc-ta
diện tích mặt nước bị bốc hơi.
Phải mất khá nhiều lần hỏi thăm, sau cùng phải
nhờ một người dẫn đường, hết quẹo trái, quẹo
phải theo những con ngách chật hẹp đầy ổ gà, chúng
tôi mới tìm được đường vào hồ Văn Chương
(thuộc phường Văn Chương, quận Đống Đa, Hà
Nội).
Thú thực, nếu không được sự dẫn đường của người
trong ngõ thì tôi chắc chắn là mình đã đi nhầm
đường bởi cái hiện lên trước mắt tôi không
thể gọi là hồ được. Đó gần như là một khu đất
đọng nước thải um tùm cỏ dại. Xung quanh bãi hoang
đó, nhà cao tầng có, thấp tầng có, hiện đại có,
tạm bợ có đua nhau mọc lên trong tư thế lúc nào cũng
sẵn sàng tiến mãi ra chính giữa hồ. Và từ những
ngôi nhà, rác rưởi, nước thải tuồn xuống tạo nên
một mùi hôi thối rất đặc trưng của những khu bãi
rác.
Chị Hà, một người dân ở đây bức xúc: "Ngày
xưa, hàng nghìn thanh niên xung phong của Hà Nội bỏ hàng
trăm ngày công mới đào được hồ Văn Chương. Nhớ
ngày ấy nước cứ trong văn vắt, trẻ con muốn nhìn
từ bên này hồ sang bên kia hồ phải dùng ống nhòm.
Vậy mà bây giờ thì nhà bên kia hồ gần như trở thành
hàng xóm chung giậu với nhà bên này. Nghĩ mà xót,
bao nhiêu công sức đổ xuống nay trở thành công
cốc".
Cùng chịu chung số phận nhưng hồ Huy Văn có vẻ may
mắn hơn vì vẫn còn một khoảng mặt nước, mặc dù
cái khoảng toen hoẻn chứa thứ nước đặc quánh đấy
khiến cho người ta sợ hãi hơn là thích thú. Cũng có
thể do hồ Huy Văn nằm cạnh UBND phường Văn Chương
nên mới giữ được như thế chăng?
Bà cụ Nhung năm nay đã gần 80 tuổi, bán quán nước
bên hồ kể, ban đầu những nhà ở bên hồ đổ đất
xuống với hy vọng có thêm một khoảng đất để nuôi
lợn. Sau dần, khoảng đất đó phình to quá, "ông"
phường "giật mình" bèn biến nó thành một
cái chợ dân sinh cho cả làng. Thế là không chỉ rác
sinh hoạt mà tất cả rác rưởi của chợ cũng được
tuồn xuống hồ. Chuyện đấy xảy ra từ 10 năm nay.
Đến giờ, diện tích khoảng chợ ở đây đã lên đến
300 mét vuông. Đấy là chưa kể xung quanh hồ có hơn
100 hộ gia đình sinh sống. 100% những hộ này đã và
đang tiếp tục công cuộc "đẻ đất" cho cá
nhân mình. Có hộ diện tích lấn chiếm đã lên đến
hàng trăm mét vuông. "Rác của cư dân khu này
một ngày cần hơn một xe chuyên dụng để chở đến
nơi tập kết, nhưng rác trong hồ thì cả chục xe
chở chẳng hết". Đây là lời tâm sự của một
công nhân Công ty Môi trường đô thị chuyên thu gom rác
khu vực ven hồ Huy Văn.
Trao đổi với chúng tôi, ông Ngô Tiến Ngọc, Phó
Chủ tịch UBND phường Văn Chương cho biết: Từ năm
2004, sau khi báo chí "kêu" nhiều quá, thành
phố có quyết định kè lại hồ Huy Văn. Nhưng
quyết định đã có từ lâu mà không ai triển khai
cả. Bây giờ, ngay việc giữ nguyên trạng hồ cũng
khó chứ chưa nói đến chuyện sẽ "đòi"
lại phần đất bị lấn chiếm.
Hồ Hào Nam đã được "kè" bằng những móng
nhà cao tầng vững chãi, phần còn lại được chia thành
những ruộng rau muống. Nhưng như thế vẫn may mắn vì
còn được gọi là "hồ" vì hiện tại,
nhiều hồ có đến mà hỏi người dân thì chỉ
những người đã từng ở ít nhất là 20 năm tại Hà
Nội mới có thể nhớ ra. Hồ Đấu nằm gần Khách
sạn Kim Liên (Đống Đa) là ví dụ. Đến bây giờ
hỏi lại chẳng có mấy ai biết rằng nơi toà cao
ốc tọa lạc đoạn đầu phố Phạm Ngọc Thạch trước
đây đã từng có một cái hồ.
Theo thống kê từ cơ quan chức năng, vào năm 1994,
nội thành Hà Nội còn có trên 40 hồ với tổng
diện tích hơn 850 héc-ta. Tuy nhiên, cho tới thời điểm
hiện tại, nội thành chỉ còn 19 hồ, chiếm tổng
diện tích khoảng 547 héc-ta. Như vậy trong vòng chục
năm đã có trên 20 hồ bị "mất tích" trên
bản đồ, tương đương với gần 200 héc-ta diện tích
mặt nước bị bốc hơi. Trong khi hồ thì ngày càng
giảm mà mật độ dân số ngày càng tăng, nhiều nơi
ở Hà Nội đang nghẹt thở vì bụi bặm và ô
nhiễm. Xin hãy cứu lấy hồ khi còn chưa muộn!
|
|
Nhóm
PV KTXH - Báo Công an nhân dân
|
|
Thanh
Hoá: Các cơ sở sản xuất bột cá gây ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng (11/2005)
|
|
|
|
Theo Sở Tài nguyên môi trường Thanh Hoá, 3 cơ
sở sản xuất bột cá làm thức ăn gia súc thuộc Công
ty đầu tư phát triển thuỷ sản Tư Hùng, Công ty
cổ phần nông sản Thanh Hoá và HTX Đại Hải tại
cụm cảng cá Lạch Bạng, huyện Tĩnh Gia, Thanh Hoá
đang gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, ảnh hưởng
đến sức khoẻ của hơn 20.000 người dân trong khu
vực. Trong đó, riêng ô nhiễm khí thải
từ các lò hơi, lò sấy, lò nghiền và các bãi
cá chết dự trữ làm nguyên liệu chế biến vượt
mức cho phép trên dưới 15 lần đến 44 lần...
