Thiên nhiên kỳ thú
Marvellous Nature

 

 


THIÊN NHIÊN KỲ THÚ (4)

Ảnh đẹp sếu 
10 con vật đáng sợ nhất với con người
10 khả năng kỳ diệu của động vật
Trò lừa tình của bọ cánh cứng
Những tảng đá kỳ lạ trong thiên nhiên
Thực vật cũng biết... chống khủng bố
 

6 quốc gia kỳ lạ trên thế giới
Những thác nước ngoạn mục nhất

Những loài hoa lạ

Mùa tình yeu trong thế giới loài vật
Cá thông minh hơn ta tưởng
Động vật đực sinh con
Kiểu nguỵ trang kỳ lạ của chuồn chuồn
Vì sao kiến không bị lạc
Tê tê bắt kiến như thế nào
Muốn tìm bạn tình, phải thử !
Biệt tài xây dựng của loài vật
Mùi hôi của động vật có tác dụng gì ?
Vì sao cây có lá rộng ?
Tại sao mắt bão là nơi yên bình nhất ?

    

ẢNH ĐẸP SẾU 

Những con sếu với các vũ điệu bay bổng và tư thế kiêu kỳ được tái hiện sinh động qua các bức ảnh chụp thiên nhiên đẹp mắt.

 

Bộ sưu tập ảnh sếu ghi lại những khoảnh khắc hiếm hoi của các con sếu trong cuộc sống thường nhật.

(Theo Tân Hoa Xã )

 

10 CON VẬT ĐÁNG SỢ NHẤT VỚI CON NGƯỜI

Muỗi là con vật đáng sợ nhất với con người. Ảnh:

Muỗi là con vật đáng sợ nhất với con người. Ảnh: Livescience.

Có thể bạn không tin nhưng muỗi là loài giết nhiều người nhất, tiếp theo là rắn hổ mang. Những loài thú lớn như cá mập, sư tử, voi chỉ có thể lấy mạng vài người một lúc, nhưng một con sứa độc có thể giết chết 60 người trong nháy mắt.

Dưới đây là bảng xếp hạng những con vật làm chết nhiều người nhất. Mức độ nguy hiểm của chúng tăng dần theo số thứ tự.

1. Cóc độc

Đừng dại dột tiến lại gần loài động vật này. Lưng của chúng tiết ra một chất độc để dọa những con thú săn mồi. Mỗi con cóc độc sản xuất ra một lượng chất độc đủ để giết chết 10 người.

2. Trâu biển

Một đàn trâu biển.
Ảnh: Livescience.

Chúng có thể nặng tới 700 kg. Khi đối mặt với kẻ thù, trâu biển sẽ giương vũ khí của nó lên. Đó là cặp sừng lớn và nhọn hoắt. Nếu chỉ gặp một con, coi như bạn là người may mắn. Còn nếu một con vật nào đó gặp một đàn trâu biển đi ngược chiều, nó sẽ chẳng có cơ hội sống sót.

3. Gấu trắng Bắc cực

Trông chúng rất ngộ nghĩnh khi ở trong vườn thú. Nhưng trong tự nhiên, bữa sáng của gấu trắng Bắc cực là những con hải cẩu không tai nặng hàng trăm kg. Nếu chẳng may gặp một con gấu trắng Bắc cực, bạn nên tìm cách tránh thật xa. Chỉ bằng một cái tát, những móng vuốt của nó có thể làm bay đầu của một con hải cẩu.

4. Voi

Không phải tất cả voi đều dễ thương như chú voi Dumbo trong phim hoạt hình. Mỗi năm trên thế giới có hơn 500 người mất mạng vì voi. Voi châu Phi thường nặng khoảng 7.200 kg, đủ để nghiền nát bất kỳ con vật nào dưới những bàn chân to tướng của chúng. Chiếc vòi và cặp ngà của chúng cũng có thể lấy mạng bạn trong nháy mắt.

5. Cá sấu nước mặn Australia

Cá sấu nước mặn Australia

Cá sấu nước mặn Australia.
Ảnh: Livescience.

Nếu trông thấy một khúc gỗ gần một đầm lầy, bạn cần phải cẩn thận. Đó rất có thể là một con cá sấu nước mặn. Nó có thể nằm im trong nước, đợi con mồi đi qua. Rồi, chỉ sau một cái chớp mắt, nó sẽ lao tới, ngoạm lấy con mồi và lặn xuống nước.

6. Sư tử châu Phi

Hàm răng khỏe và nhọn. Cơ thể nhanh và nhẹ như gió. Bộ móng chắc và sắc như dao. Sư tử châu Phi khỏe chẳng kém những con trâu đực thiện chiến nhất. Như thế vẫn là chưa đủ khi nói tới chúa tể của những cánh đồng cỏ bao la. Tốt nhất là bạn nên cầu nguyện để đừng phải gặp chúng ngoài thiên nhiên. Loài động vật thuộc họ mèo này là những sát thủ hoàn hảo.

7. Cá mập trắng khổng lồ

Chúng có thể ngửi thấy mùi máu ở cách xa hàng nghìn mét. Cá mập trắng khổng lồ sẽ trở nên hung dữ khi ngửi thấy máu. Khi đó, chúng sẽ dùng tất cả 3.000 chiếc răng trong hàm để ngoạm bất cứ vật gì mà chúng gặp.

8. Sứa Australia

Một con sứa độc Australia

Một con sứa Australia.
Ảnh: Livescience

Còn được biết tới với cái tên ong biển, loài động vật có kích thước cơ thể chỉ bằng chiếc lá salad này có tới 60 xúc tu, mỗi cái có thể dài tới 4,6 m và chứa khoảng 5.000 cái nọc – đủ để giết chết 60 người.

9. Rắn hổ mang châu Á

Hổ mang châu Á không phải là loài rắn độc nhất, nhưng là loài sử dụng nọc độc nhiều nhất. Mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 50.000 người chết vì rắn cắn, và phần lớn số đó do rắn độc châu Á gây nên.

10. Muỗi

Hầu hết những cú chích của muỗi chỉ khiến bạn cảm thấy ngứa. Nhưng một số loài muỗi thường mang theo ký sinh gây bệnh sốt rét. Loài côn trùng bé nhỏ này phải chịu trách nhiệm về cái chết của hơn 2 triệu người mỗi năm.

Việt Linh (theo LiveScience)

 

 

10 KHẢ NĂNG KỲ DIỆU CỦA ĐỘNG VẬT

Dơi dùng sóng siêu âm để định hướng trong không gian. Ảnh: Livescience.

Bạn đúng khi cho rằng con người thông minh. Nhưng bạn có biết rằng chẳng có một giác quan nào của chúng ta có thể sánh với động vật. Chúng có thể nhìn xuyên màn đêm, nghe bằng bọng đái, ngửi bằng lưỡi. Hãy khám phá những câu chuyện lý thú sau.

