|
TÔI
CÓ Ý KIẾN !
(12/2005)
Ngoại
thành TPHCM: Nhiều sông, kênh đã hóa đen (12/2005)
Hà Nội: Cần những giải
pháp chiến lược để giảm thiểu ô nhiễm bụi (12/2005)
Cấp bách xử lý ô nhiễm
môi trường sông Nhuệ - sông Đáy (12/2005)
Đất ngập nước của Việt Nam
bị đe doạ ở mức độ cao (12/2005)
Những mối đe dọa đối với đa
dạng sinh học tại Việt Nam (12/2005)
Kinh
hoàng nước thải (12/2005)
Kiên
quyết giải tỏa hộ nuôi cá không tự giác di dời ở hồ
Dầu Tiếng (12/2005)
Nhập
khẩu hàng ngàn tấn ắcquy chì độc hại
(12/2005)
Hà
Nội: Môi trường xung quanh bãi rác Nam Sơn bị ảnh hưởng
nặng nề (12/2005)
Tài
nguyên nước của Việt Nam có dấu hiệu cạn kiệt
(12/2005)
Hà
Tĩnh: Bùng nổ nạn đào cây rừng làm cây cảnh (12/2005)
Đà
Lạt: Tảo lam “nuốt” hồ Xuân Hương (12/2005)
Cà
Mau: Diện tích rừng ngập mặn bị mất gần 40% trong 30 năm
(12/2005)
|
Những
mối đe dọa đối với đa dạng sinh học tại Việt
Nam (12/2005)
Việt
Nam là một trong các quốc gia có tính đa dạng sinh
học cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, sự tăng trưởng
kinh tế rất nhanh của nước ta cùng với việc mở
rộng các vùng đô thị, thay đổi nhanh chóng mục đích
sử dụng đất và tăng khai thác các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, đã tạo một sức ép lớn lên môi trường.
Đất nước đang thay đổi rất nhanh và sâu rộng.
Nếu không được quản lý chặt chẽ, thì có thể
sự mất mát về đa dạng sinh học sẽ cản trở sự
phát triển trong tương lai và gây thiệt hại cho các
di sản thiên nhiên và văn hóa của đất nước.
Cách đây một thế kỷ, Việt Nam còn rất nhiều
rừng giàu chất lượng cao, che phủ gần như cả nước.
Năm 1943, độ che phủ rừng giảm xuống chỉ còn 14,3
triệu héc-ta ( 43% diện tích lãnh thổ ). Kể từ đó,
rừng không ngừng suy giảm với một tốc độ nhanh
chóng, đặc biệt là trong những năm chiến tranh và
giai đoạn 1976-1985. Chính phủ ước tính tới năm
1990, độ che phủ rừng đã giảm xuống còn 10,88
triệu héc-ta ( 28,2%). Từ năm 1993, các chương trình
quốc gia lớn như 327, 556 và 661 đã đẩy mạnh phủ
xanh, tái trồng rừng và cải thiện công tác quản lý
rừng, góp phần làm xoay chuyển chiều hướng tiêu
cực đó. Theo thống kê chính thức năm 2004, độ che
phủ rừng đã tăng tới 12,3 triệu héc-ta (37,3%). Chương
trình 5 triệu héc-ta rừng (hay 661) nhằm mục đích tái
lập độ che phủ 43% vào năm 2010.
Tuy nhiên, chất lượng của các khu rừng tự nhiên
tiếp tục bị suy giảm và bị chia cắt. Hơn hai
phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo
hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và
rừng kín chỉ chiếm 3,4% (năm 2000) và 4,6% (năm 2004)
tổng diện tích rừng. Hầu như không còn các khu
rừng ở các vùng thấp với tính đa dạng sinh học còn
nguyên vẹn. Các cơ hội để phục hồi hoàn toàn đang
giảm đi nhanh chóng vì các vùng rừng giàu đã bị
chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ. Có
khoảng 6 triệu héc-ta rừng ở Việt Nam được đánh
giá là dễ bị cháy. Trong khoảng thời gian 1992-2002,
trung bình có 6.000 héc-ta rừng bị mất hàng năm do cháy.
Trong khoảng ba năm trở lại đây, Bộ Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn báo cáo rằng có 134.000 vụ vi
phạm các quy định về phòng chống cháy rừng.
Năm 2005, đoàn đại biểu Chính phủ đi dự kì họp
lần thứ 5 của Diễn đàn Liên Hiệp Quốc về rừng
đã báo cáo rằng: bên cạnh tình trạng mất rừng, hàng
năm hàng nghìn héc-ta rừng đang bị suy thoái –
“mất rừng và suy thoái rừng là những nguyên nhân
chính gây hiện tượng sa mạc hóa và làm nghèo đất,
tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và các thách
thức cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường,
như gây lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng, gây khó khăn
trong lĩnh vực cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích
đất trồng khiến cho tình trạng nghèo đói và thất
nghiệp ở khu vực nông thôn càng đáng lo hơn”.
Bên cạnh đó, việc chuyển đất ngập nước vào
những mục đích sử dụng khác đang diễn ra với
tốc độ cao. Những vùng đất ngập nước còn lại
đang bị sử dụng quá mức và chịu sức ép lớn
từ các nhu cầu phát triển. Độ che phủ của rừng
ngập mặn có vẻ được ổn định tại một số vùng,
nhưng suy thoái của các rạn san hô vẫn diễn ra trên
quy mô rộng.
Gần 700 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc
gia, trong khi đó trên 300 loài bị đe dọa tuyệt
chủng cấp độ toàn cầu. Có 49 loài bị đe dọa ở
cấp toàn cầu tại Việt Nam thuộc loại “cực kỳ
nguy cấp”, nghĩa là chúng phải đối mặt với nguy
cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên trong một tương
lai rất gần. Các nguồn lợi thủy sản cũng đang suy
giảm, đặc biệt đối với các hệ sinh thái thủy
sinh trong đất liền và gần bờ, đe dọa tới sự
tồn tại của một số loài. Nếu với xu hướng
tiếp diễn như hiện nay, thập kỷ đầu tiên của
thế kỷ 21 có thể sẽ phải chứng kiến một làn sóng
tuyệt chủng đối với một số loài động, thực
vật hoang dã của Việt Nam ở một mức độ chưa
từng thấy trong lịch sử, kèm theo các tác hại của
cộng đồng địa phương.
Việc tiêu dùng động vật hoang dã, đặc biệt là thói
quen ẩm thực ở nước ta gây thiệt hại lớn. Săn
bắt là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối
với các khu bảo tồn và được coi là mối đe dọa
lớn nhất đối với đa dạng sinh học ở Đông Nam
Á. Năm 2002, buôn bán động thực vật hoang dã nội
địa và liên biên giới ở Việt Nam lên tới khoảng
3.050 tấn, trị giá 66 triệu đô la Mỹ. Những nguy cơ
khác gồm có các phương pháp đánh bắt thủy sản có
tính hủy diệt, như dùng chất nổ, chất độc và
sốc điện, gây hại cho hơn 80% rạn san hô ở Việt
Nam. Nạn khai thác gỗ trái phép diễn ra tại những nơi
không được bảo vệ chặt chẽ. Từ 0,5 đến 2
triệu mét khối gỗ bị khai thác trái phép hằng năm
từ tất cả các loại rừng, gồm cả rừng đặc
dụng. Tỉ lệ khai thác đã vượt mức bền vững
khoảng 70%.