Ông Trần Hùng Vương, Chủ tịch UBND xã Hải
Thanh, địa phương liền kề cụm cảng cá Lạch
Bạng cho biết: từ đầu năm 2003 đến nay hơn 16.200 người dân
trong xã phải khốn khổ vì mùi hôi thối nồng
nặc, phải sử dụng nước nhiễm bẩn, rất nhiều
người đã bị đau mắt hột, viêm phổi, bệnh đường
ruột. Mặc dù đã có nhiều văn bản và hàng trăm
đơn thư phản ánh, kiến nghị của chính quyền và
bà con nhân dân các xã trong vùng song sự việc đến
nay vẫn chưa được xử lý, giải quyết. Ông Vương
cho biết thêm, từ năm 2004 đến nay, các ngành
chức năng đã 6 lần đến cụm cảng cá Lạch
Bạng kiểm tra, đánh giá tác động môi trường,
lập biên bản đề nghị các cơ sở chế biến
bột cá triển khai các biện pháp xử lý bảo vệ môi
trường, song sự việc đâu vẫn hoàn đó khiến cho
người dân trong vùng rất bất bình. Gần đây
nhất, ngày 29/8 gần 400 người dân
quá bức xúc, đã kéo đến 3 nhà máy chế
biến bột cá yêu cầu lãnh đạo phải có biện pháp
xử lý chống ô nhiễm nhưng đã bị từ chối không
tiếp, khiến một số người quá khích đã ném đất
đá, đập phá tường rào...
Cụm cảng cá Lạch Bạng được xây dựng và
đưa vào hoạt động từ năm 2002. Đã có 9 doanh
nghiệp được UBND tỉnh Thanh Hoá cấp phép đầu tư
hoạt động trong các lĩnh vực thu mua chế biến
hải sản, sản xuất bột cá làm thức ăn gia súc,
dịch vụ cung ứng xăng dầu, đá lạnh...đây là
những cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường
rất lớn. Từ khi đi vào hoạt động , các doanh
nghiệp chưa có
báo cáo về tác động môi trường và bản đăng ký
đạt tiêu chuẩn môi trường. Riêng 3 cơ sở sản
xuất bột cá mỗi
cơ sở công suất chế biến 30 tấn/ngày gây ô
nhiễm môi trường nặng nhất. Điều khiến nhiều
người bất bình là các cơ sở sản xuất bột cá
ở cụm cảng Lạch Bạng gây ô nhiễm môi trường
kéo dài nhiều năm, đã nhiều lần các cơ quan có
thẩm quyền kiểm tra, lập biên bản song sự việc
vẫn không được xử lý dứt điểm.
Duy Hoàng (Theo www.monre.gov.vn)
|
|
Hệ thống cửa hàng
bán lẻ xăng dầu tại TPHCM: Nhiều nguy cơ tiềm ẩn
về môi trường (11/2005)
|
|
Những
con số... giật mình
|
|
|
Cây
xăng 102 Trần Phú (quận 5) nằm sát đường và
Nhà máy Thuốc lá.
|
Khoảng 15%
cửa hàng xăng dầu (CHXD) của thành phố “vô tư”
thải hơi xăng dầu vào không khí, làm ô nhiễm môi
trường và tạo ra nguy cơ sự cố cháy nổ do không
khí có đẫm hơi xăng. Đó là con số vừa được ngành
chức năng đưa ra trong nhiều cuộc họp về thực
trạng mạng lưới bán lẻ xăng, dầu của thành
phố.
Theo các cơ
quan này, 15% các cửa hàng nêu trên vẫn sử dụng
kỹ thuật bơm, hút xăng hở, đã lạc hậu thay vì
phải dùng ống hút kín để sang, chiết xăng nên hơi
xăng, dầu có khả năng thoát ra ngoài, tạo ra nguy
hiểm như đã nêu.
Đã vậy,
nhiều CHXD trong số này còn nằm quá gần nhà dân
hoặc các khu vực sinh hoạt công cộng khác nên nếu
có xảy ra sự cố thì khả năng gây hỏa hoạn, thương
vong cho người dân là rất lớn.
Mặc dù khu vực TPHCM ít có mưa dông kèm sấm, chớp
nhưng nguy cơ cháy nổ CHXD do sét đánh cũng không
phải được miễn trừ hoàn toàn. Thế nhưng, trong
454 CHXD xây dựng sau 1975 cũng mới có 70% trang bị
cột thu lôi (con số 569 CHXD là tính cả số CHXD xây
dựng từ trước 1975 - nhiều CHXD xây dựng trước
1975 đã cũ kỹ, không đảm bảo an toàn).
