HỘI CHỢ TRIỂN LÃM QUỐC TẾ VỀ SẢN PHẨM SINH THÁI 2008
  Hà Nội, 1-4/3/2008

 CÔNG NGHỆ, THIẾT BỊ VÀ SẢN PHẨM THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG

Công ty TNHH Tân Thuận Phong xử lý chất thải thành sản phẩm hữu ích
Công ty TNHH TM Hùng Cường một trong các doanh nghiệp đầu tiên có sản phẩm được gắn thương hiệu CHÈ VIỆT
Nhà máy ô tô Ngô Gia Tự: Cho những con đường mãi thêm xanh
Sàn tre của Công ty Star Bamboo
Công ty Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây: Đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì

Phát triển bền vững và một số sản phẩm sinh thái của VN

Vài nét về Hội chợ - Triển lãm EPIF

Vài nét về Tổ chức năng uất Châu Á (APO)

Các cuộc họp của Ban tổ chức phía VN

Quảng cáo EPIF 2008 tại Nhật Bản

Họp với các doanh nghiệp Nhật Bản

Các sự kiện diễn ra tại EPIF 2008

Thủ tướng Chính phủ tiép lãnh đạo APO

CÔNG TY TNHH TÂN THUẬN PHONG XỬ LÝ CHẤT THẢI THÀNH SẢN PHẨM HỮU ÍCH

Là một trong 3 doanh nghiệp đầu tiên ở Việt Nam được Cục bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cấp phép vận chuyển và xử lý chất thải công nghiệp trên phạm vi toàn quốc, Công ty TNHH Tân Thuận Phong đã nỗ lức nghiên cứu tái chế thành công một số chất thải nguy hại thành những sản phẩm hữu ích, đảm báo sản xuất kinh doanh có hiệu quả và góp phần bảo vệ môi trường.

Hơn 6 năm hoạt động, Công ty đặc biệt chú trọng đầu tư vào lĩnh vực xử lý chất thải công nghiệp.   Cùng hợp tác với các nhà khoa học và Trung tâm nghiên cứu khoa học, Công ty có cơ chế thu hút,  động viên, khuyến khích đội ngũ kỹ sư trẻ nghên cứu, tìm ác giải pháp tối ưu, điịnh hướng cho họ nghiên cứu và áp dụng các công trình nghiêu cứu vào việc xử lý chất thải công nghiệp, trong đó ưu tiên cho việc tái chế chất thải nguy hại thành những sản phẩm hữu ích.  Các sản phẩm do Công ty làm ra chủ yếu là tái chế từ nguồn phế thải của các nhà máy như: dầu thải, kim loại phế thải của các bản máy điện tử, các dung dịch thải và hoá chất thải. Với Công ty, chất thải là nuồn tài nguyên qúy giá  và phương châm hoạt động của Công ty là đưa các giải pháp nghiên cứu công nghệ tối ưu nhất, thân thiện với môi trường để tái sử dụng chất thải có hiệu quả. Việc làm của Công ty được nhiều công ty nước ngoài đánh giá cao. Mới đây, một số tập đoàn của Nhật Bản đã tới Công ty ký các hợp đồng kinh tế về xử lý chất thải nguy hại thành những sản phẩm có giá trị kinh tế  và góp phần bảo vệ môi trường. Năm 2007, Công ty đạt doanh thu trên 30 tỷ đồng, trong đó 30 % là tái chế các chất thải công nghiệp. Công ty đạt hiệu quả cao trong sản xuất các sản phẩm kim loại màu, dây đồng, tủ bản điện, dây điện … là những mặt hàng truyền thống của đơn vị, được thị trường ưa chuộng. Hiện Công tạo việc làm và thu nhập ổn định cho hàng trăm lao động.

 (Nguồn: Báo Tài nguyên và Môi trường, Số Tết Mậu Tý)

SÀN TRE CỦA CÔNG TY STAR BAMBOO

Tre là loại cây rất dể trồng, phát triển nhanh, là loại cây mọc được trên nhiều loại đất, được nhiều nước dùng làm cây chủ yếu để khôi phục rừng. Để giảm bớt lượng tiêu thụ gỗ rừng đang ngày càng cạn kiệt, Công ty Star Bamboo của Singapore đã đầu tư nghiên cứu, xây dựng công nghệ chế biến tre hết sức độc đáo, cho phép sản xuất nhiều đồ nội thất từ cây  tre, tạo ra những sản phẩm chất lượng cao, rất đẹp, có uy tín trong khu vực và trên thế giới. Các sản phẩm này có màu sắc tự nhiên, đa dạng, độ bóng cao và rất bền.