Các tác động không chú ý của việc xây dựng cơ
sở hạ tầng đối với các hệ sinh thái dẫn tới
mất đa dạng sinh học và bắt đầu bộc lộ rõ
những tác động tiêu cực đối với năng suất của
các ngành kinh tế và nền kinh tế nói chung, nhưng
vẫn chưa có những đánh giá đầy đủ. Các hệ sinh
thái rừng bị mất do bị xâm lấn để lấy đất
canh tác và du canh du cư. Các vùng đất ngập nước
như đồng cỏ ngập nước theo mùa, cũng đang bị đe
dọa chuyển thành ruộng lúa. Sự gia tăng thương
mại toàn cầu, du lịch và vận chuyển hàng hóa qua
biên giới, cũng như phát triển các cơ sở hạ tầng,
như đường giao thông, đã tạo điều kiện cho sự xâm
nhập của các loài ngoại lai xâm hại. Hiện nay, các
hệ sinh thái nước ngọt và nông nghiệp bị các loài
ngoại lai xâm hại nghiêm trọng hơn rất nhiều, gây
ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế.
Chính phủ Việt Nam cùng với các đối tác đang đáp
ứng các nhu cầu bảo tồn khẩn cấp. Các nỗ lực
của Chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức
bảo tồn quốc tế là rất lớn và đã tạo ra
nhiều thành tựu có tính then chốt. Việt Nam đã
thiết lập được khung luật pháp và thể chế vững
chắc. Từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã cam kết
xây dựng các luật cần thiết để bảo vệ đa
dạng sinh học. Năm 1995, Kế hoạch hành động đa
dạng sinh học quốc gia (BAP) đã được phê chuẩn, hướng
dẫn và tập trung cho các nỗ lực bảo tồn. Một BAP
mới cho giai đoạn từ nay tới năm 2015 và định hướng
năm 2020 đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây
dựng và dự kiến sẽ được ban hành vào đầu năm
2006. Những chính sách quản lý của Chính phủ giữ
vai trò quyết định, nhưng sự thành công lại nằm
trong chính nhận thức của mỗi người dân đang hàng
ngày hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
|
|
Hà
Tĩnh: Phá rừng phòng hộ để trồng cao su (12/2005)
Lợi
dụng việc được phép đưa một số diện tích
rừng nguyên liệu ít có giá trị kinh tế sang trồng
cao su, Công ty cao su Hà Tĩnh đã chặt phá 70 héc-ta
rừng phòng hộ ở các huyện Hương Khê, Kỳ Anh để
trồng cao su.
Tại tiểu khu 175 rừng phòng hộ ở huyện Hương Khê
công ty đã chặt hạ trên 50 héc-ta, gồm nhiều cây
bản địa lâu năm. Tại xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh công
ty đã chặt phá 20 héc-ta rừng có độ che phủ rất
lớn. Tại đây công ty được giao 350 héc-ta để
trồng cao su trên những diện tích không có rừng phòng
hộ, nhưng công ty lại tự ý mở rộng diện tích
trồng cao su trong khu vực rừng không được phép khai
thác. Công ty đã thu được trên 200 mét khối gỗ
từ việc chặt phá rừng. Đáng lưu ý là do không
được phép chặt phá ở những khu vực cấm nên
trong số gỗ khai thác được công ty tự ý làm và đóng
dấu búa kiểm lâm để hợp pháp hoá việc chặt phá
rừng. Có hơn 20 mét khối gỗ khai thác ở tiểu khu
175 được đóng dấu búa giả.
Lê Văn Thơn - MonreNet
|
|
Đất
ngập nước của Việt Nam bị đe doạ ở mức độ
cao (12/2005)
Tại
Hội nghị khoa học về "Môi trường và Phát
triển bền vững" vừa được tổ chức tại Hà
Nội, một số nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo
rằng các vùng đất ngập nước của Việt Nam đang
bị đe dọa ở mức độ cao và đề nghị các cơ
quan chức năng cần có biện pháp bảo vệ kịp thời.
Theo các nhà khoa học, các hoạt động khai thác thủy
sản quá mức, triệt phá rừng ngập mặn, rừng tràm
để nuôi trồng thủy sản, dùng thuốc nổ để đánh
bắt thuỷ sản đã làm hủy hoại nghiêm trọng
những vùng đất ngập nước.
Nhiều nhà khoa học khác cho biết trong những năm qua,
diện tích rừng ở Việt Nam tuy có tăng lên nhưng chưa
đạt hiệu quả phòng hộ môi trường. Suy thoái tài
nguyên rừng kéo theo suy thoái tài nguyên đa dạng sinh
học, mất rừng làm cho đất đai bị xói mòn, rửa
trôi.
Theo kết quả quan trắc, thoái hóa đất là hiện tượng
phổ biến ở các vùng nông thôn miền núi, dẫn đến
thiếu đất canh tác, gây ảnh hưởng lớn đến vấn
đề an toàn lương thực và đe dọa sự phát triển
bền vững ở vùng núi.
(Theo
TTXVN)
|
|
Cấp
bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông Đáy
(12/2005)
|
|
|
|
Trước
tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sông
Nhuệ, sông Đáy tại tỉnh Hà Nam, sáng 23/12 Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực và
Thứ trưởng thường trực Phạm Khôi Nguyên đã
có buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh Hà Nam, Hà
Tây và thành phố Hà Nội để thống nhất các
biện pháp cấp bách xử lý tình hình ô nhiễm môi trường
tại lưu vực 2 con sông này. Sau khi thống nhất các
ý kiến với các địa phương, Bộ trưởng Mai Ái
Trực yêu cầu UBND TP HN và UBND các tỉnh Hà Nam, Hà Tây
khẩn trương thực hiện một số biện pháp nhằm
khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sông
Nhuệ, sông Đáy.
Theo
đó, Bộ trưởng đưa ra các biện pháp cấp bách yêu
cầu UBND tỉnh Hà Tây chỉ đạo, đóng hai cống La Khê
và Vân Đình không cho nước chảy vào sông Đáy đồng
thời tận dụng tối đa thời gian để mở cống Liên
Mạc lấy nước sông Hồng cấp cho sông Nhuệ; UBND TP
HN chỉ đạo, đóng đập Thanh Liệt, vận hành trạm
bơm Yên Sở để thoát nước thải ra sông Hồng; UBND
TP HN chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh trong lưu
vực sông Nhuệ, sông Đáy khẩn trương hoàn thành đề
án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ, sông
Đáy trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; UBND
tỉnh Hà Tây chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Hà
Nam và UBND TP HN xây dựng quy trình vận hành hệ thông
cấp nước, thoát nước, tưới tiêu sông Nhuệ, sông
Đáy theo đề xuất của UBND tỉnh Hà Nam, đảm bảo
yêu cầu về môi trường, hoàn thành và đưa quy trình
vào vận hành trước ngày 10/1/2006; giao Cục BVMT
phối hợp với các địa phương kiểm tra tiến độ
thực hiện các biện pháp nêu trên.
Bộ
trưởng Mai Ái Trực cũng đề cập đến một
số biện pháp lâu dài như: UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà
Tây và Hà Nam kiểm tra ráo riết các cơ sở gây ô
nhiễm môi trường nghiêm trọng, có biện pháp kiên
quyết và ấn định thời gian xử lý để chấm dứt
tình trạng ô nhiễm môi trường không để kéo dài;
UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà Nam và Hà Tây đẩy nhanh
tiến độ phê duyệt và thực hiện các dự án môi
trường để nhanh chóng khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy.
Bộ TN&MT sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ có
chủ trương đầu tư dự án tổng thể bảo vệ,
cải thiện môi trường sông Nhuệ, sông Đáy; giao
Cục BVMT phối hợp với các tỉnh, thành phố tiến hành
kiểm tra, lập danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi
trường, có các hình thức công bố công khai thông
tin, tạo áp lực của công luận đối với hành vi
thiếu trách nhiệm gây ô nhiễm môi trường; giao
Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục BVMT đánh giá
khả năng chịu tải của hệ thống sông Nhuệ, sông
Đáy và nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn phát thải,
dòng chảy môi trường để làm cơ sở cho công tác
quản lý.