Bên cạnh đó,
có lẽ lâu nay ít xảy ra cháy nổ do điện nên rất
nhiều CHXD đã lơ là, thiếu quan tâm phòng bị nguy cơ
này đúng mức. Trong số 454 CHXD được xây dựng sau
năm 1975 có tới 53% cửa hàng không có thiết bị phòng
điện nổ và 54% không có hệ thống tiếp địa
chống tĩnh điện! Đây quả là thực tế đáng lo,
nếu không sớm khắc phục thì hậu họa là khó lường.
Tiêu chuẩn đảm bảo vệ sinh môi trường cũng còn
bị nhiều CHXD xem nhẹ. Trong 569 CHXD vẫn còn 22 CHXD
thường xuyên nằm trong tình trạng ngập nước
nhiều và vừa. Riêng các CHXD xây dựng sau 1975 vẫn còn
20% chưa có hệ thống thoát nước mưa, đặc biệt hơn
57% CHXD chưa có hệ thống xử lý nước nhiễm bẩn xăng
dầu và có tới 86% CHXD không bố trí hố gạn dầu.
Một cán bộ của ngành xăng dầu thừa nhận, việc nước
nhiễm bẩn xăng dầu không được xử lý trước khi
xả thải ra hệ thống thoát nước của thành phố đã
làm gia tăng mức độ ô nhiễm ở các con sông, kênh
của TP (các cống thoát nước của thành phố đều
đổ nước ra hệ thống sông, kênh, rạch).
Sẽ có sự thay đổi lớn
Để khắc
phục những bất cập nêu trên, nhiều cơ quan chức năng
cho rằng, phải giải tỏa ngay một số CHXD thiếu các
điều kiện tối thiểu về an toàn. Theo đó, trong hai
năm 2006-2007 sẽ giải tỏa trước 71 CHXD vi phạm
nặng các lỗi về pháp lý và xây dựng. Thời kỳ
2007-2010 tiếp tục giải tỏa thêm 70 CHXD. Số cửa hàng
được phép tồn tại, phải bổ sung một số điều
kiện về an toàn để đáp ứng an toàn PCCC và môi trường,
an toàn giao thông.
Tiến trình
giải tỏa sẽ được thực hiện từng bước để
vừa không tạo ra khoảng trống trong dịch vụ thương
mại xăng dầu của thành phố vừa để cho các doanh
nghiệp có đủ thời gian chuẩn bị tái hoạt động.
Và để “bù” vào số CHXD bị giải tỏa, Sở Thương
mại thành phố cho rằng, giai đoạn 2005-2010 thành
phố cần xây mới thêm 153 CHXD, trong đó nội thành
thêm 77 CHXD. Như vậy, đến năm 2010, tuy hơn 100 CHXD
phải giải tỏa nhưng về cơ bản sẽ không ảnh hưởng
đến việc cung ứng xăng dầu cho nhân dân.
Đó là việc của những năm sau, trong thời gian trước
mắt, theo Sở Tài nguyên-Môi trường thành phố, các
CHXD phải lắp đặt hệ thống thu hồi hơi xăng dầu
phát sinh trong lúc nhập và xuất hàng. Ngoài ra, một
trong những vấn đề rất quan trọng đối với các
CHXD là kiểm soát, chống sự rò rỉ xăng dầu từ
bồn chứa ngầm ra môi trường đất.
Hiện nay,
hầu hết các CHXD ở thành phố đều đã được xây
dựng từ nhiều năm trước, phần lớn bồn chứa xăng
dầu của các cửa hàng này đã bị ăn mòn từ bên
ngoài do tiếp xúc với đất và bị ăn mòn bề mặt
bên trong do cặn bẩn đóng lại. Nếu những bồn này
được tiếp tục sử dụng thì sẽ gây ô nhiễm môi
trường và gây ra nguy cơ cháy nổ rất cao.
Do vậy, các
CHXD được phép tồn tại lâu dài và ngay cả khi
phải giải tỏa trong một vài năm tới cũng phải có
kế hoạch ngưng chứa, súc rửa bồn chứa xăng thường
xuyên để kiểm tra và sửa chữa những chỗ bị
hỏng, hoặc thay bể mới nếu bể đã xuống cấp
trầm trọng. Các CHXD phải tính đến giải pháp đặt
bồn chứa trong hầm bê tông cốt thép như một số nước
trên thế giới để dễ kiểm soát sự rò rỉ và khi
duy tu, bảo dưỡng bể dễ dàng hơn.
Về phía doanh nghiệp kinh doanh vận tải xăng, dầu khó
khăn chủ yếu rơi vào các doanh nghiệp tư nhân,
hoạt động với quy mô nhỏ. Phần lớn họ thiếu
tiền để đầu tư, cải tạo CHXD theo đúng quy định.
Và do đó, tuy nhất trí với chủ trương cải tạo
lại hệ thống kinh doanh bán lẻ xăng dầu của thành
phố nhưng các doanh nghiệp này mong muốn nhận được
sự hỗ trợ của nhà nước với các hướng cụ
thể như cho vay với lãi suất ưu đãi, miễn thuế
sử dụng đất.
