MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
Lật
tẩy đường dây buôn lậu thú hoang dã xuyên quốc gia:
Kỳ 1: Từ
đầu mối giấy phép xuất khẩu của Lào
Kỳ 2: Bắt
đầu truy tìm trên đất Lào
Kỳ
3: Hé
mở sự thật
Kỳ cuối: Sự thật phơi bày
Chống
xói lở và ô nhiễm môi trường bằng cỏ
Vùng
ô nhiễm "toàn tập" ở Hà Nội
Đất
sinh học và vườn cây nhân tạo
Vịnh
Hạ Long thuộc nhóm có phiếu đề cử cao nhất
Thành
phố Hồ Chí Minh: Nói không với... bao ni lông !
|
Lật
tẩy đường dây buôn lậu thú hoang dã xuyên
quốc gia:
Kỳ
1: Từ đầu mối giấy phép xuất khẩu của Lào
(Tienphognonline, ngày
25/10/2007)
TP
- Một trong những đường dây buôn lậu thú hoang
xuyên quốc gia lớn và tinh vi nhất ở Việt Nam
từ trước đến nay vừa bị lật tẩy. Phóng viên
Tiền phong đã thâm nhập các đầu mối trong và
ngoài nước để lật tẩy đường dây này.
|
|
|
Trại
khỉ của Tân Hội Đông gần Cửa khẩu Kà
Tum bị nghi là điểm tập kết thú hoang
nhập lậu từ Campuchia và được hợp thức
hóa bằng giấy phép xuất khẩu từ Lào
|
Trại
nuôi động vật hoang dã của Công ty TNHH Tân Hội
Đông vừa trở thành một trong những trại nuôi
thú hoang đầu tiên ở Việt Nam có giấy chứng
nhận phù hợp với Công ước về Buôn bán Quốc
tế Động-Thực vật Hoang dã Nguy cấp (CITES).
Nhưng
ít ai biết trại này (Tọa ở một nơi hẻo lánh
ngay sát cửa khẩu Kà Tum, tỉnh biên giới tây nam
Tây Ninh) là điểm trung chuyển quan trọng
nhất của một trong những đường dây buôn lậu
thú hoang xuyên quốc gia lớn và tinh vi nhất ở
Việt Nam từ trước đến nay.
Theo
mô tả của một tờ báo trong nước, chuồng
trại của Cty TNHH Tân Hội Đông áp dụng tiến
bộ khoa học kỹ thuật hiện đại trong quy trình
gây nuôi, tái tạo các loài rắn, rùa, đặc biệt
là các loài linh trưởng dùng để thí nghiệm và
nghiên cứu vaccine phòng chữa bệnh cho người.
Tin
trên loang ra sau khi giám đốc một công ty sinh
học Mỹ gửi bố cáo đề ngày 1/7/2007 về việc
nhóm chuyên gia của công ty sẽ đến Cửa khẩu Kà
Tum để thị sát trại nuôi thú hoang của đối tác
là Cty TNHH Tân Hội Đông.
Nhưng
ông Donald A.Bradford, Chủ tịch Tập đoàn Primate
Products, chắc không biết Tân Hội Đông và mạng
lưới của nó suốt một gian dài dùng giấy tờ
giả mạo để nhập một trong những loài thú
hoang đang được các phòng thí nghiệm sinh học
khắp thế giới săn lùng.
Một
quan chức của một tổ chức bảo tồn quốc tế
có trụ sở ở Hà Nội nhận xét, nếu vụ việc
được xác định là đúng, đây gần như là vụ
hy hữu ...
Ông
Trần Quý, Giám đốc Cty Thương mại Biên mậu
Trung - Việt (gọi tắt là Trung Việt), cảnh báo,
nếu không sớm quy hoạch và nhân nuôi, sẽ đến
lúc Việt Nam không có nguồn khỉ đuôi dài để
phục vụ phát triển công nghệ sinh học.
Cũng
theo ông Trần Quý, Việt Nam hiện đứng thứ ba
thế giới về xuất khẩu khỉ đuôi dài.
Chỉ
riêng thị trường Mỹ, theo một nhóm trên diễn
đàn bảo tồn của chương trình phát triển Liên
Hợp Quốc (UNDP) tại Việt Nam, năm 2004, Việt Nam
xuất 2.700 con. Sang năm 2005, con số đó lên hơn
4.300.
Vấn
đề là “Từ nhiều năm nay, Chính phủ cấm khai
thác khỉ đuôi dài từ nguồn tự nhiên trên lãnh
thổ Việt Nam”, ông Đỗ Quang Tùng, Phụ trách
CITES Việt Nam, nói với phóng viên Tiền phong
vào một ngày cuối tháng 7/2007.
