Môi
trường là gì?
Môi
trường có những chức năng cơ bản nào?
Vì
sao nói Môi trường trái đất là nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin cho con người?
Bảo
vệ môi trường là việc của ai?
Phải
làm gì để bảo vệ môi trường?
Khoa
học môi trường là gì?
Khoa
học môi trường nghiên cứu những gì?
Môi
trường và phát triển kinh tế xã hội có quan hệ như
thế nào?
Vì
sao nói "Môi trường là nguồn tài nguyên của con
người"?
Khủng
hoảng môi trường là gì ?
Công
nghệ môi trường là gì ?
Công
nghệ sạch là gì?
Sản
xuất sạch hơn là gì?
Sự
cố môi trường là gì?
Ô
nhiễm môi trường là gì?
Suy
thoái môi trường là gì?
Tiêu
chuẩn môi trường là gì?
ISO
14000 là gì?
Đánh
giá tác động môi trường là gì?
Kinh
tế môi trường là gì?
Môi
trường là gì?
"Môi
trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật
chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh
con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên
nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường
của Việt Nam).
Môi
trường sống của con người theo chức năng được
chia thành các loại:
- Môi
trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên
như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý
muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu
tác động của con người. Đó là ánh sáng mặt trời,
núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật,
đất, nước... Môi trường tự nhiên cho ta không
khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng
cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại
tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ
và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải,
cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc
sống con người thêm phong phú.
- Môi
trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người
với người. Đó là những luật lệ, thể chế, cam
kết, quy định, ước định... ở các cấp khác
nhau như: Liên Hợp Quốc, Hiệp hội các nước, quốc
gia, tỉnh, huyện, cơ quan, làng xã, họ tộc, gia đình,
tổ nhóm, các tổ chức tôn giáo, tổ chức đoàn thể,...
Môi trường xã hội định hướng hoạt động của
con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên
sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển,
làm cho cuộc sống của con người khác với các
sinh vật khác.
- Ngoài
ra, người ta còn phân biệt khái niệm môi trường
nhân tạo, bao gồm tất cả các nhân tố do con người
tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống,
như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở, các khu vực đô
thị, công viên nhân tạo...
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố
tự nhiên và xã hội cần thiết cho sự sinh sống, sản
xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không
khí, đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...
Môi trường theo nghĩa hẹp không xét tới tài nguyên
thiên nhiên, mà chỉ bao gồm các nhân tố tự nhiên và
xã hội trực tiếp liên quan tới chất lượng cuộc sống
con người. Ví dụ: môi trường của học sinh gồm nhà
trường với thầy giáo, bạn bè, nội quy của trường,
lớp học, sân chơi, phòng thí nghiệm, vườn trường,
tổ chức xã hội như Đoàn, Đội với các điều lệ
hay gia đình, họ tộc, làng xóm với những quy định
không thành văn, chỉ truyền miệng nhưng vẫn được công
nhận, thi hành và các cơ quan hành chính các cấp với
luật pháp, nghị định, thông tư, quy định.
Tóm lại, môi trường là tất cả những gì có xung
quanh ta, cho ta cơ sở để sống và phát triển.
Về đầu trang
Môi
trường có những chức năng cơ bản nào?
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Môi
trường là không gian sống của con người và các
loài sinh vật.
- Môi
trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho
cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người.
- Môi
trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do
con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản
xuất của mình.
- Môi
trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của
thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất.
- Môi
trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho
con người.
Con người luôn cần một khoảng không gian dành cho
nhà ở, sản xuất lương thực và tái tạo môi trường.
Con người có thể gia tăng không gian sống cần thiết
cho mình bằng việc khai thác và chuyển đổi chức
năng sử dụng của các loại không gian khác như khai
hoang, phá rừng, cải tạo các vùng đất và nước mới.
Việc khai thác quá mức không gian và các dạng tài
nguyên thiên nhiên có thể làm cho chất lượng không
gian sống mất đi khả năng tự phục hồi.
Về đầu trang
Vì
sao nói Môi trường trái đất là nơi lưu trữ và cung
cấp thông tin cho con người?
Môi trường trái đất được coi là nơi lưu trữ và
cung cấp thông tin cho con người bởi vì chính môi trường
trái đất là nơi:
- Cung
cấp sự ghi chép và lưu trữ lịch sử địa chất,
lịch sử tiến hoá của vật chất và sinh vật, lịch
sử xuất hiện và phát triển văn hoá của loài người.
