|
THIÊN
NHIÊN KỲ THÚ - 1
Kỷ
lục Guinness của các loài vật
Kỷ
lục Guinness của các loài vật
Cân
nặng và kích cỡ
|
|
|
Những
chú voi khổng lồ chỉ đứng thứ 3 về cân
nặng.
|
Dài
nhất là loài sứa khổng lồ: 75m, sau đó là cá voi
xanh: 35m. Đứng thứ 3 là loài cá nhám voi khổng lồ
dài 18m. Cá sấu, trăn, cá đuối cũng nằm trong
"top ten" về chiều dài với 8m. Hươu cao cổ
và voi, mặc dù cộng thêm cả chiếc cổ và chiếc vòi
cũng chỉ được 6m và 4m. Cá voi xanh vô địch về
trọng lượng, con nặng nhất có thể lên tới 190
tấn, xếp thứ hai là cá nhám voi (40 tấn). Những chú
voi khổng lồ chỉ xếp hàng thứ 3 với cân nặng 6
tấn. Ngoài ra, tê giác và hà mã cũng có cân nặng đáng
kể: 3 tấn.
Ăn
Dẫn
đầu danh sách các con vật phàm ăn là voi. Mỗi ngày
một chú voi trưởng thành ngốn hết 200kg cỏ khô,
uống hết 200 lít nước. Tiếp theo là kền kền và sư
tử, mỗi bữa chúng có thể ăn liền một mạch hết
40kg thức ăn. Loài khỉ nổi tiếng ăn nhanh, có thể
xơi một mạch 50 quả chuối. Còn loài chim cổ đỏ
mỗi ngày ngốn hết 4,3m sâu. Xét về khả năng nhịn
ăn, họ nhà rắn được gọi là vua: mỗi năm chỉ
cần 8-10 bữa ăn là đủ cho chúng; một con trăn có
thể nhịn đói suốt 12 tháng liền.
Khứu
giác
|
|
|
Loài
chó có thể phân biệt được 100.000 mùi khác
nhau.
|
Từ
trước đến nay ta vẫn nghĩ rằng chó là loài vật
thính nhất, nhưng thực tế chỉ đứng thứ 3 về
khả năng nhận mùi từ xa mà thôi. Phá kỷ lục trong
lĩnh vực này là bướm đêm. Một con ngài đực có
thể ngửi thấy mùi cách nó 11km; sau đó đến rái cá
biển, có thể nhận ra mùi khói cách 8km. Cá mập có
thể phát hiện được mùi của một giọt máu nhỏ hòa
tan trong 115 lít nước. Tuy nhiên loài chó lại dẫn đầu
danh sách về con vật phân biệt được nhiều mùi
nhất: 100.000 mùi.
Thính
giác
Tiếng
kêu khỏe nhất thuộc về loài cá voi xanh.
"Giọng nói" của nó có thể đạt tới cường
độ âm thanh của một tên lửa đưa tàu con thoi vào
vũ trụ. Mặt khác, nó có một cái tai rất thính, có
thể giao tiếp với đồng loại ở bên kia đại dương.
Tiếng kêu của một chú khỉ có thể được nghe
thấy trong chu vi 15 km. Còn chim diệc sao nằm trong sách
Guinness với tiếng "hót" như bò rống và phát
đi xa 4 km. Đối với loài thỏ, để báo hiệu nguy
hiểm, chúng chỉ dùng chân sau đập đập vài cái
xuống đất. Cá heo vẫn không ngừng là đối tượng
của nhiều nghiên cứu vì ngôn ngữ của chúng rất
đa dạng và kỳ bí. Đặc biệt, thính giác của chúng
phát triển hơn con người 10 lần, chúng có thể nghe
được siêu âm trong khi con người không thể.
Thị
giác
|
|
|
Mắt
ngựa có đường kính tới 5,5 cm.
|
Các
loài chim săn mồi có cái nhìn tinh nhất: chim cắt di
cư có thể nhận ra một con bồ câu ở khoảng cách 8
km; đại bàng có thể phát hiện ra một con thỏ
rừng từ trên độ cao 3.000m. Động vật có mắt to
nhất là mực thẻ khổng lồ: thủy tinh thể của nó
có đường kính 38cm. Ngựa giật kỷ lục có mắt to
nhất (đường kính 5,5cm), vì thế nên người ta nói
rằng ngựa nhìn thấy con người to gấp 7 lần kích
cỡ thực.
Răng
|
|
|
Trong
suốt cuộc đời, cá mập có tới 20.000 chiếc răng.
|
Trong
suốt cuộc đời, một con cá sấu có hơn 3.000 chiếc
răng, nghĩa là răng nó rụng đi mọc lại 25 lần. Tuy
nhiên, kỷ lục nhiều răng lại thuộc về cá mập.