 Sản phẩm được ưa chuộng nhất là sàn tre, với những ưu việt nổi bật:

  • Có vẻ đẹp tự  nhiên của tre, làm cho ngôi nhà trở lên sáng  sủa , sang trọng
  • Chống xây sát, không bị cào xước như sàn gỗ, vì sàn được quýet 6 lớp chống xây sát, có khả năng chống xước rất  cao
  • Bảo vệ sức khoẻ cho gia đình bạn, tạo không khí t ự  nhiên, thân thiện môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn Châu Âu S1
  • Có độ bền rất cao, chịu đ ược thay đổi của thời tiết, khí hậu như sự thay đổi nhiệt độ, độ ẩm.
  • Độ  bóng  cao, chống bẩn tốt,  dễ lau sạch mọi chất bẩn thông thường cũng như các loại hoá chất
  • B ền m àu, kh ông b ị b ạc  m àu  do t ác  t ác đ ộng c ủa ánh s áng v à th ời gian, vì đ ược quýet một lớp dầu bóng đặc biệt
  • Khả  năng chống mối mọt cao, không bị các loại mối, mọt, kiến, nấm mốc xâm hại
  • Chống cháy, nhiệt, nhờ có lớp sơn đặc biệt, ngay cả tàn thuốc lá cũng không hề để lại vết trên bề mặt sàn.
  • Dễ dàng bảo dưỡng, vì bề mặt luôn luôn sạch sẽ, không bắt bụi, khi có bụi rất dễ lau chùi
  • Sử dụng được lâu dài, vì sàn có độ bền rất cao, nhà máy bảo đảm thời gian bảo hành kỷ lục: 20 năm !

 

CÔNG TY TNHH TM HÙNG CƯỜNG - MỘT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP ĐẦU TIÊN CÓ SẢN PHẨM ĐƯỢC GẮN THƯƠNG HIỆU CHÈ VIỆT

 

Với kim chỉ nam: Thương hiệu quốc gia chè Việt Nam phải được coi như chứng chỉ chất lượng khi đưa vào lưu thông trên thị trường nội địa và xuất khẩu, ngay từ thời điểm đó, HHCVN đã triển khai hàng loạt công việc để xây dựng toàn diện và quảng bá sâu rộng Thương hiệu quốc gia Chè Việt.

HHCVN đã phối hợp với Bộ NN-PTNT, Bộ Khoa học Công nghệ và các cơ quan quản lý đưa ra quy định tiêu chuẩn chè được mang thương hiệu quốc gia; tổ chức khâu giám sát, kiểm tra chất lượng sản phẩm và điều kiện sản xuất bảo đảm vệ sinh công nghiệp, an toàn thực phẩm. Những quy định đó được phổ biến rộng rãi đến tất cả các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất, kinh doanh chè qua các phương tiện thông tin đại chúng như Tạp chí Thế giới Chè,  website của HHCVN; qua các buổi hội thảo nhằm lấy ý kiến đóng góp và tập huấn quy chế sử dụng Thương hiệu quốc gia Chè Việt. Kết quả là, ngày 6/7/2005, Quy chế sử dụng Thương hiệu quốc gia chè Việt Nam chính thức được ban hành. Đây là căn cứ để HHCVN bước sang giai đoạn tiếp theo: Tiến hành xét cho phép cơ sở chế biến chè được sử dụng và sản phẩm chè được mang biểu tượng thương hiệu quốc gia chè Việt Nam.

HHCVN đã thành lập Ban kỹ thuật, tổ chức giám sát, kiểm tra chất lượng sản phẩm và điều kiện sản xuất với sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành Chè. Ban kỹ thuật đã phối hợp với Viện dinh dưỡng Bộ Y tế- là thành viên của uỷ ban Codex quốc gia về an toàn thực phẩm kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu và kim loại nặng theo tiêu chuẩn của EU; giao cho Vinacontrol- đơn vị chuyên giám định chất lượng hàng hoá (Bộ KH-CN) kiểm tra chất lượng sản phẩm và các điều kiện sản xuất an toàn thực phẩm theo Quyết định 4747/QĐ-BNN-KHCN của Bộ Nông nghiệp. Ngay trong đợt đầu tiên đã có nhiều sản phẩm hội đủ điều kiện để nhận quyền sử dụng biểu tượng Thương hiệu Chè Việt, như sản phẩm của Công ty Chè Mộc Châu, Bắc Sơn, Mỹ Lâm, Thái Bình, Cầu Tre, Hùng Cường... Những sản phẩm này sẽ được trao quyền sử dụng biểu tượng Thương hiệu Chè Việt ngay trong những ngày đầu năm 2006.