Trong
quá trình triển khai thực hiện nếu có khó khăn, vướng
mắc đề nghị phản ánh kịp thời với Bộ TN&MT
để phối hợp giải quyết.
Www.monre.gov.vn
P.V
|
|
Ngoại
thành TPHCM: Nhiều sông, kênh đã hóa đen (12/2005)
|
| Giờ
đây về Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè… lũ trẻ đã
chẳng còn có thể vô tư nhảy ào xuống sông, kênh
để tắm nữa bởi không ít sông, kênh ở đây đã…
đen ngòm.
Đâu
rồi những dòng sông xanh?
|
|
|
Một
nhà máy thải nước thải ra rạch Cầu Dừa.
|
Ông
Nguyễn Văn Nghiệp, một nông dân ở ấp 4, xã Đông
Thạnh huyện Hóc Môn nhìn về rạch Cầu Dừa rầu rĩ
nói: “Ba bốn năm trước, chiều nào sắp nhỏ đi làm
đồng về cũng ghé vào con rạch này để tắm giặt.
Giờ nước kênh có lúc đen như dầu hắc vậy… Ai còn
dám xuống chứ!”. Vẫn giữ gương mặt rầu rầu
ấy, ông dẫn chúng tôi đi dọc theo rạch Cầu Dừa vào
lúc nước ròng…
Không
khó khăn lắm, chúng tôi thấy ngay những ống xả nước
không rõ từ nhà máy, xí nghiệp nào gần đó đâm
tua tủa ra rạch. Một số ống trống còn đa phần
vẫn tiếp tục rỉ rả nhả những dòng nước đen sóng
sánh dầu mỡ ra rạch. Thở dài, ông Nghiệp nói: “Cách
nay chưa lâu, khi địa phương cho xây lại hệ thống
đường giao thông nội đồng và khai thông rạch Cầu
Dừa, chúng tôi đã rất mừng… Những tưởng rằng
đây sẽ là cơ hội phát triển sản xuất, thế nhưng…”.
Rạch Lùn chảy qua địa phận các phường Hiệp Bình
Chánh, Linh Đông, Tam Phú… quận Thủ Đức cũng đang
trong cảnh hóa đen như rạch Cầu Dừa. Tuy nhiên, nguyên
nhân hóa đen ở rạch Lùn có khác. Theo anh Lê Ngọc
Hải, một người dân cư ngụ ngay sát rạch Lùn thì…
rác là nguyên nhân chính. Để chứng minh, anh Hải
chỉ cho chúng tôi thấy những đống rác to tướng
nằm cạnh mép rạch. “Cứ mỗi ngày qua đi, các bãi
rác này lại bự thêm”, anh Hải nói. Nhiều người
dân ngụ tại khu vực này còn cho chúng tôi biết,
chiều chập choạng là lúc có nhiều người đến đổ
rác nhất. Chạy dọc theo con rạch trên con đường đê
ngoằn ngoèo chưa được 100 mét, chúng tôi đã thấy
có đến 3 bãi rác nằm phơi mình giữa đê.
Công trình thủy lợi kênh Tam Tân huyện Củ Chi chưa
kịp phát huy tác dụng “mang nước ngọt rửa phèn”
cho vùng đất chua mặn này thì nay cũng đang bị hóa
đen bởi nước thải không qua xử lý của các nhà máy
gần đó đổ ra. Tương tự ở rạch Cầu Dừa, đi
dọc kênh Tam Tân cũng sẽ dễ dàng bắt gặp những
ống xả của các nhà máy, công ty rỉ rả xả nước
thải đen bóng ra kênh.
Nhiều
nông dân ở đây cho biết, vào lúc nước lên thì nước
kênh trông còn đỡ, khi nước cạn, nước kênh đen…
đến phát khiếp. Màu đen ấy lan đến tận kênh An
Hạ, thâm nhập và len lỏi đến những cánh đồng
của các xã Tân Hiệp, Tân Thạnh Đông của huyện
Củ Chi và Hóc Môn. Từ năm 2002, Sở Nông nghiệp - Phát
triển nông thôn TP đã cùng với UBND huyện Củ Chi làm
việc với trên 20 công ty, nhà máy xí nghiệp đóng trên
địa bàn 2 xã Tân Thông Hội và Tân Phú Trung để ngăn
chặn tình trạng đen hóa tại dòng kênh này. Tuy nhiên,
cho đến nay, chẳng những tình trạng này chưa được
khắc phục mà mỗi năm một nghiêm trọng hơn.
Cũng tại Củ Chi, một con rạch tự nhiên dùng để
tiêu, tưới cho các cánh đồng trồng lúa và hoa màu
ở xã Tân Thạnh Đông, Hòa Phú, Trung An giờ cũng đã
hóa đen vì bị biến thành kênh nhận nước thải
từ một số công ty, nhà máy ở khu công nghiệp Tân
Quy. Người dân canh tác trên cánh đồng này cho hay:
từ hai, ba năm nay họ không thể sử dụng nước kênh
này để tưới cho ruộng đồng nữa vì nước rất
đen và sóng sánh dầu mỡ.
Kênh
xanh - Bao giờ?
Một
câu hỏi không dễ trả lời, bởi theo một cán bộ
của Phòng Quản lý đô thị quận 12, hầu hết các
nhánh sông, kênh chính của quận đã bị ô nhiễm và
không thể một sớm một chiều khắc phục được.
Tại huyện Củ Chi, tình trạng ô nhiễm sông, kênh không
đến nỗi trầm trọng như quận 12 nhưng một cán
bộ của Phòng Quản lý đô thị huyện cũng cho biết,
phần lớn các đoạn sông, kênh đi qua các khu công
nghiệp đã bị nhuộm đen hết rồi. Đây là hậu
quả của việc có quá nhiều cơ sở sản xuất gây
ô nhiễm trong nội thành di dời ồ ạt ra ngoại thành,
trong khi ở ngoại thành, ngành chức năng chưa kịp lên
quy hoạch, chuẩn bị đất đai hợp lý cho các cơ
sở này.
Hiện
nay thành phố cũng đã có nhiều khu công nghiệp được
đầu tư chu đáo để đón các doanh nghiệp di dời vào.
Tuy nhiên, do giá thành cho thuê còn vượt khả năng
chi trả của nhiều doanh nghiệp nên họ không vào. Hơn
nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuê
hoặc mua đất nông nghiệp bên ngoài không những rẻ
hơn mà còn “né” được phí môi trường - một
khoản tiền không nhỏ. Trong bối cảnh ấy, lãnh đạo
huyện Củ Chi hẳn cũng không dễ trả lời câu hỏi:
sông, kênh ở đây bao giờ xanh trở lại?
Bên cạnh đó, tại những khu dân cư mới, mạng lưới
thu gom rác của các công ty công ích còn rất mỏng nên
không thể quán xuyến và thu gom rác cho các khu vực này.
Hệ thống thu gom rác dân lập thì chưa mặn mà, bởi
chưa có nhiều người dân chịu đóng tiền thu gom rác,
nên rác ở đây thường được đổ thẳng xuống sông,
kênh. Không chỉ có vậy, nhiều cơ sở chăn nuôi qui
mô lớn cũng là một trong những tác nhân làm cho hệ
thống kênh rạch ngoại thành bị “đen hóa”. Như
khảo sát quanh rạch Cầu Dừa, chúng tôi thấy có
rất nhiều chuồng trại nuôi heo ven con rạch để
tiện bề thải nước thải và phân xuống lòng rạch.
Vậy mà đến nay vẫn chưa thấy sự nhắc nhở nào
từ phía các cơ quan chức năng!?