Ngay khi một chiếc bị rụng, một chiếc khác chờ
sẵn đúng vị trí đó và sẽ mọc ngay, cứ như
vậy, trong suốt cuộc đời, cá mập có 20.000 chiếc
răng. Kỷ lục về răng to và nặng nhất thuộc về
loài voi, riêng trọng lượng của bộ răng sữa đã
nặng tới 4kg. Chiều dài của răng loài sư tử biển
khiến người ta khó thể quên: 80cm, bằng chiều cao
của một đứa trẻ 4-5 tuổi.
Dây
cơ
Ai
cũng nghĩ rằng loài ngựa suốt cuộc đời chỉ
biết chạy phải phá kỷ lục về số lượng cơ
bắp. Trên thực tế, một con ngựa bình thường có
1.200 dây cơ. Kỷ lục về số lượng dây cơ lại
thuộc về loài sâu với 2.000 cơ tập trung trong các
đốt vòng. Điều này giải thích vì sao chúng có
thể vặn vẹo hay quay người một cách dễ dàng.
Giao
phối
Thời
gian giao phối ngắn nhất thuộc về loài linh dương
nhỏ và voi: một lần giao phối của hai loài này
chỉ vỏn vẹn có 10 và 20 giây. Thời gian mỗi lần dành
cho "chuyện ấy" của khỉ maki ở Madagascar là
2 giờ. Tuy nhiên, kỷ
|
|
|
Chuột
nhắt đực chỉ sống thêm được 5-10
ngày sau cuộc giao phối kéo dài 12 giờ
đồng hồ.
|
lục
lại thuộc về loài chuột nhắt: 12 giờ, vì thế sau
khi giao phối, chuột đực chỉ sống thêm được 5-10
ngày. Kỷ lục về số lần thuộc về loài sư tử:
86 lần mỗi ngày. Còn bọ ngựa cái lại khiến người
ta ngạc nhiên vì sau khi thỏa mãn nó lại xơi tái
bạn tình. Có lẽ đây là "kinh nghiệm" cho loài
nhện học tập, để tránh bị nhện cái ăn thịt,
nhện đực dâng cho bạn tình một con mồi, khi con cái
đang bận đánh chén thì nó "hành động". Chó
sói nổi tiếng là hung tợn nhưng lại là loài vật
"hiền lành" nhất trong chuyện "phòng
the". Loài vật được coi là chung thủy nhất có
lẽ thuộc về sóc, nó có thể "gắn bó" 18 năm
liền với một bạn tình.
Mang
thai
Con
vật mang thai ngắn nhất là thú có túi ở châu Mỹ:
12 ngày, tiếp theo là chuột: 3 tuần. Chiếm vị trí
thứ 3 là thỏ: mang thai 1 tháng và có thể đẻ 5-12
con mỗi lần. Con vật mang thai lâu nhất là tê giác:
1 năm 6 tháng 20 ngày và voi châu Á: 2 năm 1 tháng. Nhưng
kỷ lục lại thuộc về loài kỳ nhông đen sống ở
vùng núi Alpes: 3 năm 2 tháng và 20 ngày.
Thú
biển có sừng
|
|
|
Kỳ
lân biển với cái sừng trên đầu.
|
Kỳ
lân biển thuộc loài thú có vú. Tương tự như cá
voi, chúng sống ở những vùng biển lạnh. Điều khác
biệt là chúng... có sừng. Kỳ lân biển phát ra tiếng
kêu khàn đục. Người ta thường gặp chúng ở những
vùng biển bắc Canada, đông và tây Greenland, ngoài khơi
bán đảo Svalbard và Siberia. Chúng thường xuất hiện
ở độ sâu 300-400 m.
Con
đực và cái luôn bám nhau như hình với bóng. Con cái
3 tuổi đã phát dục, còn con đực phải đợi thêm 3
năm nữa. Kỳ lân biển mang thai 14 tháng và sinh một
con, rất hiếm có trường hợp sinh đôi. Vừa lọt
lòng, con non đã được tạo hoá tặng ngay cho một lớp
mỡ dày để chống chọi với cái lạnh ghê gớm của
phương Bắc. Dần dần, cái đầu tròn vo của nó dài
ra như quả dưa gang, và cái mỏ cũng hình thành rõ
ràng. Một con kỳ lân biển trưởng thành dài từ
3,5-5 m và có thể nặng đến 1.500 kg.
|
|
|
Cái tên kỳ lân xuất phát từ
một loài ngựa có sừng trong truyền thuyết.