1. Định vị bằng sóng siêu âm ở dơi

Loài dơi tránh chướng ngại vật và bắt côn trùng bằng cách phát ra sóng siêu âm rồi dựa vào những sóng âm dội lại để tránh chướng ngại vật và bắt mồi. Loài cá heo cũng sử dụng phương pháp này, được gọi là "echolocation" để định hướng trong môi trường nước đục.

2. Cảm nhận xung điện sinh học ở cá mập

Đừng bao giờ chơi trò trốn tìm với cá mập vì chắc chắn bạn sẽ thua. Cá mập có những tế bào đặc biệt trong não, cho phép chúng nhận biết trường điện từ phát đi từ động vật khác. Ở một số loài cá mập, khả năng này hoàn hảo đến nỗi chúng có thể phát hiện ra những con mồi ẩn nấp dưới cát thông qua những tín hiệu điện yếu sinh ra từ hoạt động co giật cơ của con mồi.

3. Xác định vị trí dựa vào nhiệt độ ở trăn

Những cơ quan nhạy cảm với nhiệt độ nằm giữa mắt và lỗ mũi cho phép trăn cảm nhận được thân nhiệt của con mồi. Mỗi bên đầu trăn cũng có một bộ cơ quan như thế nên chúng có thể tính toán chính xác khoảng từ vị trí của chúng tới con mồi mà không cần nhìn. Nhờ vậy mà loài bò sát này có thể ra đòn chính xác tới mức tuyệt đối trong đêm tối.

4. Chim ruồi nhìn thấy tia cực tím

Loài chim này có thể "bắt" được những bức xạ điện từ có bước sóng nằm ngoài vùng quang phổ nhìn thấy của mắt người. Nhìn chung, mắt của côn trùng và chim có thể nhìn thấy nhiều màu hơn mắt người. Những kính thiên văn như Hubble mới có khả năng chụp những bức ảnh tạo thành từ tia cực tím. Tuy nhiên, con mắt của chúng ta chỉ có thể xem được những bức ảnh ấy sau khi các chuyên gia kỹ thuật gán cho chúng những màu sắc thông thường.

5. Mèo nhìn rõ trong đêm

Phía sau mắt mèo có một màng nhầy (tapetum lucidum) có chức năng như chiếc gương, cho phép chúng nhìn rõ trong màn đêm. Màng này phản chiếu những tia sáng đi qua võng mạc, giúp mắt có cơ hội bắt được những photon ánh sáng thêm một lần nữa. Nhờ có nó mà mèo có thể săn mồi và di chuyển trong môi trường hoàn toàn không có ánh sáng.

6. Ngửi bằng lưỡi của rắn

Khi nhìn thấy một con rắn thè chiếc lưỡi hình chạc của nó ra ngoài, chúng ta thường nghĩ ngay tới điềm xấu. Tuy nhiên, đó là cách loài bò sát này đánh hơi môi trường xung quanh. Rắn sử dụng lưỡi để "bắt" những phân tử mùi trong không khí. Sau đó, những phân tử này được đưa vào những hốc nhỏ đặc biệt trong miệng rắn - được gọi là những cơ quan Jacobson. Các hốc phân tích phân tử mùi và chuyển đổi chúng thành những tín hiệu điện và gửi tới não. Căn cứ vào những tín hiệu ấy, não sẽ biết được chướng ngại vật là con mồi hay kẻ thù.

7. Ngửi mùi "tình yêu" của bướm đêm

Với loài bướm, cụm từ "tình yêu nằm trong không khí" là một thuật ngữ được hiểu theo nghĩa đen. Loài côn trùng này thường phát tán một số hóa chất đặc biệt, được gọi là pheromone, khi cần tìm bạn tình. Bướm đực có thể ngửi được pheromone của một con bướm cái cách nó tới 10 km. Một số nghiên cứu cho thấy con người cũng có khả năng phát hiện ra pheromone bằng khứu giác.

8. Định vị bằng ria ở chuột

Đa số chuột nhắt có thị lực kém, nhưng chúng được tạo hóa đền bù bằng những chiếc ria trên mõm. Chúng sử dụng những sợi ria dài giống như người mù sử dụng gậy. Chỉ cần vẫy nhanh những chiếc ria về phía các vật thể trước mặt, chuột có thể hình thành những bức tranh về môi trường xung quanh trong não.

9. Nghe bằng bọng đái của cá trống

Một số loài cá, chẳng hạn như cá trống, có thể "nghe" bằng bàng quang. Bộ phận này có thêm chức năng phát hiện những rung động âm thanh và truyền chúng tới tai trong của cá thông qua một số xương ở tai giữa. Những chiếc lông vô cùng nhạy cảm ở tai trong tiếp nhận rung động âm thanh và chuyển những thông tin đó tới não cá.

10. Định hướng nhờ từ trường trái đất ở chim di cư

Nhiều loài chim, đặc biệt là những loài di cư, có thể sử dụng từ trường của trái đất để xác định phương hướng trong những chuyến bay dài. Các nhà khoa học vẫn chưa biết tại sao chúng làm được như vậy, nhưng một nghiên cứu gần đây cho rằng chim có thể "nhìn thấy" màu sắc của những đường từ trường trái đất - giống như khả năng nhìn thấy ánh sáng có bước sóng nhỏ hơn bước sóng tia cực tím của chúng.

Việt Linh (theo LiveScience)

 

TRÒ LỪA TÌNH CỦA BỌ CÁNH CỨNG

Ong vô tình chở ấu trùng của bọ cánh cứng về tổ.
Ảnh: Discovery.

Đàn ấu trùng của loài bọ ban miêu giả dạng những con ong cái tài tình đến mức ong đực sẽ cố gắng kết đôi với chúng và đưa chúng về nhà mình. Lũ ấu trùng này nhờ thế sống trong cảnh xa hoa bởi thức ăn và nơi ở của gia chủ.

Các nhà khoa học tin rằng hành vi này là ví dụ đầu tiên về sự giả mạo cộng tác và hung hăng được biết đến ở các loài côn trùng. Cộng tác ở chỗ những ấu trùng xếp chồng lên nhau và hành động nhất quán giống như thể chúng chỉ là một cá thể ong cái duy nhất. Hành vi này được xem là hung hăng vì một khi đã lọt vào tổ ong, những kẻ ký sinh vụng trộm sẽ ăn sạch trứng ong hoặc thức ăn mà chủ nhà đã nhọc nhằn tìm kiếm.  

Leslie Saul-Gershenz, giám đốc bảo tồn tại Trung tâm Sinh tồn hệ sinh thái ở San Francisco và cộng sự đã tìm hiểu bầy côn trùng này ở khu bảo tồn quốc gia Mojave, bang California, Mỹ. Họ phát hiện thấy hành động giả mạo của bọ ban miêu xảy ra theo 4 bước.

Đầu tiên, các ấu trùng hình sâu nở ra từ trứng ở các đế lá, sau đó chúng chất đống thành một khối cầu trước khi bò lên thân cây.

