TÔI CÓ Ý KIẾN !
(12/2005)


Ngoại thành TPHCM: Nhiều sông, kênh đã hóa đen (12/2005)
Hà Nội: Cần những giải pháp chiến lược để giảm thiểu ô nhiễm bụi (12/2005)
Cấp bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông Đáy (12/2005)
Đất ngập nước của Việt Nam bị đe doạ ở mức độ cao (12/2005)
Những mối đe dọa đối với đa dạng sinh học tại Việt Nam (12/2005)

Kinh hoàng nước thải (12/2005)
Kiên quyết giải tỏa hộ nuôi cá không tự giác di dời ở hồ Dầu Tiếng  (12/2005)
Nhập khẩu hàng ngàn tấn ắcquy chì độc hại (12/2005)
Hà Nội: Môi trường xung quanh bãi rác Nam Sơn bị ảnh hưởng nặng nề (12/2005)
Tài nguyên nước của Việt Nam có dấu hiệu cạn kiệt (12/2005)
Hà Tĩnh: Bùng nổ nạn đào cây rừng làm cây cảnh (12/2005)
Đà Lạt: Tảo lam “nuốt” hồ Xuân Hương (12/2005)
Cà Mau: Diện tích rừng ngập mặn bị mất gần 40% trong 30 năm (12/2005)

Những mối đe dọa đối với đa dạng sinh học tại Việt Nam (12/2005)

Trồng rừng ở Sóc Sơn. Ảnh: TTXViệt NamViệt Nam là một trong các quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới. Tuy nhiên, sự tăng trưởng kinh tế rất nhanh của nước ta cùng với việc mở rộng các vùng đô thị, thay đổi nhanh chóng mục đích sử dụng đất và tăng khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, đã tạo một sức ép lớn lên môi trường.

Đất nước đang thay đổi rất nhanh và sâu rộng. Nếu không được quản lý chặt chẽ, thì có thể sự mất mát về đa dạng sinh học sẽ cản trở sự phát triển trong tương lai và gây thiệt hại cho các di sản thiên nhiên và văn hóa của đất nước.

Cách đây một thế kỷ, Việt Nam còn rất nhiều rừng giàu chất lượng cao, che phủ gần như cả nước. Năm 1943, độ che phủ rừng giảm xuống chỉ còn 14,3 triệu héc-ta ( 43% diện tích lãnh thổ ). Kể từ đó, rừng không ngừng suy giảm với một tốc độ nhanh chóng, đặc biệt là trong những năm chiến tranh và giai đoạn 1976-1985. Chính phủ ước tính tới năm 1990, độ che phủ rừng đã giảm xuống còn 10,88 triệu héc-ta ( 28,2%). Từ năm 1993, các chương trình quốc gia lớn như 327, 556 và 661 đã đẩy mạnh phủ xanh, tái trồng rừng và cải thiện công tác quản lý rừng, góp phần làm xoay chuyển chiều hướng tiêu cực đó. Theo thống kê chính thức năm 2004, độ che phủ rừng đã tăng tới 12,3 triệu héc-ta (37,3%). Chương trình 5 triệu héc-ta rừng (hay 661) nhằm mục đích tái lập độ che phủ 43% vào năm 2010.

Tuy nhiên, chất lượng của các khu rừng tự nhiên tiếp tục bị suy giảm và bị chia cắt. Hơn hai phần ba diện tích rừng của Việt Nam là rừng nghèo hoặc rừng đang phục hồi, trong khi đó rừng giàu và rừng kín chỉ chiếm 3,4% (năm 2000) và 4,6% (năm 2004) tổng diện tích rừng. Hầu như không còn các khu rừng ở các vùng thấp với tính đa dạng sinh học còn nguyên vẹn. Các cơ hội để phục hồi hoàn toàn đang giảm đi nhanh chóng vì các vùng rừng giàu đã bị chia cắt và cô lập thành những mảnh nhỏ. Có khoảng 6 triệu héc-ta rừng ở Việt Nam được đánh giá là dễ bị cháy. Trong khoảng thời gian 1992-2002, trung bình có 6.000 héc-ta rừng bị mất hàng năm do cháy. Trong khoảng ba năm trở lại đây, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn báo cáo rằng có 134.000 vụ vi phạm các quy định về phòng chống cháy rừng.

Năm 2005, đoàn đại biểu Chính phủ đi dự kì họp lần thứ 5 của Diễn đàn Liên Hiệp Quốc về rừng đã báo cáo rằng: bên cạnh tình trạng mất rừng, hàng năm hàng nghìn héc-ta rừng đang bị suy thoái – “mất rừng và suy thoái rừng là những nguyên nhân chính gây hiện tượng sa mạc hóa và làm nghèo đất, tạo ra hàng loạt các tác động tiêu cực và các thách thức cho sự phát triển kinh tế, xã hội và môi trường, như gây lũ lụt và hạn hán nghiêm trọng, gây khó khăn trong lĩnh vực cung ứng lâm sản, làm giảm diện tích đất trồng khiến cho tình trạng nghèo đói và thất nghiệp ở khu vực nông thôn càng đáng lo hơn”.

Bên cạnh đó, việc chuyển đất ngập nước vào những mục đích sử dụng khác đang diễn ra với tốc độ cao. Những vùng đất ngập nước còn lại đang bị sử dụng quá mức và chịu sức ép lớn từ các nhu cầu phát triển. Độ che phủ của rừng ngập mặn có vẻ được ổn định tại một số vùng, nhưng suy thoái của các rạn san hô vẫn diễn ra trên quy mô rộng.

Gần 700 loài bị đe dọa tuyệt chủng ở cấp quốc gia, trong khi đó trên 300 loài bị đe dọa tuyệt chủng cấp độ toàn cầu. Có 49 loài bị đe dọa ở cấp toàn cầu tại Việt Nam thuộc loại “cực kỳ nguy cấp”, nghĩa là chúng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng cao trong tự nhiên trong một tương lai rất gần. Các nguồn lợi thủy sản cũng đang suy giảm, đặc biệt đối với các hệ sinh thái thủy sinh trong đất liền và gần bờ, đe dọa tới sự tồn tại của một số loài. Nếu với xu hướng tiếp diễn như hiện nay, thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 có thể sẽ phải chứng kiến một làn sóng tuyệt chủng đối với một số loài động, thực vật hoang dã của Việt Nam ở một mức độ chưa từng thấy trong lịch sử, kèm theo các tác hại của cộng đồng địa phương.

Việc tiêu dùng động vật hoang dã, đặc biệt là thói quen ẩm thực ở nước ta gây thiệt hại lớn. Săn bắt là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với các khu bảo tồn và được coi là mối đe dọa lớn nhất đối với đa dạng sinh học ở Đông Nam Á. Năm 2002, buôn bán động thực vật hoang dã nội địa và liên biên giới ở Việt Nam lên tới khoảng 3.050 tấn, trị giá 66 triệu đô la Mỹ. Những nguy cơ khác gồm có các phương pháp đánh bắt thủy sản có tính hủy diệt, như dùng chất nổ, chất độc và sốc điện, gây hại cho hơn 80% rạn san hô ở Việt Nam. Nạn khai thác gỗ trái phép diễn ra tại những nơi không được bảo vệ chặt chẽ. Từ 0,5 đến 2 triệu mét khối gỗ bị khai thác trái phép hằng năm từ tất cả các loại rừng, gồm cả rừng đặc dụng. Tỉ lệ khai thác đã vượt mức bền vững khoảng 70%.