QUANG
ĐẠT (Mạng
Báo SGGP)
|
|
Hà
Nội: Cần những giải pháp chiến lược để giảm
thiểu ô nhiễm bụi (12/2005)
|
|
|
|
Những
năm gần đây, Hà Nội có tốc độ đô thị hóa
rất nhanh và mật độ dân số nội thành cao nhất
cả nước (trung bình hơn 10.000 người/km2) cũng đồng
nghĩa với việc phải đối mặt hàng ngày với
những ô nhiễm cả về không khí, nước thải và rác
thải...Trong đó, ô nhiễm bụi đã, đang còn là vấn
đề môi trường bức xúc của Hà Nội. Nhận thức
được thực trạng này, nhiều chính sách, dự án đã
được đưa ra thực hiện nhưng cho đến nay ô nhiễm
bụi ở thành phố vẫn ở mức cao. Đề tài “Nghiên
cứu hiện trạng ô nhiễm bụi ở Hà Nội và đề
xuất các giải pháp khắc phục” đã được xây
dựng và thực hiện trong bối cảnh như vậy.
Đề
tài do PGS.TS Hoàng Xuân Cơ, trường Đại học khoa
học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ trì
đã hoàn thành sau hơn 1năm nghiên cứu với tổng
vốn kinh phí 478 triệu đồng, vừa được Hội đồng
khoa học kỹ thuật thành phố nghiệm thu. Mục tiêu
chính của đề tài là đánh giá hiện trạng và các
nguồn gây ô nhiễm bụi ở thành phố, lượng hóa
những thiệt hại do ô nhiễm bụi gây ra; đồng
thời đánh giá kết quả và những hạn chế trong công
tác quản lý đô thị, quản lý môi trường, từ đó
đề xuất các giải pháp có hiệu quả nhằm giải
quyết tình trạng ô nhiễm bụi trên địa bàn thành
phố.
Theo
quan điểm của tác giả, để đánh giá mức độ ô
nhiễm bụi, ngoài nồng độ phải căn cứ vào các
chất có trong bụi và ngoài bụi lơ lửng tổng
số(TSP) phải quan tâm đến bụi kích thước nhỏ,
nhỏ hơn 10 micơrông mét(PM10) hay nhỏ hơn2,5 micơrông
mét (PM2,5).
Qua
khảo sát, các nguồn thải bụi ở Hà Nội chủ
yếu gây ra từ 4 nguồn chính: công nghiệp, giao thông,
xây dựng và sinh họat. Một trong những đặc điểm
giao thông ở Hà Nội là cơ sở hạ tầng giao thông còn
yếu, quy mô nhỏ và số lượng hạn chế, không đủ
đáp ứng yêu cầu sử dụng. Phần lớn đường Hà
Nội vẫn còn chật hẹp và rất bẩn, nhiều đất
bụi trong khi số lượng ô tô, xe máy gia tăng
rất nhanh; tiếng ồn, bụi lơ lửng NOx và CO... đặc
biệt là những lọai phương tiên quá hạn sử dụng
còn nhiều đã trở thành nguồn gây ô nhiễm lớn
mặc dù không phải là nguồn gây các khí độc hại.
Bên cạnh đó, họat động xây dựng đang diễn ra
khắp nơi với quy mô khác nhau cũng là nguồn ô
nhiễm chính hiện nay và trong nhiều năm tới. Mặc dù
Hà Nội không có nguồn công nghiệp phát sinh bụi
lớn như các nhà máy nhiệt điện, than hay xi măng, nhưng
với mật độ khá nhiều các nhà máy, xí nghiệp quy
mô vừa và nhỏ, nguồn ô nhiễm vẫn là mối quan tâm
lớn nhất.
Qua
xem xét các chất gây ô nhiễm, căn cứ vào kết quả
phân tích các tham số:CO, NOx, SO2, TSP, các hạt lơ
lửng, bụi có đường kính PM10 và chì (từ xăng pha
chì), tác giả cho rằng phần lớn diện tích thành
phố Hà Nội hiện nay được xem là ô nhiễm đối
với tiêu chuẩn TSP và ô nhiễm nhẹ đối với tiêu
chuẩn PM10. Các diện tích vùng nông thôn được coi là
không ô nhiễm ngoại trừ vùng bao quanh các khu công
nghiệp thì bị ô nhiễm nhẹ với SO2. Một số vùng
có nồng độ TSP cao là các khu công nghiệp cũ Thượng
Đình, Vĩnh Tuy- Mai Động, Cầu Đuống, đây cũng là
vùng có nhiều nguồn thải công nghiệp giao thông.
Dựa trên số liệu quan trắc tự động và sử dụng
hoa ô nhiễm (dạng biểu diễn nồng độ trung bình
chất ô nhiễm không khí) khi xuất hiện các hướng
gió, đề tài còn phát hiện các nguồn thải ô
nhiễm thông qua số liệu đo được tại điểm trạm.
Ví dụ: qua khảo sát thực địa, có thể thấy họat
động xây dựng ở khu vực Mỹ Đình, Yên Hòa, Nhân
Chính diễn ra mạnh mẽ hơn trong gia đọan cuối năm
2003-2004, đây có thể là nguyên nhân dẫn tới tăng
nồng độ bụi trạm Láng khi có gió tây và gió có
thành phần hướng tây. Phân tích chất gây ô nhiễm
từ năm 1997 đến năm 2010, phần lớn diện tích
khảo sát trên địa bàn thành phố được coi là bị
ô nhiễm TSP và PM10. Ô nhiễm NO2 vẫn thấy tồn
tại trong khu phố cổ và khu vực bị ô nhiễm sẽ
lan tỏa ra các vùng xung quanh.
Trong
số các loại ô nhiễm tác động đến môi trường và
sức khỏe con ngườI, ô nhiễm không khí được xếp
vào loại khó đánh giá vì tác hại diễn biến từ
từ, không nhìn thấy được và cho đến nay vẫn còn
hạn chế trong công tác nghiên cứu. Tuy nhiên, qua
kết quả đánh giá tác động môi trường không khí
khu công nghiệp Thượng Đình cho thấy phần nào ảnh
hưởng của ô nhiễm môi trường không khí, làm tăng
tỷ lệ người bị mắc các bệnh về đường hô
hấp trên, hô hấp dưới (viêm phổi, hen, lao), suy nhược
thần kinh, dị ứng, tim mạch, mắt…Tại Vùng tiếp
giáp khu công nghiệp Thượng Đình cũ, tỷ lệ người
dân phường Thanh Xuân bắc có các dấu hiệu tổn thương
đường hô hấp cao hơn nhiều so với vùng đối
chứng là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm. Ô nhiễm bụi còn
có thể gây ra các thiệt hại to lớn về giảm năng
suất cây trồng, ảnh hưởng đến hệ sinh thái,
làm hư hỏng thiết bị, suy giảm tuổi thọ công trình,
làm mất mỹ quan cơ sở hạ tầng…Có thể lượng hóa
thiệt hại bằng tiền, ước tính 200- 500 tỷ đồng
một năm.
Với
5 nội dung chính được đưa ra nghiên cứu, vấn đề
mà tác giả muốn nhấn mạnh là “nếu chỉ dừng
lại ở các biện pháp giảm thiểu bụi thông thường
như hiện nay thì nồng độ bụi có xu hướng tăng lên
và áp lực, tác động của bụi lên sức khỏe và
họat động sống của con người cũng tăng lên tương
ứng”. Từ đó, đề tài đề xuất một số giải
pháp về luật pháp, chính sách, kỹ thuật, công cụ
kinh tế, lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy
hoạch phát triển, quản lý và xã hội hóa công tác
giảm thiểu ô nhiễm bụi. Đồng thời, đề tài đã
đưa ra một kế hoạch giảm thiểu bụi đến năm
2010, có thể coi đây như là bước định hướng cho
việc lập kế hoạch chi tiết hơn để thực thi có
hiệu quả.