- Cung
cấp các chỉ thị không gian và tạm thời mang tính
chất báo động sớm các nguy hiểm đối với con
người và sinh vật sống trên trái đất như các phản
ứng sinh lý của cơ thể sống trước khi xẩy ra các
tai biến thiên nhiên và hiện tượng thiên nhiên đặc
biệt như bão, động đất, v.v.
- Lưu
trữ và cung cấp cho con người sự đa dạng các nguồn
gien, các loài động thực vật, các hệ sinh thái tự
nhiên và nhân tạo, các vẻ đẹp và cảnh quan có
giá trị thẩm mỹ, tôn giáo và văn hoá khác.
Bảo
vệ môi trường là việc của ai?
Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi
trường trong lành, sạch đẹp, cải thiện môi trường,
đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các
hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho
môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm
tài nguyên thiên nhiên.
Nhà nước bảo vệ lợi ích quốc gia về tài nguyên
và môi trường, thống nhất quản lý bảo vệ môi trường
trong cả nước, có chính sách đầu tư, bảo vệ môi
trường, có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc
giáo dục, đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ,
phổ biến kiến thức khoa học và pháp luật về bảo
vệ môi trường. Luật Bảo vệ Môi trường của Việt
Nam ghi rõ trong Điều 6: "Bảo vệ môi trường là
sự nghiệp của toàn dân. Tổ chức, cá nhân phải
có trách nhiệm bảo vệ môi trường, thi hành pháp luật
về bảo vệ môi trường, có quyền và có trách nhiệm
phát hiện, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo
vệ môi trường".
Phải
làm gì để bảo vệ môi trường?
Để bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường
của Việt Nam nghiêm cấm các hành vi sau đây:
- Đốt
phá rừng, khai thác khoáng sản một cách bừa bãi,
gây huỷ hoại môi trường, làm mất cân bằng sinh
thái;
- Thải
khói, bụi, khí độc, mùi hôi thối gây hại vào
không khí; phát phóng xạ, bức xạ quá giới hạn
cho phép vào môi trường xung quanh;
- Thải
dầu, mỡ, hoá chất độc hại, chất phóng xạ quá
giới hạn cho phép, các chất thải, xác động vật,
thực vật, vi khuẩn, siêu vi khuẩn độc hại và
gây dịch bệnh vào nguồn nước;
- Chôn
vùi, thải vào đất các chất độc hại quá giới
hạn cho phép;
- Khai
thác, kinh doanh các loại thực vật, động vật quý
hiếm trong danh mục quy định của Chính phủ;
- Nhập
khẩu công nghệ, thiết bị không đáp ứng tiêu chuẩn
môi trường, nhập khẩu, xuất khẩu chất thải;
- Sử
dụng các phương pháp, phương tiện, công cụ huỷ
diệt hàng loạt trong khai thác, đánh bắt các nguồn
động vật, thực vật.
Khoa
học môi trường là gì?
"Khoa học môi trường là ngành khoa học nghiên
cứu mối quan hệ và tương tác qua lại giữa con người
và môi trường xung quanh nhằm mục đích bảo vệ môi
trường sống của con người trên trái đất".
Môi trường là đối tượng nghiên cứu của nhiều
ngành khoa học như sinh học, địa học, hoá học,
v.v... Tuy nhiên, các ngành khoa học đó chỉ quan tâm đến
một phần hoặc một thành phần của môi trường theo
nghĩa hẹp mà không có một ngành khoa học nào đang có
hiện nay đủ điều kiện nghiên cứu và giải quyết mọi
nhiệm vụ của công tác bảo vệ môi trường là quản
lý và bảo vệ chất lượng các thành phần môi trường
sống của con người và sinh vật trên trái đất.
Như vậy, có thể xem khoa học môi trường là một
ngành khoa học độc lập, được xây dựng trên cơ sở
tích hợp các kiến thức của các ngành khoa học đã
có cho một đối tượng chung là môi trường sống bao
quanh con người với phương pháp và nội dung nghiên cứu
cụ thể.
Về đầu trang
Khoa
học môi trường nghiên cứu những gì?