Những con côn trùng này tiếp đó giải phóng thứ vũ khí bí mật của mình - một hoá chất tương tự như hoóc môn giới tính của ong cái - và chờ đợi. Nhờ việc giải phóng "nước hoa", các con bọ ban miêu con sẽ đánh động được bất cứ con ong đực nào ở gần đó.

"Các ấu trùng nở rộng phần thân trên và những chi trước, vốn mang những cái vuốt được chuyên biệt hoá để thích nghi với việc bám chắc".

Lũ bọ con sau đó bám lên lưng con ong đực. Khi ong đực giao phối với một ong cái thực thụ, nó sẽ vô tình chuyển số "hàng hoá ấu trùng" này sang con cái. Ấu trùng cưỡi lên lưng con ong cái bay về tổ ong, nơi chúng sẽ lớn lên và trưởng thành, và chu kỳ cứ thế lại bắt đầu.

Các nhà khoa học tin rằng trò lừa đảo này là một công cụ sinh tồn của những con bọ ban miêu - những sinh vật phải sống điều kiện khắc nghiệt của sa mạc Mojave, nơi nhiệt độ thường xuyên trên mức 37 độ C.

T. An (theo Discovery)

 

1. Tháp Quỷ ở bang Wyoming, Mỹ

Đó là tảng đá bazan khổng lồ cao đến 280m hình thành từ nham thạch núi lửa bị gió, mưa xâm thực dần tạo thành. Theo các nhà khoa học, trong lần phun sau cùng của núi lửa, sức đẩy lên quá yếu khiến dung nham không thoát được ra khỏi miệng núi để trào ra ngoài. Dung nham nằm ngay miệng núi lửa tạo thành một nút đậy; phải mất hàng chục năm, miếng nút đậy này nguội dần thành khối đá cứng: đá bazan. Trải qua thời gian dài, gió mưa xói mòn mảng sườn núi lửa, dần dần đến lớp dung nham nguội này. Bản chất lớp dung nham này đồng chất và hiếm khí, khi nguội đi bị xâm thực tạo ra những cột trụ hình đa giác, xếp song song với nhau thẳng đứng như chiếc đại phong cầm đặt trong giáo đường nên chúng được đặt tên là “dàn đại phong cầm bằng đá bazan”.

 

 2. Con đường của người khổng lồ ở Ireland (Ảnh 2)

Khu vực Antrim, Bắc Ireland, sừng sững hàng chục nghìn trụ đá cấm mình xuống lòng đất, trải dài ra biển. Đó là những trụ đá đa diện có 5, 6, 7 hoặc 8 mặt đã từ lâu có trong truyền thuyết của người Ireland với tên gọi “Con đường đắp cao của người khổng lồ”. Họ kể rằng chính những người khổng lồ đã xây dựng con đường này, mở một lối đi băng ngang qua biển. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và cho biết cách nay 60 triệu năm, vùng đất này là khu vực núi lửa, lớp magma từ trong lòng núi lửa trào lên qua những khe rãnh ra bên ngoài thành những lớp dày đến hàng chục mét. Chúng nguội dần qua hàng ngàn năm, tự co lại tạo nên những cột đá có tinh thể lớn mang hình đa giác, cao có thể hơn 2m. Do gần biển, những cột đá bazan rắn này bị sóng biển đánh vào, xâm thực dần, cuối cùng tạo ra những bậc thang khổng lồ hình trụ sắp xếp không theo thứ tự.

3. Nấm đá khổng lồ ở bang California, Mỹ (ảnh 3)

Với hình dạng kỳ lạ gần giống như chiếc nấm có phần dưới phẳng phiu, bóng láng trong khi phần trên sần sùi đầy góc cạnh. Khối đá kỳ lạ này nằm trong Thung lũng chết bang California (Mỹ). Gió và nước đã tham gia tạo hình cho khối đá này. Theo các nhà địa chất, ban đầu đó chính là tảng đá trầm tích, nằm rải rác đây đó trong khu vực. Với khí hậu hoang mạc, gió bốc những hạt cát trong đó có những hạt tinh thể thạch anh rất cứng đập vào khối đá, chà xát vào phần dưới của nó, có lúc gió bốc cát lên cao đến 2m, làm mài mòn, đánh bóng phần chân của khối đá; lâu ngày làm cho khối đá có hình dạng của một chiếc nấm kỳ lạ.

4. Viên bi quỷ ở Úc (Ẩnh 4)

Người dân vùng tây nam nước Úc gọi đây là “những viên bi quỷ”. Với hình dạng hai khối đá tròn đứng trên các tảng đá nằm, trong tư thế rất cân bằng ổn định. Trên thế giới, người ta cũng có thể tìm thấy những khối đá đứng trong tư thế ổn định như thế ở nhiều nơi như ở Zimbabwe hay Hòn Chồng ở Việt Nam. Nhưng hiếm có viên đá nào được gọt đẽo tròn trịa như “những viên bi quỷ” của Úc này với tư thế đứng quá cao và nặng hơn chục tấn.

Theo các nhà khoa học, ban đầu ở lớp vỏ Trái đất trong quá trình nguội dần và dịch chuyển đã hình thành những tảng đá hoa cương khổng lồ trong lòng đất; nước thẩm thấu vào đất qua những khe nứt. Khí hậu nóng và ẩm thay đổi theo thời gian, mưa lấp đầy tạo ra những con sông, nước sông cuốn đi dần phần đất mềm, những viên đá, viên sỏi, cát, còn lại là hai tảng đá quá lớn không bị cuốn đi. Qua thời gian, hai viên đá đứng trong tư thế cân bằng bị bào mòn, nhẵn đi bởi cát và gió.

5. Những viên đá lơ lửng ở Thổ Nhĩ Kỳ (Ẩnh 5)

Ở khu vực Cappadoce (Thổ Nhĩ Kỳ), khu khách có thể chiêm ngưỡng những tảng đá nằm lơ lửng trên chóp những khối đá khổng lồ rất ổn định. Người dân vùng này gọi chúng là “những bước của thiên thần”.

Thoạt đầu, núi lửa phun ra một loạt nham thạch, làm nóng chảy tất cả những vật quanh sườn núi lửa, kèm theo tro và đá bắn ra. Tất cả các chất liệu này kết hợp lại theo thời gian hình thành một lớp mềm trải dài theo sườn núi. Kế đó, sự phún trào dung nham lần thứ hai, bắn theo những khối đá lớn, hình thành dòng chảy thứ hai phủ lên lớp ban đầu. Theo thời gian, mưa, sông, thác nước xói mòn lớp thứ hai này, khoét thành những rãnh, mang đi phần đất đá mềm về phía thung lũng và dòng chảy tiếp tục khoét sâu xuống cả lớp mềm ban đầu. Dần dần chỉ còn lại những tảng đá cứng khổng lồ, phía trên có mang những khối đá (có nguồn gốc từ núi lửa bắn ra). Thế là hình thành những viên đá lơ lửng – “những bước chân của thiên thần”.