Các tác động không chú ý của việc xây dựng cơ sở hạ tầng đối với các hệ sinh thái dẫn tới mất đa dạng sinh học và bắt đầu bộc lộ rõ những tác động tiêu cực đối với năng suất của các ngành kinh tế và nền kinh tế nói chung, nhưng vẫn chưa có những đánh giá đầy đủ. Các hệ sinh thái rừng bị mất do bị xâm lấn để lấy đất canh tác và du canh du cư. Các vùng đất ngập nước như đồng cỏ ngập nước theo mùa, cũng đang bị đe dọa chuyển thành ruộng lúa. Sự gia tăng thương mại toàn cầu, du lịch và vận chuyển hàng hóa qua biên giới, cũng như phát triển các cơ sở hạ tầng, như đường giao thông, đã tạo điều kiện cho sự xâm nhập của các loài ngoại lai xâm hại. Hiện nay, các hệ sinh thái nước ngọt và nông nghiệp bị các loài ngoại lai xâm hại nghiêm trọng hơn rất nhiều, gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế.

Chính phủ Việt Nam cùng với các đối tác đang đáp ứng các nhu cầu bảo tồn khẩn cấp. Các nỗ lực của Chính phủ, các nhà tài trợ và các tổ chức bảo tồn quốc tế là rất lớn và đã tạo ra nhiều thành tựu có tính then chốt. Việt Nam đã thiết lập được khung luật pháp và thể chế vững chắc. Từ cuối những năm 1980, Việt Nam đã cam kết xây dựng các luật cần thiết để bảo vệ đa dạng sinh học. Năm 1995, Kế hoạch hành động đa dạng sinh học quốc gia (BAP) đã được phê chuẩn, hướng dẫn và tập trung cho các nỗ lực bảo tồn. Một BAP mới cho giai đoạn từ nay tới năm 2015 và định hướng năm 2020 đang được Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng và dự kiến sẽ được ban hành vào đầu năm 2006. Những chính sách quản lý của Chính phủ giữ vai trò quyết định, nhưng sự thành công lại nằm trong chính nhận thức của mỗi người dân đang hàng ngày hưởng lợi từ các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

(Theo Báo Hà Nội Mới )

Hà Tĩnh: Phá rừng phòng hộ để trồng cao su (12/2005)

Lợi dụng việc được phép đưa một số diện tích rừng nguyên liệu ít có giá trị kinh tế sang trồng cao su, Công ty cao su Hà Tĩnh đã chặt phá 70 héc-ta rừng phòng hộ ở các huyện Hương Khê, Kỳ Anh để trồng cao su.

Tại tiểu khu 175 rừng phòng hộ ở huyện Hương Khê công ty đã chặt hạ trên 50 héc-ta, gồm nhiều cây bản địa lâu năm. Tại xã Kỳ Sơn, huyện Kỳ Anh công ty đã chặt phá 20 héc-ta rừng có độ che phủ rất lớn. Tại đây công ty được giao 350 héc-ta để trồng cao su trên những diện tích không có rừng phòng hộ, nhưng công ty lại tự ý mở rộng diện tích trồng cao su trong khu vực rừng không được phép khai thác. Công ty đã thu được trên 200 mét khối gỗ từ việc chặt phá rừng. Đáng lưu ý là do không được phép chặt phá ở những khu vực cấm nên trong số gỗ khai thác được công ty tự ý làm và đóng dấu búa kiểm lâm để hợp pháp hoá việc chặt phá rừng. Có hơn 20 mét khối gỗ khai thác ở tiểu khu 175 được đóng dấu búa giả.

Lê Văn Thơn - MonreNet

Đất ngập nước của Việt Nam bị đe doạ ở mức độ cao (12/2005)

Rừng ngập mặn Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh) Tại Hội nghị khoa học về "Môi trường và Phát triển bền vững" vừa được tổ chức tại Hà Nội, một số nhà khoa học đã lên tiếng cảnh báo rằng các vùng đất ngập nước của Việt Nam đang bị đe dọa ở mức độ cao và đề nghị các cơ quan chức năng cần có biện pháp bảo vệ kịp thời.

Theo các nhà khoa học, các hoạt động khai thác thủy sản quá mức, triệt phá rừng ngập mặn, rừng tràm để nuôi trồng thủy sản, dùng thuốc nổ để đánh bắt thuỷ sản đã làm hủy hoại nghiêm trọng những vùng đất ngập nước.

Nhiều nhà khoa học khác cho biết trong những năm qua, diện tích rừng ở Việt Nam tuy có tăng lên nhưng chưa đạt hiệu quả phòng hộ môi trường. Suy thoái tài nguyên rừng kéo theo suy thoái tài nguyên đa dạng sinh học, mất rừng làm cho đất đai bị xói mòn, rửa trôi.

Theo kết quả quan trắc, thoái hóa đất là hiện tượng phổ biến ở các vùng nông thôn miền núi, dẫn đến thiếu đất canh tác, gây ảnh hưởng lớn đến vấn đề an toàn lương thực và đe dọa sự phát triển bền vững ở vùng núi.

(Theo TTXVN)

Cấp bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông Đáy (12/2005)

 

Trước tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sông Nhuệ, sông Đáy tại tỉnh Hà Nam, sáng 23/12 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực và Thứ trưởng thường trực Phạm Khôi Nguyên đã có buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh Hà Nam, Hà Tây và thành phố Hà Nội để thống nhất các biện pháp cấp bách xử lý tình hình ô nhiễm môi trường tại lưu vực 2 con sông này. Sau khi thống nhất các ý kiến với các địa phương, Bộ trưởng Mai Ái Trực yêu cầu UBND TP HN và UBND các tỉnh Hà Nam, Hà Tây khẩn trương thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sông Nhuệ, sông Đáy.

Theo đó, Bộ trưởng đưa ra các biện pháp cấp bách yêu cầu UBND tỉnh Hà Tây chỉ đạo, đóng hai cống La Khê và Vân Đình không cho nước chảy vào sông Đáy đồng thời tận dụng tối đa thời gian để mở cống Liên Mạc lấy nước sông Hồng cấp cho sông Nhuệ; UBND TP HN chỉ đạo, đóng đập Thanh Liệt, vận hành trạm bơm Yên Sở để thoát nước thải ra sông Hồng; UBND TP HN chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh trong lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy khẩn trương hoàn thành đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ, sông Đáy trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; UBND tỉnh Hà Tây chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Hà Nam và UBND TP HN xây dựng quy trình vận hành hệ thông cấp nước, thoát nước, tưới tiêu sông Nhuệ, sông Đáy theo đề xuất của UBND tỉnh Hà Nam, đảm bảo yêu cầu về môi trường, hoàn thành và đưa quy trình vào vận hành trước ngày 10/1/2006; giao Cục BVMT phối hợp với các địa phương kiểm tra tiến độ thực hiện các biện pháp nêu trên.

Bộ trưởng Mai Ái Trực cũng đề cập đến một số biện pháp lâu dài như: UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà Tây và Hà Nam kiểm tra ráo riết các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, có biện pháp kiên quyết và ấn định thời gian xử lý để chấm dứt tình trạng ô nhiễm môi trường không để kéo dài; UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà Nam và Hà Tây đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và thực hiện các dự án môi trường để nhanh chóng khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy. Bộ TN&MT sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ có chủ trương đầu tư dự án tổng thể bảo vệ, cải thiện môi trường sông Nhuệ, sông Đáy; giao Cục BVMT phối hợp với các tỉnh, thành phố tiến hành kiểm tra, lập danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, có các hình thức công bố công khai thông tin, tạo áp lực của công luận đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây ô nhiễm môi trường; giao Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục BVMT đánh giá khả năng chịu tải của hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy và nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn phát thải, dòng chảy môi trường để làm cơ sở cho công tác quản lý.

Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời với Bộ TN&MT để phối hợp giải quyết.

Www.monre.gov.vn P.V

Ngoại thành TPHCM: Nhiều sông, kênh đã hóa đen (12/2005)

Giờ đây về Hóc Môn, Củ Chi, Nhà Bè… lũ trẻ đã chẳng còn có thể vô tư nhảy ào xuống sông, kênh để tắm nữa bởi không ít sông, kênh ở đây đã… đen ngòm.

Đâu rồi những dòng sông xanh?

Một nhà máy thải nước thải ra rạch Cầu Dừa.

Ông Nguyễn Văn Nghiệp, một nông dân ở ấp 4, xã Đông Thạnh huyện Hóc Môn nhìn về rạch Cầu Dừa rầu rĩ nói: “Ba bốn năm trước, chiều nào sắp nhỏ đi làm đồng về cũng ghé vào con rạch này để tắm giặt. Giờ nước kênh có lúc đen như dầu hắc vậy… Ai còn dám xuống chứ!”. Vẫn giữ gương mặt rầu rầu ấy, ông dẫn chúng tôi đi dọc theo rạch Cầu Dừa vào lúc nước ròng…

Không khó khăn lắm, chúng tôi thấy ngay những ống xả nước không rõ từ nhà máy, xí nghiệp nào gần đó đâm tua tủa ra rạch. Một số ống trống còn đa phần vẫn tiếp tục rỉ rả nhả những dòng nước đen sóng sánh dầu mỡ ra rạch. Thở dài, ông Nghiệp nói: “Cách nay chưa lâu, khi địa phương cho xây lại hệ thống đường giao thông nội đồng và khai thông rạch Cầu Dừa, chúng tôi đã rất mừng… Những tưởng rằng đây sẽ là cơ hội phát triển sản xuất, thế nhưng…”.

Rạch Lùn chảy qua địa phận các phường Hiệp Bình Chánh, Linh Đông, Tam Phú… quận Thủ Đức cũng đang trong cảnh hóa đen như rạch Cầu Dừa. Tuy nhiên, nguyên nhân hóa đen ở rạch Lùn có khác. Theo anh Lê Ngọc Hải, một người dân cư ngụ ngay sát rạch Lùn thì… rác là nguyên nhân chính. Để chứng minh, anh Hải chỉ cho chúng tôi thấy những đống rác to tướng nằm cạnh mép rạch. “Cứ mỗi ngày qua đi, các bãi rác này lại bự thêm”, anh Hải nói. Nhiều người dân ngụ tại khu vực này còn cho chúng tôi biết, chiều chập choạng là lúc có nhiều người đến đổ rác nhất. Chạy dọc theo con rạch trên con đường đê ngoằn ngoèo chưa được 100 mét, chúng tôi đã thấy có đến 3 bãi rác nằm phơi mình giữa đê.

Công trình thủy lợi kênh Tam Tân huyện Củ Chi chưa kịp phát huy tác dụng “mang nước ngọt rửa phèn” cho vùng đất chua mặn này thì nay cũng đang bị hóa đen bởi nước thải không qua xử lý của các nhà máy gần đó đổ ra. Tương tự ở rạch Cầu Dừa, đi dọc kênh Tam Tân cũng sẽ dễ dàng bắt gặp những ống xả của các nhà máy, công ty rỉ rả xả nước thải đen bóng ra kênh.

Nhiều nông dân ở đây cho biết, vào lúc nước lên thì nước kênh trông còn đỡ, khi nước cạn, nước kênh đen… đến phát khiếp. Màu đen ấy lan đến tận kênh An Hạ, thâm nhập và len lỏi đến những cánh đồng của các xã Tân Hiệp, Tân Thạnh Đông của huyện Củ Chi và Hóc Môn. Từ năm 2002, Sở Nông nghiệp - Phát triển nông thôn TP đã cùng với UBND huyện Củ Chi làm việc với trên 20 công ty, nhà máy xí nghiệp đóng trên địa bàn 2 xã Tân Thông Hội và Tân Phú Trung để ngăn chặn tình trạng đen hóa tại dòng kênh này. Tuy nhiên, cho đến nay, chẳng những tình trạng này chưa được khắc phục mà mỗi năm một nghiêm trọng hơn.

Cũng tại Củ Chi, một con rạch tự nhiên dùng để tiêu, tưới cho các cánh đồng trồng lúa và hoa màu ở xã Tân Thạnh Đông, Hòa Phú, Trung An giờ cũng đã hóa đen vì bị biến thành kênh nhận nước thải từ một số công ty, nhà máy ở khu công nghiệp Tân Quy. Người dân canh tác trên cánh đồng này cho hay: từ hai, ba năm nay họ không thể sử dụng nước kênh này để tưới cho ruộng đồng nữa vì nước rất đen và sóng sánh dầu mỡ.

Kênh xanh - Bao giờ?

Một câu hỏi không dễ trả lời, bởi theo một cán bộ của Phòng Quản lý đô thị quận 12, hầu hết các nhánh sông, kênh chính của quận đã bị ô nhiễm và không thể một sớm một chiều khắc phục được. Tại huyện Củ Chi, tình trạng ô nhiễm sông, kênh không đến nỗi trầm trọng như quận 12 nhưng một cán bộ của Phòng Quản lý đô thị huyện cũng cho biết, phần lớn các đoạn sông, kênh đi qua các khu công nghiệp đã bị nhuộm đen hết rồi. Đây là hậu quả của việc có quá nhiều cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trong nội thành di dời ồ ạt ra ngoại thành, trong khi ở ngoại thành, ngành chức năng chưa kịp lên quy hoạch, chuẩn bị đất đai hợp lý cho các cơ sở này.

Hiện nay thành phố cũng đã có nhiều khu công nghiệp được đầu tư chu đáo để đón các doanh nghiệp di dời vào. Tuy nhiên, do giá thành cho thuê còn vượt khả năng chi trả của nhiều doanh nghiệp nên họ không vào. Hơn nữa, đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thuê hoặc mua đất nông nghiệp bên ngoài không những rẻ hơn mà còn “né” được phí môi trường - một khoản tiền không nhỏ. Trong bối cảnh ấy, lãnh đạo huyện Củ Chi hẳn cũng không dễ trả lời câu hỏi: sông, kênh ở đây bao giờ xanh trở lại?

Bên cạnh đó, tại những khu dân cư mới, mạng lưới thu gom rác của các công ty công ích còn rất mỏng nên không thể quán xuyến và thu gom rác cho các khu vực này. Hệ thống thu gom rác dân lập thì chưa mặn mà, bởi chưa có nhiều người dân chịu đóng tiền thu gom rác, nên rác ở đây thường được đổ thẳng xuống sông, kênh. Không chỉ có vậy, nhiều cơ sở chăn nuôi qui mô lớn cũng là một trong những tác nhân làm cho hệ thống kênh rạch ngoại thành bị “đen hóa”. Như khảo sát quanh rạch Cầu Dừa, chúng tôi thấy có rất nhiều chuồng trại nuôi heo ven con rạch để tiện bề thải nước thải và phân xuống lòng rạch. Vậy mà đến nay vẫn chưa thấy sự nhắc nhở nào từ phía các cơ quan chức năng!? 