Các nghiên cứu môi trường rất đa dạng được phân
chia theo nhiều cách khác nhau, có thể chia ra làm 4 loại
chủ yếu:
- Nghiên
cứu đặc điểm của các thành phần môi trường
(tự nhiên hoặc nhân tạo) có ảnh hưởng hoặc chịu
ảnh hưởng con người, nước, không khí, đất,
sinh vật, hệ sinh thái, khu công nghiệp, đô thị,
nông thôn v.v... Ở đây, khoa học
môi trường tập trung nghiên mối quan hệ và tác động
qua lại giữa con người với các thành phần của
môi trường sống.
- Nghiên
cứu công nghệ, kỹ thuật xử lý ô nhiễm bảo vệ
chất lượng môi trường sống của con người.
- Nghiên
cứu tổng hợp các biện pháp quản lý về khoa học
kinh tế, luật pháp, xã hội nhằm bảo vệ môi trường
và phát triển bền vững trái đất, quốc gia, vùng
lãnh thổ, ngành công nghiệp.
- Nghiên
cứu về phương pháp như mô hình hoá, phân tích
hoá học, vật lý, sinh vật phục vụ cho ba nội
dung trên.
Môi
trường và phát triển kinh tế xã hội có quan hệ như
thế nào?
Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều
kiện sống về vật chất và tinh thần của con người
qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến
quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá. Phát
triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài
người trong quá trình sống. Giữa môi trường và sự
phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ: môi
trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển,
còn phát triển là nguyên nhân tạo nên các biến đổi
của môi trường.
Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di
chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu
dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng
lượng, sản phẩm, phế thải. Các thành phần đó
luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự
nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn
tại trong địa bàn đó. Khu vực giao nhau giữa hai hệ
thống trên là môi trường nhân tạo.
Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường
thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường
tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải
tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự
nhiên hoặc nhân tạo. Mặt khác, môi trường tự nhiên
đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế
xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên
đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc
gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với các hoạt động
kinh tế xã hội trong khu vực.
Ở
các quốc gia có trình độ phát triển kinh tế khác
nhau có các xu hướng gây ô nhiễm môi trường khác
nhau. Ví dụ:
- Ô
nhiễm do dư thừa: 20% dân số thế giới ở các nước
giàu hiện sử dụng 80% tài nguyên và năng lượng của
loài người.
- Ô
nhiễm do nghèo đói: những người nghèo khổ ở
các nước nghèo chỉ có con đường phát triển duy
nhất là khai thác tài nguyên thiên nhiên (rừng,
khoáng sản, nông nghiệp,...). Do đó, ngoài 20% số
người giàu, 80% số dân còn lại chỉ sử dụng 20%
phần tài nguyên và năng lượng của loài người.
Mâu thuẫn giữa môi trường và phát triển trên dẫn
đến sự xuất hiện các quan niệm hoặc các lý thuyết
khác nhau về phát triển:
- Lý
thuyết đình chỉ phát triển là làm cho sự tăng
trưởng kinh tế bằng (0) hoặc mang giá trị (-) để
bảo vệ tài nguyên thiên nhiên của trái đất.
- Một
số nhà khoa học khác lại đề xuất lấy bảo vệ
để ngăn chặn sự nghiên cứu, khai thác tài nguyên
thiên nhiên.
- Năm
1992 các nhà môi trường đã đưa ra quan niệm phát
triển bền vững, đó là phát triển trong mức
độ duy trì chất lượng môi trường, giữ cân bằng
giữa môi trường và phát triển.
Về đầu trang
Vì
sao nói "Môi trường là nguồn tài nguyên của con
người"?
Môi trường là nơi con người khai thác nguồn vật liệu
và năng lượng cần thiết cho hoạt động sản xuất và
cuộc sống như đất, nước, không khí, khoáng sản và
các dạng năng lượng như gỗ, củi, nắng, gió,... Các
sản phẩm công, nông, lâm, ngư nghiệp và văn hoá, du lịch
của con người đều bắt nguồn từ các dạng vật chất
tồn tại trên trái đất và không gian bao quanh trái đất.
Các nguồn năng lượng, vật liệu, thông tin sau mỗi lần
sử dụng được tuần hoàn quay trở lại dạng ban đầu
được gọi là tài nguyên tái tạo. Ví dụ như nước
ngọt, đất, sinh vật, v.v... là loại tài nguyên mà sau
một chu trình sử dụng sẽ trở lại dạng ban đầu.