(Theo Thế giới mới)

 

 

Thực vật cũng biết... chống khủng bố

Loại thực vật này có thể phát ra ánh sáng huỳnh quang hoặc thể hiện màu nâu yếu trên thân chỉ trong vài giờ, thậm chí vài phút sau khi chất độc phát tán trong không khí. Đó là kết quả lai tạo mới nhất của các nhà khoa học thuộc Đại học Pennsylvania (Mỹ).

Người ta dự định sẽ trồng những loại cây đó xung quanh các khu vực nhạy cảm về an ninh như sân bay, ga tàu điện ngầm và các khu quân sự.

Theo nghiên cứu, một số loài thực vật được tạo ra có thể cho ngay phản ứng đối với một vài loại hóa chất hoặc mầm bệnh, chẳng hạn bệnh than. Một số loài thực vật khác thì phát quang khi gặp hợp chất TNT trong đất, đặc biệt là vùng đất có mìn. Các nhà khoa học hy vọng rằng đến năm 2006 có thể đưa ra được khoảng 300 loài thực vật đặc biệt này để thử nghiệm ngoài thiên nhiên

 

6 quốc gia kỳ lạ trên thế giới

1. Kuwait- quốc gia không có nước

Đại bộ phận lãnh thổ Kuwait là sa mạc. Không có sông và cũng chẳng có hồ, nên 1,6 triệu dân quốc gia này luôn phải sống trong cảnh thiếu nước trầm trọng, đến rau cũng phải nhập khẩu từ nước ngoài.

2. Monaco - quốc gia không có đất canh tác

Monaco là một trong những quốc gia nhỏ nhất thế giới với tổng diện tích chưa đến 2km2. Nước này hoàn toàn không có đất dành cho nông nghiệp, nên 100% lương thực phải nhập khẩu. Thu nhập của quốc gia này chủ yếu dựa vào du lịch.

3. St Marino - quốc gia không có quân đội

St Marino là một quốc gia trong lòng quốc gia, bốn phía bị bao bọc bởi nước Ý, có diện tích khoảng 1km2 với 2 vạn dân. Quốc gia này từ trước tới nay chưa từng xây dựng quân đội, trật tự an ninh cả nước đều do lực lượng cảnh sát mong manh (hơn 40 người) đảm nhiệm. Đặc biệt hơn là St Marino không có cảnh sát PCCC cho nên mỗi khi gặp hỏa hoạn họ đều phải nhờ cảnh sát Ý, anh bạn láng giềng độc nhất trợ giúp.

4. Thuỵ Điển - quốc gia không có quán rượu

Thuỵ Điển là nước cấm rượu. Đến Thuỵ Điển người ta không thể tìm thấy bất cứ một quán rượu nào. Muốn uống rượu ở nhà hay mua rượu về uống, người dân phải xin được một loại giấy phép đặc biệt với vô vàn các chứng nhận của địa phương, nơi công tác và của bác sĩ. Không những vậy khi uống rượu nếu để say (lượng cồn trong máu hơn 1%) lập tức họ sẽ bị tống vào trại cai nghiện trong vòng 3 tháng.

5. Fiji - quốc gia không có ai mắc bệnh ung thư

Fiji là một quốc đảo gồm 800 đảo nhỏ có dân số hơn 60 vạn người. Ở quốc gia này chưa từng có ai mắc bệnh ung thư. Sau khi nghiên cứu các nhà khoa học phát hiện ra rằng người dân Fiji không bị mắc bệnh ung thư là do họ ăn nhiều quả hạnh nhân khô - một loại quả hàm lượng vitamin phong phú, có tác dụng chống ung thư.

6. Nauru - quốc gia không có đất

Cũng như Fiji, Nauru là một quốc đảo thuộc châu Đại Dương. Tuy nhiên các đảo của nước này lại hình thành trên nền nham thạch san hô. Sau một quá trình biến đổi hoá học lâu dài, nham thạch san hô tạo nên một lớp phân gốc muối Axít Photphoric dày tới 10 mét. Do đó muốn trồng trọt, Nauru phải nhập khẩu đất từ các quốc gia khác.


                                                         

Chúng đổ hàng triệu lít nước từ trên vách đá cao xuống, đào đường chảy trong các các khối đá cứng nhất. Thác nước là những chàng khổng lồ phù du: chính khả năng xâm thực ghê gớm của chúng khiến chúng bị đe doạ tuyệt tích.

1. Thác Niagara (Canada): Mỗi năm có 14 triệu du khách đến tham quan thắng tích này, gấp đôi so với tháp Eiffel. Thác Niagara là một trong các địa điểm ưa thích nhất của những đôi lứa đi hưởng tuần trăng mật. Đó là một cái mốt có từ thời Jérôme Bonaparte (em của Napoléon), ông đã đưa cô vợ Mỹ đến đấy vào năm 1804. Thác Niagara cao 54m.

2. Thác Shiraito (Nhật): Những dải nước trắng quét trên 20m vách đá phủ đẩy rêu dưới chân núi Phú Sĩ. Rộng 130m, con thác hiền hoà này tạo nên bóng râm, sự tươi mát và độ ẩm cần thiết cho thực vật.

3. Thác Tchadar (Ấn Độ): Là vùng có người sinh sống cao nhất thế giới, vương quốc Phật giáo Zanskar mang tên của một dòng sông chảy suốt 150km trước khi đổ ra biển Indus. Vùng này mỗi năm bị tách biệt 8 tháng bởi tuyết bao phủ những ngọn đồi ở độ cao 5.000m. Với nhiệt độ -350C, giá rét làm đông cứng nước. Con đường duy nhất có thể đi được vào mùa đông được gọi là Tchadar (Dòng sông đông cứng).

4. Thác Yellowstone (Mỹ): Magma ở dưới sâu 10.000m hun nóng đất của khu công viên tự nhiên này. Nước phun lên thành vòi (geyser) rồi chảy từ bậc cấp này xuống bậc cấp khác. Tảo và vi khuẩn biến đổi màu của nước và giúp người ta biết được nhiệt độ: nếu màu trắng là 800C, vàng là 700C, cam là 600C.

5. Thác Victoria (Zimbabwe): Rộng 1.700m, con thác vĩ đại này được UNESCO xếp vào di sản thế giới. Dòng sông Zambèze đổ vào đấy 545 triệu lít nước mỗi phút. Vào mùa lũ, tiếng thác đổ có thể nghe thấy từ xa 500m, tạo thành màn sương mù khiến người ta khó chiêm ngưỡng được cảnh quan.

 

6. Thác Trappstegsforsen (Thụy Điển): Ở giữa vùng rừng Laponie bao la gần vòng Bắc cực, nước do băng tuyết tan đổ xuống các bậc cấp do thiên nhiên đẽo gọt. Vào thời băng hà của kỷ đệ tứ cách đây 12.000 năm, băng tuyết bao phủ khắp vùng Bắc Âu, san phẳng địa hình tạo nên các bậc cấp tăng tốc cho nước chảy.