Châu Trúc (Theo SGGP)
|
Các
tin khác:
Trưng cầu ý kiến về Lôgô
của Hội (10/2005)
Dùng
chất nổ đánh cá bị phạt đến 10 triệu đồng
(10/2005)
Sơn La: Cam go cuộc chiến
với "lâm tặc" (10/2005)
Vĩnh Phúc: Nguồn nước
sinh hoạt ở các xã ven sông Hồng bị ô nhiễm (10/2005)
Thú rừng nơi di sản: Tiếng kêu
vô vọng (10/2005)
Nước
thải bệnh viện ở TPHCM: Xử lý... như không (10/2005)
Hải Dương: Hầu hết các
nhà máy xi măng lò đứng không đảm bảo tiêu chuẩn môi
trường (10/2005)
Hà Nội: "Thừa rác và bụi,
thiếu cây xanh !" (10/2005)
|
Dùng
chất nổ đánh cá bị phạt đến 10 triệu đồng
(10/2005)
|
|
|
|
(VietNamNet) - Quy định về Xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực thuỷ sản nêu rõ, ngư dân sử
dụng chất nổ để khai thác thuỷ sản hoặc tàng
trữ trái phép chất nổ, kíp nổ, dây cháy chậm trên
tàu cá sẽ bị cơ quan chức năng phạt từ 5 đến 10
triệu đồng.
|
|
|
Các
rạn san hô có nguy cơ mất dần trước nạn đánh
bắt bằng chất nổ.
|
Nghị
định 128 của Chính phủ cũng đưa ra quy định về
mức phạt đối với hành vi tàng trữ, sử dụng kích
điện hoặc sử dụng trực tiếp điện từ máy phát
điện trên tàu cá để khai thác thuỷ sản, như
phạt 1-2 triệu đồng với tàu cá dưới 30 sức
ngựa; 2-4 triệu với tàu cá 30 đến dưới 90 sức
ngựa và 4-6 triệu đồng với tàu cá 90 sức ngựa
trở lên.
Bên cạnh đó, ngư dân sẽ bị phạt 1-3 triệu đồng
nếu xả nước thải, dầu mỡ, hoá chất, các loài
động vật, thực vật có độc tố hoặc các chất
thải có hại khác vào môi trường sống, sinh sản,
sinh trưởng tự nhiên của các loài thuỷ sản hoặc
vào môi trường vùng nuôi trồng thuỷ sản, vượt tiêu
chuẩn cho phép dưới hai lần. Mức phạt sẽ nâng lên
5-10 triệu đồng nếu xả chất thải độc hại vượt
tiêu chuẩn cho phép từ hai lần trở lên. Đặc
biệt, số tiền phạt có thể là 15 đến 30 triệu đồng
khi xả các chất đặc biệt nguy hại vào môi trường
sống của các loài thuỷ sản.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng quy định sẽ phạt
đến 5 triệu đồng nếu ngư dân khai thác, huỷ
hoại trái phép các rạn đá ngầm, rạn san hô, các bãi
thực vật ngầm, rừng ngập mặn và hệ sinh cảnh khác,
trừ hành vi neo đậu tàu cá trong trường hợp bất
khả kháng; tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép
san hô.
Khai thác
thủy sản có kích thước quá nhỏ, đe dọa đến
nguồn lợi tự nhiên cũng bị xử phạt tùy theo kích
cỡ và khối lượng khai thác.
Tại nước
ta, hiện tượng dùng mìn đánh bắt cá quanh dải san
hô, khai thác san hô làm vật lưu niệm, nguyên liệu xây
dựng, bắt cá tôm có giá trị kinh tế sống ẩn vào
san hô vẫn xảy ra suốt dọc ven biển miền Trung,
từ Quảng Nam Đà Nẵng tới Ninh Thuận và Bắc Bộ.
Tệ hơn, nhiều loại cá có nguy cơ bị tiệt chủng
do việc khai thác quá độ, nhất là các tàu đánh cá
bằng lưới vét. Những việc làm này đã phá hoại
những rạn san hô, sự đa dạng sinh học dưới đáy
biển và điều đặc biệt nguy hiểm là làm cạn
kiệt nguồn lợi tự nhiên mà biển đem lại.
(Theo
VietNamNet)
|
|
Sơn La: Cam go cuộc
chiến với "lâm tặc" (10/2005)
|
|
|
|
Vùng Tây
Bắc vốn nổi tiếng với những cánh rừng bạt ngàn
gỗ pơ mu, đinh, nghiến, táu và trong những cánh
rừng đó còn tồn tại nhiều loại thú quý hiếm
như hổ, voi, bò rừng, các loài linh trưởng, loài
chim… Tuy nhiên đây cũng là một địa bàn mầu
mỡ để bọn buôn bán lâm sản hoạt động.
Trực tiếp đối mặt với “lâm tặc” là
những những nhân viên kiểm lâm thuộc Hạt phúc
kiểm lâm K 45 đặt tại xã Lóng Luông, huyện Mộc
Châu (Sơn La), một hạt phúc kiểm lâm duy nhất có
mặt trên trục quốc lộ
số 6.
Bắt
“ lâm tặc“, lắm chuyện bi hài
Trong cơn mưa
rừng ào ạt, thỉnh thoảng vẫn có một vài chiếc
xe tải lại phóng vèo qua như để chạy trốn cơn mưa
dữ dội này. Anh Trương Ngọc Tân, hạt trưởng
Hạt phúc kiểm lâm K45 vẫn cùng đồng đội căng
mắt nhìn ra màn mưa. Anh giãi bày: "Hiện nay,
quốc lộ 6 đã tốt hơn trước, xe chạy qua đây
nhiều, hầu hết là xe tốt nên phải luôn cảnh giác,
vì đã có trường hợp anh em phát hiện trong các thùng
hàng là gỗ, măng, thậm chí có cả thú rừng được
chủ xe chở lậu". Theo như anh Tân, hiện tại
không còn cảnh buôn bán vận chuyển lâm sản với
khối lượng lớn, mà chủ yếu là nhỏ lẻ, từ đầu
năm tới nay mới chỉ phát hiện và xử lý 29 vụ,
các mặt hàng chủ yếu là gỗ và măng, lâm sản khác.
Nhưng không vì thế mà bớt phức tạp vì các mặt
hàng hầu hết là có giá trị như gấu, gỗ nhóm 1.