Trái lại, các nguồn năng lượng, vật liệu, thông
tin bị mất mát, biến đổi hoặc suy thoái không trở
lại dạng ban đầu thì được gọi là tài nguyên
không tái tạo. Ví dụ như tài nguyên khoáng sản, gien
di truyền. Tài nguyên khoáng sản sau khi khai thác từ mỏ,
sẽ được chế biến thành các vật liệu của con người,
do đó sẽ cạn kiệt theo thời gian. Tài nguyên gen di
truyền của các loài sinh vật quý hiếm, có thể mất
đi cùng với sự khai thác quá mức và các thay đổi về
môi trường sống.
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, con người
ngày càng tăng cường khai thác các dạng tài nguyên mới
và gia tăng số lượng khai thác, tạo ra các dạng sản
phẩm mới có tác động mạnh mẽ tới chất lượng môi
trường sống.
Khủng
hoảng môi trường là gì ?
Hiện nay, thế giới đang đứng trước 5 cuộc khủng
hoảng lớn là: dân số, lương thực, năng lượng, tài
nguyên và sinh thái. Năm cuộc khủng hoảng này đều liên
quan chặt chẽ với môi trường và làm cho chất lượng
cuộc sống của con người có nguy cơ suy giảm. Nguyên
nhân gây nên các cuộc khủng hoảng là do sự bùng nổ
dân số và các yếu tố phát sinh từ sự gia tăng dân
số. Do đó, xuất hiện một khái niệm mới là khủng
hoảng môi trường.
"Khủng hoảng môi trường là các suy thoái về
chất lượng môi trường sống trên quy mô toàn cầu,
đe doạ cuộc sống của loài người trên trái đất".
Sau đây là những biểu hiện của khủng hoảng môi trường:
- Ô
nhiễm không khí (bụi, SO2, CO2
v.v...) vượt tiêu chuẩn cho phép tại các đô thị,
khu công nghiệp.
- Hiệu
ứng nhà kính đang gia tăng làm biến đổi khí hậu
toàn cầu.
- Tầng
ozon bị phá huỷ.
- Sa
mạc hoá đất đai do nhiều nguyên nhân như bạc màu,
mặn hoá, phèn hoá, khô hạn.
- Nguồn
nước bị ô nhiễm.
- Ô
nhiễm biển xảy ra với mức độ ngày càng tăng.
- Rừng
đang suy giảm về số lượng và suy thoái về chất
lượng
- Số
chủng loài động thực vật bị tiêu diệt đang gia
tăng.
- Rác
thải, chất thải đang gia tăng về số lượng và mức
độ độc hại.
Về đầu trang
Công
nghệ môi trường là gì ?
"Công nghệ môi trường là tổng hợp các biện
pháp vật lý, hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử
lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất
và hoạt động của con người. Công nghệ môi trường
bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình
và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và
quy trình đó".
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, con người
tác động vào tài nguyên, biến chúng thành các sản phẩm
cần thiết sử dụng trong hoạt động sống. Việc này
không tránh khỏi phải thải bỏ các chất độc hại vào
môi trường, làm cho môi trường ngày càng ô nhiễm. Ở
các các nước phát triển, vốn đầu tư cho công nghệ
xử lý chất thải chiếm từ 10 - 40% tổng vốn đầu
tư sản xuất. Việc đầu tư các công nghệ này tuy cao
nhưng vẫn nhỏ hơn kinh phí cần thiết khi cần phục hồi
môi trường đã bị ô nhiễm.
Công
nghệ sạch là gì?
"Công nghệ sạch là quy trình công nghệ hoặc
giải pháp kỹ thuật không gây ô nhiễm môi trường,
thải hoặc phát ra ở mức thấp nhất chất gây ô nhiễm
môi trường".
Có thể áp dụng công nghệ sạch đối với các quy
trình sản xuất trong bất kỳ ngành công nghiệp nào
và bất kỳ sản phẩm công nghiệp nào. Đối với các
quá trình sản xuất, công nghệ sạch nhằm giảm thiểu
các tác động môi trường và an toàn của các sản phẩm
trong suốt chu trình sống của sản phẩm, bảo toàn
nguyên liệu, nước, năng lượng, loại bỏ các nguyên
liệu độc hại, nguy hiểm, giảm độc tính của các
khí thải, chất thải ngay từ khâu đầu của quy trình
sản xuất.
Sản
xuất sạch hơn là gì?