(Theo Thế giới mới)

 

 

 NHỮNG LOÀI HOA LẠ

Đến miền Tây nước Úc vào mùa xuân, có thể bạn sẽ ngỡ mình đang lạc vào một vườn địa đàng đầy màu sắc với các loại “kỳ hoá, dị thảo”…

 Hoa nở nhờ… lửa: Bạn đã gặp loài hoa nở ra trong lửa hoả hoạn bao giờ chưa? Lửa cháy rừng, lửa đốt lên sẽ làm cho loài hoa xanthorrhoea nở. Thật thế: khi gặp lửa, thậm chí lửa cháy xém thân cây, chẳng bao lâu từ cây bị đốt đó nhiều túm hoa tua tủa như những lá thông bừng nở màu đỏ hoặc vàng đậm. Hoa dài 30 – 40cm, gồm nhiều chùm. Đặc biệt, từ giữa những chùm hoa vọt lên một thân to như cán dao, phía trên lại nở những bông hoa trắng. Thổ dân Aborigène đợi cho thân đó khô đanh lại, lấy đem mài nhọn một đầu dùng làm vũ khí săn bắt hoặc tự vệ chiến đấu. Nhựa chảy ra từ thân cây được dùng làm cồn dán hoặc vecni. Lạ nữa là những chiếc lá của cây rất cứng, sắc, được thổ dân dùng làm dao thái thịt.

Theo nghiên cứu, có thể trước đây do khí hậu khô nóng, vùng có cây này hay xảy ra cháy rừng. Cây đã thích nghi và phản ứng lại với lửa như trên. Ngày nay môi khi xuân đến, người dân Tây Úc lại đốt lửa để ngắn nhìn xanthorrhoea nở hoa.

·        Hoa có mật ngọt:

 Cao gần 1m, chứa đầy hương thơm mật ngọt, có màu vàng tuyệt đẹp giữa một vùng lá đài xanh cứng là hoa banksias vàng. Mỗi khi hoa nở, gió đưa hương thơm toả đi khắp vùng. Đêm đến hương càng ngát, loài chuột mật nhận được tín hiệu tìm đến hoa thưởng thức mật ngọt trong từng bông nhỏ. Nó khéo léo thè chiếc lưỡi dài 3cm (thân mình dài 8cm) vào từng đài hoa để hút mật mà không làm gãy hoa.

·        Hoa ăn thịt: Cây hoa ăn thịt dryandras mọc ở vùng đất cằn cỗi chỉ có lá hình răng cưa bao quanh một bông hoa hình cầu lớn, có nhiều cánh ở giữa mềm như lông chim, trơn tuột, xung quanh là những cánh cứng. Côn trùng bị hấp dẫn bởi hương thơm sà vào đậu, bị rơi xuống giữa lòng hoa. Những cánh hoa mềm mại nhanh nhẹn khép lại với sự hỗ trợ của những cánh cứng. Hoa tiêu hoá nhanh chóng mồi rồi lại mở “lưới” ra chuẩn bị đón một mẻ mới. Với cách này, hoa săn mồi để bổ sung dinh dưỡng thiếu hụt cho cây. Có đến 80 loại dryandras khác nhau.

·        Hoa nở hai mùa

: Một trong những loài banksias có cấu tạo gồm nhiều cánh đỏ toả ra xung quanh đài hoa màu vàng trông hệt như những mặt trời con. Mỗi “mặt trời” gồm hàng trăm hoa nhỏ chứa đầy mật. Có đến 75 loài banksias khác nhau. Hoa nở từ mùa xuân kéo dài sang đến tận hè. Kỳ lạ hơn nữa là khi đã đậu hạt, những hạt này lại cần nhiệt độ cao của lửa, của Mặt trời mới bung ra, gieo xuống đất để rồi lại mọc lên những “mặt trời” mùa sau.

       

·        Hoa đẹp nhờ đất cằn: Cây hoa hakea victoria cao từ 1,5 – 2m. Phía trên vài tàu lá xanh, “hoa” tiếp tục nở với những cánh có màu lửa ở cuống. Đất cằn cỗi, hakea victoria vẫn tồn tại được nhờ chất dinh dưỡng từ chính những tàu lá của mình. Điều đặc biệt là nếu ở môi trường đủ dinh dưỡng , “hoa” lại chỉ có màu xanh.

 

MÙA TÌNH YÊU TRONG THẾ GIỚI LOÀI VẬT

Có lẽ sự phong phú, đa dạng của “lễ hội tình yêu” trong thế giới loài vật là một trong những điểu mà loài người chúng ta “mặc cảm” nhất. Loài vật thể hiện những phong cách yêu đương đặc sắc và mùa tình yêu đích thực là mùa xuân của chúng, cho dù có những loài chỉ được hưởng một mùa xuân duy nhất trong đời.

1001 cách quyến rũ bạn tình

Khi sắp đến mùa tình yêu, loài vật thể hiện những cách quyến rũ, gợi tình khác nhau. Những con đực sống độc thân cảm thấy nhu cầu giao tiếp sôi nổi hơn bao giờ hết. Chúng sử dụng những phương tiện khác nhau để kêu gọi bạn tình. Trong lúc con ếch đực làm phồng to túi thanh âm, phát ra tiếng kêu ồm ộp để lôi kéo các nàng ếch thì loài chim cốc biển tham gia vào những cuộc cạnh tranh khốc liệt bằng cách làm phình chiếc túi màu đỏ tươi trước ngực: túi càng to chứng tỏ vẻ đẹp và sức khoẻ càng dồi dào. Ở loài chim Toucan, cong trống trang bị cho cái mỏ dài và bộ lông của chúng những màu sắc sặc sỡ nhất. Đó chính là tiêu chuẩn để các con mái chọn lựa ý trung nhân theo sở thích của mình. Loài mực nang cũng thế, trong mùa sinh sản, cơ thể con đực trông giống như một bộ da của loài…ngựa vằn. Đó chính là dấu hiệu của “nam tính” và sự cường tráng, đảo bảo một khả năng giao phối đạt “chất lượng cao”. Không chỉ sử dụng tham âm và màu sắc, loài vật còn phát triển những kỹ năng riêng để quyến rũ bạn tình. Tiêu biểu cho dạng quyến rũ này là những điệu múa của loài chim chân xanh. Sau khi tiếp cận được với nàng, vượt qua “vòng loại”, chú chàng bèn thể hiện hết tài nghệ: co một chân lên và bằng một chân trụ còn lại, nhảy lò cò nhẹ nhàng quanh bạn tình mới đang đứng che giấu những cảm xúc tuyệt diệu của mình. Loài cua “vĩ cầm” (crabe violoniste) cũng có những thủ thuật tương tự. Chúng nhảy múa bằng cách ngoe nguẩy chiếc càng to như cột tín hiệu, xoay vòng hai ba lần và nâng lên hạ xuống đến 50 lần.