Theo
tác giả: cần duy trì và tiếp tục nâng cao hiệu
quả hệ thống quan trắc môi trường không khí, trong
đó cần sớm xử lý và đưa số liệu thu thập
được từ các trạm quan trắc tự động vào hệ
thống đánh giá hiện trạng ô nhiễm không khí và ô
nhiễm bụi trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên,
tất cả giải pháp, kế hoạch, chương trình giảm
thiểu ô nhiễm bụi sẽ có tính hiệu quả trong trường
hợp có sự quản lý, tổ chức thực hiện tốt và
đặc biệt có đủ kinh phí. Vì vậy, cần có sự
nỗ lực không chỉ của cơ quan quản lý tài nguyên,
môi trường mà của nhiều ngành nghề, nhiều tổ
chức, các tầng lớp nhân nhân. Bởi trong một chừng
mực nào đó thì mỗi chúng ta không chỉ là nạn nhân
mà còn là tác nhân gây ô nhiễm bụi.
Minh
Nghĩa (www.monre.gov.vn)
|
Kinh
hoàng nước thải (12/2005)
|
|
|
Dòng
nước của các con sông Hà Nội đều chung 1 màu đen.
Ảnh:
TT
|
Hơn
90% lượng nước thải chưa qua xử lý đang chảy thẳng
xuống các sông, hồ của Hà Nội. Sông Tô Lịch, sông Sét,
sông Lừ và sông Kim Ngưu đặc một màu đen và ngày càng
bốc mùi.
Dự
án kè hai bên bờ sông Tô Lịch được đầu tư tiền tỷ
và triển khai xong cách đây không lâu nhưng người dân
vẫn phải chịu đựng mùi ô nhiễm. Dọc theo bờ sông Tô
Lịch, nhiều thứ trôi nổi trên mặt nước, từ các
loại rác thải đến xác súc vật, hệ thống cống nước
thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp cũng không
ngừng được xả xuống.
Hiện
tại lòng hồ Bảy Mẫu đang phải tiếp nhận nguồn nước
từ bốn cống xả. Nguồn nước thải tại những cống này
đang chảy tràn qua các phai chắn xả thẳng xuống lòng
hồ, tất cả đều một màu đen.
Bà
Nguyễn Thị Thu, phường Kim Liên, than phiền: "Cứ
mỗi lần nhân viên môi trường vớt rác thải xung quanh
hồ Ba Mẫu, mùi hôi thối lại bốc lên, ngày thường lòng
hồ này đã bị ô nhiễm nặng, trước đây cá còn chết
nổi đầy mặt hồ".
Tại
công viên Thống Nhất, sáng 11/12, những người tập thể
dục buổi sáng đã không thể chịu được cảnh nước
thải chảy tràn qua cả đường chạy trong công viên. Ông
Nguyễn Hữu Chiến, phường Đồng Tâm, bức xúc: “Chúng
tôi đi tập nhưng phải mang theo khẩu trang, dưới hồ
nặng mùi hôi thối”.
Theo
Công ty Công viên Thống Nhất, đầu năm 2005, Sở Giao thông
công chính đã cho xây dựng hệ thống tách nước thải không
cho chảy trực tiếp vào lòng hồ. Đầu tháng 12, dòng nước
thải tại bốn cống dâng cao và tràn qua cống tách nước
thải chảy thẳng vào lòng hồ khiến nguồn nước trong
hồ bị ô nhiễm nặng...
Nước
thải đã xử lý: 6%
|
Theo
Phòng Quản lý môi trường & khí tượng thủy văn,
chi phí để xử lý 100% lượng nước thải của Hà
Nội lên tới 1,5 tỷ đồng/ngày (khoảng 550 tỷ đồng/năm).
Đến
năm 2020, tổng lượng nước thải sinh hoạt sẽ là
700.000 m3/ngày đêm.
UBND
TP Hà Nội vừa ban hành chương trình hành động về
công tác bảo vệ môi trường thủ đô, đề ra một
số mục tiêu, đến năm 2010 có 20-25% tổng lượng nước
thải đô thị được xử lý đạt tiêu chuẩn; 80%
khu công nghiệp mới, đô thị mới có hệ thống xử
lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường.
|
Theo
Sở Tài nguyên - Môi trường & Nhà đất Hà Nội, hiện
nay tổng lượng nước thải sinh hoạt tại khu vực nội
thành Hà Nội lên tới 500.000 m3/ngày đêm. Trong đó có
khoảng 1/5 từ các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh
viện.
Lượng
nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường
mới chỉ đạt khoảng 6%. Còn lại hơn 90% xả trực tiếp
xuống sông, hồ mà không qua một khâu xử lý nào.
Tháng
9, hai nhà máy xử lý nước thải đầu tiên, Kim Liên và
Trúc Bạch, được bàn giao cho Xí nghiệp xử lý nước
thải thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội để vận hành,
tuy nhiên công suất của hai nhà máy này chỉ khoảng 6.000
m3/ngày đêm.
Theo
Xí nghiệp xử lý nước thải, nhà máy này được vận hành
phục vụ khoảng 10.000 hộ dân tại khu tập thể Kim Liên.
Các
cơ quan chức năng cho rằng vẫn còn khá nhiều đơn vị, xí
nghiệp trên địa bàn thành phố chưa có hệ thống xử lý
nước thải. Thành phố mới có khoảng 40 cơ sở sản
xuất công nghiệp, 29 cơ sở dịch vụ và năm bệnh viện
có trạm xử lý nước thải.
Trong
giai đoạn 2003-2007, sẽ xử lý 10 cơ sở gây ô nhiễm
gồm bốn cơ sở công nghiệp và sáu bệnh viện. Tuy nhiên,
theo đánh giá của Sở Tài nguyên - môi trường & nhà
đất, 10 cơ sở này sẽ được xử lý trong năm 2005.
Nhà
máy chờ nước thải
Trong
khi đó, một nhà máy được đầu tư hơn 10 triệu USD, công
suất 38.000 m3/ngày đêm đã hoàn thành nhưng không có nước
thải để xử lý. Ông Phan Hoài Minh, Giám đốc Xí nghiệp
xử lý nước thải, Công ty Thoát nước Hà Nội, cho biết
tháng 10, xí nghiệp nhận bàn giao Nhà máy xử lý nước
thải Bắc Thăng Long - Vân Trì, theo kế hoạch nhà máy này
sẽ phục vụ các khu vực dân sinh, Khu công nghiệp Bắc Thăng
Long - Vân Trì.
Nhà
máy không có nước thải để xử lý vì đường ống
dẫn nước thải vào nhà máy chưa thi công xong. Hiện tại,
xí nghiệp đang phải làm nhiệm vụ duy tu và bảo dưỡng,
khoảng 12 tháng nữa đường ống dẫn nước mới hoàn thành,
lúc đó mới vận hành được.
Theo
ông Minh, hiện tại nguồn nước thải đã qua xử lý tại
các nhà máy được xả trở lại sông Lừ, nguồn nước này
sẽ có tác dụng “pha loãng” nguồn nước đang ô nhiễm,
tới đây nguồn nước này sẽ được đưa vào tái sử
dụng cấp nguồn nước cho hồ.
(Theo
VNExpress)
|
Phản
hồi về vụ nuôi cá bè gây ô nhiễm nghiêm trọng
hồ Dầu Tiếng :
|
|
Kiên
quyết giải tỏa hộ nuôi cá không tự giác di dời
(12/2005)
|
|
|
|
Sau
khi báo SGGP khởi đăng bài viết phản ánh tình
trạng nuôi cá bè tràn lan gây ô nhiễm nghiêm trọng
hồ Dầu Tiếng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh
Nguyễn Văn Châu đã trả lời phỏng vấn của phóng
viên xung quanh vấn đề này.
