·
Quản
lý môi trường là gì?
·
Các
nguyên tắc chủ yếu của công tác QLMT là gì ?
·
Cơ
sở triết học của quản lý môi trường là gì?
·
Cơ
sở khoa học - kỹ thuật - công nghệ của quản lý
môi trường là gì?
·
Cơ
sở kinh tế của quản lý môi trường là gì?
·
Cơ
sở luật pháp của quản lý môi trường là gì?
·
Nội
dung công tác quản lý nhà nước về môi trường của
Việt Nam là gì?
·
Công
cụ quản lý môi trường gồm những gì?
·
Thế
nào là kiểm toán môi trường?
·
Các
công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm những
loại nào?
·
Thuế
và phí môi trường được quy định như thế nào?
·
Phí
dịch vụ môi trường là gì?
·
Cota
gây ô nhiễm là gì?
Quản
lý môi trường là gì?
"Quản lý môi trường là tổng hợp các biện
pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội
thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống
và phát triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia".
Các mục tiêu chủ yếu của công tác quản lý nhà nước
về môi trường bao gồm:
·
Khắc
phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát
sinh trong hoạt động sống của con người.
·
Phát
triển bền vững kinh tế và xã hội quốc gia theo 9
nguyên tắc của một xã hội bền vững do hội nghị
Rio-92 đề xuất. Các khía cạnh của phát triển bền vững
bao gồm: Phát triển bền vững kinh tế, bảo vệ các
nguồn tài nguyên thiên nhiên, không tạo ra ô nhiễm và
suy thoái chất luợng môi trường sống, nâng cao sự văn
minh và công bằng xã hội.
·
Xây
dựng các công cụ có hiệu lực quản lý môi trường
quốc gia và các vùng lãnh thổ. Các công cụ trên phải
thích hợp cho từng ngành, từng địa phương và cộng
đồng dân cư.
Về
đầu trang
Các
nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi trường
gồm những nguyên tắc nào?
Các nguyên tắc chủ yếu của công tác quản lý môi
trường bao gồm:
·
Hướng
công tác quản lý môi trường tới mục tiêu phát triển
bền vững kinh tế xã hội đất nước, giữ cân bằng
giữa phát triển và bảo vệ môi trường.
·
Kết
hợp các mục tiêu quốc tế - quốc gia - vùng lãnh thổ
và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường.
·
Quản
lý môi trường cần được thực hiện bằng nhiều biện
pháp và công cụ tổng hợp thích hợp.
·
Phòng
chống, ngăn ngừa tai biến và suy thoái môi trường cần
được ưu tiên hơn việc phải xử lý, hồi phục môi
trường nếu để gây ra ô nhiễm môi trường.
·
Người
gây ô nhiễm phải trả tiền cho các tổn thất do ô
nhiễm môi trường gây ra và các chi phí xử lý, hồi
phục môi trường bị ô nhiễm. Người sử dụng các
thành phần môi trường phải trả tiền cho việc sử dụng
gây ra ô nhiễm đó.
Về
đầu trang
Cơ
sở triết học của quản lý môi trường là gì?
Nguyên lý về tính thống nhất vật chất thế giới gắn
tự nhiên, con người và xã hội thành một hệ thống
rộng lớn "Tự nhiên - Con người - Xã hội",
trong đó yếu tố con người giữ vai trò rất quan trọng.
Sự thống nhất của hệ thống trên được thực hiện
trong các chu trình sinh địa hoá của 5 thành phần cơ bản:
·
Sinh
vật sản xuất (tảo và cây xanh) có chức năng tổng hợp
chất hữu cơ từ các chất vô cơ dưới tác động của
quá trình quang hợp.
·
Sinh
vật tiêu thụ là toàn bộ động vật sử dụng chất
hữu cơ có sẵn, tạo ra các chất thải.
·
Sinh
vật phân huỷ (vi khuẩn, nấm) có chức năng phân huỷ
các chất thải, chuyển chúng thành các chất vô cơ
đơn giản.
·
Con
người và xã hội loài người.