|
|
|
|
Chiếc sừng mọc xuyên từ sọ
của kỳ lân biển.
|
Sừng
kỳ lân biển là một thứ ngà dài, xoắn ngược chiều
kim đồng hồ, mọc từ sọ, xuyên qua mặt. Con đực
có sừng dài 3 m, nặng 10 kg. Sừng vẫn tiếp tục
dài ra cả đời. Nhưng vì nó khá mảnh nên rất dễ
gãy, nhất là trong các cuộc ẩu đả giữa những con
đực. Con cái có sừng dài khoảng 20 cm. Cho đến nay,
các nhà khoa học vẫn không thể giải thích được sự
hiện diện của cái sừng kỳ quặc này. Có ý kiến
cho rằng, đó là bộ phận để phân định “giai cấp”.
Số khác cho rằng, sừng này dùng để đào bới cát
biển để tìm thức ăn. Nhưng nếu vậy, con cái hầu
như không có sừng sẽ chết đói ư?
(Theo Thế Giới Mới)
Về
đầu trang
Tự
nhiên kỳ diệu qua ống kính
|
|
|
Cuộc chạy trốn của cá sardine.
|
Cuộc thi các bức ảnh đẹp chụp
cảnh thiên nhiên do Tạp chí Wildlife của BBC và Bảo
tàng Lịch sử Tự nhiên London đồng tổ chức n ăm
nay đã nhận được 18.500 bức ảnh gửi tới từ 50
quốc gia. Dưới đây là một số tác phẩm được đánh
giá cao:
Tác phẩm của Doug Perrine ghi lại
khoảnh khắc kỳ diệu trong "Cuộc chạy trốn
của cá sardine", khi một đám khổng lồ các
con cá sardine bơi trên bờ biển phía đông của Nam
Phi. Đó được xem là một trong những cuộc di cư hoành
tráng nhất trên hành tinh.
|
|
|
Con thằn lằn ẩn sau chiếc lá.
|
Con thằn lằn ẩn sau chiếc lá.
Gabby Salazar, 17 tuổi, người Bắc Carolina, Mỹ đã chụp
được bức ảnh này khi mới lên 12. Con thằn lằn
xanh của cậu được ống kính ghi lại khi đang rình
bắt côn trùng trong đám hoa ở Trung tâm tự nhiên
Valley, Weslaco, phía nam bang Texas. Một cách ngụy trang
hoàn hảo.
|

|
|
Chó
rừng săn hồng hạc.
|
Chó rừng săn hồng hạc. Tác
phẩm do Anup Shah, người Anh chụp được trên hồ
Makat, trong miệng núi lửa Ngorongoro ở Tanzania. Tại
đây, chó rừng và linh cẩu săn đuổi hồng hạc
đang kiếm ăn theo đàn đông tới cả ngàn con trên
vùng hồ ấm, nông và đầy ắp tảo này.
|
|
|
Rùa khổng lồ đảo Galapagos lúc rạng đông.
|
Tui
De Roy từ New Zealand đã chụp được hình ảnh những
con rùa khổng lồ trên quần đảo này, nằm ở rìa
Thái Bình Dương.
Về
đầu trang
|
Những
cách dùng lưỡi độc đáo của động vật
|
|
Lưỡi
của chim gõ kiến xanh dài gấp 5 lần chiều dài
đầu của nó, đến mức phải cuộn tròn lại
bên trong miệng khi co vào. Do chiếc lưỡi dày
này được hình thành bởi những cơ rất mạnh
nên khó có con côn trùng nào thoát được cho dù
trốn sâu trong thân cây...
Nổi
tiếng trong lĩnh vực săn mồi bằng lưỡi là tắc
kè hoa. Nhanh tựa tia chớp, nhờ một động tác
trải ra cực mạnh, nó vụt le chiếc lưỡi dài
lấm tấm hình những viên bi tròn có thể dán cứng
con mồi như giấy bẫy ruồi, muỗi. Và khi nó rụt
lại thì con mồi đã nằm gọn trong miệng.
Nhưng
tắc kè hoa không phải là loài duy nhất được
tạo hoá ban cho một hệ thống bắt mồi bằng lưỡi
cực kỳ hoàn hảo. Tương tự như thế, lưỡi của
loài nhái cũng chứa một chất lỏng dính như
keo khiến con mồi hết hy vọng chạy thoát. Còn
tamanoir, con vật 4 chân chuyên ăn mối có chiếc
lưỡi dài đến 60 cm trong một cơ thể chỉ có
chiều dài 1,5 mét. Điều kỳ diệu là chiếc lưỡi
này - được bao bọc bởi những chiếc gai cực
nhỏ nghiêng về phía sau và được bôi trơn bởi
một chất nhầy tựa như keo dán - có thể phóng
vào tổ mối và rụt lại đến 150 lần/phút để
bắt đến 30.000 con mối mỗi ngày.