- PV: Thưa ông, xin ông cho biết thực chất mức độ
ô nhiễm nguồn nước tại hồ Dầu Tiếng hiện nay
như thế nào?
|
|
|
Hồ
Dầu Tiếng
|
-Ông
NGUYỄN VĂN CHÂU: Tình hình nguồn nước tại hồ
Dầu Tiếng trong năm 2004 đã được Viện Nghiên cứu
nuôi trồng thủy sản II kết luận là bị ô nhiễm
hữu cơ vùng trung và thượng lưu; lòng hồ bị
nhiễm phèn, ảnh hưởng không tốt cho con người và
cá. Nguyên nhân chủ yếu là do phát sinh nuôi cá
bằng lồng bè nhiều, có thời điểm lên đến 1.208
lồng.
-Thưa ông, phải chăng chúng ta chưa có biện pháp
mạnh hoặc một định hướng, kế hoạch dài hơi
trong việc khai thác nguồn lợi thủy sản cũng như
bảo vệ nguồn nước tại lòng hồ Dầu Tiếng?
-Năm
2004, do tình hình giá cả thuận lợi nên phát sinh
một số hộ nuôi bằng lồng, bè tự phát quá nhiều,
gây ô nhiễm môi trường nước. Trước tình hình trên,
UBND tỉnh chỉ đạo tạm ngưng phát triển bè cá
trong hồ Dầu Tiếng. Ngày 27-10-2004, UBND tỉnh đã thành
lập đoàn kiểm tra liên ngành (có sự tham gia của các
tỉnh bạn như Bình Dương, Bình Phước), kiểm tra tình
hình nuôi cá, đào ao vùng bán ngập, khai thác cát và
kiểm tra các nhà máy có chất thải vào hồ.
Riêng về nuôi cá bằng lồng bè, theo báo cáo của đoàn,
có đến 213 hộ nuôi (1.208 lồng) đã gây ảnh hưởng
nghiêm trọng đến nguồn nước. Đoàn công tác sau đó
đã kiến nghị UBND tỉnh thông báo chấm dứt hoạt
động nuôi cá bè. Tỉnh đã ra thông báo hạn chót đến
ngày 30-6-2005 phải giải tỏa xong, trả lại hiện
trạng ban đầu cho hồ Dầu Tiếng. Chúng tôi cũng đã
thành lập đoàn công tác giải tỏa lồng bè cá trong
hồ Dầu Tiếng, liên tục nhắc nhở người dân tự
nguyện di dời lồng bè cá ra khỏi khu vực này. Sau 4
lần kiểm tra, đến nay trên lòng hồ còn 124 hộ
với 626 lồng. Trong thời gian tới, việc giải tỏa,
di dời các hộ nuôi cá bè ra khỏi hồ Dầu Tiếng
sẽ được thực hiện kiên quyết, dứt điểm.
- Theo kế hoạch, đến ngày 31-12 là thời hạn
cuối cùng để các hộ nuôi cá bè di dời ra khỏi
hồ Dầu Tiếng. Tuy nhiên nhiều hộ cố tình dây dưa,
cho rằng đã “lỡ” thả giống. Tỉnh có gia hạn
việc này?
- Đến nay, ngoài những hộ đã tự giác di dời, UBND
huyện Dương Minh Châu đã ra quyết định xử phạt hành
chính bằng hình thức cảnh cáo đối với 96 hộ -
hiện đã có 30 hộ chấp hành quyết định xử phạt
còn 60 hộ phải cưỡng chế. Huyện Tân Châu xử
phạt 41 hộ, có 11 hộ chấp hành, 30 hộ phải cưỡng
chế. Riêng huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương còn
28 hộ chưa có quyết định xử phạt.
Để hoàn chỉnh các thủ tục cưỡng chế di dời
theo quy định và tránh thiệt hại cho người dân, chúng
tôi đã chỉ đạo tiếp tục lập biên bản, ra
quyết định xử phạt vi phạm hành chính những hộ
vẫn cố tình “bám trụ” lòng hồ cho đến ngày
31-12. Do số hộ dân đang “bám trụ” trên hồ, là
những hộ cố tình không chấp hành việc chấm dứt
nuôi cá trong hồ sau khi thu hoạch, nên tỉnh không có
chủ trương hỗ trợ di dời, gia hạn để khai thác cá
bè đã “lỡ” thả giống. UBND tỉnh chỉ đạo kiên
quyết cưỡng chế giải tỏa lồng bè sau ngày
1-1-2006.
- Thưa ông, nguồn nước hồ Dầu Tiếng ô nhiễm
thì không chỉ người dân Tây Ninh mà người dân
TPHCM, Bình Dương, Bình Phước cũng bị ảnh hưởng.
Nhất là khi TPHCM đang triển khai dự án lấy nước
hồ Dầu Tiếng để hòa mạng cấp nước sinh hoạt
của thành phố vào năm 2007. Xin ông cho biết quan điểm
của lãnh đạo tỉnh về việc này?
-Tây Ninh đã xây dựng “Kế hoạch sử dụng nguồn
nước cho sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân”. Ngoài
việc kiên quyết giải tỏa các hộ nuôi cá bè, ngành
nông nghiệp của tỉnh sẽ tiến hành thả cá vào
hồ nhằm tận dụng các phiêu sinh vật, xử lý mùn bã
hữu cơ, giữ môi trường trong sạch nước hồ Dầu
Tiếng phục vụ lâu dài cho sản xuất và sinh hoạt
của nhân dân.
Dự kiến năm 2006 dung tích hữu ích của hồ Dầu
Tiếng đạt khoảng 869 triệu m3 với mục tiêu bảo
vệ môi trường nước và phục vụ sinh hoạt, tưới
tiêu. Chúng tôi đã có kế hoạch phục vụ các đối
tượng sau: Cấp nước vụ đông xuân, trong đó sản
xuất nông nghiệp là 53.000ha (Tây Ninh 43.000ha, TPHCM
10.000ha) tương đương 424 triệu m3 và nước cho sinh
hoạt, công nghiệp là 130 triệu m3; cấp nước cho
vụ hè thu khoảng 241 triệu m3.
-Xin cảm ơn ông.
Đoàn
Nghiệp - Nguyễn Vinh (Theo Báo
SGGP)
|
| Nhập
khẩu hàng ngàn tấn ắcquy chì độc hại
|
|
|
|
Bộ
Tài nguyên và Môi trường đã nhận được thông báo
của cơ quan thẩm quyền môi trường Nhật Bản,
Hồng Kông, Brunei, Sri Lanka... cảnh báo việc một số
doanh nghiệp (DN) Việt Nam nhập khẩu ắcquy chì đã
qua sử dụng rồi tái xuất sang nước thứ ba, vi
phạm nghiêm trọng Công ước Basel. Ngay lập tức,
việc nhập khẩu này bị tạm ngừng, nhưng việc xử
lý ra sao đối với số ắcquy đã nhập khẩu vào VN
dường như rất chậm chạp.
Kẽ
hở từ chính sách
Mặc
dù có tên trong các chất thải nguy hại cấm nhập
khẩu, trung chuyển được liệt kê trong Công ước
Basel (mà VN là thành viên), nhưng từ đầu năm 2004 đến
tháng 9/2005, bằng đường biển qua cảng Hải Phòng,
có tới 14 DN (chủ yếu ở Hải Phòng, Quảng Ninh) đã
nhập khẩu loại ắcquy độc hại này vào trong nước
với số lượng hàng trăm ngàn tấn, sau đó xuất đi
nước thứ ba.
Trong quá trình tháo rời, lượng axít trong ắcquy chì
bị rò rỉ ra môi trường đã gây tác hại không
nhỏ làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường. Hiện
tại kho ngoại quan Móng Cái vẫn còn tồn khoảng
10.000 tấn.
Theo các cơ quan chức năng, việc nhập số ắcquy chì
này đã vi phạm điều 14 Quy chế quản lý chất
thải nguy hại, ban hành kèm theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg
của Thủ tướng Chính phủ và vi phạm các quy định
tại Công ước Basel.