·
Các
chất vô cơ và hữu cơ cần thiết cho sự sống của
sinh vật và con người với số lượng ngày một tăng.
Tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con
người - Xã hội" đòi hỏi việc giải quyết vấn
đề môi trường và thực hiện công tác quản lý môi
trường phải toàn diện và hệ thống. Con người nắm
bắt cội nguồn sự thống nhất đó, phải đưa ra các
phương sách thích hợp để giải quyết các mâu thuẫn
nảy sinh trong hệ thống đó. Vì chính con người đã
góp phần quan trọng vào việc phá vỡ tất yếu khách
quan là sự thống nhất giữa tự nhiên - con người - xã
hội. Sự hình thành những chuyên ngành khoa học như quản
lý môi trường, sinh thái nhân văn là sự tìm kiếm của
con người nhằm nắm bắt và giải quyết các mâu thuẫn,
tính thống nhất của hệ thống "Tự nhiên - Con người
- Xã hội".
Về
đầu trang
Cơ
sở khoa học - kỹ thuật - công nghệ của quản lý
môi trường là gì?
Quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật
pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp
nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát
triển bền vững kinh tế xã hội quốc gia. Các nguyên
tắc quản lý môi trường, các công cụ thực hiện việc
giám sát chất lượng môi trường, các phương pháp xử
lý môi trường bị ô nhiễm được xây dựng trên cơ
sở sự hình thành và phát triển ngành khoa học môi trường.
Nhờ sự tập trung quan tâm cao độ của các nhà khoa học
thế giới, trong thời gian từ năm 1960 đến nay nhiều
số liệu, tài liệu nghiên cứu về môi trường đã
được tổng kết và biên soạn thành các giáo trình,
chuyên khảo. Trong đó, có nhiều tài liệu cơ sở,
phương pháp luận nghiên cứu môi trường, các nguyên
lý và quy luật môi trường.
Nhờ kỹ thuật và công nghệ môi trường, các vấn đề
ô nhiễm do hoạt động sản xuất của con người đang
được nghiên cứu, xử lý hoặc phòng tránh, ngăn ngừa.
Các kỹ thuật phân tích, đo đạc, giám sát chất lượng
môi trường như kỹ thuật viễn thám, tin học được
phát triển ở nhiều nước phát triển trên thế giới.
Tóm lại, quản lý môi trường cầu nối giữa khoa học
môi trường với hệ thống tự nhiên - con người - xã
hội đã được phát triển trên nền phát triển của
các bộ môn chuyên ngành.
Về
đầu trang
Cơ
sở kinh tế của quản lý môi trường là gì?
Quản lý môi trường được hình thành trong bối cảnh
của nền kinh tế thị trường và thực hiện điều tiết
xã hội thông qua các công cụ kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động phát triển
và sản xuất của cải vật chất diễn ra dưới sức
ép của sự trao đổi hàng hoá theo giá trị. Loại
hàng hoá có chất lượng tốt và giá thành rẻ sẽ
được tiêu thụ nhanh. Trong khi đó, loại hàng hoá kém
chất lượng và đắt sẽ không có chỗ đứng. Vì vậy,
chúng ta có thể dùng các phương pháp và công cụ kinh
tế để đánh giá và định hướng hoạt động phát
triển sản xuất có lợi cho công tác bảo vệ môi trường.
Các công cụ kinh tế rất đa dạng gồm các loại thuế,
phí và lệ phí, cota ô nhiễm, quy chế đóng góp có bồi
hoàn, trợ cấp kinh tế, nhãn sinh thái, hệ thống các
tiêu chuẩn ISO. Một số ví dụ về phân tích kinh tế
trong quản lý tài nguyên và môi trường như lựa chọn
sản lượng tối ưu cho một hoạt động sản xuất có
sinh ra ô nhiễm Q nào đó, hoặc xác định mức khai thác
hợp lý tài nguyên tái tạo v.v...
Về
đầu trang
Cơ
sở luật pháp của quản lý môi trường là gì?
Cơ sở luật pháp của quản lý môi trường là các văn
bản về luật quốc tế và luật quốc gia về lĩnh vực
môi trường.