Trong
khi đó chiếc lưỡi của loài gấu Mã Lai lại
có thể co dãn theo chiều dài nhằm giúp chúng liếm
mật hay các con nhộng bên trong những bọng cây
hay vách đá. Tương tự gấu Mã Lai, lưỡi của
hươu cao cổ có thể rụt lại rồi phóng dài
thêm 40 cm để vươn tới những ngọn cây cao hoặc
luồn qua những chiếc gai nhọn của cây acacia để
tước những chiếc lá non. Ngoài ra, lưỡi cũng
dễ dàng chuyển thành màu tím hay đen để chống
chọi với ánh nắng mặt trời gay gắt ở châu
Phi trước khi được lè ra.
Lưỡi
của loài vật còn có thể trở thành một chiếc
hộp đựng đầy dụng cụ săn bắt mồi. Chẳng
hạn như lưỡi của loài chuột túi chuyên ăn mật
ở Australia khi rụt lại sẽ biến thành một chiếc
lọ để ăn bụi phấn và nhuỵ hoa. Còn chiếc lưỡi
đầy gai nhọn của loài chim cánh cụt hoàng đế
có thể giúp chúng giữ chặt con mồi dưới biển
sâu.
Đôi
khi lưỡi của một số loài vật lại có... răng.
Chiếc lưỡi nhám đầy răng nhỏ li ti của loài
cá pantodon hay arapaima dài đến 4,5 mét ở vùng
Amazone có chức năng vừa bắt và xé xác con mồi.
Ở một số loài khác, cơ quan này giúp chúng uống
nước khi rụt lại. Tắc kè gecko có chân hình
chân vịt sống trên sa mạc Namib có thể phóng
chiếc lưỡi dài để liếm những giọt sương
đêm còn đọng trên mắt chúng. Ở những loài tắc
kè gecko khác, lưỡi còn giúp chúng lau chùi những
con mắt không mí được bao bọc bởi một lớp
vảy trong suốt luôn bị dơ bẩn.
Nếu
như lưỡi của một số loài vật có chức năng
chăm sóc và bảo vệ cơ thể thì ở một số
loài vật khác cơ quan này lại trở thành cái bẫy
để đánh lừa và giúp chúng săn bắt mồi. Hãy
kể đến chiếc lưỡi diệu kỳ của loài rùa
ăn thịt nước ngọt lớn nhất thế giới. Nằm
im một chỗ dưới đáy ao, hồ, loài rùa này thu
hút sự quan tâm của cá nhờ chiếc lưỡi uốn
cong lóng lánh nổi lưng chừng mặt nước như hình
con sâu. Bị thu hút bởi con sâu giả này, các
loài cá khác vội lao đến đớp mồi mà không
ngờ đã rơi vào chiếc bẫy giăng sẵn. Thế là
khi rùa rụt lưỡi thì con cá cũng rơi vào miệng
chúng.
Không
thể không kể đến tác dụng quạt mát của lưỡi
ở loài chó khi nó liếm xoành xoạch quanh miệng.
Với loài cá sấu, lưỡi lại có chức năng làm
kẹp mũi. Khi con vật lặn xuống, chiếc lưỡi của
nó biến thành một chiếc nút khổng lồ để chặn
nước không tràn vào đường hô hấp giúp nó
không chết chìm.
Ở
một số loài vật khác, lưỡi có chức năng nhận
biết. Loài nhuyễn thể có tên gọi chiton chuyên
bám vào các hố đá mỗi khi thuỷ triều xuống
thì dùng lưỡi để di chuyển theo từ trường
trái đất, nhờ chất oxit sắt magnetit bao bọc
quanh cái lưỡi này. Các nhà nghiên cứu tại Viện
nghiên cứu Brigitte Frybourg của Pháp đang tìm hiểu
chức năng định vị qua lưỡi của chúng. Họ
hy vọng có thể ứng dụng vào việc giúp người
mù nhận biết phương hướng nhờ gài một con bọ
điện tử vào lưỡi. Còn các nhà quân sự học
Mỹ lại nghiên cứu chức năng nhận biết mùi
qua lưỡi của loài ong để sử dụng chúng vào
việc rà mìn.
Theo
Tạp chí Khoa học và Đời sống
Về
đầu trang
|
Kiểu
bắt mồi kỳ quặc của chim ruồi
Uốn
cong cái mỏ dưới với độ mềm dẻo đến không ngờ,
con chim ruồi chộp lấy mồi của nó chỉ trong tích tắc.