Vậy
khỉ xuất từ Việt Nam chỉ có thể được khai
thác từ nước ngoài. Vấn đề là chúng được
khai thác thế nào, hợp pháp hay bất hợp pháp.
|
|
|
|
Ông
Trần Quý vừa là Giám đốc Trung Việt đồng
thời là Giám đốc Cty TNHH Tân Hội Đông
|
Liều lĩnh
TS
Nguyễn Xuân Bình, Phó Giám đốc Trung tâm Thú y Vùng
VI (RAHO-6), cho biết, việc xuất khỉ đuôi dài có
từ hơn 10 năm nay.
Ở
Việt Nam có hai doanh nghiệp gần như độc quyền
xuất là Cty liên doanh Nuôi&Phát triển Khỉ
Việt Nam (NAFOVANNY) và Cty TNHH Tân Hội Đông mà
tập đoàn Mỹ đang tìm cơ hội hợp tác.
NAFOVANNY
là nhà xuất khẩu khỉ đuôi dài lớn nhất thế
giới với sản lượng xuất 8.000 - 9.000 con/năm.
Đối trọng với doanh nghiệp có 14 năm kinh
nghiệm này không ai khác chính là Cty TNHH Tân Hội
Đông, một “sân sau” của Trung Việt.
Nhiều
lúc, không rõ có phải vì quá tin tưởng vào vị
thế tưởng vững như núi Thái Sơn của mạng lưới
buôn lậu thú hoang hay không, ông Trần Quý không
ngần ngại che giấu vị thế sân sau của mình là
Cty TNHH Tân Hội Đông.
Ông
Trần Quý từng ký tên vào một văn bản hợp đồng
với một đối tác với tư cách giám đốc Cty
TNHH Tân Hội Đông mặc dù ông vẫn đang là Giám
đốc Trung Việt.
Dù
mới thành lập năm 2005, nhưng Cty TNHH Tân Hội Đông
nhanh chóng thành đối tác với doanh nghiệp Mỹ,
Primate Products Inc. Liên doanh tiềm năng đến mức
có thể qua mặt NAFOVANNY hùng mạnh.
Một
cơ sở nghiên cứu tế bào mầm với tổng vốn đầu
tư ban đầu 8 triệu USD và nguồn khỉ đuôi dài
từ Tân Hội Đông sẽ đặt ở chân núi Bà Đen,
Tây Ninh.
Nếu
thành công, nó sẽ trở thành mũi nhọn công nghệ
sinh học không chỉ của Việt Nam mà của cả khu
vực.
Ngay
từ năm 2003, sau khi ra khỏi ngành an ninh, ông
Trần Quý vạch kế hoạch xây dựng một trại
chuyên nhân nuôi khỉ đuôi dài quy mô lớn ở Cát
Bà (Hải Phòng) để đối trọng với NAFOVANNY hùng
mạnh trong miền Nam.
Để
thực hiện dự án mà nhiều nhà môi trường cho là
ấu trĩ và thiếu trách nhiệm ấy, Trung Việt được
Bộ NN&PTNT bật đèn xanh bằng việc cho phép
nhập 5.000 khỉ đuôi dài từ Lào (Công văn số
1261/BNNPTNT ngày 26/5/2003).
Tuy
nhiên, UBND TP Hải Phòng không phê duyệt dự án vì
các nhà môi trường phản đối kịch liệt, bởi
Vườn Quốc gia Cát Bà đang được đệ trình
UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế
giới.
Cũng
may cho Trung Việt, giấy phép của Bộ NN&PTNT
cho phép họ bán hết 5.000 con khỉ nhập cho
NAFOVANNY. Hỏng dự án ở Cát Bà, Trung Việt có
cớ đưa đàn khỉ nhập từ Cửa khẩu Cầu Treo (tỉnh
Hà Tĩnh) vào Nam.
Lãnh
đạo NAFOVANNY sau này chia sẻ với chúng tôi rằng
họ đồng ý mua khỉ của Trung Việt là do gợi ý
của lãnh đạo Bộ NN&PTNT. Song suốt quá trình
mua, NAFOVANNY không nhận được giấy phép của nước
xuất khẩu số khỉ đó là Lào.
“Có
giấy phép xuất xứ mới yên tâm”, ông Cao Văn
Tiễn, Giám đốc NAFOVANNY, nói. Họ cử người ra
Bắc gặp Cục Kiểm lâm và “xin mãi mới được”.
Nhưng đến bây giờ NAFOVANNY vẫn chưa biết bộ
giấy phép ấy là giả mạo.
Từ
Cầu Treo, tháng 10/2004, Trung Việt chuyển địa điểm
nhập khỉ vào Cửa khẩu Kà Tum, Tây Ninh, giáp
giới với Campuchia. Có hai nguyên nhân chính dẫn
đến cuộc di chuyển này.
Thứ
nhất, nguồn khỉ mà Trung Việt nhập vào Việt
Nam từ thuở khai sinh doanh nghiệp này đầu thập
niên 2000 cho đến giờ thực chất đến từ
Campuchia chứ không phải Lào.