Hơn nữa “lâm tặc” thường có thủ đoạn cất
giấu rất tinh vi, ngang ngược, trắng trợn, lái xe
sau khi bị chặn xe thường mang lơ via, cà lê, dao
kiếm ra doạ nhân viên kiểm lâm là chuyện thường
tình ở đây. Có trường hợp như xe mang biển số
89K- 3501 do lái xe Nguyễn Ngọc Kiên điều khiển,
sau khi khám xét và phát hiện trên xe chở 500 kg sa
nhân, Kiên đã ký vào biên bản nhận lỗi. Mọi
chuyện tưởng chừng xong, nhưng Kiên lợi dụng lúc
các chiến sĩ hạt kiểm lâm K45 truy đuổi xe khác nên
đã vận chuyển hết số hàng này vào gửi nhà dân
gần đấy, sau đó quay lại chửi bới, đòi viết
đơn kiện tụng. Tuy nhiên nhờ người dân báo
lại, các anh đã phát hiện và thu lại hết số hàng
này, phạt 20 triệu đồng.
Vào tháng
3/2005, khi các anh kiểm tra xe chở ngô của
Nguyễn Văn Hùng mang biển 26K - 2448 phát hiện
xe chở gỗ nghiến, các tấm gỗ này đều
được đóng thêm gỗ giả làm thang để leo lên xe
bốc ngô, tuy nhiên có tới gần một chục tấm như
vậy với khối lượng hơn 1 tấc. Anh Tân còn cho chúng
tôi biết thêm rất nhiều thủ đoạn của bọn buôn
bán lâm tặc, nếu như không tận mắt nhìn thấy,
không tận tai nghe kể thì quả là không tin được
về trường
hợp lái
xe khi bị
dừng xe đều lớn tiếng mạnh mồm bảo trên xe
không có
gì. Nếu khám xét không thấy thì phải bồi
thường thiệt hại cho hàng hoá, có trường hợp lái
xe đã " hăng hái" cùng bốc dỡ hàng xuống
cho kiểm lâm kiểm tra nhanh để xe "chúng
em" còn đi, trên xe không có gì đâu". Đến
khi mái tôn cuối cùng của thùng xe hai đáy được
bóc ra thì chủ hàng mới đành ngậm ngùi ký vào biên
bản vi phạm. Anh Tân còn cho biết, một số trường
hợp vận chuyển thú rừng trên bằng xe du lịch 4
chỗ ngồi, đưa về xuôi tiêu thụ.
Vì
sao lâm sản vẫn bị ra khỏi rừng
Để trả
lời cho câu hỏi này, anh Tân buồn bã giải
thích: hiện nay bọn“lâm tặc“ thường dùng
các loại xe tải to như loại xe "4 chân", xe
ôtô con để vận chuyển, trong khi đó tại hạt phúc
kiểm lâm này chỉ có một chiếc xe Uoat, nên không
"đuổi" được. Bên cạnh đó chế tài
của Nhà nước không đồng bộ vì chỉ khi nghi
ngờ xe có chứa lâm sản thì kiểm lâm mới được
dừng, lợi dụng điều này, các lái xe có hàng cũng
không dừng lại khi kiểm lâm chặn, vì vậy bắt
buộc phải đuổi thì mới chặn được xe. Những
cuộc rượt đuổi kéo dài hàng chục km mới bắt
được là chuyện thường, có khi còn không đuổi
được vì những xe tải to không những không dừng
lại mà còn liên tục đánh võng, lạng lách làm cho
xe của các chiến sĩ kiểm lâm không thể nào chen lên
được, có lúc còn bị tai nạn, nếu như các xe này
chạy qua khỏi địa phận của tỉnh Sơn La là hạt
phúc kiểm lâm K45 không còn quyền lực nữa, đành
phải nhờ cậy kiểm lâm tỉnh bạn. Anh Nguyễn
Hữu Thuyên, một chiến sĩ lái xe của hạt chỉ
về chiếc xe 26B - 1234 của trạm: "Chiếc xe này
đã từng bị lật vào hồi đầu năm nay trong khi
truy đuổi lâm tặc, may sao trần của xe bằng tôn nên
4 anh em ngồi trong không chết, phải đạp kính xe
chui ra". Anh Thuyên còn cho biết, có những lúc
biết rõ ràng trên xe có lâm sản, thậm chí là
gấu con, nhưng không tài nào đuổi được do “lâm
tặc” thường chở loại mặt hàng này bằng xe ôtô
con chất lượng tốt, chạy nhanh. Bên cạnh đó, để
phát hiện ra xe nào chở lâm sản, các anh phải
phụ thuộc hoàn toàn vào nguồn tin từ cơ sở báo
về, bên cạnh đó hệ thống liên lạc gặp lúc
thời tiết kém thì không liên lạc được, vì vậy
nguồn tin từ cơ sở cũng không gọi về được.
Nhất là khi thời tiết phủ sương mù dày đặc thì
bó tay nhìn các xe chạy qua.
Hạt phúc
kiểm lâm K45 đã rất chú trọng vào công tác đầu
tư cho các nguồn tin từ cơ sở, các anh đã lập
được một mạng thông tin cơ sở rộng khắp từ
Lai Châu, Điện Biên cho tới Sơn La. Bên cạnh đó,
Hạt tăng cường công
tác tuần tra, kiểm soát trên đường, tập
huấn, bồi dưỡng kinh nghiệm cho các chiến sĩ
kiểm lâm của trạm nhằm hạn chế thấp nhất lượng
lâm sản bị đưa ra khỏi rừng.