Bên cạnh đó, việc đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa và quảng bá thương hiệu Chè Việt ở trong và ngoài nước cũng được đặc biệt quan tâm. Biểu tượng Thương hiệu quốc gia ngay sau lễ công bố đã đăng ký và được cấp Giấy chứng nhận Đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Việt Nam. Và chỉ trong vòng một năm, đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại 77 quốc gia và vùng, lãnh thổ, trong đó có Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, các nước EU theo Thoả ước Madrid…

Các chương trình Xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia 2005 luôn gắn liền với giới thiệu văn hóa trà và quảng bá Thương hiệu quốc gia Chè Việt. Những buổi hội thảo giới thiệu Thương hiệu quốc gia Chè Việt Nam tại Nga, Ucraina, Belarusia, Đức, Anh, Hoa Kỳ…không chỉ thu hút sự quan tâm của Bộ, ngành liên quan của nước bạn mà còn được nhiều cơ quan thông tấn báo chí nước ngoài phản ánh, đưa tin đã góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của Chè Việt Nam trong mắt người nước ngoài. Tại các buổi hội thảo của ngành trong năm đều gắn chất lượng sản phẩm chè với việc đảm bảo uy tín Thương hiệu Chè Việt. Chè Việt cũng xuất hiện trong Những đêm Văn hóa trà, những Hội chợ tổ chức trong nước thu hút hàng nghìn khách tham quan. Trong những ngày cuối năm ất Dậu và đón chào Xuân mới, Chè Việt đến với mọi nhà không chỉ bằng những khái niệm trừu tượng, bằng những hình ảnh gắn trên băng-rôn, áp-phích, mà đã có mặt trên những sản phẩm đạt tiêu chuẩn chất lượng, an toàn thực phẩm, được Nhà nước công nhận và người tiêu dùng chấp nhận. Và bắt đầu từ đây Chè Việt lại bước sang một giai đoạn mới: khẳng định mình trong cuộc sống.

Để chúng ta có thể hy vọng và tin tưởng, thêm một tuổi, Chè Việt sẽ càng khẳng định vị trí trên thương trường quốc tế.

Nguồn tin: HCT

 


Taxi Gas Công ty cơ khí Ngô Gia Tự

NHÀ MÁY Ô TÔ NGÔ GIA TỰ: Cho những con đường mãi thêm xanh
Công ty cơ khí Ngô Gia Tự, doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng Công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam, trong quá trình phát triển gần 40 năm của mình Công ty luôn là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất.

 

Công ty Cơ khí Ngô Gia Tự, doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng Công ty Công nghiệp ôtô Việt Nam, trong quá trình phát triển gần 40 năm của mình Công ty luôn là một trong những doanh nghiệp đi đầu trong các lĩnh vực ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất. Nắm bắt và xu thế phát triển của thị trường trong tương lai của các chủng loại ôtô sử dụng nguyên liệu sạch, Công ty Cơ khí Ngô Gia Tự với sự hỗ trợ của Bộ KHCN đã tích cực thực hiện dự án nhà nước KC.06.DA.09.CN “ Hoàn thiện công nghệ chuyển đổi xe chạy xăng sang chạy LPG sử dụng trong các thành phố lớn” được bắt đầu từ năm 2003 . Sản phẩm của Dự án đang giành được rất nhiều sự quan tâm của các cơ quan, tổ chức, báo chí và người tiêu dùng trên thị trường về những lợi ích thiết thực cũng như khả năng và phát triển của dự án này. Mục tiêu của dự án là đưa ra một công nghệ hoàn chỉnh cho quá trình lắp đặt bộ chuyển đổi sử dụng nhiên liệu khí hóa lỏng (LPG) lên xe ôtô chạy xăng. Sự chuyển đổi này không hề làm thay đổi về tính năng sử dụng, các thông số, đặc tính  kỹ thuật của xe. Công nghệ này mang đến cho người sử dụng cơ hội điều khiển một chiếc xe ôtô sử dụng cả xăng và LPG, người lái xe chỉ cần một thao tác đơn giản thông qua công tắc để chuyển đổi qua lại giữa chế độ nhiên liệu LPG và xăng. Tính thiết thực, mục tiêu lâu dài của dự án không chỉ là góp phần làm giảm đáng kể chi phí nhiên liệu khi sử dụng nhiên liệu LPG thay xăng, mà còn có một ý nghĩa hết sức quan trọng đó là giảm thiểu đến mức tối đa ô nhiễm môi trường do khí thải của ôtô tạo ra.

            Hiện nay, sự biến động tăng của giá xăng dầu trên thế giới cũng như thị trường trong nước có ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế trong nước và đặc biệt là ngành giao thông vận tải. Chúng ta mới chỉ khai thác được dầu thô nhưng chưa có nhà máy chế biến lọc dầu nhưng nguồn khí thiên nhiên và khí dầu mỏ chúng ta đã hoàn toàn có thể chủ động từ trong nước. Do đó, việc sử dụng loại nhiên liệu mới này trong hệ thống giao thông vận tải sẽ hứa hẹn mang lại nhiều lợi ích kinh tế khi tận dụng tốt các nguồn khí này.