Thứ
hai, cho đến năm ngoái, khách hàng tiêu thụ chính
sản phẩm của Trung Việt là NAFOVANNY tọa ở Đồng
Nai, cách Tây Ninh không xa. Không hiểu sao NAFOVANNY
chỉ thích mua khỉ đuôi dài của Campuchia. (Chúng
tôi sẽ đi sâu vào vấn đề này vào một dịp khác).
Ông
Trần Văn Trọng, Phó Giám đốc Chi cục Hải quan
Kà Tum, cho biết, chỉ trong hai năm 2005 - 2006,
mạng lưới của Trung Việt nhập tổng cộng
15.850 con khỉ qua cửa khẩu Kà Tum.
Nằm
mơ NAFOVANNY cũng không thể nhập được số khỉ
lớn như thế. Theo TS Nguyễn Xuân Bình, 6 tháng đầu
năm 2007, NAFOVANNY chỉ (làm thủ tục kiểm dịch)
nhập vẻn vẹn được 400 con từ Campuchia.
Đi
tìm lời giải cho câu hỏi “Bí quyết gì khiến
Trung Việt có thể nhập được lượng khỉ
khổng lồ như vậy?”, chúng tôi tìm cách tiếp
cận với hồ sơ xuất xứ khỉ đuôi dài.
Cũng
giống ở Cầu Treo (Hà Tĩnh), các cơ quan chức năng
mà chúng tôi đến làm việc đều cho biết, toàn
bộ số khỉ trên được nhập bằng giấy phép
xuất khẩu từ Lào.
Lẩn tránh
Ngạc
nhiên là, không cơ quan công quyền nào mà chúng tôi
đến cung cấp hoặc cho chúng tôi xem bản copy
giấy phép xuất khẩu của Lào.
Tại
Trung tâm Thú y Vùng 6, TS Bình, Phó Giám đốc Trung
tâm, nói ông không trực tiếp phụ trách mảng
kiểm dịch động vật xuất khẩu mà là Giám đốc
Đồng Mạnh Hòa.
Hôm
đó ông Đồng Mạnh Hòa ra Hà Nội công tác, TS Bình
chỉ cung cấp cho chúng tôi các văn bản liên quan
đến kiểm dịch. Còn giấy phép của Cơ quan
thẩm quyền Lào, ông kiên quyết không cung cấp và
bảo phải có chỉ đạo của cấp trên.
Chúng
tôi liên lạc được với lãnh đạo Cục Thú y
trung ương qua điện thoại và được lãnh đạo
đồng ý. Nhưng khi TS Bình gọi điện hỏi lại,
vị lãnh đạo đó lại bảo không.
Đến
Chi cục Hải quan tỉnh Tây Ninh, chúng tôi đăng ký
làm việc với ông Nguyễn Văn Đơn, Chánh Văn phòng,
xin cấp giấy phép xuất khẩu khỉ của phía Lào.
Ông
Đơn bảo xuống Chi cục Hải quan Kà Tum sẽ có.
Nhưng khi đến, ông Trần Văn Trọng, Phó Chi cục
trưởng Chi cục Hải quan Kà Tum, lại lý luận Chi
cục không có loại văn bản ấy: “Chúng tôi
chỉ cần có giấy phép của Cơ quan thẩm quyền
CITES Việt Nam là đủ”.
Nhưng
sau đó, ông lại phải có ý kiến đồng ý của
Chi cục Hải quan tỉnh (mới cấp-PV).
Đăng
ký làm việc với các cơ quan của Bộ NN&PTNT
thì được hướng dẫn đến Cục Kiểm lâm. Chúng
tôi có hai buổi làm việc với lãnh đạo Cục và
Cơ quan Thẩm quyền CITES Việt Nam.
Tại
các buổi làm việc, ông Nguyễn Hữu Dũng - Phó
Cục trưởng Kiểm lâm, ông Đỗ Quang Tùng -
Phụ trách CITES Việt Nam, ông Nguyễn Phi Truyền,
Đội trưởng Đội Đặc nhiệm, và bà Hà Thị
Tuyết Nga - cán bộ CITES Việt Nam (phụ trách
thanh kiểm tra CITES, chính sách, đối ngoại), hứa
sẽ cung cấp copy các giấy phép của Cơ quan thẩm
quyền CITES Lào.
Nhưng
tới thời điểm này, chưa bản copy giấy phép nào
của Cơ quan thẩm quyền CITES Lào nào được cung
cấp.
Ông
Trần Quý và ông Kiên (giám đốc một tập đoàn
là cổ đông của Trung Việt), cũng hứa như đinh
đóng cột sẽ cho xem giấy phép xuất khẩu khỉ
của Lào. Rốt cục cũng biệt vô âm tín.
Cuối
cùng, sau nhiều lần đề nghị, Cục Kiểm lâm cũng
cấp bản copy giấy phép xuất khẩu khỉ của Lào
nhưng không phải của Cơ quan thẩm quyền CITES Lào
mà là của Cơ quan thẩm quyền Lào cho chúng tôi.