Hoàng Thành
|
|
Vĩnh Phúc:
Nguồn nước sinh hoạt ở các xã ven sông Hồng bị
ô nhiễm (10/2005)
|
|
|
|
Qua khảo sát
và phân tích chất lượng nước sinh hoạt tại 15 xã
nằm dọc ven sông Hồng thuộc địa bàn 3 huyện Vĩnh
Tường, Yên Lạcvà Mê Linh (Vĩnh Phúc) cho thấy
nguồn nước ngầm đã bị ô nhiễm nghiêm trọng do
ảnh hưởng của mước bề mặt và hoạt động
của dân sinh.
Khu
vực ven sông Hồng do thường xuyên bị ngập úng,
nhất là vào mùa mưa lũ, nước từ sông tràn vào các
ao, hồ, đầm, giếng, cuốn theo xác động vật, phân
rác, làm cho nguồn nước mặt và cả nguồn nước
ngầm bị ô nhiễm nghiêm trọng. Người dân vẫn
phải sử dụng nước bề mặt tại các ao, hồ, sông,
suối làm nước sinh hoạt hàng ngày.
Nhiều hộ dân
đã tự đào giếng khai thác nguồn nước ngầm dùng
cho sinh hoạt, nhưng nước bị vàng, đục, hàm lượng
sắt vượt quá mức quy định hàng chục lần, không
đảm bảo tiêu chuẩn nướcdùng cho uống và sinh
hoạt. Theo số liệu của Trung tâm y tế các huyện,
hiện nay ở các xã vùng ven đã có 9.430 người bị
mắc bệnh đường ruột, 6.840 người mắc bệnh
về mắt, 8.670 bị bệnh phụ khoa...
Khắc phục tình
trạng trên, nhiều hộ dân đã
tự áp dụng các biện pháp xử lý nguồn nước
phục vụ sinh hoạt bằng
các chất keo tụ để lắng đọng các tạp chất,
chất rắn lơ lửng hoặc khử khuẩn bằng Cloramin
B, bằng biện pháp hấp thụ bằng than hoạt tính, các
bình lọc thô, lọc tinh... Tuy nhiên do không được
hướng dẫn của các nhà chuyên môn nên hầu hết các
việc lắp đặt các thiết bị đều không đúng quy
trình, không đúng nguyên tắc, hệ thống xử lý
nguồn nước không mang lại hiệu quả, nước không
đảm bảo tiêu chuẩn dùng cho sinh hoạt. Các cơ
quan chức năng cần sớm có biện pháp giúp người
dân khắc phục tình trạng này.
Đào
An
|
|
Thú rừng nơi di sản:
Tiếng kêu vô vọng (10/2005)
Thịt
rừng ven vùng di sản
Tôi bắt đầu chuyến “thưởng thức thịt rừng”
bằng cách nghe lời ông bạn lên xã Sơn Trạch huyện
Bố Trạch tỉnh Quảng Bình. Cái xã miền núi này là
nơi vinh dự nhất Quảng Bình vì có di sản Phong
Nha-Kẻ Bàng và cũng là “sào huyệt” của rất
nhiều nhà hàng, quán sá có thịt thú rừng. Quán nào
cũng cho in trang trọng danh thiếp để nhân viên tiện
tiếp thị với khách.
Đội ngũ nhân viên tiếp thị ngay ngoài đường Hồ
Chí Minh. Một nhân viên của quán Hương Giang tiếp
thị với tôi rằng: “Xin ủng hộ quán em, quán em có
đặc sản rừng tuyệt nhất”. Vừa nói, cô vừa rút
đưa tấm danh thiếp in dòng chữ: “Đặc sản quê hương
Rừng và biển”. Tấm danh thiếp có chữ rừng viết
hoa rất ấn tượng.
Vào trung tâm xã, nhiều người của nhiều quán ra chèo
kéo vào thưởng thức thịt rừng, tôi chọn quán
gần đường lộ. Người đàn ông có nước da đen
nhẻm tên P vừa xi-nhan cho những chiếc xe con, cả
thảy 10 chiếc, vừa đon đả: “Thịt rừng lúc nào
cũng sẵn sàng. Chú đi đông thì nên nhậu nhím,
chồn hương, một ký 250.000 đồng, bảo đảm đầy
đủ tiết lẫn mật, chữa được bệnh hen, bệnh
“gút” thừa đạm và chữa luôn những ai có
chứng… thần kinh”.
Lấy cớ khách đông, chúng tôi sang quán Hương Giang.
Một chú chồn hương và một cô nhím nặng 6 kilôgam
vừa được xẻ thịt và chế biến thành đủ các món
“lăn, xào, hấp, nướng” thơm lừng cho khách đặt
với giá gần 3 triệu đồng. Được biết, con chồn
này mua từ các thợ săn là 800.000 đồng, nhím cũng có
giá tương đương.
Thấy tôi tần ngần, bà chủ quán nhanh nhảu:
“Thịt rừng có mang, nai, lợn, nhím, chồn… em dùng
gì chị phục vụ liền”. Tôi gọi món lợn rừng nướng
mọi. Chưa đầy chục phút, nhân viên đã phục vụ
chúng tôi như ý.
Ra khỏi quán Hương Giang, chúng tôi đảo nhiều vòng
ở trung tâm xã Sơn Trạch, ghé vào quán S.S, hỏi
thịt rừng, chủ quán xới lởi: “Quán em giá cả
phải chăng lắm, chỉ 200.000 đồng/cân thịt nhím,
250.000 đồng/cân thịt chồn có xương, heo rừng
150.000 đồng/ký không xương”. Tôi chê đắt, chủ
T. phân bua: “Di sản mà anh, ở đây bữa ni họ bắt
bớ dữ lắm không như trước đây mô…”.