QUANG ĐẠT (Mạng Báo SGGP)

 

 

Hà Nội: Cần những giải pháp chiến lược để giảm thiểu ô nhiễm bụi (12/2005)

 

Những năm gần đây, Hà Nội có tốc độ đô thị hóa rất nhanh và mật độ dân số nội thành cao nhất cả nước (trung bình hơn 10.000 người/km2) cũng đồng nghĩa với việc phải đối mặt hàng ngày với những ô nhiễm cả về không khí, nước thải và rác thải...Trong đó, ô nhiễm bụi đã, đang còn là vấn đề môi trường bức xúc của Hà Nội. Nhận thức được thực trạng này, nhiều chính sách, dự án đã  được đưa ra thực hiện nhưng cho đến nay ô nhiễm bụi ở thành phố vẫn ở mức cao. Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng ô nhiễm bụi ở Hà Nội và đề xuất các giải pháp khắc phục”  đã được xây dựng và thực hiện  trong bối cảnh như vậy.

 Đề tài do PGS.TS Hoàng Xuân Cơ, trường Đại học khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia Hà Nội) chủ trì đã hoàn thành sau hơn 1năm nghiên cứu với tổng vốn kinh phí 478 triệu đồng, vừa được Hội đồng khoa học kỹ thuật thành phố nghiệm thu. Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá hiện trạng và các nguồn gây ô nhiễm bụi ở thành phố, lượng hóa những thiệt hại do ô nhiễm bụi gây ra; đồng thời đánh giá kết quả và những hạn chế trong công tác quản lý đô thị, quản lý môi trường, từ đó đề xuất các giải pháp có hiệu quả nhằm giải quyết tình trạng ô nhiễm bụi trên địa bàn thành phố.

Theo quan điểm của tác giả, để đánh giá mức độ ô nhiễm bụi, ngoài nồng độ phải căn cứ vào các chất có trong bụi và ngoài bụi lơ lửng tổng số(TSP) phải quan tâm đến bụi kích thước nhỏ, nhỏ hơn 10 micơrông mét(PM10) hay nhỏ hơn2,5 micơrông mét (PM2,5).

Qua khảo sát, các nguồn thải bụi  ở Hà Nội chủ yếu gây ra từ 4 nguồn chính: công nghiệp, giao thông, xây dựng và sinh họat. Một trong những đặc điểm giao thông ở Hà Nội là cơ sở hạ tầng giao thông còn yếu, quy mô nhỏ và số lượng hạn chế, không đủ đáp ứng yêu cầu sử dụng. Phần lớn đường Hà Nội vẫn còn chật hẹp và rất bẩn, nhiều đất bụi trong khi số lượng ô tô, xe máy  gia tăng rất nhanh; tiếng ồn, bụi lơ lửng NOx và CO... đặc biệt là những lọai phương tiên quá hạn sử dụng  còn nhiều đã trở thành nguồn gây ô nhiễm lớn mặc dù không phải là nguồn gây các khí độc hại. Bên cạnh đó, họat động xây dựng đang diễn ra khắp nơi với quy mô  khác nhau cũng là nguồn ô nhiễm chính hiện nay và trong nhiều năm tới. Mặc dù Hà Nội không có nguồn công nghiệp phát sinh bụi lớn như các nhà máy nhiệt điện, than hay xi măng, nhưng với mật độ khá nhiều các nhà máy, xí nghiệp quy mô vừa và nhỏ, nguồn ô nhiễm vẫn là mối quan tâm lớn nhất.

Qua xem xét các chất gây ô nhiễm, căn cứ vào kết quả phân tích các tham số:CO, NOx, SO2, TSP, các hạt lơ lửng, bụi có đường kính PM10 và chì (từ xăng pha chì), tác giả cho rằng phần lớn diện tích thành phố Hà Nội hiện nay được xem là ô nhiễm đối với tiêu chuẩn TSP và ô nhiễm nhẹ đối với tiêu chuẩn PM10. Các diện tích vùng nông thôn được coi là không ô nhiễm ngoại trừ vùng bao quanh các khu công nghiệp thì bị ô nhiễm nhẹ với SO2. Một số vùng có nồng độ TSP cao là các khu công nghiệp cũ Thượng Đình, Vĩnh Tuy- Mai Động, Cầu Đuống, đây cũng là vùng có nhiều nguồn thải công nghiệp giao thông. Dựa trên số liệu quan trắc tự động và sử dụng hoa ô nhiễm (dạng biểu diễn nồng độ trung bình chất ô nhiễm không khí) khi xuất hiện các hướng gió, đề tài còn phát hiện các nguồn thải ô nhiễm thông qua số liệu đo được tại điểm trạm. Ví dụ: qua khảo sát thực địa, có thể thấy họat động xây dựng ở khu vực Mỹ Đình, Yên Hòa, Nhân Chính diễn ra mạnh mẽ hơn trong gia đọan cuối năm 2003-2004, đây có thể là nguyên nhân dẫn tới tăng nồng độ bụi trạm Láng khi có gió tây và gió có thành phần hướng tây. Phân tích chất gây ô nhiễm từ năm 1997 đến năm 2010, phần lớn diện tích khảo sát trên địa bàn thành phố được coi là bị ô nhiễm TSP và PM10. Ô nhiễm  NO2 vẫn thấy tồn tại trong khu phố cổ và khu vực bị ô nhiễm sẽ lan tỏa ra các vùng xung quanh.

Trong số các loại ô nhiễm tác động đến môi trường và sức khỏe con ngườI, ô nhiễm không khí được xếp vào loại khó đánh giá vì tác hại diễn biến từ từ, không nhìn thấy được và cho đến nay vẫn còn hạn chế trong công tác nghiên cứu. Tuy nhiên, qua kết quả đánh giá tác động môi trường không khí khu công nghiệp Thượng Đình cho thấy phần nào ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường không khí, làm tăng tỷ lệ người bị mắc các bệnh về đường hô hấp trên, hô hấp dưới (viêm phổi, hen, lao), suy nhược thần kinh, dị ứng, tim mạch, mắt…Tại Vùng tiếp giáp khu công nghiệp Thượng Đình cũ, tỷ lệ người dân phường Thanh Xuân bắc có các dấu hiệu tổn thương đường hô hấp cao hơn nhiều so với vùng đối chứng là xã Phú Thị, huyện Gia Lâm. Ô nhiễm bụi còn có thể gây ra các thiệt hại to lớn về giảm năng suất cây trồng, ảnh hưởng  đến hệ sinh thái, làm hư hỏng thiết bị, suy giảm tuổi thọ công trình, làm mất mỹ quan cơ sở hạ tầng…Có thể lượng hóa thiệt hại bằng tiền, ước tính 200- 500 tỷ đồng một năm.

Với 5 nội dung chính được đưa ra nghiên cứu, vấn đề mà tác giả muốn nhấn mạnh là “nếu chỉ dừng lại ở các biện pháp giảm thiểu bụi thông thường như hiện nay thì nồng độ bụi có xu hướng tăng lên và áp lực, tác động của bụi lên sức khỏe và họat động sống của con người cũng tăng lên tương ứng”. Từ đó, đề tài đề xuất một số giải pháp về luật pháp, chính sách, kỹ thuật, công cụ kinh tế, lồng ghép quy hoạch môi trường trong quy hoạch phát triển, quản lý và xã hội hóa công tác giảm thiểu ô nhiễm bụi. Đồng thời, đề tài đã đưa ra một kế hoạch giảm thiểu bụi đến năm 2010, có thể coi đây như là bước định hướng cho việc lập kế hoạch chi tiết hơn để thực thi có hiệu quả.