Đấy
là giấy phép khi Lào chưa gia nhập CITES (trước
ngày 30/5/2004). Giấy phép này có hợp pháp?
Và
để đi tìm câu trả lời cho câu hỏi: Trung Việt
đã nhập khẩu khỉ đuôi dài hợp pháp hay không?
Trại khỉ Tân Hội Đông có xuất xứ như thế nào?,
tôi đã lần mò sang đầu mối của giấy phép đó
là Lào.
Quốc
Dũng
|
|
|
|
|
|
Lật
tẩy đường dây buôn lậu động vật hoang
dã xuyên quốc gia:
Kỳ
2: Bắt đầu truy tìm trên đất Lào
(Tienphognonline,
ngày 26/10/2007)
TP
- Qua Mạng lưới Báo chí Trái đất (EJN)
thuộc Internews có trụ sở ở Bangkok,
Thailand, chúng tôi liên lạc với đại
diện của Ban Thư ký CITES (Công ước
về Buôn bán Quốc tế Động - Thực vật
Hoang dã nguy cấp) sau khi tìm hiểu website
của tổ chức rất có uy tín trong lĩnh
vực kiểm soát buôn bán động vật hoang dã
toàn cầu này.
|
|
|
Ông
Thongphath Vongmany, Phó Cục trưởng
Cục Lâm nghiệp Lào làm việc với phóng
viên
|
Từ
đây, chúng tôi phát hiện số lượng khỉ
mà đường dây của Trần Quý thực nhập
khác xa so với số liệu của cơ quan có
thẩm quyền. Và để tìm lời giải cho câu
hỏi “Vì sao những mớ số liệu ấy lại
mâu thuẫn như vậy?”, chúng tôi bắt đầu
cuộc lần tìm trên đất Lào.
Xào nấu số
liệu?
Các
cơ quan công quyền mà chúng tôi đến đều
khăng khăng Trung Việt nhập khỉ từ Lào
một cách hợp pháp. Cấp quản lý cao nhất
về lĩnh vực này, Cơ quan Thẩm quyền CITES
Việt Nam, cam đoan các doanh nghiệp trong
mạng lưới của ông Trần Quý là nhà
nhập khẩu duy nhất khỉ từ Lào được
CITES Việt Nam cấp phép.
“Số
liệu trên website của CITES là số liệu
nhập của họ”, bà Hà Thị Tuyết Nga - cán
bộ Văn phòng CITES Việt Nam - giảng giải.
Số liệu đó được cung cấp cho CITES như
thế nào?
Trong
thư trả lời phóng viên Tiền phong,
ông John M. Sellar - Ban Thư ký CITES quốc tế,
cho biết: 172 nước thành viên của CITES
quốc tế phải gửi báo cáo hàng năm về tình
hình xuất, nhập, tái xuất thú hoang. Sau đó,
số liệu của nước xuất sẽ được đem
đối chiếu số liệu của nước nhập.
Nếu thấy khác nhau, cơ quan điều tra của
CITES sẽ tìm hiểu ngay và hai nước xuất và
nhập phải giải trình cho CITES.
Việc
kiểm soát số liệu xuất, nhập khẩu thú
hoang của CITES là rất ngặt nghèo. Cơ quan
này không cho phép xuất hoặc nhập thú
hoang với số lượng cao hơn số được phép.
Nói cách khác, không được xuất - nhập vượt
quá hạn ngạch (quota), cho dù hạn ngạch đó
là rất nhỏ.
Để
kiểm soát, CITES quốc tế phát số lượng
tem nhất định cho Cơ quan Thẩm quyền CITES
Việt Nam như một dạng của hạn ngạch để
dán vào giấy phép mà họ cấp cho Trung
Việt. Và CITES Việt Nam phải báo cáo lại
số lượng tem đã dùng hàng năm cho Ban Thư
ký CITES quốc tế. Trên cơ sở đó, CITES
quốc tế nắm được tình hình xuất nhập
khỉ ở Việt Nam ra sao.
Tuy
nhiên, CITES quốc tế không có bất cứ cơ
chế nào để kiểm soát cơ quan kiểm lâm
của một nước thành viên có thực sự tuân
thủ hay không. Ông John M. Sellar cho biết:
“Nếu đấy là thông báo của cơ quan chính
phủ hoặc của một tổ chức nào đó được
chính phủ ủy nhiệm, chúng tôi không có lý
do gì để nghi ngờ họ”.
Trở
lại câu chuyện xuất nhập khỉ giữa Lào
và Việt Nam, theo ông John M. Sellar, do Lào
mới gia nhập CITES năm 2004, nên họ chỉ
phải bắt buộc nộp báo cáo cho CITES quốc
tế từ năm 2005 trở đi. Song, từ năm 2005
đến nay, Lào vẫn chưa nộp báo cáo hàng năm.