Các số liệu thực nghiệm chạy thử thực tế tại Công ty cho thấy tính kinh tế còn được thể hiện rõ khi so sánh về chi phí nhiên liệu khi sử dụng xăng thông thường chuyển sang sử dụng LPG như sau : (giá xăng ở thời điểm hiện tại là : 10.000 VNĐ ; giá LPG ở thời điểm hiện tại : 6.730 VNĐ)

 

            + Chạy thử nghiệm đường trường

 

 

Đơn vị tính

Ôtô DAEWOO LANOS 1.5

Tiêu hao Xăng

lít/100 km

7,79

đ/100 km

77.900

Tiêu hao LPG

lít/100 km

8,619

đ/100 km

58.005,87

           

           

+ Chạy thử nghiệm đường thành phố

 

 

Đơn vị tính

Ôtô DAEWOO LANOS 1.5

Tiêu hao Xăng

lít/100 km

11,460

đ/100 km

114.600

Tiêu hao LPG

lít/100 km

12,037

đ/100 km

81.009,01

 

Số liệu chỉ ra mức tích kiệm về chi phí nhiên liệu cho xe ôtô khi sử dụng nhiên liệu LPG giảm từ 25 – 30 %  trên mỗi 100 km so với sự dụng nhiên liệu xăng truyền thống.

Trong xu thế toàn cầu hóa, chúng ta đang phải đối mặt với rất nhiều ảnh hưởng và tác động của các hoạt động sản xuất cũng như sinh hoạt của con người đến môi trường sống. Các báo cáo đánh giá tác động môi trường đã chỉ ra mức báo động đáng lo ngại của sự ô nhiễm bầu không khí do khí thải ôtô gây ra và ngày càng vượt qua các tiêu chuẩn môi trường cho phép. Với thành công của dự án này, các số liệu từ quá trình nghiên cứu và thử nghiệm thực tế của Công ty Cơ khí Ngô Gia Tự dưới đây chỉ  ra những lợi ích vô cùng to lớn  khi sử dụng nhiên liệu sạch LPG góp phần giảm thiểu ô nhiễm, bảo vệ môi trường :

            Các số liệu thực tế vận hành và đo đạc trên xe Daewoo Lanos 1.5 và chỉ tiêu về khí thải theo tiêu chuẩn TCVN :

 

   

    

 

Với các số liệu trên cho thấy, khi xe sử dụng LPG hàm lượng CO giảm 10,7 lần, hàm lượng HC giảm 2 lần so với chạy xăng và so với tiêu chuẩn TCVN 6348 : 2001 hàm lượng CO giảm 40 lần, hàm lượng HC giảm 7 lần. Các kết quả nghiên cứu, thực nghiệm trên đã khẳng định sử dụng nhiên liệu LPG  thay xăng sẽ làm giảm đáng kể sự phát thải các chất khí gây ô nhiễm môi trường. Sự tiện lợi và hiệu quả của việc sử dụng nhiên liệu sạch sẽ đem lại những đóng góp to lớn cho xã hội cả về mặt kinh tế cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống. Trong tương lai, việc ứng dụng các công nghệ mới, sử dụng các nguồn năng lượng sạch thân thiện với môi trường sẽ ngày càng phát triển và trở thành đòi hỏi tất yếu của cuộc sống. Để thúc đẩy hơn nữa sự thành công của dự án này, ngoài việc hoàn thiện các giải pháp kỹ thuật, sử dụng tiện ích, dự án còn cần sự giúp đỡ  rất nhiều từ Chính phủ, các Bộ ban ngành trong việc xã hội hóa công nghệ chuyển đổi xe chạy xăng sang chạy LPG, bằng sự hỗ trợ về kinh phí cho người sử dụng muốn chuyển đổi xe chạy xăng sang sử dụng LPG. Hơn nữa, để tăng cường mạng lưới trạm nạp Gas trong thành phố, rất cần có sự hỗ trợ của Ủy ban nhân dân thành phố trong việc xây dựng hệ thống trạm cung cấp Gas cho ôtô để mở rộng phạm vị sử dụng ở mọi điạ bàn.

Những bước đi đầu tiên của Công ty Cơ khí Ngô Gia Tự sẽ góp phần vào sự phát triển việc sử dụng LPG cho xe ôtô và mở ra những hướng đi mới trong việc ứng dụng và hoàn thiện các công nghệ hữu ích phục vụ cuộc sống, bảo vệ môi trường. Cho mỗi con đường mãi mãi thêm xanh !

 

 

CÔNG TY MÔI TRƯỜNG VÀ CÔNG TRÌNH ĐÔ THỊ SƠN TÂY ĐÓN NHẬN HUÂN CHƯƠNG LAO ĐỘNG HẠNG NHÌ

Đ/c Nguyễn Huy Tưởng, UVTV Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh thay mặt Nhà nước trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho lãnh đạo Công ty.