Theo tác giả: cần duy trì và tiếp tục nâng cao hiệu quả hệ thống quan trắc môi trường không khí, trong đó cần sớm xử lý  và đưa số liệu thu thập được từ các trạm quan trắc tự động vào hệ thống đánh giá hiện trạng ô nhiễm không khí và ô nhiễm bụi  trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, tất cả giải pháp, kế hoạch, chương trình giảm thiểu ô nhiễm bụi sẽ có tính hiệu quả trong trường hợp có sự quản lý, tổ chức thực hiện tốt và đặc biệt có đủ kinh phí. Vì vậy, cần có sự nỗ lực không chỉ của cơ quan quản lý tài nguyên, môi trường mà của nhiều ngành nghề, nhiều tổ chức, các tầng lớp nhân nhân. Bởi trong một chừng mực nào đó thì mỗi chúng ta không chỉ là nạn nhân mà còn là tác nhân gây ô nhiễm bụi.

Minh Nghĩa (www.monre.gov.vn)


Kinh hoàng nước thải (12/2005)

Dòng nước của các con sông Hà Nội đều chung 1 màu đen.

Dòng nước của các con sông Hà Nội đều chung 1 màu đen. Ảnh: TT

Hơn 90% lượng nước thải chưa qua xử lý đang chảy thẳng xuống các sông, hồ của Hà Nội. Sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ và sông Kim Ngưu đặc một màu đen và ngày càng bốc mùi.

Dự án kè hai bên bờ sông Tô Lịch được đầu tư tiền tỷ và triển khai xong cách đây không lâu nhưng người dân vẫn phải chịu đựng mùi ô nhiễm. Dọc theo bờ sông Tô Lịch, nhiều thứ trôi nổi trên mặt nước, từ các loại rác thải đến xác súc vật, hệ thống cống nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp cũng không ngừng được xả xuống.

Hiện tại lòng hồ Bảy Mẫu đang phải tiếp nhận nguồn nước từ bốn cống xả. Nguồn nước thải tại những cống này đang chảy tràn qua các phai chắn xả thẳng xuống lòng hồ, tất cả đều một màu đen.

Bà Nguyễn Thị Thu, phường Kim Liên, than phiền: "Cứ mỗi lần nhân viên môi trường vớt rác thải xung quanh hồ Ba Mẫu, mùi hôi thối lại bốc lên, ngày thường lòng hồ này đã bị ô nhiễm nặng, trước đây cá còn chết nổi đầy mặt hồ".

Tại công viên Thống Nhất, sáng 11/12, những người tập thể dục buổi sáng đã không thể chịu được cảnh nước thải chảy tràn qua cả đường chạy trong công viên. Ông Nguyễn Hữu Chiến, phường Đồng Tâm, bức xúc: “Chúng tôi đi tập nhưng phải mang theo khẩu trang, dưới hồ nặng mùi hôi thối”.

Theo Công ty Công viên Thống Nhất, đầu năm 2005, Sở Giao thông công chính đã cho xây dựng hệ thống tách nước thải không cho chảy trực tiếp vào lòng hồ. Đầu tháng 12, dòng nước thải tại bốn cống dâng cao và tràn qua cống tách nước thải chảy thẳng vào lòng hồ khiến nguồn nước trong hồ bị ô nhiễm nặng...

Nước thải đã xử lý: 6%

Theo Sở Tài nguyên - Môi trường & Nhà đất Hà Nội, hiện nay tổng lượng nước thải sinh hoạt tại khu vực nội thành Hà Nội lên tới 500.000 m3/ngày đêm. Trong đó có khoảng 1/5 từ các cơ sở công nghiệp, dịch vụ, bệnh viện.

Lượng nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường mới chỉ đạt khoảng 6%. Còn lại hơn 90% xả trực tiếp xuống sông, hồ mà không qua một khâu xử lý nào.

Tháng 9, hai nhà máy xử lý nước thải đầu tiên, Kim Liên và Trúc Bạch, được bàn giao cho Xí nghiệp xử lý nước thải thuộc Công ty Thoát nước Hà Nội để vận hành, tuy nhiên công suất của hai nhà máy này chỉ khoảng 6.000 m3/ngày đêm.

Theo Xí nghiệp xử lý nước thải, nhà máy này được vận hành phục vụ khoảng 10.000 hộ dân tại khu tập thể Kim Liên.

Các cơ quan chức năng cho rằng vẫn còn khá nhiều đơn vị, xí nghiệp trên địa bàn thành phố chưa có hệ thống xử lý nước thải. Thành phố mới có khoảng 40 cơ sở sản xuất công nghiệp, 29 cơ sở dịch vụ và năm bệnh viện có trạm xử lý nước thải.

Trong giai đoạn 2003-2007, sẽ xử lý 10 cơ sở gây ô nhiễm gồm bốn cơ sở công nghiệp và sáu bệnh viện. Tuy nhiên, theo đánh giá của Sở Tài nguyên - môi trường & nhà đất, 10 cơ sở này sẽ được xử lý trong năm 2005.

Nhà máy chờ nước thải

Trong khi đó, một nhà máy được đầu tư hơn 10 triệu USD, công suất 38.000 m3/ngày đêm đã hoàn thành nhưng không có nước thải để xử lý. Ông Phan Hoài Minh, Giám đốc Xí nghiệp xử lý nước thải, Công ty Thoát nước Hà Nội, cho biết tháng 10, xí nghiệp nhận bàn giao Nhà máy xử lý nước thải Bắc Thăng Long - Vân Trì, theo kế hoạch nhà máy này sẽ phục vụ các khu vực dân sinh, Khu công nghiệp Bắc Thăng Long - Vân Trì.

Nhà máy không có nước thải để xử lý vì đường ống dẫn nước thải vào nhà máy chưa thi công xong. Hiện tại, xí nghiệp đang phải làm nhiệm vụ duy tu và bảo dưỡng, khoảng 12 tháng nữa đường ống dẫn nước mới hoàn thành, lúc đó mới vận hành được.

Theo ông Minh, hiện tại nguồn nước thải đã qua xử lý tại các nhà máy được xả trở lại sông Lừ, nguồn nước này sẽ có tác dụng “pha loãng” nguồn nước đang ô nhiễm, tới đây nguồn nước này sẽ được đưa vào tái sử dụng cấp nguồn nước cho hồ.

(Theo VNExpress)

 

Phản hồi về vụ nuôi cá bè gây ô nhiễm nghiêm trọng hồ Dầu Tiếng :

Kiên quyết giải tỏa hộ nuôi cá không tự giác di dời  (12/2005)

 

Sau khi báo SGGP khởi đăng bài viết phản ánh tình trạng nuôi cá bè tràn lan gây ô nhiễm nghiêm trọng hồ Dầu Tiếng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tây Ninh Nguyễn Văn Châu đã trả lời phỏng vấn của phóng viên xung quanh vấn đề này.
 
- PV: Thưa ông, xin ông cho biết thực chất mức độ ô nhiễm nguồn nước tại hồ Dầu Tiếng hiện nay như thế nào?
  

Hồ Dầu Tiếng

-Ông NGUYỄN VĂN CHÂU: Tình hình nguồn nước tại hồ Dầu Tiếng trong năm 2004 đã được Viện Nghiên cứu nuôi trồng thủy sản II kết luận là bị ô nhiễm hữu cơ vùng trung và thượng lưu; lòng hồ bị nhiễm phèn, ảnh hưởng không tốt cho con người và cá. Nguyên nhân chủ yếu là do phát sinh nuôi cá bằng lồng bè nhiều, có thời điểm lên đến 1.208 lồng.