Video tốc độ cao của các nhà khoa học Đại học
Connecticut ở Storr (Mỹ) đã ghi lại được cảnh tượng
lạ lùng này.
Nửa dưới của chiếc mỏ hẹp và thẳng tắp của
chim ruồi có thể uốn cong gần như gấp khúc
xuống dưới, mặc dù chúng không hề có điểm nối
nào. Cử động này cũng góp phần mở rộng miệng của
nó.
Chim ruồi là ví dụ hoàn hảo cho sự thích nghi về mặt
thể chất, làm cho mỏ của chim ruồi cân bằng được
hai vai trò hút mật và bắt côn trùng. Chiếc mỏ
thuôn dài đặc biệt cho phép nó cắm sâu vào hoa để
hút mật, nhưng dường như lại quá kềnh càng để bắt
côn trùng. Mật hoa không đủ cung cấp dinh dưỡng cho
chúng, đặc biệt trong thời kỳ di cư hoặc đẻ trứng.
Để bắt một con ruồi giấm, con chim ruồi há mỏ
và mở rộng miệng, đồng thời uốn cong mỏ dưới
xuống. Chúng lao vào con mồi với cái miệng mở rộng
và mỏ dưới cong đi 15-20 độ, nhờ
vậy chúng dễ
dàng đớp được
côn trùng ở gần gốc mỏ của chúng.
Về
đầu trang
Những
chuyện lạ về loài khỉ
Đàn
khỉ nuôi em bé
Một chú bé 2 tuổi tên là John Ssabunnya ở làng Bambo
thuộc Uganda bị lạc vào rừng năm 1988,
được một bầy khỉ cứu sống và nuôi nấng
cậu như một thành viên trong bầy. 3 năm sau, n ă m
1991, người dân làng Bambo phát hiện ra trong quần thể
khỉ xanh sinh sống trong rừng có một sinh vật rất
giống người. Người nó đầy bụi đất, râu tóc
dài thậm thượt, phủ đầy rận. Sau khi bị bắt và
đem tắm rửa sạch sẽ, người ta phát hiện ra rằng
cậu bé chính là John Ssabunnya.
Từ
đó đến nay cậu được trại trẻ mồ côi Kamuzinda
Christian nuôi dưỡng
và
đang tập tành những phong cách sống của con người.
Điểm
nổi bật nhất ở cậu bé này chính là giọng hát rất
trong trẻo. Hiện cậu đang là giọng ca khá nhất
trong dàn đồng ca Pearl of Africa của nhà thờ.
Khỉ
cứu trẻ con
Con khỉ
cái Bin-ti Jua ở vườn bách thú brookfield (thuộc bang
Chi-ca-gô-Mỹ) đã lập công cứu mạng một bé trai 3
tuổi. Đó là vào ngày 16-8-1996, một bé trai vì quá mải
xem thú nên đã ngã vào khu vực nuôi khỉ Gô-ri từ
độ cao 6 mét, bất tỉnh ngay trên một tảng đá
trong chuồng khỉ. Ngay lập tức, chị khỉ Bin-ni-Jua rời
khỏi bầy, chạy vội đến bế bé trai lên một cách
dịu dàng khéo léo, rồi ôm chặt vào lòng, mang đến
đặt trước cửa ra vào để nhân viên bảo vệ vườn
thú đến ôm em bé đi. Chú bé thoát hiểm, chỉ gãy một
cổ tay, và sau đó được cứu chữa lành lặn. Năm
đó, tạp chí Newsweek bình chọn Bin-ni Jua là “vị
anh hùng của năm 1996”. Theo tiếng địa phương thì
“Bin-ni Jua” có nghĩa là “tia sáng mặt trời”,
và “chị hùng khỉ” quả thật là một ngôi sao
sáng chói của nước Mỹ khi có hàng nghìn bức thư từ
khắp mọi miền trên đất nước gửi đến tỏ lòng
ngưỡng mộ và cảm ơn.
Khỉ
thay hiền thê
Là
một thanh niên tật nguyền, chàng thanh niên Chrít-tốp-phơ.
23 tuổi người Mỹ, qua nhiều năm chỉ ngồi trên chiếc
ghế bành và di chuyển rất khó khăn, khiến cho chàng
trở nên bi quan, chán đời. Nhưng từ ngày chàng nuôi
dạy một con khỉ con, đặt tên cho nó là Tendresse (Dịu
Dàng), thì chàng trở nên yêu đời hơn, không còn tự
ti mặc cảm với thương tật của mình. Chính con khỉ
Tendresse đã giúp đỡ chàng rất nhiều việc,
làm thay cho chàng tất cả những việc vặt trong nhà.