Luật quốc tế về môi trường là tổng thể các
nguyên tắc, quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ
giữa các quốc gia, giữa quốc gia và tổ chức quốc tế
trong việc ngăn chặn, loại trừ thiệt hại gây ra cho
môi trường của từng quốc gia và môi trường ngoài
phạm vi tàn phá quốc gia. Các văn bản luật quốc tế
về môi trường được hình thành một cách chính thức
từ thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, giữa các quốc
gia châu Âu, châu Mỹ, châu Phi. Từ hội nghị quốc tế
về "Môi trường con người" tổ chức năm 1972
tại Thuỵ Điển và sau Hội nghị thượng đỉnh Rio 92
có rất nhiều văn bản về luật quốc tế được soạn
thảo và ký kết. Cho đến nay đã có hàng nghìn các văn
bản luật quốc tế về môi trường, trong đó nhiều văn
bản đã được chính phủ Việt Nam tham gia ký kết.
Trong phạm vi quốc gia, vấn đề môi trường được
đề cập trong nhiều bộ luật, trong đó Luật Bảo vệ
Môi trường được quốc hội nước Việt Nam thông qua
ngày 27/12/1993 là văn bản quan trọng nhất. Chính phủ
đã ban hành Nghị định 175/CP ngày 18/10/1994 về hướng
dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường và Nghị định
26/CP ngày 26/4/1996 về Xử phạt vi phạm hành chính về
bảo vệ môi trường. Bộ Luật hình sự, hàng loạt
các thông tư, quy định, quyết định của các ngành chức
năng về thực hiện luật môi trường đã được ban hành.
Một số tiêu chuẩn môi trường chủ yếu được soạn
thảo và thông qua. Nhiều khía cạnh bảo vệ môi trường
được đề cập trong các văn bản khác như Luật Khoáng
sản, Luật Dầu khí, Luật Hàng hải, Luật Lao động,
Luật Đất đai, Luật Phát triển và Bảo vệ rừng, Luật
Bảo vệ sức khoẻ của nhân dân, Pháp lệnh về đê
điều, Pháp lệnh về việc bảo vệ nguồn lợi thuỷ
sản, Pháp luật bảo vệ các công trình giao thông.
Các văn bản trên cùng với các văn bản về luật quốc
tế được nhà nước Việt Nam phê duyệt là cơ sở
quan trọng để thực hiện công tác quản lý nhà nước
về bảo vệ môi trường.
Về
đầu trang
Nội
dung công tác quản lý nhà nước về môi trường của
Việt Nam gồm những điểm gì?
Nội dung công tác quản lý nhà nước về môi trường
của Việt Nam được thể hiện trong Điều 37, Luật Bảo
vệ Môi trường, gồm các điểm:
·
Ban
hành và tổ chức việc thực hiện các văn bản pháp
quy về bảo vệ môi trường, ban hành hệ thống tiêu
chuẩn môi trường.
·
Xây
dựng, chỉ đạo thực hiện chiến lược, chính sách bảo
vệ môi trường, kế hoạch phòng chống, khắc phục
suy thoái môi trường, ô nhiễm môi trường, sự cố môi
trường.
·
Xây
dựng, quản lý các công trình bảo vệ môi trường, các
công trình có liên quan đến bảo vệ môi trường.
·
Tổ
chức, xây dựng, quản lý hệ thống quan trắc, định
kỳ đánh giá hiện trạng môi trường, dự báo diễn
biến môi trường.
·
Thẩm
định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của
các dự án và các cơ sở sản xuất kinh doanh.
·
Cấp
và thu hồi giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn môi trường.
·
Giám
sát, thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về
bảo vệ môi trường, giải quyết các khiếu nại, tố
cáo, tranh chấp về bảo vệ môi trường, xử lý vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường.
·
Đào
tạo cán bộ về khoa học và quản lý môi trường.
·
Tổ
chức nghiên cứu, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
·
Thiết
lập quan hệ quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Công
cụ quản lý môi trường gồm những gì?