-Thưa ông, phải chăng chúng ta chưa có biện pháp mạnh hoặc một định hướng, kế hoạch dài hơi trong việc khai thác nguồn lợi thủy sản cũng như bảo vệ nguồn nước tại lòng hồ Dầu Tiếng? 

-Năm 2004, do tình hình giá cả thuận lợi nên phát sinh một số hộ nuôi bằng lồng, bè tự phát quá nhiều, gây ô nhiễm môi trường nước. Trước tình hình trên, UBND tỉnh chỉ đạo tạm ngưng phát triển bè cá trong hồ Dầu Tiếng. Ngày 27-10-2004, UBND tỉnh đã thành lập đoàn kiểm tra liên ngành (có sự tham gia của các tỉnh bạn như Bình Dương, Bình Phước), kiểm tra tình hình nuôi cá, đào ao vùng bán ngập, khai thác cát và kiểm tra các nhà máy có chất thải vào hồ.

Riêng về nuôi cá bằng lồng bè, theo báo cáo của đoàn, có đến 213 hộ nuôi (1.208 lồng) đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn nước. Đoàn công tác sau đó đã kiến nghị UBND tỉnh thông báo chấm dứt hoạt động nuôi cá bè. Tỉnh đã ra thông báo hạn chót đến ngày 30-6-2005 phải giải tỏa xong, trả lại hiện trạng ban đầu cho hồ Dầu Tiếng. Chúng tôi cũng đã thành lập đoàn công tác giải tỏa lồng bè cá trong hồ Dầu Tiếng, liên tục nhắc nhở người dân tự nguyện di dời lồng bè cá ra khỏi khu vực này. Sau 4 lần kiểm tra, đến nay trên lòng hồ còn 124 hộ với 626 lồng. Trong thời gian tới, việc giải tỏa, di dời các hộ nuôi cá bè ra khỏi hồ Dầu Tiếng sẽ được thực hiện kiên quyết, dứt điểm. 

- Theo kế hoạch, đến ngày 31-12 là thời hạn cuối cùng để các hộ nuôi cá bè di dời ra khỏi hồ Dầu Tiếng. Tuy nhiên nhiều hộ cố tình dây dưa, cho rằng đã “lỡ” thả giống. Tỉnh có gia hạn việc này?

- Đến nay, ngoài những hộ đã tự giác di dời, UBND huyện Dương Minh Châu đã ra quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo đối với 96 hộ - hiện đã có 30 hộ chấp hành quyết định xử phạt còn 60 hộ phải cưỡng chế. Huyện Tân Châu xử phạt 41 hộ, có 11 hộ chấp hành, 30 hộ phải cưỡng chế. Riêng huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương còn 28 hộ chưa có quyết định xử phạt.

Để hoàn chỉnh các thủ tục cưỡng chế di dời theo quy định và tránh thiệt hại cho người dân, chúng tôi đã chỉ đạo tiếp tục lập biên bản, ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính những hộ vẫn cố tình “bám trụ” lòng hồ cho đến ngày 31-12. Do số hộ dân đang “bám trụ” trên hồ, là những hộ cố tình không chấp hành việc chấm dứt nuôi cá trong hồ sau khi thu hoạch, nên tỉnh không có chủ trương hỗ trợ di dời, gia hạn để khai thác cá bè đã “lỡ” thả giống. UBND tỉnh chỉ đạo kiên quyết cưỡng chế giải tỏa lồng bè sau ngày 1-1-2006.

- Thưa ông, nguồn nước hồ Dầu Tiếng ô nhiễm thì không chỉ người dân Tây Ninh mà người dân TPHCM, Bình Dương, Bình Phước cũng bị ảnh hưởng. Nhất là khi TPHCM đang triển khai dự án lấy nước hồ Dầu Tiếng để hòa mạng cấp nước sinh hoạt của thành phố vào năm 2007. Xin ông cho biết quan điểm của lãnh đạo tỉnh về việc này?
 
-Tây Ninh đã xây dựng “Kế hoạch sử dụng nguồn nước cho sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân”. Ngoài việc kiên quyết giải tỏa các hộ nuôi cá bè, ngành nông nghiệp của tỉnh sẽ tiến hành thả cá vào hồ nhằm tận dụng các phiêu sinh vật, xử lý mùn bã hữu cơ, giữ môi trường trong sạch nước hồ Dầu Tiếng phục vụ lâu dài cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Dự kiến năm 2006 dung tích hữu ích của hồ Dầu Tiếng đạt khoảng 869 triệu m3 với mục tiêu bảo vệ môi trường nước và phục vụ sinh hoạt, tưới tiêu. Chúng tôi đã có kế hoạch phục vụ các đối tượng sau: Cấp nước vụ đông xuân, trong đó sản xuất nông nghiệp là 53.000ha (Tây Ninh 43.000ha, TPHCM 10.000ha) tương đương 424 triệu m3 và nước cho sinh hoạt, công nghiệp là 130 triệu m3; cấp nước cho vụ hè thu khoảng 241 triệu m3. 
 
-Xin cảm ơn ông. 

Đoàn Nghiệp - Nguyễn Vinh (Theo  Báo SGGP)

Nhập khẩu hàng ngàn tấn ắcquy chì độc hại

 

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã nhận được thông báo của cơ quan thẩm quyền môi trường Nhật Bản, Hồng Kông, Brunei, Sri Lanka... cảnh báo việc một số doanh nghiệp (DN) Việt Nam nhập khẩu ắcquy chì đã qua sử dụng rồi tái xuất sang nước thứ ba, vi phạm nghiêm trọng Công ước Basel. Ngay lập tức, việc nhập khẩu này bị tạm ngừng, nhưng việc xử lý ra sao đối với số ắcquy đã nhập khẩu vào VN dường như rất chậm chạp.

Kẽ hở từ chính sách

Mặc dù có tên trong các chất thải nguy hại cấm nhập khẩu, trung chuyển được liệt kê trong Công ước Basel (mà VN là thành viên), nhưng từ đầu năm 2004 đến tháng 9/2005, bằng đường biển qua cảng Hải Phòng, có tới 14 DN (chủ yếu ở Hải Phòng, Quảng Ninh) đã nhập khẩu loại ắcquy độc hại này vào trong nước với số lượng hàng trăm ngàn tấn, sau đó xuất đi nước thứ ba.
Trong quá trình tháo rời, lượng axít trong ắcquy chì bị rò rỉ ra môi trường đã gây tác hại không nhỏ làm ô nhiễm nghiêm trọng môi trường. Hiện tại kho ngoại quan Móng Cái vẫn còn tồn khoảng 10.000 tấn.
Theo các cơ quan chức năng, việc nhập số ắcquy chì này đã vi phạm điều 14 Quy chế quản lý chất thải nguy hại, ban hành kèm theo Quyết định 155/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ và vi phạm các quy định tại Công ước Basel.
Các DN nhập khẩu đều không xin giấy phép của Bộ Tài nguyên và Môi trường để vận chuyển hàng hoá từ cảng Hải Phòng đến Móng Cái; trung chuyển từ nước ngoài vào VN để xuất khẩu sang nước thứ ba cũng không có giấy phép của cơ quan có thẩm quyền các nước xuất khẩu và nước nhập khẩu.
Chiểu theo Nghị định 138/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực hải quan, thì hành vi nhập khẩu hàng hoá (ắcquy chì cũ) của các DN đã vi phạm khoản 6 và 7 điều 15.
Chế tài xử phạt cho 2 hành vi này từ 10-20 triệu đồng và từ 40-70 triệu đồng, buộc đưa ra khỏi lãnh thổ VN trong vòng 30 ngày kể từ ngày được giao quyết định xử phạt, hoặc buộc tiêu huỷ tang vật, phương tiện vi phạm...
Ngày 5/8/2005, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có công văn gửi Tổng cục Hải quan (Bộ Tài chính) đề nghị chỉ đạo các cơ quan hải quan thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc quản lý nhập khẩu, trung chuyển các chất phế thải, rà soát, kiểm tra các doanh nghiệp đã kinh doanh, trung chuyển phế thải để xuất ra khỏi lãnh thổ VN.
Tuy nhiên, các DN Việt Nam đã sử dụng một số văn bản của hải quan như là những căn cứ pháp lý cho việc trung chuyển phế thải và do sự lơi lỏng của các địa phương nơi có cảng biển và cửa khẩu đã thiếu kiểm soát chặt chẽ, vận dụng văn bản thiếu nhất quán để hàng ngàn tấn ắcquy chì "chui lọt".