“Xã hội hóa”... ăn thịt rừng
Ở Phong Nha, ngoài những quán bán thịt rừng chuyên
nghiệp như trên, còn có vô số quán bán thịt rừng
theo lối lẻ tẻ, khách hỏi thì gọi điện cho
những quán lớn chuyển đến. Tình trạng này nhan
nhản ở Đồng Hới và bùng ra ở cả các huyện Tuyên
Hóa, Minh Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh,
Lệ Thủy... nghĩa là chuyện ăn nhậu thịt thú rừng
gần như được “xã hội hóa” ở miền đất này.

Ở vùng Quy Đạt,
khỉ được xem là món ngon nhất
Leo Botrill, chuyên gia của FFI (Tổ chức bảo tồn động
thực vật quốc tế) nhận xét: “Động vật hoang dã
bị buôn bán, giết thịt thường xuyên bởi có sự
hỗ trợ và làm ngơ của các cán bộ nhà nước.
Một số trường hợp lãnh đạo thôn, lãnh đạo xã
lại là lái buôn động vật hoang dã. Thậm chí ở
thị trấn Quy Đạt, một công an lại là chủ một nhà
hàng tiêu thụ động vật hoang dã”.
Theo lời của Leo Botrill, chúng tôi lên thị trấn Quy
Đạt xác minh và chứng thực lời của Leo rất chính
xác. Nhà hàng của vị công an này thuộc loại xịn
nhất thị trấn rẻo cao này và đây cũng là địa điểm
lui tới của các quan chức huyện Minh Hóa.
Ở Đồng Hới, mỗi lần nói đến đề tài thịt thú
rừng, người ta thường nói đến ba quán đình đám
ở Cộn là “nhất Quân (Quán Quân) nhì Hải (Hồng
Hải) tam Huệ (Mỹ Huệ)”. Tổ hợp ba quán này mỗi
ngày ngốn hàng tạ thịt rừng. Món ăn khách thường
thích là tiết canh lợn rừng và vô số món tươi
sống khác.
Mỗi quán có một chiêu dụ khách rất đặc biệt. Quán
Quân dụ khách bằng cái tên quán như để khẳng định
với khách chỉ có Quán Quân là số một về thịt
rừng. Quán nằm sâu sau nhiều dãy nhà nhưng khách đông
không đếm xuể, có hai lối vào quán, một lối dành
cho khách còn lối kia dành cho những người chở thú
rừng vào nhập.
Để khách tiện liên hệ, chủ quán còn cho ghi số điện
thoại di động lên bảng hiệu dựng ngoài đường.
Chúng tôi tiện tay móc máy gọi vào số 0912… (*),
giọng chủ quán cất lên, tôi hỏi dò quán ông có
thịt rừng những thức nào, ông chẳng cần e dè mà
thông thoát nói: “Ưng gì có nấy, nhưng sẵn nhất là
tiết canh lợn rừng, chồn, nhím, khỉ”.
Quán Mỹ Huệ nhốt thú rừng ngay cái hồ trước nhà
để khách tiện chọn, còn quán Hồng Hải nhử khách
bằng món thịt rừng hon. Khách đến những quán thú
rừng này thường đi trên những chiếc xe con biển
số xanh hẳn hoi và người dân vẫn thường “mát
mẻ” rằng ngày nào quán thịt rừng không có xe
biển số xanh mới là chuyện lạ!
Người ta đã thống kê con số chi tiết rằng mỗi ngày
Đồng Hới tiêu thụ 1.825 con lợn rừng, tính ra
thịt là 500 kilôgam, 6.025 con cầy và chồn bị đánh
chén, 9.125 con ba ba hoang dã bị hóa kiếp và mỗi
tuần có 16 con nai bị xẻo thịt, một năm có hơn 11
tấn khỉ bị ép khô ( 8 kilôgam khỉ tươi được
1kilôgam khỉ khô) được tiêu thụ trên địa bàn
Quảng Bình.
Thú rừng bị săn bắt từ đâu?

Danh thiếp của quán Hương Giang
với dòng quảng cáo công khai
“Đặc sản quê hương Rừng và biển”
Qua tìm hiểu, chúng tôi đã tìm ra lộ trình săn bắt
của các nhóm thợ săn như nhóm xã Xuân Trạch huyện
Bố Trạch thường săn thú ở khu vực rừng Chà Nòi
huyện Minh Hóa, nhóm thợ săn xã Phúc Trạch thường
vào rừng U Bò huyện Quảng Ninh, và theo cả những
tay thợ săn có súng ở xã Thượng Hóa đổ về Phù
Nhiêu.
Những địa danh trên đều thuộc khu vực Phong
Nha-Kẻ Bàng. Còn thợ săn ở nơi khác đến thường
đi săn ở những khu rừng xa hơn như Khe Nét ở Tuyên
Hóa, Khe Nước Trong ở Lệ Thủy, Quảng Ninh. Mỗi
thợ săn có thu nhập trung bình một tháng từ 900.000
đồng đến 1.500.000 đồng. Có thể nói không ngoa
rằng núi rừng Quảng Bình ngày đêm tràn dấu lâm
tặc, nghĩa là rừng xanh đang vô vọng kêu cứu.
Một thợ săn tên Hồ Cường ở bản Rum xã Kim
Thủy, Lệ Thủy từng biểu diễn tài nghệ săn thú
rừng với tôi bằng cách lấy cái bẫy gà lôi mang lên
rừng, hai ngày sau một con gà so Trung bộ (một loài
chim đặc hữu) sập bẫy; ngày sau một con thỏ vằn
lại chui vào.
Loài thú này cũng là loại thú đặc hữu quý hiếm.