“Vì
lý do đó, các số liệu buôn bán động
vật hoang dã giữa hai nước dường như
chỉ có từ phia Việt Nam. Tôi lưu ý, báo cáo
mới nhất của phía Việt Nam là báo cáo năm
2005” - Ông John M.Sellar nói. Các báo cáo năm
2006 và nửa đầu năm 2007 chưa có từ cả
hai phía Lào và Việt Nam, tính đến thời
điểm này.
Như
vậy, thông tin trên trái với thông tin mà
chúng tôi nhận được từ Cục Kiểm lâm
Việt Nam, rằng số liệu xuất nhập khỉ
từ Lào qua Việt Nam đều được cả hai nước
báo cáo lên CITES.
Không
dừng ở đó, số liệu mà Cục Kiểm lâm
cung cấp cho mỗi nơi mỗi khác. Đối
chiếu với số liệu chúng tôi thu thập
được tại cửa khẩu mà các doanh nghiệp
của Trần Quý nhập, các số liệu càng khác
xa nhau.
So
sánh số liệu khỉ xuất từ Lào cho Việt
Nam năm 2005, chúng tôi thấy số liệu trên
website của CITES quốc tế là 2.000 con,
thấp hơn 200 con so với số liệu mà Cục
Kiểm lâm vừa cung cấp bằng văn bản cho
phóng viên Tiền phong.
“Tôi
không rõ vì sao số liệu báo cáo của Cục
Kiểm lâm Việt Nam gửi CITES quốc tế lại
khác với số liệu gửi cho báo chí”,
vẫn thư của ông John M. Sellar viết, “Chúng
tôi sẽ hỏi Cục Kiểm lâm Việt Nam về
vấn đề này”.
Theo
thống kê của Chi cục Hải quan Kà Tum,
chỉ riêng năm 2005, Doanh nghiệp tư nhân Phát
Thịnh (trong mạng lưới của ông Trần Quý)
nhập qua Cửa khẩu Kà Tum 6.200 con. Ông
Trần Văn Trọng, Chi cục phó Hải quan cửa
khẩu Kà Tum cam đoan, toàn bộ số khỉ
nhập đều có giấy phép của Cơ quan Thẩm
quyền CITES Việt Nam. Vậy tại sao số
liệu 6.200 con khỉ nhập từ Lào năm 2005 không
thấy phản ảnh trên website của CITES?
Đấy
là chưa kể 5.000 con khỉ Trung Việt được
nhập từ Lào theo giấy phép năm 2003 của
Bộ NN&PTNT (Công văn Số 3322 ngày
9/10/2003 của Bộ NN&PTNT do Thứ trưởng
Bùi Bá Bổng ký). Số liệu này cả Trần
Quý và NAFOVANNY đều thừa nhận. Còn Cục
Kiểm lâm không thể bảo là không biết.
Số khỉ nhập của Trung Việt năm 2003 gần
1.000 con trong tổng số được phép nhập
5.000 con đó cũng không thấy thể hiện trên
website của CITES.
|
|
|
Trong
tài liệu chúng tôi nhận được từ
Cục Kiểm lâm, địa chỉ của các đối
tác Lào và Trung Quốc bị che hết
|
Nói
cách khác, ngoài hai năm 2004 - 2005 có số
liệu trên website của CITES, các năm còn
lại, Cục Kiểm lâm có cung cấp cho CITES không?
Việc không cung cấp có thể hiểu là không
có thương vụ nhập khỉ nào của Trung
Việt được CITES Việt Nam cấp phép không?
Số
liệu tiền hậu bất nhất của Cục Kiểm
lâm thể hiện cả trong công văn gửi Tiền
phong mới đây. Công văn số 824 ngày
20/7/2007 do ông Nguyễn Hữu Dũng, Phó Cục
trưởng Cục Kiểm lâm ký, nêu số liệu
hai doanh nghiệp Trung Việt và Tân Hội Đông
nhập từ năm 2000 đến nay là 16.182 con
khỉ. Đến Công văn số 853 ngày 30/7/2007
vẫn do ông Dũng ký, số khỉ hai doanh
nghiệp trên nhập từ năm 2000 đến nay
chỉ còn 14.985 con.
Lý
giải sự khác nhau này, công văn thứ hai
viết “do doanh nghiệp xin cấp đổi lại
giấy phép nhiều lần nên việc thống kê
số liệu gặp khó khăn”.
Xin
lưu ý, chỉ riêng số khỉ do doanh nghiệp
của ông Trần Quý nhập trong hai năm, từ
2005 - 2006, ở Cửa khẩu Kà Tum, đã là
15.850 con. Số liệu này do Chi cục Hải quan
Cửa khẩu Kà Tum cấp cho báo chí. Nếu tính
cả 5.985 con mà Trung Việt nhập năm 2004 mà
Cục Kiểm lâm báo cáo cho CITES và đăng trên
website của CITES, số khỉ nhập trong ba năm
lên đến 21.835 con. Nếu tính cả gần1.000
con khỉ mà Trung Việt nhập năm 2003 qua
Cửa khẩu Cầu Treo, số khỉ mà đường dây
này nhập còn cao hơn nữa.