Công cụ quản lý môi trường là các biện pháp hành
động thực hiện công tác quản lý môi trường của
nhà nước, các tổ chức khoa học và sản xuất. Mỗi
một công cụ có một chức năng và phạm vi tác động
nhất định, liên kết và hỗ trợ lẫn nhau.
Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại theo
chức năng gồm: Công cụ điều chỉnh vĩ mô, công cụ
hành động và công cụ hỗ trợ. Công cụ điều chỉnh
vĩ mô là luật pháp và chính sách. Công cụ hành động
là các công cụ có tác động trực tiếp tới hoạt động
kinh tế - xã hội, như các quy định hành chính, quy định
xử phạt v.v... và công cụ kinh tế. Công cụ hành động
là vũ khí quan trọng nhất của các tổ chức môi trường
trong công tác bảo vệ môi trường. Thuộc về loại này
có các công cụ kỹ thuật như GIS, mô hình hoá, đánh
giá môi trường, kiểm toán môi trường, quan trắc môi
trường. Công cụ quản lý môi trường có thể phân loại
theo bản chất thành các loại cơ bản sau:
·
Công
cụ luật pháp chính sách bao gồm các văn bản về luật
quốc tế, luật quốc gia, các văn bản khác dưới luật,
các kế hoạch và chính sách môi trường quốc gia, các
ngành kinh tế, các địa phương.
·
Các
công cụ kinh tế gồm các loại thuế, phí đánh vào
thu nhập bằng tiền của hoạt động sản xuất kinh
doanh. Các công cụ này chỉ áp dụng có hiệu quả
trong nền kinh tế thị trường.
·
Các
công cụ kỹ thuật quản lý thực hiện vai trò kiểm
soát và giám sát nhà nước về chất lượng và thành
phần môi trường, về sự hình thành và phân bố chất
ô nhiễm trong môi trường. Các công cụ kỹ thuật quản
lý có thể gồm các đánh giá môi trường, minitoring môi
trường, xử lý chất thải, tái chế và tái sử dụng
chất thải. Các công cụ kỹ thuật quản lý có thể
được thực hiện thành công trong bất kỳ nền kinh tế
phát triển như thế nào.
Về
đầu trang
Thế
nào là kiểm toán môi trường?
"Kiểm toán môi trường là công cụ quản lý
bao gồm một quá trình đánh giá có tính hệ thống, định
kỳ và khách quan được văn bản hoá về việc làm thế
nào để thực hiện tổ chức môi trường, quản lý
môi trường và trang thiết bị môi trường hoạt động
tốt".
Kiểm toán môi trường phải trả lời được các câu
hỏi mà các nhà quản lý công ty đưa ra:
·
Chúng
tôi đang làm gì ? Cụ thể, liệu có phải tuân thủ tất
cả các luật, quy định của Chính phủ, hướng dẫn
hay không?
·
Chúng
tôi có thể làm tốt hơn không? Cụ thể ở những khu
vực không được quy định, các hoạt động có thể
được tăng cường để giảm thiểu tác động môi trường
?
·
Chúng
tôi có thể làm điều đó với chi phí rẻ hơn không ?
·
Chúng
tôi phải làm gì nữa ?
Mục đích của Kiểm toán môi trường là giúp vào việc
bảo vệ môi trường, sức khoẻ, an toàn bằng các biện
pháp:
·
Tạo
điều kiện cho việc kiểm soát, quản lý các thực tế
môi trường;
·
Đánh
giá sự tuân thủ các chính sách công ty, kể cả việc
đáp ứng các yêu cầu về quy chế.
Kiểm toán môi trường là một công cụ quản lý chỉ
có giá trị khi được hình thành trong một hệ thống
quản lý tổng thể. Nó không thể đứng đơn độc. Nó
là một công cụ giám sát trợ giúp việc ra quyết định
và giám sát quản lý.
Về
đầu trang
Các
công cụ kinh tế trong quản lý môi trường gồm những
loại nào?
Các công cụ kinh tế được sử dụng nhằm tác động
tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của tổ chức
kinh tế để tạo ra các tác động tới hành vi ứng xử
của nhà sản xuất có lợi cho môi trường. Các công cụ
kinh tế trong quản lý môi trường gồm:
·
Thuế
và phí môi trường.