Rối như gà mắc tóc

Theo bà Đặng Thị Bình An - Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Hải quan trong công văn gửi Bộ Tài nguyên và Môi trường ngày 23/8/2005 thì Tổng cục Hải quan đã có công điện chỉ đạo hải quan các địa phương (cụ thể Hải quan Quảng Ninh và Hải Phòng) thực hiện đúng quy định của pháp luật trong việc làm thủ tục hải quan đối với chất phế thải (ắcquy chì cũ). Tuy nhiên, ngay tại thời điểm đó, số ắcquy chì tái xuất vẫn "ung dung" qua các cửa khẩu mà chưa bị cấm.
Theo số liệu của Cục Điều tra chống buôn lậu - Tổng cục Hải quan, trước ngày 20/9/2005, hải quan vẫn cho phép DN làm thủ tục tái xuất ắcquy chì cũ, chỉ sau ngày 20.9, các lô hàng ắcquy chì mới bị tạm dừng. Thậm chí, có UBND tỉnh vẫn làm hẳn công văn yêu cầu hải quan địa phương tiếp tục cho DN tái xuất... Do tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" này, mà sau khi có quyết định ngừng nhập khẩu ắcquy chì của Tổng cục Hải quan, các DN vẫn nhập về và đến nay còn tồn ở kho ngoại quan cửa khẩu Móng Cái và Hải Phòng tới 500 container.
Nhưng vướng mắc lớn nhất hiện nay lại nằm ở chỗ xử lý. Theo Nghị định 138, nếu phạt tiền, buộc DN tái xuất thì chính cơ quan ký quyết định xử lý lại vi phạm Công ước Basel vì cả nước xuất khẩu, nước nhập khẩu đều không cho phép hàng cấm được chuyển khẩu.
Ngày 25/10/2005, Ban 127/TW đã tổ chức cuộc họp với đại diện các bên liên quan. Cuộc họp đã đi đến thống nhất, cho rằng việc kinh doanh kho ngoại quan mặt hàng ắcquy chì cũ là vi phạm pháp luật; đề nghị điều tra làm rõ trách nhiệm để xủ lý nghiêm khắc.
Tổng cục Hải quan cần có văn bản dừng hoàn toàn việc nhập khẩu, trung chuyển mặt hàng này. Về xử lý số ắcquy tồn đọng, yêu cầu báo cáo Thủ tướng Chính phủ cho phép DN nhập khẩu tái xuất khi có giấy phép của nước nhập khẩu; nếu DN không có giấy phép thì đồng ý cho cơ quan xử lý phạt tiền, tịch thu, rồi bán lại cho đơn vị có giấy phép của nước nhập khẩu mua lại, xuất đi; phương án nữa là phạt tiền, buộc DN đã nhập khẩu phải tiêu huỷ. Thế nhưng đến nay, việc xử lý vẫn rất chậm.

 Hồng Quân – LĐ (Theo www.monre.gov.vn)

 

 

Hà Nội: Môi trường xung quanh bãi rác Nam Sơn bị ảnh hưởng nặng nề (12/2005)

 

 

 

 

 

Năm 1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 695/QĐ-TTg thu hồi 130.607m2 đất thuộc xã Nam Sơn và Hồng Kỳ (Sóc Sơn, Hà Nội) để bàn giao cho Ban Quản lý Dự án công trình công cộng (thuộc Sở Giao thông Công chính Hà Nội) nhằm xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn – Sóc Sơn. Dự tính khu liên hợp này có thể chứa rác thải của TP.Hà Nội trong vòng 25-30 năm. Tuy nhiên, từ khi bãi rác này đi vào hoạt động thì môi trường xung quanh đã bị ảnh hưởng nặng nề.

Bãi rác Nam Sơn (Xí nghiệp Quản lý chất thải Nam Sơn – Cty Môi trường Đô thị Hà Nội) nằm trên diện tích rộng 13,5ha trên địa bàn hai xã Hồng Kỳ và Nam Sơn. Đây là Khu liên hợp xử lý rác lớn nhất hiện nay và là nơi chứa hầu hết rác thải của Hà Nội, Trong quá trình đổ rác, do độ ẩm thiên nhiên, quá trình vận hành xử lý rác và nước mưa, nên lượng rác đã qua xử lý và số rác tồn đọng luôn bị đe dọa đến môi trường sống. Theo anh Thanh - đội 10 xã Nam Sơn, dù có xử lý thì môi trường vẫn chịu ảnh hưởng.

Chị Kiềm ở thôn Phú Xuân, cách bãi rác Nam Sơn khoảng 100 m cho biết : Ở đây quanh năm hôi thối, nước sinh hoạt hàng ngày cũng có mùi, ruồi nhặng bay từng đàn, lại thêm máy ủi và xe chở rác hoạt động suốt ngày đêm nên cuộc sống khó chịu lắm. Nhân dân ở đây sống chủ yếu bằng nghề trồng cây cảnh, lúa và một vài loại cây ăn quả. Nhưng từ khi có bãi rác cây lúa héo mòn, đến mùa thu hoạch thì không có hạt, chỉ trông vào vườn quả ít năng suất.

Không chỉ ô nhiễm không khí, nguồn nước sạch của bà con ở quanh bãi rác ngày một ô nhiễm nghiêm trọng hơn. Con suối Cầu Lai cung cấp nước tưới tiêu cho nhân dân đã bị ô nhiễm trầm trọng. Theo thống kê của Trạm Y tế xã Nam Sơn cho thấy, từ khi có bãi rác, tỷ lệ những bệnh về tai mũi họng tăng 70%, đường ruột tăng 15%, nấm tay, chân chiếm đa số, đặc biệt 100% người dân trong xã mắc bệnh cúm, hầu như gia đình nào cũng có người ốm.

(www.monre.gov.vn)

 

Tài nguyên nước của Việt Nam có dấu hiệu cạn kiệt (12/2005)

Ảnh từ www.advite.comTheo đánh giá của các nhà chuyên môn, về chất lượng, tài nguyên nước của Việt Nam tốt nhưng đã có dấu hiệu suy thoái và ô nhiễm.

Việt Nam là quốc gia có lượng mưa trong nước phân bố không đều theo mùa và theo khu vực, lượng nước mặt dự trữ có tới hơn 2/3 có nguồn từ nước ngoài và lượng nước dưới đất có dấu hiệu cạn kiệt.