Chrít-tốp-phơ chỉ cần ngồi một chỗ, ra lệnh, và
khỉ lập tức tuân hành ngay. Tendresse có thể mở đóng
cửa, bật tắt ti-vi, lắp băng video vào đầu máy rồi
mở cho chạy hoặc ngừng, mở tủ lạnh lấy đồ ăn
và đút cho Chrít-tốp-phơ ăn, rót nước cho chủ nhân
uống. Khỉ Tendresse phục vụ tận tình và quan
trọng là rất có... tình cảm, khiến cho bạn bè của
Chrít-tốp-phơ phải gọi đùa “nàng” Tendresse
là “vợ hiền” của chàng.
Chú
khỉ tài hoa
Đó
là chú khỉ Chi-ta, “diễn viên điện ảnh” lừng
danh một thời khi tham gia đóng các bộ phim về Tắc-dăng
vào những năm 50-60. Khỉ Chi-ta nghỉ hưu năm 59 tuổi,
vẫn tỏ ra còn sung sức khi chuyển qua lĩnh vực... hội
họa. Chi-ta dùng thời giờ rảnh rỗi của mình để
vẽ tranh. Tranh của Chi-ta được triển lãm ở Luân
Đôn (Anh), được dân thưởng ngoạn ưa thích nên
tranh nhau mua cho được, tiền thu từ những bức tranh
của Chi-ta đã được sung vào Quỹ bảo vệ súc vật.
Sống những năm cuối đời thanh nhàn tại
Ca-li-pho-ni-a, khỉ Chi-ta luôn luôn tỏ ra là một nghệ
sĩ, nhiều người phải bái phục tài năng của nó.
Về
đầu trang
|
Những
sinh vật kỳ dị dưới đáy biển New Zealand
|
|
|
|
Cá
răng nanh, loài sinh vật biển kỳ dị chưa
từng thấy.
|
Trong
dự án liên kết thám hiểm đáy biển của các
nhà khoa học New Zealand và Australia các nhà khoa học
đã phát hiện nhiều loài sinh
vật lạ lùng tại vùng đáy biển phía Tây
bắc New Zealand.
Có
một loài sinh vật rất lạ, các nhà khoa học
cam đoan rằng chưa từng thấy nó trong danh mục
các sinh vật biển, chúng tạm được gọi là cá
răng nanh. Loài cá kỳ dị này có hàm răng dài
bất bình thường, cắm ngược lên trên đầu.
Trên đầu chúng có các lỗ vừa vặn với hàm răng
cắm ngược lên đó.
|
|
|
Nhện
biển khổng lồ.
|
Còn
vô số các loài cá lạ lùng khác nữa như: Những
con nhện biển khổng lồ, tôm vỏ cứng như bọc
sắt và các động vật kỳ dị có hàng răng
lởm chởm
, cá nhám góc, cá mập gai, cá quỷ...
Những
khám phá kỳ thú này làm cho các nhà khoa học
chú tâm tìm hiểu hơn về đời sống của các
sinh vật dưới đáy biển. Họ cho rằng ở dưới
đáy biển sâu, các dạng sinh vật đều khác xa
so với các tầng nước nông hơn. Trong lần thám
hiểm này, đã có tổng cộng 500 loài cá, 1.300
loài nhuyễn thể được phát hiện. Một số
chuyên gia cho rằng, với số lượng sinh vật biển
lớn như vậy, có lẽ phải mất hàng năm trời
để nghiên cứu.
Về đầu trang
|
Loài
vật nhị đói giỏi nhất
Rắn
lao không ăn, không uống, trung bình sống được 78,2
ngày, con sống lâu nhất là 107 ngày, con sống ít nhất
cũng được 34 ngày. Nếu cho chúng uống một ít nước,
sức nhịn đói sẽ tăng lên trên dưới một lần,
trung bình sống được 148 ngày, trong đó con nhịn đói
giỏi nhất sống được 392 ngày, kém nhất cũng sống
được 80 ngày. Tại sao rắn có bản lĩnh tuyệt thực
giỏi như vậy?
"Khai
thác triệt để"
Sở
thích ăn uống của rắn cực lớn, có những con rắn
chỉ một hơi có thể nuốt liền 4-5 con chuột bạch
nhỏ, chim sẻ. Rắn lao có thể nuốt trôi con chim to gấp
10 lần đầu nó. Thức ăn vào đến bụng trong vòng
4-5 ngày đã bị tiêu hoá hết, không chừa cả xương.