Hồ Cường còn khoe là đã thịt một con niệc nâu,
một loài chim bị đe dọa toàn cầu. Ông còn nói
bản thân ông cũng đã từng giết được mấy con sao
la, loài mà cả thế giới sững sờ khi được phát
hiện vào những năm cuối của thế kỷ XX! Như để
chứng minh, Hồ Cường lôi cái đầu sao la cho tôi xem
một cách hồn nhiên.
Thú rừng đang bị giết từng ngày ở Quảng Bình,
tiếng kêu cứu của chúng vang lên thống thiết từ
trong di sản, ngoài di sản và ven di sản Phong Nha-Kẻ
Bàng…
|
|
Minh
Phong - Báo Sài Gòn giải phóng
|
|
Nước
thải bệnh viện ở TPHCM: Xử lý... như không (10/2005)
|
|
|
|
Có
hệ thống xử lý nước thải nhưng không sử dụng
được. Nước thải bệnh viện không chảy vào bể
xử lý mà chảy ngược vào phòng bệnh. Không có hệ
thống xử lý nước thải… toàn bộ nước thải
xả bỏ trực tiếp vào cống thoát nước sinh hoạt
của thành phố... Đó là thực tế đang xảy ra tại
nhiều bệnh viện, trung tâm y tế của TPHCM.
Có
như không
Bệnh
viện Đa khoa An Bình, cách nay gần 10 năm đã được
UBND TPHCM cho phép đầu tư xây dựng hệ thống xử lý
chất thải với kinh phí lên đến gần 854 tỷ đồng.
Tuy nhiên, 10 năm qua phần lớn khối lượng nước
sử dụng cho công tác khám chữa bệnh trung bình mỗi
ngày lên đến 500m3. đều được xả thẳng vào
cống nước thải sinh hoạt của thành phố mà không
qua bất kỳ công đoạn xử lý nào. Chỉ có một ít
chất thải trong số 3.150 mẫu bệnh phẩm xét nghiệm
được xử lý sơ lược bằng… nước tẩy trước
khi đổ vào cống.
|
|
|
Hệ
thống cống thải của Bệnh viện An Bình đã
bị sụp lún hoàn toàn, nước thải tự len lỏi
tìm đường thoát vào khu dân cư.
|
Theo chính
những người làm việc tại đây, nguyên nhân của tình
trạng này là bể chứa nước xử lý được đặt
ở… thượng nguồn. Nước thải không thể chảy ngược
vào bể xử lý mà xuôi vào các phòng khám, chữa
bệnh của bệnh viện. Để “chữa cháy”, đơn vị
thi công đã xây thêm một bể thu gom nước thải ở
hạ nguồn. Từ bể này nước thải được máy bơm,
bơm chuyển nước vào bể xử lý ở thượng nguồn.
Thế nhưng, giải pháp ấy cũng chỉ phát huy tác
dụng trong vài năm đầu.
Từ năm 2001, nhiều bộ phận của hệ thống xử lý
nước thải như máy điều hòa nước, máy khí nén, máy
trộn hóa chất… bắt đầu bị hư. Hệ thống cống
dẫn nước thải của bệnh viện bị bể, sụp lún.
Hiện những người làm việc tại đây không xác định
được chu trình thoát nước thải của bệnh viện mà
chỉ thấy mỗi khi trời mưa lớn hoặc gặp lúc
thủy triều lên, nước thải chảy dồn về khu phòng
bệnh phía đường Trần Hưng Đạo gây ngập nặng,
nhiều lúc ngập cao tới giường bệnh nhân.
Bệnh viện Chợ Rẫy cũng đã có hệ thống xử lý nước
thải bằng phương pháp lắng lọc nhưng nước thải
vẫn chưa được xử lý đạt yêu cầu. Bà Lê Thị
Anh Thư, Trưởng khoa Chống nhiễm khuẩn giải thích,
trung bình mỗi ngày bệnh viện nhận khoảng 2.500
bệnh nhân ngoại trú và 2.000 bệnh nhân nội trú.
Khối lượng nước thải trong công tác khám chữa
bệnh lên tới 3.000m3/ngày đêm, nhưng bể lọc nước
thải chỉ xử lý được khoảng 300m3/lần lọc.
Hơn nữa, phương pháp xử lý lắng lọc qua 3 tầng cũng
chỉ lọc được vi trùng thương hàn, tả mà không
xử lý được vi khuẩn hiếm khí... nên nước thải
có qua xử lý nhưng chưa diệt được hết mối nguy
hại. Bệnh viện Chợ Rẫy đã làm dự án xây dựng
mới hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp
sinh hóa kết hợp, tổng kinh phí khoảng 20 tỷ đồng
- 30 tỷ đồng nhưng 3 năm qua vẫn chưa được Bộ Y
tế duyệt kinh phí.
Tình trạng không đồng bộ nêu trên không phải là cá
biệt mà còn khá phổ biến tại các bệnh viện như
Nguyễn Tri Phương, Ung bướu, Trung tâm Chấn thương
chỉnh hình, Hoàn Mỹ, Tai mũi họng (Trần Quốc
Thảo), Trung tâm y tế các quận huyện như 6, 8, Nhà Bè,
Hóc Môn, Bình Chánh… Không chỉ có thế, nhiều
bệnh viện, trung tâm ý tế còn… chưa hề có hệ
thống xử lý nước thải. Tại Bệnh viện Truyền máu
huyết học, toàn bộ 1.700m3 nước thải/tháng của
bệnh nhân và khoảng 300 mẫu nước tiểu, máu, tủy,
mô tế bào sau khi xét nghiệm chỉ được sát khuẩn
sơ lược bằng nước tẩy rồi thải thẳng ra hệ
thốn | |