Các DN nhập khẩu đều không xin giấy phép của Bộ
Tài nguyên và Môi trường để vận chuyển hàng hoá
từ cảng Hải Phòng đến Móng Cái; trung chuyển từ
nước ngoài vào VN để xuất khẩu sang nước thứ ba
cũng không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền
các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Chiểu theo Nghị định 138/NĐ-CP của Chính phủ quy định
việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan, thì
hành vi nhập khẩu hàng hoá (ắcquy chì cũ) của các
DN đã vi phạm khoản 6 và 7 điều 15.
Chế tài xử phạt cho 2 hành vi này từ 10-20 triệu đồng
và từ 40-70 triệu đồng, buộc đưa ra khỏi lãnh
thổ VN trong vòng 30 ngày kể từ ngày được giao
quyết định xử phạt, hoặc buộc tiêu huỷ tang
vật, phương tiện vi phạm...
Ngày 5/8/2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có công
văn gửi Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) đề
nghị chỉ đạo các cơ quan hải quan thực hiện đúng
các quy định của pháp luật trong việc quản lý
nhập khẩu, trung chuyển các chất phế thải, rà soát,
kiểm tra các doanh nghiệp đã kinh doanh, trung chuyển
phế thải để xuất ra khỏi lãnh thổ VN.
Tuy nhiên, các DN Việt Nam đã sử dụng một số văn
bản của hải quan như là những căn cứ pháp lý cho
việc trung chuyển phế thải và do sự lơi lỏng của
các địa phương nơi có cảng biển và cửa khẩu đã
thiếu kiểm soát chặt chẽ, vận dụng văn bản
thiếu nhất quán để hàng ngàn tấn ắcquy chì "chui
lọt".
Rối
như gà mắc tóc
Theo
bà Đặng Thị Bình An - Phó Tổng cục trưởng Tổng
cục Hải quan trong công văn gửi Bộ Tài nguyên và Môi
trường ngày 23/8/2005 thì Tổng cục Hải quan đã có
công điện chỉ đạo hải quan các địa phương (cụ
thể Hải quan Quảng Ninh và Hải Phòng) thực hiện đúng
quy định của pháp luật trong việc làm thủ tục
hải quan đối với chất phế thải (ắcquy chì cũ).
Tuy nhiên, ngay tại thời điểm đó, số ắcquy chì tái
xuất vẫn "ung dung" qua các cửa khẩu mà chưa
bị cấm.
Theo số liệu của Cục Điều tra chống buôn lậu -
Tổng cục Hải quan, trước ngày 20/9/2005, hải quan
vẫn cho phép DN làm thủ tục tái xuất ắcquy chì cũ,
chỉ sau ngày 20.9, các lô hàng ắcquy chì mới bị
tạm dừng. Thậm chí, có UBND tỉnh vẫn làm hẳn công
văn yêu cầu hải quan địa phương tiếp tục cho DN tái
xuất... Do tình trạng "trống đánh xuôi, kèn
thổi ngược" này, mà sau khi có quyết định
ngừng nhập khẩu ắcquy chì của Tổng cục Hải quan,
các DN vẫn nhập về và đến nay còn tồn ở kho
ngoại quan cửa khẩu Móng Cái và Hải Phòng tới 500
container.
Nhưng vướng mắc lớn nhất hiện nay lại nằm ở
chỗ xử lý. Theo Nghị định 138, nếu phạt tiền,
buộc DN tái xuất thì chính cơ quan ký quyết định
xử lý lại vi phạm Công ước Basel vì cả nước
xuất khẩu, nước nhập khẩu đều không cho phép hàng
cấm được chuyển khẩu.
Ngày 25/10/2005, Ban 127/TW đã tổ chức cuộc họp với
đại diện các bên liên quan. Cuộc họp đã đi đến
thống nhất, cho rằng việc kinh doanh kho ngoại quan
mặt hàng ắcquy chì cũ là vi phạm pháp luật; đề
nghị điều tra làm rõ trách nhiệm để xủ lý nghiêm
khắc.
Tổng cục Hải quan cần có văn bản dừng hoàn toàn
việc nhập khẩu, trung chuyển mặt hàng này. Về xử
lý số ắcquy tồn đọng, yêu cầu báo cáo Thủ tướng
Chính phủ cho phép DN nhập khẩu tái xuất khi có
giấy phép của nước nhập khẩu; nếu DN không có
giấy phép thì đồng ý cho cơ quan xử lý phạt tiền,
tịch thu, rồi bán lại cho đơn vị có giấy phép
của nước nhập khẩu mua lại, xuất đi; phương án
nữa là phạt tiền, buộc DN đã nhập khẩu phải tiêu
huỷ. Thế nhưng đến nay, việc xử lý vẫn rất
chậm.
Hồng Quân – LĐ (Theo www.monre.gov.vn)
|
|
|
Hà
Nội: Môi trường xung quanh bãi rác Nam Sơn bị ảnh
hưởng nặng nề (12/2005)
|
|
|
|
|
|
|
|
Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ có
Quyết định số 695/QĐ-TTg thu hồi 130.607m2 đất
thuộc xã Nam Sơn và Hồng Kỳ (Sóc Sơn, Hà Nội) để
bàn giao cho Ban Quản lý Dự án công trình công
cộng (thuộc Sở Giao thông Công chính Hà Nội)
nhằm xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải Nam
Sơn – Sóc Sơn. Dự tính khu liên hợp này có thể
chứa rác thải của TP.Hà Nội trong vòng 25-30 năm.
Tuy nhiên, từ khi bãi rác này đi vào hoạt động thì
môi trường xung quanh đã bị ảnh hưởng nặng nề.
Bãi rác Nam Sơn (Xí nghiệp Quản lý
chất thải Nam Sơn – Cty Môi trường Đô thị Hà
Nội) nằm trên diện tích rộng 13,5ha trên địa bàn
hai xã Hồng Kỳ và Nam Sơn. Đây là Khu liên hợp
xử lý rác lớn nhất hiện nay và là nơi chứa
hầu hết rác thải của Hà Nội, Trong quá trình đổ
rác, do độ ẩm thiên nhiên, quá trình vận hành
xử lý rác và nước mưa, nên lượng rác đã qua
xử lý và số rác tồn đọng luôn bị đe dọa đến
môi trường sống. Theo anh Thanh - đội 10 xã Nam Sơn,
dù có xử lý thì môi trường vẫn chịu ảnh hưởng.
Chị Kiềm ở thôn Phú Xuân, cách bãi rác
Nam Sơn khoảng 100 m cho biết : Ở đây quanh năm hôi
thối, nước sinh hoạt hàng ngày cũng có mùi, ruồi
nhặng bay từng đàn, lại thêm máy ủi và xe chở rác
hoạt động suốt ngày đêm nên cuộc sống khó
chịu lắm. Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng
nghề trồng cây cảnh, lúa và một vài loại cây ăn
quả. Nhưng từ khi có bãi rác cây lúa héo mòn, đến
mùa thu hoạch thì không có hạt, chỉ trông vào vườn
quả ít năng suất.
Không chỉ ô nhiễm không khí, nguồn nước
sạch của bà con ở quanh bãi rác ngày một ô
nhiễm nghiêm trọng hơn. Con suối Cầu Lai cung cấp
nước tưới tiêu cho nhân dân đã bị ô nhiễm
trầm trọng. Theo thống kê của Trạm Y tế xã Nam Sơn
cho thấy, từ khi có bãi rác, tỷ lệ những bệnh
về tai mũi họng tăng 70%, đường ruột tăng 15%,
nấm tay, chân chiếm đa số, đặc biệt 100% người
dân trong xã mắc bệnh cúm, hầu như gia đình nào cũng
có người ốm.
(www.monre.gov.vn)
|
|
|
Tài
nguyên nước của Việt Nam có dấu hiệu cạn kiệt
(12/2005)
Theo
đánh giá của các nhà chuyên môn, về chất lượng,
tài nguyên nước của Việt Nam tốt nhưng đã có
dấu hiệu suy thoái và ô nhiễm.