·
Giấy
phép chất thải có thể mua bán được hay "cota ô
nhiễm".
·
Ký
quỹ môi trường.
·
Trợ
cấp môi trường.
·
Nhãn
sinh thái.
Việc sử dụng các công cụ kinh tế trên ở các nước
cho thấy một số tác động tích cực như các hành vi
môi trường được thuế điều chỉnh một cách tự
giác, các chi phí của xã hội cho công tác bảo vệ
môi trường có hiệu quả hơn, khuyến khích việc
nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho
bảo vệ môi trường, gia tăng nguồn thu nhập phục vụ
cho công tác bảo vệ môi trường và cho ngân sách nhà
nước, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc
gia.
Về
đầu trang
Thuế
và phí môi trường được quy định như thế nào?
Thuế và phí môi trường là các nguồn thu ngân sách
do các tổ chức và cá nhân sử dụng môi trường đóng
góp. Khác với thuế, phần thu về phí môi trường chỉ
được chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường.
Dựa vào đối tượng đánh thuế và phí có thể phân
ra các loại sau:
·
Thuế
và phí chất thải.
·
Thuế
và phí rác thải.
·
Thuế
và phí nước thải.
·
Thuế
và phí ô nhiễm không khí.
·
Thuế
và phí tiếng ồn.
·
Phí
đánh vào người sử dụng.
·
Thuế
và phí đánh vào sản phẩm mà quá trình sử dụng và
sau sử dụng gây ra ô nhiễm (ví dụ thuế sunfua,
cacbon, phân bón...).
·
Thuế
và phí hành chính nhằm đóng góp tài chính cho việc cấp
phép, giám sát và quản lý hành chính đối với môi trường.
Về
đầu trang
Phí
dịch vụ môi trường là gì?
"Phí dịch vụ môi trường là một dạng phí phải
trả khi sử dụng một số dịch vụ môi trường. Mức
phí tương ứng với chi phí cho dịch vụ môi trường
đó. Bên cạnh đó, phí dịch vụ môi trường còn có mục
địch hạn chế việc sử dụng quá mức các dịch vụ
môi trường".
Có hai dạng dịch vụ môi trường chính và theo đó 2
dạng phí dịch vụ môi trường là dịch vụ cung cấp
nước sạch, xử lý nước thải và dịch vụ thu gom chất
thải rắn. Đối với một số nước nông nghiệp, dịch
vụ cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông
thôn cũng là một vấn đề cần quan tâm nghiên cứu để
có chính sách áp dụng phù hợp.
a. Phí dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lý nước
thải
Vấn đề cần quan tâm là mức phí dịch vụ cung cấp
nước sạch phải được đặt ra như thế nào để sử
dụng nước một cách tiết kiệm và có hiệu quả nhất.
Đối tượng của loại hình dịch vụ này bao gồm các
hộ gia đình, các cơ sở kinh doanh dịch vụ và một số
ít các nhà máy sản xuất công nghiệp quy mô nhỏ. Nội
dung của dịch vụ bao gồm cung cấp nước sạch, thu
gom và xử lý nước thải trước khi thải ra hệ thống
thoát nước của thành phố.
Tuỳ theo mức độ đô thị hoá khác nhau, phí dịch vụ
cung cấp nước sạch có khác nhau, nhưng thường được
quy định trên một nguyên tắc tương đối chung, đó
là: Tổng các nguồn phí thu được phải đủ chi trả
cho dịch vụ cung cấp nước và xử lý nước thải (trừ
chi phí xây dựng cơ bản). Mức phí có thể gồm hai
thành phần: Mức cơ bản cộng với một khoản dịch vụ
để điều tiết chi phí của dịch vụ.
Mức phí cơ bản là khoản chi phí cơ bản cho việc
cung cấp một đơn vị nước sạch đủ để xử lý lượng
nước thải phát sinh khi các hộ gia đình sử dụng một
đơn vị nước sạch đó.
Mức phí dịch vụ có thể được hiểu là chi phí cho
việc mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ và chi
phí vận hành cung cấp nước sạch và xử lý nước thải.