Tại hội thảo góp ý chiến lược quốc gia về tài nguyên nước đến năm 2020, được tổ chức ngày 1/12 tại Hà Nội, các nhà chuyên môn nhận định tài nguyên nước của Việt Nam ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững. Về chất lượng, tài nguyên nước của Việt Nam tốt nhưng đã có dấu hiệu suy thoái và ô nhiễm.

Các nhà khoa học chỉ rõ, một số khu vực đã xảy ra mưa có độ pH thấp (mưa axít) và nguồn nước mặt ở một số nơi đã bị ô nhiễm cục bộ, đặc biệt là ở các lưu vực sông và những đoạn sông chảy qua khu đô thị lớn, khu công nghiệp.

Hiện nay lượng nước bình quân đầu người của Việt Nam chỉ khoảng 3.840m3/người/năm, thấp hơn 160 mét khối so với quy định của thế giới (trên 4.000 mét khối/người/năm). Trong khi đó, sự biến đổi khí hậu cũng như thói quen tiêu dùng, khai thác nước đang đặt ra vấn đề về sự suy kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này.

(Theo TTXVN)

 

Hà Tĩnh: Bùng nổ nạn đào cây rừng làm cây cảnh (12/2005)

Những cây mùa cua tập kết ven Quốc lộ 12 Mấy năm gần đây các huyện có rừng như Hương Sơn, Hương Khê, Đức Thọ, Cẩm Xuyên, Kỳ Anh, Can Lộc... xuất hiện hình thức phá rừng mới: Đào cây rừng để bán làm cây cảnh.

Đối tượng khai thác là cây lộc vừng mà tiếng địa phương gọi là cây mưng.

Quần thể lộc vừng sống ven các bờ suối với mật độ khá dày. Từ loài lộc vừng cổ thụ thân mấy người ôm đến những cây có đường kính nhỏ hơn đều bị dân địa phương đào hàng nghìn gốc tập trung về thành bãi đem bán ra Bắc.

Để đào được một cây lộc vừng phải tàn phá hàng trăm cây xung quanh khiến dọc các khe suối một thời rậm rạp góp phần vào việc ngăn nước lũ và giữ nguồn sinh thủy, nay bị đào trắng, mùa mưa lũ đến nước cuốn trôi hết đất màu về lấp ruộng đồng.

Khi nạn đào cây lộc vừng chưa được ngăn chặn, thì lại xuất hiện tình trạng đào cây mùa cua, một loại thân gỗ, cao hàng chục mét có tán rộng che phủ hàng trăm mét vuông, mật độ khá dày ở các vùng rừng Hà Tĩnh cũng đang bùng lên.

Những lái buôn đổ xô về mua kích thích sự săn lùng đào bới giống cây này đem bán một cách vô tội vạ. Dọc đường 12 từ cảng Vũng Áng đi Lào, nhiều bãi tập kết giống cây này đào từ rừng về chất hai bên đường chờ xe cẩu chở đi. Có những cây thân cao gần 20 mét, gốc cả mấy người ôm cũng bị đào rồi dùng xe cẩu vận chuyển.

Đào được một cây mùa cua chuyển xuống đường là tàn phá hàng trăm cây xung quanh gây hậu quả nghiêm trọng, biến những cánh rừng thành vùng hoang hoá.

Điều kỳ lạ là trên mọi tuyến giao thông đều có nhiều trạm kiểm lâm chốt giữ nhưng hàng trăm chuyến xe tham gia phá rừng chở cây về xuôi chẳng ai ngăn chặn.

Đề nghị chính quyền địa phương các cấp sớm ra tay ngăn chặn tình trạng này. 

Võ Minh Châu - Tiền Phong Online

 

 

Đà Lạt: Tảo lam “nuốt” hồ Xuân Hương (12/2005)

Thành phố Đà Lạt đã triển khai nhiều biện pháp xử lý nhưng tảo lam vẫn đang bùng phát, sinh trưởng tràn lan gây ô nhiễm nghiêm trọng danh thắng hồ Xuân Hương – trái tim thành phố.

Xuân Hương là hồ nước thơ mộng được xây cách đây gần thế kỷ. Nước hồ vốn trong xanh nhưng từ tháng 5/2003 bỗng nhiên xuất hiện những mảng “lạ” rộng cả ngàn mét vuông, màu xanh rêu, bóng nhờn... Các mảng màu này loang dần khắp mặt hồ, bốc mùi hôi thối. Thạc sĩ Lâm Ngọc Tuấn (Đại học Đà Lạt) gọi đó là hiện tượng “nước nở hoa” – một hiện tượng đáng sợ của bất kỳ hồ thắng cảnh nào trên thế giới.

Nguyên nhân là do nước thải từ các khu dân cư, cơ sở sản xuất – chế biến… hầu như đổ trực tiếp ra các hồ lắng ( Đội Có, Cầu sắt, hồ cạnh công viên Yersin) mà không qua hệ thống lọc; hồ còn là “túi rác” hứng chai lọ, thuốc trừ sâu, xác súc vật, các phế phẩm nông sản…

Mặc khác, các hồ lắng chưa phát huy đầy đủ chức năng lắng lọc nên bùn đất, rác thải vẫn chảy thẳng vào hồ Xuân Hương. Cùng với sự bùng phát, sinh trưởng tràn lan của tảo lam với hàng tỷ tế bào trong 1m³ nước, một số loài tảo độc khác cũng được dịp chen chân phát triển. Người dân đã được khuyến cáo tạm ngưng sử dụng nước hồ Xuân Hương và không ăn tôm, cá… khai thác trong hồ.

Năm 2004, chương trình xử lý nước hồ Đội Có (hồ bị ô nhiễm nặng nhất với làn nước đen ngòm, không một loài tôm cá nào sống nổi) được triển khai với kinh phí 292 triệu đồng do Trung tâm Nghiên cứu kỹ thuật và quản lý môi trường thành phố Hồ Chí Minh thực hiện nhưng nguồn nước vẫn chưa được cải thiện, chẳng bao lâu sau tảo lam lại xuất hiện.

Trước tình hình đó, Sở Khoa học và Công nghệ Lâm Đồng tổ chức đấu thầu đề tài “Điều tra ô nhiễm nước hồ Xuân Hương” với kinh phí hơn 100 triệu đồng. Nhóm các nhà khoa học (Viện Nghiên cứu hạt nhân Đà Lạt) do Tiến sĩ Nguyễn Văn Minh phụ trách đã trúng thầu.

Sau hơn một năm nghiên cứu, mới đây, các nhà khoa học kiến nghị: Cần xây dựng hệ thống xử lý nước thải hoàn chỉnh cho các khu dân cư; hạn chế hoặc di dời các cơ sở sản xuất rượu bia, rau hoa ở khu vực đầu nguồn.

Nghiên cứu thả một số loài cá (mè hoa…) ăn các loài phiêu sinh vật … giải tỏa các bến xe ngựa và chấm dứt hiện tượng thả rông ngựa xung quanh bờ hồ; cải tạo các hồ lắng thành hồ đa chức năng (hồ lắng, chứa nước dự trữ, hồ cảnh quan, nuôi cá…) để có nguồn nước sạch bổ sung vào hồ Xuân Hương; xây dựng các đập tại Cầu sắt, hồ trước công viên Yersin để giữ và điều tiết nước cho hồ…

Cần xử lý sớm và triệt để tình trạng “nước nở hoa” bởi Xuân Hương l