"Sản xuất sạch hơn là cải tiến liên tục
quá trình sản xuất công nghiệp, sản phẩm và dịch vụ
để giảm sử dụng tài nguyên thiên nhiên, để phòng
ngừa tại nguồn ô nhiễm không khí, nước và đất, và
giảm phát sinh chất thải tại nguồn, giảm thiểu rủi
ro cho con người và môi trường"
- Đối
với quá trình sản xuất: Sản xuất sạch hơn bao gồm
tiết kiệm nguyên vật liệu, năng lượng, loại trừ
các nguyên liệu độc, giảm lượng và độ độc của
các dòng thải trước khi đi ra khỏi quá trình sản
xuất.
- Đối
với sản phẩm: Sản xuất sạch hơn làm giảm ảnh
hưởng trong toàn bộ vòng đời của sản phẩm từ
khâu chế biến nguyên liệu đến khâu thải bỏ cuối
cùng.
Về đầu trang
Sự
cố môi trường là gì?
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Sự cố môi trường là các tai biến hoặc rủi
ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc
biến đổi bất thường của thiên nhiên, gây suy thoái
môi trường nghiêm trọng".
Sự cố môi trường có thể xảy ra do:
a.
Bão, lũ lụt, hạn hán, nứt đất,
động đất, trượt đất, sụt lở đất, núi lửa
phun, mưa axit, mưa đá, biến động khí hậu và thiên
tai khác;
b.
Hoả hoạn, cháy rừng, sự cố
kỹ thuật gây nguy hại về môi trường của cơ sở sản
xuất, kinh doanh, công trình kinh tế, khoa học, kỹ thuật,
văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;
c.
Sự cố trong tìm kiếm, thăm đò,
khai thác và vận chuyển khoáng sản, dầu khí, sập hầm
lò, phụt dầu, tràn dầu, vỡ đường ống dẫn dầu,
dẫn khí, đắm tàu, sự cố tại cơ sở lọc hoá dầu
và các cơ sở công nghiệp khác;
d.
Sự cố trong lò phản ứng hạt
nhân, nhà máy điện nguyên tử, nhà máy sản xuất,
tái chế nhiên liệu hạt nhân, kho chứa chất phóng xạ.
Về đầu trang
Ô
nhiễm môi trường là gì?
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính
chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường".
Trên thế giới, ô nhiễm môi trường được hiểu là
việc chuyển các chất thải hoặc năng lượng vào môi
trường đến mức có khả năng gây hại đến sức khoẻ
con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy
giảm chất lượng môi trường. Các tác nhân ô nhiễm
bao gồm các chất thải ở dạng khí (khí thải), lỏng
(nước thải), rắn (chất thải rắn) chứa hoá chất
hoặc tác nhân vật lý, sinh học và các dạng năng lượng
như nhiệt độ, bức xạ.
Tuy nhiên, môi trường chỉ được coi là bị ô nhiễm
nếu trong đó hàm lượng, nồng độ hoặc cường độ
các tác nhân trên đạt đến mức có khả năng tác động
xấu đến con người, sinh vật và vật liệu.
Suy
thoái môi trường là gì?
"Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất
lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây
ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và
thiên nhiên".
Trong đó, thành phần môi trường được hiểu là các
yếu tố tạo thành môi trường: không khí, nước, đất,
âm thanh, ánh sáng, lòng đất, núi, rừng, sông, hồ biển,
sinh vật, các hệ sinh thái, các khu dân cư, khu sản xuất,
khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan thiên nhiên, danh lam
thắng cảnh, di tích lịch sử và các hình thái vật chất
khác.
Tiêu
chuẩn môi trường là gì?
Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức,
giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ
để quản lý môi trường".
Vì vậy, tiêu chuẩn môi trường có quan hệ mật thiết
với sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia. Hệ
thống tiêu chuẩn môi trường là một công trình khoa học
liên ngành, nó phản ánh trình độ khoa học, công nghệ,
tổ chức quản lý và tiềm lực kinh tế - xã hội có
tính đến dự báo phát triển. Cơ cấu của hệ thống
tiêu chuẩn môi trường bao gồm các nhóm chính sau:
1.
Những quy định chung.
2.
Tiêu chuẩn nước, bao gồm nước
mặt nội địa, nước ngầm, nước biển và ven biển,
nước thải v.v...
3.
Tiêu chuẩn không khí, bao gồm
khói bụi, khí thải (các chất thải) v.v...
4.
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo
vệ đất canh tác, sử dụng phân bón trong sản xuất
nông nghiệp.
5.
Tiêu chuẩn về bảo vệ thực vật,
sử dụng thuốc trừ sâu, diệt cỏ.