Trong phân của chúng chỉ sót lại một ít lông. Sau
khi hấp thu hết dưỡng chất từ thức ăn, thể trọng
của rắn tăng lên rõ rệt. Ví dụ, nếu rắn lao ăn
300 g, cân nặng của nó sẽ tăng trung bình 100 g, mức
tăng cao nhất đạt tới 72,7% lượng thức ăn đưa vào
cơ thể.
Cứ
mỗi mùa thu đến, rắn lại bận rộn kiếm mồi để
tích luỹ cho kho vật tư năng lượng, chuẩn bị cho
nhu cầu lúc ngủ đông “không ăn không hoạt động”.
Nếu mổ rắn trước thời kỳ này, ta sẽ thấy trên
người chúng chứa rất nhiều mỡ. Đây là nguồn năng
lượng dồi dào mà rắn sẽ "đốt" dần
trong thời tiết giá lạnh của mùa đông.
"Tiết
kiệm tuyệt đối"
Sờ
vào mình của các loài chim như gà, bồ câu hay động
vật có vú như mèo, chó và kể cả người, ta đều
thấy rất ấm áp. Đây là các loài động vật đẳng
nhiệt. Nhưng sờ vào mình rắn bạn sẽ thấy lạnh
toát. Chúng là động vật biến nhiệt.
Động
vật đẳng nhiệt luôn phải giữ cho thân nhiệt ổn
định, vì vậy cần sử dụng nhiều năng lượng
trong cơ thể để duy trì trạng thái này. Dùng hết
thì phải bổ sung. Chẳng hạn mỗi ngày loài chim cần
bổ sung một lượng thức ăn tương đương trọng lượng
cơ thể mới đạt được mục đích đó. Còn như rắn,
một năm bốn mùa, thân nhiệt của chúng không giống
nhau, trong một ngày thân nhiệt cũng thay đổi rất lớn
theo sự biến đổi nhiệt độ môi trường. Vì vậy,
rắn huy động năng lượng trong cơ thể ít hơn rất
nhiều so với động vật đẳng nhiệt.
So
sánh giữa lợn và trăn có cùng thể trọng, nếu mỗi
ngày lợn tiêu hao 150 phần vật tư năng lượng thì
trăn chỉ cần một phần là đủ. Khi ngủ đông,
chúng tiêu hao càng ít. Sau hơn 5 tháng nằm im, trọng
lượng của trăn chỉ giảm có 2%. Trong giới động vật,
rùa và chim cũng có thuật tiết kiệm năng lượng vào
hàng cao thủ
Về
đầu trang
Vì
sao chim ngủ trên cành cây không bị ngã?
Loài
chim có thể đứng im trên cây, vẫn ngủ ngon lành mà
chẳng hề lộn cổ rơi xuống đất. Đó là do cấu tạo
ngón chân của loài
chim rất thích hợp để nắm chặt các cành cứng.
Khi đáp xuống cành cây nó cong xương ống chân và xương
bàn chân, rồi nằm phục trên cành. Lúc này, sức nặng
của thân đều tập trung trên xương bàn chân, dây chằng
ở sau xương bàn chân thít chặt, đồng thời kéo
cong dây chằng trên xương bàn chân, thế là bàn chân
cong xuống, nắm chặt cành cây. Vì vậy, chim ở trên
cành cây, dù có ngủ, nhờ sức nặng của cơ thể mà
nắm chặt lấy cành cây. Khi nào chim đứng thẳng lên,
thì đầu mút bàn chân sẽ duỗi ra.
Ngoài
ra, vì não bộ của chim phát triển hơn não bộ của
động vật bò sát, bán cầu đại não tuy chưa có nếp
nhăn, nhưng kích thước so ra đã tăng lên nhiều. Tiểu
não phát triển nhất, thuỳ thị giác rất lớn, đặc
điểm này không chỉ thích nghi với đời sống bay
lượn giỏi mà còn điều tiết vận động và thị
giác, giữ cho cơ thể thăng bằng thật tốt cho nên
chim ở được trên cành cây.
Về
đầu trang
|
Loài
vật lập
kỷ lục sex thế giới
|
|
Những
anh chàng dế sung mãn ở Australia có thể
giao cấu 50-58 lần trong vòng 3-4 tiếng với
cùng một cô nàng. Chúng đã phá vỡ kỷ lục
thế giới về tần xuất giao phối của bất
kỳ loài sinh vật nào trong vương quốc động
vật và côn trùng.
Những
kẻ nắm giữ kỷ lục hiện thời là sư tử
và hổ. Chúa tể sơn lâm có thể giao phối
50 lần/ngày với mỗi lần 5-15 phút và kéo
dài trong 5-6 ngày.