Trong thế giới loài vật, không riêng gì con đực chủ động bày tỏ “nỗi niềm”: ở một số loài, sự mời mọc xuất phát chủ yếu từ con cái. Chẳng hạn ở loài bướm Atlas, con cái phát tán một loại pheromone thơm như lời thỏ thẻ “em đây!” và các chàng bướm đực - bằng những chiếc ăng ten “siêu chạy” giống như hai chiếc lá xoè rộng – có thể “ngửi” được mùi thơm do các nàng bướm phát ra ở cách đó hàng cây số. Loài đom đóm thì sử dụng “của trời cho”: Khả năng phát sáng vào ban đêm và những tín hiệu ánh sáng dùng quyến rũ bạn tình của chúng đến nay vẫn còn nằm ngoài tầm hiểu biết của các nhà khoa học.

1.001 cách giao phối

Giao phối vừa là nghĩa vụ cao cả nhằm bảo tồn chủng loài, vừa là niềm vui thú tuyệt diệu của những con vật trưởng thành. Cũng như cách quyến rũ, cách giao phối của loài vật thật đa dạng, nhưng dù với cách nào đi nữa, cũng không ngoài hai mục đích trên.

Nhện là loài khá cẩn trọng trong đời sống tình dục. Con đực ngoài “vũ khí” chính còn có “phụ tùng” là hai cái chân xúc giác có tác dụng đưa tinh trùng vào đúng vị trí trong bộ phận sinh dục nhện cái. Ở loài nhện Thomise, con đực nhả tơ đan một tấm lưới, phóng tinh dịch vào đó rồi dùng hai chân xúc giác hút lên. Sau động tác này, nó áp sát người bạn tình – to hơn nó gấp nhiều lần - rồi dùng chân xúc giác đưa tinh dịch vào bộ phận sinh dục con cái. Cuối cùng, nó vắt giò lên cổ mà chạy, nếu không muốn cô bạn tình xơi tái một cách không thương tiếc. Nói về sự đối xử tệ bạc theo kiểu này, có lẽ loài bọ ngựa không có đối thủ. Trong lúc loài nhện Thomise còn có thể “bỏ của chạy lấy người” thì không hiếm chú bọ ngựa đực phải trả giá cho sự “mê ly” bằng chính sinh mạng của nó. Không đợi tàn cuộc vui, trước hoặc ngay trong lúc giao hoan, bọ ngựa cái háu đói đã bắt đầu “xơi” cơ thể bạn tình: trước tiên là đầu, sau đó đi dần đến chân. Trong một mùa tình yêu, không chỉ có một, mà có thể nhiều bọ ngựa đực cùng là nạn nhân của một nàng bọ ngựa cái. Đó quả là những bữa tiệc protein độc đáo, đủ tạo nên kho năng lượng cho cho bọ ngựa cái sử dụng sau này, khi đẻ ra hàng loạt trứng.

Trong khi ở hầu hết mọi loài, việc mang nặng đẻ đau là thiên chức của con cái thì loài cá ngựa lại tỏ ra “ga lăng” hơn khi con đực giành quyền…mang trứng do con cái “bàn giao” trong quá trình giao phối. Nó dùng tinh dịch làm thụ tinh các não bào của con cái và sau 4 – 6 tuần mang thai, nó cho ra đời một đàn con. Về tính chất “lãng mạn” trong giao phối, loài ếch đáng được xếp hàng đầu. Bằng hai chân trước như hai gọng kìm, ếch đực ghì chặt ngực của bạn tình và trong tư thế một trên một dưới, cả hai từ phía bờ ao cùng bơi ra đến giữa ao, vừa bơi vừa thực hiện những động tác cần thiết cho sự bảo tồn nòi giống. Thời gian giao phối kéo dài nhiều giờ, thậm chí nhiều ngày liên đối với một số giống ếch. Cuối cùng, theo tín hiệu của bạn tình, con ếch đực phóng tinh, làm thụ tinh hàng ngàn quả trứng chờ sẵn. Về thời gian kéo dài cuộc giao phối, loài ếch có một đối thủ đáng gờm, đó là loài rắn chuông. Ở loài này, thời gian giao phối có thể lên đến…hơn 22 tiếng đồng hồ!

Những “vũ khí” độc đáo của loài vật

Về mặt này, trước tiên phải dành kỷ lục vĩnh viễn cho loài cá voi, vì không một loài nào khác hy vọng đoạt lại kỷ lục này. Theo các nhà sinh vật học, bộ phận sinh dục (BPSD) của một số con cá voi có thể dài đến…2,7m, đường kính ở phần gốc đạt đến 1m. Kế tiếp loài cá voi là một loài sống trên cạn và trùng tên với chúng. Đó là loài voi, với kích thước tương ứng là 1,2m và 0,1m. Những loài có cơ thể nhỏ hơn lại được thiên nhiên phú cho những sắc thái độc đáo khác, chẳng hạn ở loài ong: BPSD lởm chởm gai nhọn, bị bứt ra khỏi cơ thể con ong trong thời gian giao phối, kéo theo cái của con vật này. Kỷ lục về kỹ thuật…dự phòng có lẽ khó loài nào sánh được với loài rắn. Ở các loài rắn độc, con đực được thiên nhiên trang bị đến…hai BPSD! Trong quá trình giao phối, khi bộ phận này thực hiện ‘nghĩa vụ” thì bộ phận kia ở trong tư thế sẵn sàng tiếp ứng mỗi khi có sự cố. Cuối cùng, kỷ lục về BPSD nằm xa vị trí thông thường nhất thuộc về loài chuồn chuồn. Con đực của loài này có BPSD nằm ở…lồng ngực, còn túi đựng tinh thì ở chót đuôi, nên khi giao phối, cả hai phải cong mình lại để “tiếp cận” nhau một cách dễ dàng. Đó quả là những nét độc đáo trong đời sống tình dục của loài vật, vượt quá khả năng tưởng tượng của loài người chúng ta.

(Theo Science et Vie Jr, 2001)

 

CÁ THÔNG MINH HƠN TA TƯỞNG

Cá là những sinh vật có trí tuệ cao, chứ không phải những kẻ ngù ngờ trong thế giới động vật như quan niệm trước đây, một nhóm các nhà khoa học kết luận. Thay vì chỉ hành động theo bản năng, cá khôn ngoan, khéo léo và có cả nền văn hoá riêng.

3 chuyên gia tại Đại học Edinburgh, St. Andrews và Leeds (Anh) tuyên bố đã có một thay đổi lớn trong sự hiểu biết về tâm lý và khả năng trí tuệ của cá trong vài năm qua. "Đã qua rồi các thời người ta nghĩ về cá như một lũ đầu óc bã đậu, hoạt động theo bản năng, có trí nhớ kéo dài chỉ 3 giây, gây cản trở nghiêm trọng tới sự linh hoạt trong hành vi. Hiện giờ, cá được coi là có trí thông minh cao, tuân thủ những chiến thuật thao tác kiểu Machiavellian, bộc lộ một nền văn hoá truyền thống lâu đời, biết hợp tác trong việc truy tìm kẻ thù và tìm kiếm thức ăn".