6.
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo
vệ các nguồn gen, động thực vật, đa dạng sinh học.
7.
Tiêu chuẩn liên quan đến bảo
vệ cảnh quan thiên nhiên, các di tích lịch sử, văn hoá.
8.
Tiêu chuẩn liên quan đến môi
trường do các hoạt động khai thác khoáng sản trong
lòng đất, ngoài biển v.v...
Về đầu trang
ISO
14000 là gì?
Năm 1993, Tổ chức Tiêu chuẩn quốc tế (ISO) bắt đầu
xây dựng một bộ các tiêu chuẩn quốc tế về Quản
lý môi trường gọi là ISO 14000. Bộ tiêu chuẩn này gồm
3 nhóm chính:
- Nhóm
kiểm toán và đánh giá môi trường.
- Nhóm
hỗ trợ hướng về sản phẩm.
- Nhóm
hệ thống quản lý môi trường.
Phạm vi áp dụng ISO 14000:
- Tất
cả các doanh nghiệp.
- Các
khu vực như dịch vụ, ngân hàng, bảo hiểm, khách
sạn, xuất nhập khẩu, buôn bán, phân phối, lưu
kho, vận tải hàng hoá, khai thác.
- Các
cơ quan như trường học, các cơ quan chính phủ và
các tổ hợp quân sự.
Cho đến nay, rất nhiều nước trên thế giới đã áp
dụng các tiêu chuẩn trong bộ ISO 14000.
Đánh
giá tác động môi trường là gì?
"Đánh giá tác động môi trường là quá trình
phân tích, đánh giá, dự báo ảnh hưởng đến môi trường
của các dự án quy hoạch, phát triển kinh tế - xã hội,
của các cơ sở sản xuất, kinh doanh, công trình kinh tế,
khoa học kỹ thuật, y tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc
phòng và các công trình khác, đề xuất các giải pháp
thích hợp về bảo vệ môi trường".
Hoạt động phát triển kinh tế - xã hội ở đây có
loại mang tính kinh tế - xã hội của quốc gia, của một
địa phương lớn, hoặc một ngành kinh tế văn hóa
quan trọng (luật lệ, chính sách quốc gia, những chương
trình quốc gia về phát triển kinh tế - xã hội, kế
hoạch quốc gia dài hạn), có loại mang tính kinh tế -
xã hội vi mô như đề án xây dựng công trình xây dựng
cơ bản, quy hoạch phát triển, sơ đồ sử dụng một
dạng hoặc nhiều dạng tài nguyên thiên nhiên tại một
địa phương nhỏ. Tuy nhiên, một hoạt động có ý nghĩa
vi mô đối với cấp quốc gia, nhưng có thể có ý nghĩa
vĩ mô đối với xí nghiệp. Hoạt động vi mô nhưng
được tổ chức một cách phổ biến trên địa bàn rộng
có khi lại mang ý nghĩa vĩ mô.
Tác động đến môi trường có thể tốt hoặc xấu,
có lợi hoặc có hại nhưng việc đánh giá tác động
môi trường sẽ giúp những nhà ra quyết định chủ động
lựa chọn những phương án khả thi và tối ưu về
kinh tế và kỹ thuật trong bất cứ một kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội nào.
Về đầu trang
Kinh
tế môi trường là gì?
"Kinh tế môi trường là công cụ kinh tế được
sử dụng để nghiên cứu môi trường và điều đó cũng
có nghĩa là trong tính toán kinh tế phải xét đến các
vấn đề môi trường".
Các vấn đề này nằm giữa kinh tế và các hệ tư
nhiên nên rất phức tạp, do đó có thể coi kinh tế
môi trường là một ngành phụ trung gian giữa các
ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Những
điểm cần ghi nhớ khi xem xét kinh tế môi trường:
- Tài
nguyên không tái tạo như dầu mỏ, than đá, khí đốt
có thể bị cạn kiệt. Do đó, con người phải tìm
tài nguyên thay thế hoặc tìm công nghệ sử dụng
các loại năng lượng được coi là vĩnh cửu (năng
lượng gió, năng lượng mặt trời, năng lượng thuỷ
triều, v.v...).
- Con
người có thể kiểm soát được khả năng phục hồi
tài nguyên tái tạo và khả năng hấp thụ của môi
trường.
- Nâng
cao trách nhiệm đối với thiên nhiên (vai trò quản
lý môi trường).
- Tìm
cách kiểm soát dân số.