Sáng 22-12 Công ty Môi trường và Công trình đô thị Sơn Tây đã tổ chức lễ đón nhận Huân chương Lao động hạng Nhì và kỷ niệm 25 năm thành lập Công ty. Đến dự có lãnh đạo một số ban, ngành Trung ương; đồng chí Nguyễn Huy Tưởng, UVTV Tỉnh uỷ, Phó Chủ tịch Thường trực UBND tỉnh; lãnh đạo Thành ủy, UBND, HĐND thành phố Sơn Tây.

25 năm xây dựng và phát triển, Công ty MT & CT đô thị Sơn Tây đã nỗ lực phấn đấu, không ngừng vươn lên, trưởng thành về mọi mặt, liên tục hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu kế hoạch được giao và năm sau cao hơn năm trước. Đặc biệt là trong thời gian 5 năm gần đây, doanh thu hàng năm của doanh nghiệp luôn có tăng trưởng: Năm 2003 đạt 5.518 triệu đồng, năm 2007 đạt 19.804 triệu đồng; thu nộp ngân sách năm 2007 đạt 1.080 triệu đồng, giải quyết việc làm cho 234 cán bộ, CNV, với mức thu nhập bình quân 2,4 triệu đồng/ người/ tháng; 13 năm liền Đảng bộ Công ty được công nhận trong sạch vững mạnh.
 
Phát biểu tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Huy Tưởng đã ghi nhận và biểu dương thành tích đã đạt được của tập thể lãnh đạo và cán bộ, CNV của Công ty MT & CT đô thị Sơn Tây trong những năm qua và lưu ý: Trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội nhanh như hiện tại, nhu cầu cuộc sống con người đòi hỏi có chất lượng cao, nên vấn đề môi trường ngày càng quan trọng. Đặc biệt, việc thực hiện cổ phần hoá doanh nghiệp sẽ đặt ra cho Công ty nhiều thuận lợi và thách thức lớn. Vì vậy, trong thời gian tới, Công ty cần tập trung đổi mới cơ chế hoạt động, tận dụng cơ hội, khắc phục khó khăn, vượt qua thử thách để ổn định và phát triển.
 
Tại buổi lễ, đồng chí Nguyễn Huy Tưởng đã thay mặt Nhà nước trao Huân chương Lao động hạng Nhì cho lãnh đạo Công ty. Nhiều tập thể và cá nhân của Công ty được tặng Bằng khen của UBND tỉnh và các Hiệp hội chiếu sáng Việt Nam, Môi trường đô thị Việt Nam, Liên đoàn lao động tỉnh./.

 

Hương Dung

PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG VÀ MỘT SỐ SẢN PHẨM SINH THÁI CỦA VIỆT NAM

                                                     

TS. Nguyễn Ngọc Sinh

Chủ tịch Hội BVTN&MT Việt Nam (VACNE)

 Trong khoảng 15-20 năm gần đây, Việt Nam ngày càng nói nhiều tới phát triển bền vững. Kể từ sau Hội nghị quốc tế Môi trường và Phát triển bền vững tổ chức tại Việt Nam từ 3 đến 6 tháng 12 năm 1990, và đặc biệt là từ sau khi Chính phủ Việt Nam thông qua Kế hoạch hành động quốc gia về Môi trường và phát triển bền vững giai đoạn 1991 – 2000, một trong những kế hoạch đầu tiên về loại này trong khu vực, quan điểm phát triển bền vững đã thực sự đi vào đời sống của xã hội Việt Nam. Tháng 8 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (còn gọi là Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam), xác định các hoạt động cụ thể trong các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường theo quan điểm phát triển bền vững.

Hình 1. Những nội dung chính của Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam

Việt Nam xác định mục tiêu tổng quát của phát triển bền vững là đạt được sự đầy đủ về vật chất, sự giàu có về tình thần và văn hoá, sự bình đẳng của các công dân và sự đồng thuận của xã hội, sự hài hoà giữa con người và tự nhiên; phát triển phải kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hoà được ba mặt là phát triển kinh tế, phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam dựa trên 8 nguyên tắc chính, trong đó các nguyên tắc sau:

-         Con người là trung tâm của phát triển bền vững

-         Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm của giai đoạn sắp tới theo nguyên tắc “mọi mặt: kinh tế, xã hội và môi trường đều cùng có lợi”

-         Bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường là yếu tố không thể tách rời của phát triển.

-         Quá trình phát triển phải bảo đảm đáp ứng một cách công bằng nhu cầu của thế hệ hiện tại và không gây trở ngại tới cuộc sống của các thế hệ tương lai.

-         Phát triển bền vững là sự nghiệp của toàn dân

Theo Định hướng chiến lược của Việt Nam, trong lĩnh vực kinh tế cần ưu tiên những hoạt động sau đây:

-         Duy trì tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định trên cơ sở nâng cao không ngừng tính hiệu quả, hàm lượng khoa học – công nghệ và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và cải thiện môi trường.