Tóm
lại, so với số lượng khỉ nhập từ Lào
vào Việt Nam có trên website của CITES quốc
tế (7.985 con), số liệu của Cục Kiểm lâm
cung cấp cho Tiền phong (lúc thì
14.985 con, khi thì 16.182 con từ năm 2000 đến
nay), số liệu khỉ nhập mà Trần Quý
thực hiện chỉ trong ba năm, từ 2003 - 2005,
cao hơn rất nhiều, 21.835 con.
Tại
sao có sự khác biệt như vậy? Có hay không
chuyện xào nấu số liệu và mục đích
của xào nấu là gì? Những câu hỏi này, có
lẽ chỉ Cục Kiểm lâm mới trả lời được.
Xin
lưu ý, mỗi con khỉ nhập lậu và xuất đi
Trung Quốc và nhất là Mỹ, đường dây
của ông Trần Quý thu lãi không dưới 500
USD. Bởi vậy, các số liệu chênh nhau dù
chỉ vài trăm con thôi cũng có thể giúp ông
trốn thuế thu nhập (28 phần trăm doanh số
bán) hàng trăm triệu đồng.
Lần tìm đầu
mối Lào
Để
làm sáng tỏ giấy phép xuất khẩu khỉ
của Lào là giả hay thật, lượng khỉ mà
đường dây của Trung Việt thực nhập là
bao nhiêu, chúng tôi đã liên hệ với một
quan chức của nước bạn Lào qua thư điện
tử. Đó là TS Sourioudong SUNDARA, Tổng Giám
đốc, Cơ quan Thẩm quyền Khoa học Lào.
Về
nguyên tắc, Cơ quan Thẩm quyền CITES Lào không
cấp phép cho doanh nghiệp Lào nếu không có
ý kiến của Cơ quan Thẩm quyền Khoa học Lào.
Trao đổi với Tiền phong, ông
Thongphath Vongmany, Phó cục trưởng Cục Lâm
nghiệp, Bộ Nông - Lâm Lào, cho biết như
vậy.
TS
Sourioudong SUNDARA khẳng định: “Với tư cách
là Cơ quan Thẩm quyền Khoa học, chúng tôi
chỉ xác nhận cho một công ty xuất 200
khỉ đuôi dài sang Trung Quốc. Còn với các
doanh nghiệp mà ông (tức phóng viên Tiền
phong - QD) đề cập trong tệp đính kèm, chúng
tôi chưa bao giờ xem xét”.
Chính
ông Trần Quý tiết lộ cho chúng tôi tên
tuổi một số đối tác ở Lào chuyện
xuất khỉ đuôi dài cho Trung Việt và các
doanh nghiệp thành viên. Để chắc chắn, chúng
tôi nhờ Cục Kiểm lâm Việt Nam giúp. Nhưng
trong tài liệu chúng tôi nhận được, địa
chỉ của các đối tác Lào và Trung Quốc
bị che hết.
Ông
Đỗ Quang Tùng, Phụ trách CITES Việt Nam,
trong thư đề ngày 28/8/2007, có giải thích
sự che đậy thế này: “Toàn bộ giấy phép
cung cấp nêu trên không có thông tin của đối
tác xuất khẩu/nhập khẩu (ô số 03 và 04
của giấy phép) để đảm bảo bí mật
kinh doanh thương mại của doanh nghiệp”.
Tiếp
cận hồ sơ từ các nguồn khác, ngoài
nguồn của ông Trần Quý, chúng tôi mới
lấy được mấy địa chỉ cần tìm. Đó là
Cty Xuất-Nhập khẩu Xay Savang (tỉnh
Bolikhamxay), Cty Xuất-Nhập khẩu Thương
mại Xayasa Co. Ltd. (174 Bản Una Sonxay, huyện
Pakxan, tỉnh Bolikhamxay), và Cty Xuất - Nhập
khẩu Champasak SLIE (B.Keosamphanh, M.Pakse,
tỉnh Champasak).
Quốc
Dũng
|
|
Lật
tẩy đường dây buôn lậu thú hoang dã xuyên
quốc gia:
Kỳ
3: Hé
mở sự thật
(Tienphognonline, ngày
27/10/2007)
TP - Chỉ ba ngày sau
khi Cơ quan Thẩm quyền CITES Việt Nam và Cục Kiểm lâm
cấp giấy xác nhận trại khỉ ở Kà Tum, từ mùng
10-18/5/2007, Công ty Trung Việt xuất sang Trung Quốc liên
tiếp 6 lô hàng khỉ đuôi dài, với tổng cộng 900 con đóng
trong 192 kiện từ trại khỉ vừa được xếp hạng kia.
|
|
|
Ông Thongphath Vongmany, Phó Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp, đối chiếu hai bộ tài liệu với nhau,
bản gốc và bản copy, trong phòng làm việc của mình
|
Tuy nhiên, những gì mà
chúng tôi xác minh ở Lào ngày càng làm mảng đen trong
hồ sơ nhập khỉ vào trại Kà Tum loang rộng hơn.