"Mặc dù có vẻ hơi khác thường nhưng trong một số lĩnh vực nhận thức, cá có thể được coi là tương đương với động vật linh trưởng".

Nghiên cứu mới cho thấy cá có thể nhận ra "đồng đội", xác định vị thế xã hội và quản lý các mối quan hệ. Cá còn biết sử dụng nhiều loại công cụ, xây dựng tổ phức tạp và có trí nhớ dài hạn. Cá là nhóm động vật xương sống cổ xưa nhất, do vậy mà có một quãng thời gian lớn để phát triển những hành vi phức tạp, phong phú, có khả năng thích nghi cao, vượt trội nhiều loài động vật xương sống khác.

"Những tiến bộ này đảm bảo một cái nhìn mới về trí tuệ của cá và đòi hỏi cần phải nghiên cứu sâu hơn cơ sở dẫn tới sự phức tạp về hành vi và xã hội của cá", các nhà khoa học kết luận.

 

ĐỘNG VẬT ĐỰC SINH CON

Trong thế giới động vật, ít nhất có một loài đi ngược lại quy luật thông thường, trong đó các "Adam" mới là "mẫu nghi thiên hạ" - giống đực trực tiếp mang thai rồi sinh con. Đó là cá ngựa biển, còn gọi là hải mã.

Cứ đến mùa động đực, bên sườn cá ngựa đực hình thành những nếp nhăn và dần phát triển thành chiếc túi nuôi con. Cá ngựa cái sẽ phóng trứng vào chiếc túi ấy, mỗi đợt khoảng 100 trứng. Trứng sẽ hóa thành bào thai. Trên thành túi nuôi con của cá ngựa đực xuất hiện rất nhiều mạch máu nổi, nối liền với mạch máu các bào thai nhằm cung cấp dưỡng chất cho chúng. Đến lúc trứng nở thành cá ngựa con thì cá ngựa đực “vượt cạn”.

Theo các nhà nghiên cứu, môi trường sống của cá ngựa là vùng đáy biển nông, rất phức tạp và thường xuyên đối mặt với nhiều nguy hiểm. Chính nhờ tập tính sinh sản khác thường này mà cá ngựa mới đảm bảo tối đa cho việc truyền giống.

 

KIẺU NGUỴ TRANG KỲ LẠ CỦA CHUỒN CHUỒN

Các loài sinh vật thường nguỵ trang trong tình trạng bất động: tắc kè hoa đổi màu để hoà lẫn vào môi trường xung quanh, vết đốm giúp báo giấu mình trong bụi rậm. Tuy nhiên, theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Australia, chuồn chuồn lại sử dụng chuyển động của chúng để nguỵ trang.

Hiện tượng này thật là kỳ lạ vì chính chuyển động thường làm kẻ săn mồi bị lộ. Nguyên nhân là khi một hình ảnh dập dờn qua tế bào nhạy cảm với ánh sáng trong võng mạc, phản ứng báo động diễn ra và được chuyển lên não của con mồi.

Chuồn chuồn phủ bóng lên mục tiêu của nó chính xác tới mức chúng luôn xuất hiện như một điểm cố định trong võng mạc của con mồi. Trên thực tế nó vẫn đang chuyển động. Do không có hình ảnh dập dờn trong tế bào võng mạc của con mồi nên không có phản ứng báo động. Con mồi coi chuồn chuồn là vật thể đứng yên và do đó không phải là mối đe doạ.

Nghiên cứu do Akiko Mizutani thuộc Trung tâm khoa học thị giác, ĐH quốc gia Australia, tiến hành. Nhóm nghiên cứu của ông đã sử dụng camera lập thể để dựng lại chuyển động 3 chiều trong 15 chuyến bay của chuồn chuồn đực. Chúng đang giao chiến để giành giật lãnh thổ.

Kết quả cho thấy một con chuồn chuồn đực, đang giao chiến với một đồng loại khác trên không, điều chỉnh đường bay sao cho nó dường như là bất động đối với đối phương. Đây chính là bằng chứng về sự nguỵ trang chuyển động.

Hiện nhóm nghiên cứu mong muốn tìm ra cơ chế mưu tính và thực hiện những cuộc đột kích lén lút như vậy của chuồn chuồn. Họ hy vọng có một quy luật đơn giản nào đó mà chuồn chuồn tuân theo. Tuy nhiên, mọi việc sẽ rất thú vị nếu đó là một cơ chế phức tạp.

 

VÌ SAO KIẾN KHÔNG BỊ LẠC ?

Đôi khi những con kiến phải đi tìm nguồn thức ăn xa tổ của chúng đến hàng kilômet, thế nhưng dù thế nào nó vẫn có khả năng quay trở về nơi xuất phát một cách rất chính xác và an toàn.

Theo các nhà nghiên cứu ở Trường đại học Sheffield (nước Anh), có hai yếu tố quan trọng giúp kiến có thể tự định phương hướng cho mình khi đi tìm mồi xa tổ là biên độ góc giữa hai lối rẽ do chúng tạo ra và một mùi hương đặc trưng làm dấu do chúng để lại.

Chẳng hạn như khi nghiên cứu trên loài kiến vàng, các nhà khoa học này nhận thấy lộ trình tìm mồi xuất phát từ tổ được kiến xác lập bằng cách sử dụng thứ mùi đặc trưng làm dấu hiệu cho những con đi sau chúng.

Tại những nơi lộ trình cần được rẽ nhánh để dẫn đến chỗ có nguồn thức ăn thì một trong những góc giữa các lối rẽ do kiến tạo ra sẽ luôn là 600. Khi đó, bất kỳ con kiến nào dù có vô tình lọt ra khỏi lộ trình cũng đều có thể tìm được đường đi đúng bằng cách tìm ra góc hẹp này. Để xác định đường quay về tổ, con kiến đó chỉ cần quay lưng về phía góc hẹp là có thể định hướng đi một cách chính xác.

 

TÊ TÊ BẮT KIẾN NHƯ THẾ NÀO?

Trong miệng của tê tê không có chiếc răng nào, chỉ có một chiếc lưỡi dài mảnh. Không có răng thì chúng nhai thức ăn làm sao nhỉ? Đừng lo, bởi vì thức ăn của chúng là kiến và mối, không cần phải nhai. Miệng có kết cấu rất thích hợp cho chúng bắt mồi.