-         Thay đổi mô hình và công nghệ sản xuất, mô hình tiêu dùng theo hướng sạch hơn và thân thiện với môi trường, dựa trên cơ sở sử dụng tiết kiệm các nguồn tài nguyên không tái tạo lại được, giảm tối đa chất thải độc hại và khó phân huỷ, duy trì lối sống của cá nhân và xã hội hài hoà và gần gũi với thiên nhiên.

-         Thực hiện quá trình “công nghiệp hoá sạch”, nghĩa là ngay từ ban đầu phải quy hoạch sự phát triển công nghiệp với cơ cấu ngành nghề, công nghệ, thiết bị bảo đảm nguyên tắc thân thiện với môi trường; tích cực ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm công nghiệp, xây dựng nền “công nghiệp xanh”.

-         Phát triển nông nghiệp và nông thôn bền vững. Trong khi phát triển sản xuất ngày càng nhiều hàng hoá theo yêu cầu của thị trường, phải bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm, bảo tồn và phát triển được các nguồn tài nguyên: đất, nước, không khí, rừng và đa dạng sinh học.

-         Phát triển bền vững vùng và xây dựng các cộng đồng địa phương phát triển bền vững.

Hình 2: Thay đổi mô hình sản xuất và tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường

Rõ ràng là, bằng việc khẳng định quan điểm phát triển bền vững, cũng như nhiều nước khác, Việt Nam không chấp nhận phương thức tăng trưởng không tạo thêm việc làm (Jobless growth), tăng trưởng một cách thô bạo (ruthless growth), tăng trưởng câm (voiceless growth), tăng trưởng mất gốc (rootless growth) và tăng trưởng bất chấp tương lai (futureless growth). Những tác hại của các phương thức tăng trưởng này ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài tới toàn xã hội đặc biệt là gây ra chủ nghĩa hám lợi (nảy sinh sự hám lợi), tăng nguy cơ mất ổn định hệ thống gia đình và cơ cấu xã hội hiện hành, tăng sự thờ ơ đối với con người do quá đề cao kỹ thuật, xô đẩy con người chạy theo nhu cầu tăng trưởng kinh tế. Những nội dung vừa trình bày cũng được phản ánh trong tài liệu “Phát triển bền vững ở Việt Nam – 10 năm nhìn lại và con đường phía trước” là Báo cáo của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc họp ở Johanessberg, Nam Phi cuối năm 2002.

Các quan điểm phát triển bền vững của Việt Nam đang được các ngành và các địa phương thể hiện trong chiến lược phát triển của mình trên cơ sở đánh giá lại các chính sách hiện hành. Lấy ví dụ điển hình là chính sách năng lượng, một trong những lĩnh vực có quan hệ chặt chẽ với môi trường và phát triển bền vững. Theo hướng này, những nghiên cứu gần đây cho thấy tuy hệ thống năng lượng của Việt Nam đã có nhiều tiến bộ, nhưng vẫn đang trong tình trạng kém phát triển, tài nguyên năng lượng sơ cấp tuy đa dạng nhưng việc khai thác và sử dụng thiếu hệ thống và không đồng bộ, hiệu quả khai thác và sử dụng năng lượng còn thấp, hệ thống giá năng lượng chưa thích ứng với cơ chế thị trường. Năng lượng là ngành quan trọng của nền kinh tế, nhưng cũng là một trong những ngành có tác động mạnh mẽ đến môi trường, gây ra nhiều chất thải, đặc biệt khi sử dụng dạng năng lượng hoá thạch. Việc phát triển hệ thống năng lượng thời gian qua ở Việt Nam đã chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề bảo vệ môi trường. Từ những yếu kém này, ngành năng lượng sẽ phải tìm ra chiến lược thích hợp để phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững ngành năng lượng, phát triển đi đôi với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và bảo vệ môi trường đối với tất cả các lĩnh vực dầu, khí, than, điện,...như Định hướng phát triển bền vững đã chỉ ra.

Về một phương diện nào đó, Việt Nam không xa lạ với các sản phẩm sinh thái. Tiêu chuẩn “các hệ thống quản lý môi trường” ISO 14001 ban hành tháng 9 năm 1996, đến nay đã có hàng chục nhà máy/xí nghiệp Việt Nam được cấp chúng chỉ “Đạt tiêu chuẩn”. Năm 1999 Việt Nam ký Tuyên ngôn về sản xuất sạch hơn, đến nay hàng trăm cơ sở sản xuất ở nhiều ngành và nhiều địa phương của Việt Nam đang thực hiện sản xuất sạch hơn. Việc dán nhãn sinh thái hoặc các nhãn tương tự đã được thí điểm thực hiện ở một số sản phẩm.