ë đây, người ta căn cứ vào mức độ tiêu thụ nước
sạch để có thể xây dựng các trạm cố định hoặc
chuyển tiếp xử lý nước thải để chi phí xử lý nước
thải là thấp nhất, tránh tác động tiêu cực đến
giá dịch vụ cung cấp nước sạch và xử lý nước thải.
b. Phí dịch vụ thu gom chất thải rắn và rác thải
Chất thải rắn ở đây được hiểu là rác thải
sinh hoạt, rác thải dịch vụ thương mại, kể cả chất
thải đô thị độc hại. Dịch vụ liên quan đến chất
thải rắn sẽ có tác dụng tích cực không chỉ riêng
cho môi trường mà cho cả phat triển kinh tế. Chính vì
thế việc xác định giá dịch vụ thu gom, vận chuyển
và xử lý chất thải rắn phải được nghiên cứu,
xem xét kỹ trên cơ sở vừa đảm bảo bù đắp được
chi phí thu gom, vận chuyển xử lý vừa gián tiếp khuyến
khích các hộ gia đình giảm thiểu rác thải.
Việc xác định mức phí của dịch vụ môi trường có
thể thuận lợi khi cân nhắc, phân tích các chi phí cần
thiết và dựa trên trọng lượng hoặc thể tích của
rác thải.
Nếu tiếp cận theo khối lượng rác thải thì các hộ
gia đình phải có thùng đựng rác riêng đặt ở một
vị trí cố định và việc trả phí phải hoàn toàn tự
nguyện trên cơ sở khối lượng rác thải sản sinh ra
hàng ngày hoặc hàng tuần.
Còn một cách tiếp cận khác là theo số lượng người
trong một gia đình, căn cứ vào số người, ví dụ 3
người một suất phí dịch vụ môi trường v.v... để
xác định mức phí dịch vụ môi trường phải nộp.
Theo cách này có thể không được công bằng nhưng thuận
lợi hơn, tuy nhiên không khuyến khích được các hộ
gia đình giảm thiểu rác thải.
Về
đầu trang
Cota
gây ô nhiễm là gì?
"Côta gây ô nhiễm là một loại giấy phép xả
thải chất thải có thể chuyển nhượng mà thông qua
đó, nhà nước công nhận quyền các nhà máy, xí nghiệp,
v.v... được phép thải các chất gây ô nhiễm vào môi
trường".
Nhà nước xác định tổng lượng chất gây ô nhiễm
tối đa có thể cho phép thải vào môi trường, sau đó
phân bổ cho các nguồn thải bằng cách phát hành những
giấy phép thải gọi là côta gây ô nhemx và chính thức
công nhận quyền được thải một lượng chất gây ô
nhiễm nhất định vào môi trường trong một giai đoạn
xác định cho các nguồn thải.
Khi có mức phân bổ côta gây ô nhiễm ban đầu, người
gây ô nhiễm có quyền mua và bán côta gây ô nhiễm. Họ
có thể linh hoạt chọn lựa giải pháp giảm thiểu mức
phát thải chất gây ô nhiễm với chi phí thấp nhất:
Mua côta gây ô nhiễm để được phép thải chất gây
ô nhiễm vào môi trường hoặc đầu tư xử lý ô nhiễm
để đạt tiêu chuẩn cho phép. Nghĩa là những người
gây ô nhiễm mà chi phí xử lý ô nhiễm thấp hơn so với
việc mua côta gây ô nhiễm thì họ sẽ bán lại côta
gây ô nhiễm cho những người gây ô nhiễm có mức chi
phí cho xử lý ô nhiễm cao hơn.
Như vậy, sự khác nhau về chi phí đầu tư xử lý ô
nhiễm sẽ thúc đẩy quá trình chuyển nhượng côta
gây ô nhiễm. Thông qua chuyển nhượng, cả người bán
và người mua côta gây ô nhiễm đều có thể giảm
được chi phí đầu tư cho mục đích bảo vệ môi trường,
đảm bảo được chất lượng môi trường.
(Xem tiếp phần 2)