Việt Nam là quốc gia có lượng mưa trong nước phân
bố không đều theo mùa và theo khu vực, lượng nước
mặt dự trữ có tới hơn 2/3 có nguồn từ nước
ngoài và lượng nước dưới đất có dấu hiệu
cạn kiệt.
Tại hội thảo góp ý chiến lược quốc gia về tài
nguyên nước đến năm 2020, được tổ chức ngày
1/12 tại Hà Nội, các nhà chuyên môn nhận định tài
nguyên nước của Việt Nam ẩn chứa nhiều yếu
tố không bền vững. Về chất lượng, tài nguyên nước
của Việt Nam tốt nhưng đã có dấu hiệu suy thoái
và ô nhiễm.
Các nhà khoa học chỉ rõ, một số khu vực đã
xảy ra mưa có độ pH thấp (mưa axít) và nguồn nước
mặt ở một số nơi đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc
biệt là ở các lưu vực sông và những đoạn sông
chảy qua khu đô thị lớn, khu công nghiệp.
Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của
Việt Nam chỉ khoảng 3.840m3/người/năm, thấp hơn
160 mét khối so với quy định của thế giới (trên
4.000 mét khối/người/năm). Trong khi đó, sự biến
đổi khí hậu cũng như thói quen tiêu dùng, khai thác
nước đang đặt ra vấn đề về sự suy kiệt
nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này.
(Theo
TTXVN)
|
|
|
|
|
Hà
Tĩnh: Bùng nổ nạn đào cây rừng làm cây cảnh (12/2005)
Mấy
năm gần đây các huyện có rừng như Hương Sơn, Hương
Khê, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Can Lộc... xuất
hiện hình thức phá rừng mới: Đào cây rừng để bán
làm cây cảnh.
Đối tượng khai thác là cây lộc vừng mà tiếng địa
phương gọi là cây mưng.
Quần thể lộc vừng sống ven các bờ suối với
mật độ khá dày. Từ loài lộc vừng cổ thụ thân
mấy người ôm đến những cây có đường kính nhỏ
hơn đều bị dân địa phương đào hàng nghìn gốc
tập trung về thành bãi đem bán ra Bắc.
Để đào được một cây lộc vừng phải tàn phá hàng
trăm cây xung quanh khiến dọc các khe suối một thời
rậm rạp góp phần vào việc ngăn nước lũ và giữ
nguồn sinh thủy, nay bị đào trắng, mùa mưa lũ đến
nước cuốn trôi hết đất màu về lấp ruộng đồng.
Khi nạn đào cây lộc vừng chưa được ngăn chặn,
thì lại xuất hiện tình trạng đào cây mùa cua,
một loại thân gỗ, cao hàng chục mét có tán rộng
che phủ hàng trăm mét vuông, mật độ khá dày ở các
vùng rừng Hà Tĩnh cũng đang bùng lên.
Những lái buôn đổ xô về mua kích thích sự săn lùng
đào bới giống cây này đem bán một cách vô tội
vạ. Dọc đường 12 từ cảng Vũng Áng đi Lào,
nhiều bãi tập kết giống cây này đào từ rừng
về chất hai bên đường chờ xe cẩu chở đi. Có
những cây thân cao gần 20 mét, gốc cả mấy người
ôm cũng bị đào rồi dùng xe cẩu vận chuyển.
Đào được một cây mùa cua chuyển xuống đường là
tàn phá hàng trăm cây xung quanh gây hậu quả nghiêm
trọng, biến những cánh rừng thành vùng hoang hoá.
Điều kỳ lạ là trên mọi tuyến giao thông đều có
nhiều trạm kiểm lâm chốt giữ nhưng hàng trăm
chuyến xe tham gia phá rừng chở cây về xuôi chẳng
ai ngăn chặn.
Đề nghị chính quyền địa phương các cấp sớm ra
tay ngăn chặn tình trạng này.
Võ Minh Châu -
Tiền Phong Online
|
|
|
Đà
Lạt: Tảo lam “nuốt” hồ Xuân Hương (12/2005)
Thành
phố Đà Lạt đã triển khai nhiều biện pháp xử lý
nhưng tảo lam vẫn đang bùng phát, sinh trưởng tràn
lan gây ô nhiễm nghiêm trọng danh thắng hồ Xuân Hương
– trái tim thành phố.
Xuân Hương là hồ nước thơ mộng được xây cách
đây gần thế kỷ. Nước hồ vốn trong xanh nhưng
từ tháng 5/2003 bỗng nhiên xuất hiện những mảng
“lạ” rộng cả ngàn mét vuông, màu xanh rêu, bóng
nhờn... Các mảng màu này loang dần khắp mặt hồ,
bốc mùi hôi thối. Thạc sĩ Lâm Ngọc Tuấn (Đại
học Đà Lạt) gọi đó là hiện tượng “nước nở
hoa” – một hiện tượng đáng sợ của bất kỳ
hồ thắng cảnh nào trên thế giới.
Nguyên nhân là do nước thải từ các khu dân cư, cơ
sở sản xuất – chế biến… hầu như đổ trực
tiếp ra các hồ lắng ( Đội Có, Cầu sắt, hồ
cạnh công viên Yersin) mà không qua hệ thống lọc;
hồ còn là “túi rác” hứng chai lọ, thuốc trừ sâu,
xác súc vật, các phế phẩm nông sản…
Mặc khác, các hồ lắng chưa phát huy đầy đủ
chức năng lắng lọc nên bùn đất, rác thải vẫn
chảy thẳng vào hồ Xuân Hương. Cùng với sự bùng
phát, sinh trưởng tràn lan của tảo lam với hàng tỷ
tế bào trong 1m³ nước, một số loài tảo độc khác
cũng được dịp chen chân phát triển. Người dân đã
được khuyến cáo tạm ngưng sử dụng nước hồ Xuân
Hương và không ăn tôm, cá… khai thác trong hồ.
Năm 2004, chương trình xử lý nước hồ Đội Có (hồ
bị ô nhiễm nặng nhất với làn nước đen ngòm, không
một loài tôm cá nào sống nổi) được triển khai
với kinh phí 292 triệu đồng do Trung tâm Nghiên cứu
kỹ thuật và quản lý môi trường thành phố Hồ Chí
Minh thực hiện nhưng nguồn nước vẫn chưa được
cải thiện, chẳng bao lâu sau tảo lam lại xuất
hiện.
Trước tình hình đó, Sở Khoa học và Công nghệ Lâm
Đồng tổ chức đấu thầu đề tài “Điều tra ô
nhiễm nước hồ Xuân Hương” với kinh phí hơn 100
triệu đồng. Nhóm các nhà khoa học (Viện Nghiên
cứu hạt nhân Đà Lạt) do Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh
phụ trách đã trúng thầu.
Sau hơn một năm nghiên cứu, mới đây, các nhà khoa
học kiến nghị: Cần xây dựng hệ thống xử lý nước
thải hoàn chỉnh cho các khu dân cư; hạn chế hoặc
di dời các cơ sở sản xuất rượu bia, rau hoa ở khu
vực đầu nguồn.
Nghiên cứu thả một số loài cá (mè hoa…) ăn các
loài phiêu sinh vật … giải tỏa các bến xe ngựa và
chấm dứt hiện tượng thả rông ngựa xung quanh bờ
hồ; cải tạo các hồ lắng thành hồ đa chức năng
(hồ lắng, chứa nước dự trữ, hồ cảnh quan, nuôi
cá…) để có nguồn nước sạch bổ sung vào hồ Xuân
Hương; xây dựng các đập tại Cầu sắt, hồ trước
công viên Yersin để giữ và điều tiết nước cho
hồ…
Cần xử lý sớm và triệt để tình trạng “nước
nở hoa” bởi Xuân Hương l | |