Tìm sự thật từ đầu
mối doanh nghiệp Lào
Từ Vientiane, tôi theo
con đường xuyên Lào, nhằm hướng tỉnh Bolikhamxay, cách
thủ đô 200 km về phía nam. Tôi nhờ một anh và chị người
Lào đưa đến Cty Xuất - Nhập khẩu Thương mại Xayasa
Co. Ltd vì doanh nghiệp này có địa chỉ rõ ràng, số 174
bản Una Sonxay, huyện Pakxan, tỉnh Bolikhamxay.
Chỉ tính riêng năm
bộ hồ sơ, từ 633 đến 638 (thiếu hồ sơ số 636), do
ông Hà Công Tuấn, Cục trưởng Cục Kiểm lâm, ký ngày
5/7/2005, Cty Xayasa của Lào đã xuất cho Trung Việt 1.700
khỉ đuôi dài. Rất tiếc chúng tôi không tìm thấy Cty
Xayasa dù mất cả một buổi.
Chuyển sang tìm Cty
Xuất - Nhập khẩu Xay Savang không địa chỉ cụ thể ở
tỉnh miền trung mênh mông này của nước Lào, chợt
thấy một khách sạn mang tên Xay Savang ẩn sâu bên đường.
May thay, chủ khách sạn mới mở này chính là chủ nhân
Cty Xuất - Nhập khẩu Thương mại Xay Savang ở tỉnh
Bolikhamxay.
Tôi đợi ông Vixay
Keosavang, Giám đốc Công ty Xuất-Nhập khẩu Thương mại
Xay Savang, trong khuôn viên Khách sạn Xay Savang dễ đến
hai tiếng đồng hồ. Nhập nhoạng, tôi thấy một xe
tải phóng vào sân. Một trong ba người từ cabin nhảy
xuống. Họ vừa từ trại nuôi động vật hoang dã trở
về.
Dưới đây là một
phần cuộc trao đổi với giám đốc Công ty Xay Savang qua
anh phiên dịch người Lào:
Thưa ông, đã bao
giờ công ty của ông tạm nhập tái xuất động vật
hoang dã sang một nước thứ ba trong đó có Việt Nam chưa?
Chưa bao giờ.
Thế Cty ông đã
từng xuất khẩu động vật hoang dã từ Lào với tư cách
là nước xuất xứ sang nước khác chưa?
Chưa bao giờ.
Ông có đối tác
ngoại quốc nào về buôn bán động vật hoang dã không?
Không, trừ một đối
tác Trung Quốc gần đây hợp tác cùng chúng tôi phát
triển trang trại 22 ha vừa được cấp phép hoạt động
từ cuối năm 2005.
Ông có biết doanh
nghiệp Việt Nam nào tên là Công ty Cổ phần Thương
mại Biên mậu Trung Việt có trụ sở ở TP Hải Phòng không?
Tôi chưa từng nghe đến
công ty này. Có khá nhiều doanh nghiệp Việt Nam đến đây
để hợp tác với tôi trong nhiều lĩnh vực như xuất
nhập khẩu gỗ, sản phẩm tiêu dùng. Nhưng không có công
ty nào có tên như thế.
Ông có biết bộ tài
liệu này không?
(Tôi chuyển cho ông
Vixay Keosavang xem bộ copy tài liệu lấy từ Cục Kiểm lâm
Việt Nam, Giấy phép số 0652 ngày 12/4/2004, về thương
vụ vận chuyển của Cty Xay Savang cho Công ty Trung Việt)
Tôi không biết bộ tài
liệu này. Ai đó có thể mượn thương hiệu doanh
nghiệp của tôi để thực hiện thương vụ chăng?
Tôi xin hỏi lại: Có
bao giờ ông nghe, thấy hoặc nhận tài liệu đó không?
Đây là lần đầu tiên
tôi nhìn thấy.
Ông có nghĩ đấy là
tài liệu giả không?
Tôi nghĩ như vậy.
Ông làm ơn cho biết
trang trại của ông có phải để xuất động vật hoang
dã sang Việt Nam không?
Chúng tôi mới có nhưng
chưa bao giờ xuất lô hàng nào sang Việt Nam.
Đối tác với ông có
phải là phía Việt Nam không, thưa ông?
Không phải. Chúng tôi
hợp tác với Trung Quốc. Họ góp 1 triệu USD. Chúng tôi
góp 300.000 USD dưới dạng quyền sử dụng đất và cơ
sở hạ tầng.
Ông có biết ở
tỉnh Bolikhamxay có bao nhiêu doanh nghiệp được cấp phép
nuôi động vật hoang dã như của cty ông không?
Có hai doanh nghiệp.