Toàn thân tê tê được phủ lớp vảy cứng, giống như võ sĩ thời cổ đại khoác áo giáp sắt, nhưng tính cách của nó lại rất ôn thuận, chưa bao giờ đánh nhau với các động vật lớn khác. Khi phát hiện thấy một hang kiến, tê tê liền duỗi móng sắc nhọn như móc câu, vừa đào vừa bới, đuổi đàn kiến từ trong hang ra. Sau đó, chúng thè chiếc lưỡi dài như thắt lưng để liếm sạch đàn kiến chạy qua. Mỗi lần như vậy có cả trăm con bị dính trên lưỡi, trở thành bữa ngon cho nó.

Đôi khi không muốn bỏ nhiều công sức để đào hang kiến, tê tê sẽ bố trí một cái bẫy để dụ kiến lên.

Cái bẫy này rất thú vị. Trước tiên, nó giả vờ nằm chết bên hang kiến, mở rộng tất cả vảy trên toàn thân. Từ cơ thể nó toả ra mùi tanh nồng nặc, bay vào trong hang. Đàn kiến khi ngửi thấy mùi này lần lượt chui ra ngoài, nhìn thấy tê tê giả vờ chết, tưởng rằng đã phát hiện được một núi thịt, bèn trèo lên thân con vật. Thời cơ tới, tê tê liền căng cơ thịt toàn thân, làm toàn bộ vảy khít lại với nhau, nhốt đa số kiến vào trong vảy. Sau đó, nó mang đầy kiến trên thân, nhảy vào trong một chiếc hồ hoặc ao, rồi thả lỏng vảy ra, lắc mình mấy cái. Đàn kiến rơi xuống, trôi trên mặt nước. Lúc này tê tê mới thè lưỡi dài ra, liếm sạch.

 

MUỐN TÌM BẠN TÌNH, PHẢI THỬ !

Loài bạch tuộc vạch xanh sinh sống ở Australia không thể phân biệt được giới tính của đồng loại. Do đó, cơ hội để một con đực giao phối với một con cái cũng tương đương với xác suất cặp phải con đực khác. Chính vì thế, chúng buộc phải dùng phép thử, cho đến khi gặp được đúng "người thương".

Khi giao phối, bạch tuộc vạch xanh sẽ đưa một cánh tay có chứa đầy các bó sinh tinh (tương tự như một túi tinh) vào trong cơ thể đối phương, hai nhà nghiên cứu Mary Cheng và Roy Caldwell, Đại học California, bang Berkeley (Mỹ), cho biết.

Hai người cũng phát hiện thấy, hầu hết các cuộc giao cấu nhầm đực - đực của bạch tuộc vạch xanh sẽ kết thúc chóng vánh trong tình bằng hữu. Còn khi kết đôi đực - cái, con đực sẽ nấn ná lâu hơn, và cuộc giao hoan thường kéo dài tới hơn một giờ rưỡi, để đảm bảo trứng được thụ tinh.

Đây là nghiên cứu chi tiết đầu tiên về hành vi giao phối của loài sinh vật biển này. Nghiên cứu được đăng trên số mới nhất của tạp chí Tự nhiên Australia.

 

BIỆT TÀI XÂY DỰNG CỦA LOÀI VẬT

Trời tối dần trên đất châu Phi. Những cành cây khô gãy tạo ra những tiếng kêu sắc, mạnh, dưới thân hình đu đưa của các con tinh tinh. Như mọi ngày, bầy linh trưởng bận rộn xây tổ. Trong vài phút, những con lớn đã dùng vật liệu tự kiếm để tạo ra lớp nệm bằng những cành cây đan chéo nhau...

Đống cành cây này sẽ là một nơi kín đáo nằm ngoài tầm của bọn săn mồi. Động vật làm tổ nhằm mục đích bảo vệ chính mình. Dưới đất, trên ngọn cây hoặc ngay trên mặt đất, đó là một thế giới tự do ổn định và an toàn. Đó cũng là nơi nuôi những con nhỏ còn yếu đuối và là cách tự bảo vệ khi thời tiết xấu, nhiệt độ thay đổi.

Khả năng xây tổ của động vật không chỉ có ở loài chim hoặc động vật có vú. Trong những rừng cây ở Amazon, loài nhái bén Brazin đã tự tạo ra một nơi trú ẩn bằng nhựa cây. Ở dưới nước, con cá mèo đào tổ trong cát, trong khi con cá gai dệt các nhành rong nước để tạo ra một tấm nệm êm ấm.

Cũng như con người, các động vật cũng cần đến các dụng cụ và vật liệu để xây "nhà". Dụng cụ ở chính ngay cơ thể chúng. Với hàm trên, hàm dưới, chúng đào bới, đẽo tạc. Với những cú mổ, chúng dệt và thêu. Sức mạnh của móng vuốt chân giúp chúng dọn dẹp hoặc cào. Tuy nhiên, không một bộ phận nào được chuyên môn hoá trong việc xây dựng hoặc đi lệch với chức năng nguyên thuỷ của nó. Chân vẫn làm chức năng vận động, di chuyển và mổ, hàm kiếm ăn. Còn đối với vật liệu thì chúng tận dụng mọi thứ, kể cả những phân thải ra (như một số loài sâu đã dùng phân khô, không có mùi để làm tổ).

Đối với loài kiến, việc xây tổ của chúng rất công phu - như ở loài kiến Oecophylla chẳng hạn. Chúng dàn ra trên những lá cây, từ từ, vành lá và đuôi lá cuốn lại gần nhau. Trong khi đó, những con kiến nhỏ mang ấu trùng lên công trường, những con lớn tiết ra những sợi tơ gắn lấy các bờ viền của lá để tạo nên một cái tổ tương lai. Cần hàng nghìn lá để tạo thành tổ như thế.

Chim sẻ, khướu rừng là hai loài chim biết hót xây tổ đẹp nhất. Người ta thật khó phát hiện cách dệt khéo léo của chúng với vật liệu là những sợi cỏ đan với rêu. Tài dệt không chỉ riêng của loài chim, tôm cũng dùng đôi càng của nó để tạo nên một cái tổ bằng sợi tảo. Còn tổ ong, như ta đã biết, thường được dẫn chứng như một sự hoàn hảo về hình học, về tính hiệu quả và tiết kiệm. Còn những tổ mối, sự tinh tế của các thành vách do chúng xây nên cũng như các đường hầm khiến nhiều nhà kiến trúc phải suy ngẫm.

Cái tổ chủ yếu là nhằm bảo vệ những động vật trú ngụ bên trong. Căn nhà luôn phải đáp ứng một số tiêu chuẩn của giống loài có liên quan. Một độ cao nhất định trên mặt đất, phương hướng, một kiểu xây dựng chính xác, kín đáo và gần nguồn thức ăn. Mọi loại chất làm nền đều được khai thác: băng, lòng đất, nham núi lửa, sa mạc, bờ sông, nước...

Một số loài như hải ly chỉ ở chung tổ với gia đình trong 1-2 năm, đợi khi lớn lên sẽ đi "ở riêng". Cuối cùng là những con du cư, mỗi tối thay đổi một chỗ ngủ, điển hình là loài linh trưởng như gorilla và tinh tinh.