Một số doanh nghiệp và cơ quan nghiên cứu của Việt Nam đã đưa ra được nhiều sản phẩm sinh thái đối với nhiều mặt hàng khác nhau. Trường Đại học Đà Nẵng đã chế tạo thành công xe máy chạy bằng ga thay cho chạy bằng xăng, tiết kiệm nhiều nhiên liệu và giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí. Nhà máy Bóng đèn phích nước Rạng Đông Hà Nội đã sản xuất nhiều loại bóng đèn tiêu thụ ít điện lượng, có loại chỉ bằng 1/2 so với bóng đèn thường dùng hiện nay. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ sản xuất các loại hầm biogas phù hợp với các quy mô gia đình, trang trại, sản xuất tập trung lớn, tận dụng chất thải để làm phân, đun nấu, giảm bớt ô nhiễm môi trường. Công ty Trách nhiệm hữu hạn Tân Thuận Phong đã áp dụng thành công các thành tựu nghiên cứu khoa học để tái chế từ nguồn chất thải của các nhà máy thành các sản phẩm hữu ích. Tương tự như vậy, Tập đoàn Văn Đạo Hà Tây đã xử lý thành công cặn dầu để tái tạo thành dầu sạch và các sản phẩm hữu ích khác. Tuy chưa nhiều, nhưng các sản phẩm sinh thái, các công nghệ thân thiện môi trường đang có mặt ngày càng nhiều ở Việt Nam, từng bước góp phần làm thay đổi nhận thức và thói quen tiêu dùng của cộng đồng, chuyển hướng xanh hoá nền công nghiệp non trẻ của Việt Nam.

Hình 4. Mô hình Rừng – Vườn – Ao – Chuồng của Việt Nam

 

Cho dù còn có những quan niệm chưa thống nhất về sản phẩm sinh thái, nhưng theo nghĩa rộng nhất có thể hiểu sản phẩm sinh thái là những sản phẩm do con người tạo ra thân thiện với môi trường. Với cách hiểu này, xét về mặt lịch sử, Việt Nam và nhiều nước khác từ lâu đã có nhiều sản phẩm sinh thái, và điều đó có tác động tích cực đối với việc quảng bá cho sản phẩm sinh thái theo cách hiểu của công nghiệp.

Thực vậy, hiện nay chúng ta nói về nền kinh tế sinh thái, ngành kinh tế sinh thái, lối sống sinh thái - đấy cũng là những sản phẩm sinh thái theo một khía cạnh nào đó. Người Việt Nam xây dựng nhà ở theo mô hình nhà - vườn – ao: nhà nằm trong khuôn viên có vườn cây, ao nước. Đấy là một dạng sản phẩm sinh thái trong quy hoạch kiến trúc xây dựng. Các chuyên gia của Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam đề xuất mô hình xây dựng “Làng sinh thái” – có lẽ cũng là một dạng sản phẩm sinh thái?

Theo quan điểm của Viện Kinh tế Sinh thái của Việt Nam, Làng sinh thái là một hệ sinh thái có không gian sống của một cộng đồng người nhất định. Hệ sinh thái này vừa có chức năng sản xuất ra những thứ cần thiết cho nhu cầu của cộng đồng mà không phá vỡ mối cân bằng sinh thái. Trong hệ, con người có vai trò trung tâm để điều hoà các mối quan hệ nhằm sử dụng tối ưu các nguồn tài nguyên sẵn có, hướng tới một sự cân bằng ổn định, bền vững cả khía cạnh tự nhiên lẫn khía cạnh xã hội.

Những đặc trưng cơ bản của làng sinh thái:

-         Sử dụng tối ưu nguồn nguyên liệu, nhiên liệu và năng lượng tại chỗ. Kể cả nguồn lực con người.

-         Quan hệ giữa các yếu tố vô sinh (đất, nước, khí hậu) và các yếu tố hữu sinh (sinh vật sản xuất, sinh vật tiêu thụ, sinh vật phân hủy và kể cả con người) luôn cân bằng ổn định theo quy luật phát triển của một hệ sinh thái tự nhiên.

-         Là không gian sống của nhiều loài sinh vật trong đó đặc biệt là con người với nhiều cảnh quan nhân tạo đan xen với cảnh quan tự nhiên. Tạo sự đa dạng về kiến trúc không gian thích nghi cho nhiều loài sinh vật cư trú.

-         Làng sinh thái được xây dựng trên cơ sở tuân thủ các quy luật phát triển của hệ sinh thái tự nhiên vốn có, sử dụng kiến thức bản địa và kiến thức khoa học hiện đại trong sản xuất, tổ chức không gian sống.

-         Làng sinh thái là một hệ sinh thái điển hình, trong đó con người đóng vai trò quan trọng nhất trong chu trình tuần hoàn vật chất và dòng năng lượng của hệ.