Nhóm
nghiên cứu đã có kết quả trên sau khi
quan sát hành vi tình dục của những con dế
trong phòng thí nghiệm. Chúng được bắt về
từ quần thể thuộc Đại học Toronto và
Đại học Western Australia. Tất cả được
nuôi dưỡng riêng biệt để đảm bảo sự
trinh tiết.
Về
đầu trang
|
|
Sức mạnh
vô địch của côn trùng
|
|
Trong
thế giới côn trùng, nhiều động vật có
khả năng khó tưởng tượng. Chẳng hạn, một
con bọ nhảy có thể bật cao vượt gấp
200 lần chiều cao của nó, con kiến có thể
vác được vật tương đương với 52 lần
trọng lượng bản thân. Ngay cả nhiều
loài bướm yếu ớt cũng có thể bay xa
liên tục mấy trăm nghìn mét.
Sở dĩ côn trùng có sức mạnh đáng kinh ngạc
đến vậy là vì chúng có tổ chức cơ thịt
rất phát triển, không chỉ đặc biệt về
kết cấu mà còn có số lượng rất lớn.
Nếu như loài người có hơn 600 cơ thịt,
thì côn trùng lại có đến hơn 2.000 cơ.
Cơ thịt của côn trùng ngoài việc giúp
chúng nhảy cao nhảy xa, còn có thể giúp
chúng bay lượn đường trường. Chuồn chuồn,
bướm, ong, thiêu thân… có thể bay được
rất xa chính là dựa vào phần cơ thịt nối
liền giữa ngực và lưng của chúng.
Đặc biệt, với cơ thịt phát triển, loài
bướm có thể vỗ cánh lên xuống, kéo cả
cơ thể tiến lên phía trước, lùi về
phía sau hoặc bay vòng quanh. Khi chúng nghỉ
không bay nữa, cánh vẫn vỗ không ngừng,
đó là chúng lợi dụng cơ thịt vận động
làm cho nhiệt độ cơ thể tăng cao, để lúc
nào cũng có thể sẵn sàng bay được. Điều
này cũng giống như máy bay trước khi cất
cánh, cần phải khởi động động cơ vậy
Về đầu trang
|
|
Cá
voi biết hát
Cá
voi xanh trưởng thành dài chín mươi bộ và
một con cá voi lớn cân nặng một trăm
năm mươi tấn! Vì vậy cũng không đáng
ngạc nhiên khi ta biết cá voi xanh phát ra
những âm thanh mạnh nhất và sâu nhất
trong các loài động vật. Bạn có thể tưởng
tượng tiếng rên rỉ của cá voi xanh là
một âm thanh phức tạp có thể trầm hơn
mọi giới hạn nghe được của con người.
Những âm thanh đó mạnh đến nỗi chúng
có thể đi xuyên qua đại dương. Và vì
thính giác của chúng rất nhạy, có thể
cho rằng cá voi xanh đã "trò chuyện"
với nhau qua hàng ngàn dặm dưới nước
Một
loài cá voi nhỏ hơn, cá voi lưng gù có thể
phát ra nhiều âm thanh khác nhau với một
giọng trầm bổng: rên rỉ, khụt khịt,
rít the thé, lầu bầu, tắc lưỡi, huýt
sáo, lải nhải, lục cục, gầm gừ, nức
nở, thỏ thẻ và cả những âm thanh ầm
ầm như sấm nữa. Cá voi lưng gù còn biết
làm nhiều trò ngộ nghĩnh hơn. Chúng hát.
Thực ra, chúng có thể phát ra nhiều âm
thanh khác nhau với một giọng trầm bổng:
rên rỉ, khụt khịt, rít the thé, lầu bầu,
tắc lưỡi, huýt sáo, lải nhải, lục cục,
gầm gừ, nức nở, thỏ thẻ và cả những
âm thanh ầm ầm như sấm nữa.
Bài
hát của cá voi lưng gù rất mê hoặc.
Chúng hát đi hát lại nhiều lần, từng nốt
một, trong suốt thời kỳ tìm bạn đời
của chúng ở vùng nước ấm ngoài khơi
Hawaii, vùng Baja California và Caribbean. Những
thành viên của cùng một nhóm cá voi luôn
luôn hát cùng một bài, hoặc gần như vậy.
Vì thế, cá voi bắc Thái Bình Dương hát
một bài, cá voi Đại Tây Dương hát một
bài khác. Điều đáng ngạc nhiên là mỗi
năm bài hát của chúng mỗi khác. Sau tám
tháng
đi xa kiếm ăn, cá voi lại trở về vùng
nước ấm của mình để hát khúc aria
vang vọng của năm trước và thêm vào
vài đoạn hoàn toàn mới.
| | |