 

Hình 5. Làng Sinh thái xã Phú Điền, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương

Tuỳ vào điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng, khí hậu, nước, địa hình, địa chất) và xã hội (phong tục tập quán, truyền thống văn hoá, phương thức sản xuất và sinh hoạt) mà mỗi vùng đều có mô hình làng sinh thái với những đặc trưng riêng phù hợp với điều kiện tự nhiên và xã hội của mình. Ví dụ: Làng sinh thái ở vùng trũng lấy mô hình (cơ cấu) sản xuất chủ đạo là Cây – Cá – Lúa với đặc trưng cây vừa có chức năng kinh tế khi thu hoạch hoa, quả, chất đốt vừa có chức năng sinh thái như che gió, tạo bóng mát cho cá. Lúa sau khi thu hoạch cây non mọc lên là nguồn thức ăn cho cá. Cá là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng, tạo thu nhập cho nông dân vừa có chức năng sử dụng các nguồn năng lượng dư thừa sẵn có nhằm tăng hiện quả kinh tế, đầu tư trở lại nhằm chăm sóc cây được tốt hơn. Đây chính là mô hình làng sinh thái được xây dựng ở xã Phú Điền, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Làng sinh thái ở vùng đất dốc cần áp dụng mô hình sản xuất Rừng - Vườn – Ao - Chuồng hoặc mô hình trang trại với sự đa dạng cây trồng, vật nuôi như mô hình làng kinh tế sinh thái ở thôn Hợp Nhất, xã Ba Trại, huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây.

Đến nay, đã có gần 20 Làng sinh thái - Sản phẩm sinh thái được xây dựng ở Việt Nam và đang phát huy tốt tác dụng “trình diễn” của mình.

Hình 6. Xe đạp Việt Nam

Cũng theo cách hiểu rộng về sản phẩm sinh thái, rất nên quan tâm đến chiếc xe đạp của Việt Nam. Có thời, Hà Nội và nhiều đô thị ở Việt Nam được gọi là các thành phố xe đạp, nhà nào cũng có xe đạp, người nào cũng có xe đạp. Xét theo quan điểm môi trường, xe đạp rất thân thiện. Hoàn toàn không có khí thải, không tiêu tốn nhiên liệu, không gây tiếng ồn. Nhiều nghiên cứu khoa học cho thấy việc sử dụng xe đạp có lợi cho sức khoẻ con người và như vậy là góp phần làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhiều hội viên Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam “quay trở lại” sử dụng xe đạp làm phương tiện giao thông chính, không ngại bị người khác hiểu lầm. Họ tập hợp thành Tổ chức đạp xe vì hoà bình, cứ ngày nghỉ là cùng nhau đạp xe đi hoạt động bảo vệ môi trường. Ở nhiều nước trên Thế giới, nhất là các nước Tây Bắc Âu, người ta khuyến khích sử dụng xe đạp, tổ chức các tuyến đường riêng cho xe đạp, tổ chức cho mượn xe đạp không mất tiền. Hiệu quả xã hội của việc sử dụng xe đạp là rất tốt. Xe đạp - sản phẩm sinh thái “3 tốt”: Tốt cho mỗi người, tốt cho môi trường, tốt cho xã hội. Xe đạp - sản phẩm sinh thái, vì sự phát triển bền vững và cuộc sống tốt đẹp hơn.

Đương nhiên, còn phải xem xét nhiều khía cạnh khác, ví như có người cho rằng, xe đạp là sản phẩm sinh thái của vòng xoáy ốc thấp của phát triển. Đáng phải tranh luận đấy!

Vì sự phát triển bền vững, vì cuộc sống tốt đẹp hơn, hãy có nhiều hơn các sản phẩm sinh thái. Đa dạng hoá các sản phẩm sinh thái cũng là cách tốt cho cuộc sống, cho môi trường và phát triển.

 TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH

 1.                  Các hệ sinh thái kém bền vững và việc lựa chọn khu vực nghiên cứu để xây dựng mô hình Làng sinh thái. IUCN và Sida, 2002.

2.                  Chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia của Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. NXB Chính trị quốc gia, 2004.

3.                  Định hướng Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam (Chương trình nghị sự 21 của Việt Nam). NXB Bộ Kế hoạch và Đầu tư. 2004.

4.                  Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh. Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2000.

5.                  Ngân hàng Thế giới. Xanh hoá công nghiệp: Vai trò mới của cộng đồng, thị trường và chính phủ. 2000.

6.                  Phát triển bền vững ở Việt Nam – 10 năm nhìn lại và con đường phía trước. Báo cáo của Việt Nam tại Hội nghị thượng đỉnh của Liên Hợp Quốc Johanessberg, Nam Phi, 2002.

7.                  Quỹ Heinrich Boll. Bản ghi nhớ - Jóburg “Sự công bằng trong một thế giới mỏng manh”. 2002.

 

VÀI NÉT VỀ HỘI CHỢ - TRIỂN L