Ngoài Cty tôi, còn có Công ty Thương mại Vannaseng Co.Ltd
Ở 174 bản Una Sonxay,
huyện Pakxan, có doanh nghiệp nào tên là Công ty
Xuất-Nhập khẩu Thương mại Xayasa Co. Ltd không, thưa ông?
Không có công ty nào
tên như thế cả.
Như vậy, một trong
hai doanh nghiệp có thể là đầu mối xuất khẩu khỉ đuôi
dài của Lào đã phủ nhận việc làm ăn với Trung Việt.
Tuy nhiên trong tay tôi đang cầm hồ sơ do cơ quan có
thẩm quyền của Việt Nam cung cấp, trong đó có văn
bản cho phép Cty Xay Savang xuất động vật hoang dã cho
Trung Việt do Cục Lâm nghiệp, Bộ Nông-Lâm Lào, cấp ngày
12/4/2004.
Ký giấy phép ấy,
Giấy phép số 0652, là đương kim Cục trưởng Cục Lâm
nghiệp Lào đồng thời là đương kim Giám đốc Cơ quan
Thẩm quyền CITES Lào.
Nếu những trả lời
trên của Giám đốc Vixay Keosavang là đúng thì giấy phép
do ông Veunavang Bouthalath, hồi đó là Phó Cục trưởng
cục Lâm nghiệp Lào, ký là giả mạo?
Lào chưa từng cấp
phép xuất khẩu khỉ trực tiếp sang Việt Nam
Để làm rõ “trắng
đen”, không còn cách nào khác, tôi phải làm việc với
cơ quan công quyền Lào. Cuối cùng, tôi cũng liên lạc
được với ông Athsaphangthong Siphandone, Phó Cục trưởng
Cục Hải quan, Bộ Tài chính Lào.
Tiếp tôi, ngoài ông
Siphandone, còn có ông Vong Ratsachack, Trưởng phòng Kế
hoạch & Thống kê; và ông Vongchanh Lawkhamphromtakoun, Trưởng
phòng Quan hệ Quốc tế.
Về nguyên tắc, theo
ông Siphandone, Cục Hải quan Lào chỉ cấp giấy phép thông
quan cho doanh nghiệp nào xuất khẩu động vật hoang dã
nếu doanh nghiệp có giấy phép của Cơ quan Thẩm quyền
Khoa học, Cơ quan Thẩm quyền CITES, chứng nhận thú y, và
giấy phép của Bộ Thương mại Lào.
Trả lời câu hỏi
của Tiền phong, ông Vongchanh nói, Cục Hải quan Lào
chưa bao giờ cấp giấy phép thông quan cho bất cứ doanh
nghiệp địa phương nào xuất động vật hoang dã từ Lào
sang Việt Nam.
Trường hợp duy
nhất và gần đây nhất, Cục Hải quan Lào cấp phép thông
quan là cho doanh nghiệp Lào xuất khỉ sang Trung Quốc
chứ không phải Việt Nam. Doanh nghiệp xuất là Cty Thương
mại Vanaseng Co. Ltd, tỉnh Bolikhamxay. Tên doanh nghiệp này
không có trong hồ sơ về đường dây nhập khẩu khỉ
của ông Trần Quý.
Theo cấu trúc hành chính
Lào, hoạt động hải quan được phân cấp cho hải quan
địa phương. Vậy làm thế nào Cục Hải quan biết hải
quan tỉnh chưa từng cấp phép thông quan cho doanh nghiệp
nào để xuất thú hoang sang Việt Nam?
Trả lời câu hỏi này,
ông Vongchanh nói đúng là có cơ chế phân quyền. Nhưng
Cục Hải quan Lào đã hỏi những người phụ trách hải
quan các tỉnh qua điện thoại và thông tin nhận được
là không có doanh nghiệp nào được cấp phép xuất
khẩu khỉ đuôi dài sang Việt Nam. Ngoài ra, báo cáo hàng
năm của các địa phương cũng cho thấy không có hiện tượng
cấp phép cho hoạt động đang được đề cập.
Ông Vongchanh sau đó
chuyển cho tôi danh sách bằng tiếng Lào các vụ Cục
Hải quan bắt giữ động vật hoang dã trên lãnh thổ Lào
trong hai năm 2006 - 2007. Trong danh sách 13 vụ bắt giữ
tổng trị giá 158 triệu kíp ấy không có vụ nào bắt
được khỉ đuôi dài. “Không vận chuyển khỉ thì làm
sao bắt được khỉ”, ông Vongchanh nở nụ cười thân
thiện.
Để đảm bảo chắc
chắn, ngoài Cục Hải quan Lào, tôi đăng ký làm việc
với cả Cơ quan Thẩm quyền CITES Lào và Cục Kiểm lâm
thuộc Bộ Nông-Lâm Lào. Cuộc hẹn này cũng được thu
xếp chu đáo mặc dù mất khá nhiều thời gian chờ đợi.
Tiếp phóng viên trong
buổi làm việc vào một ngày giữa thu có ông Thongphath
Vongmany, Phó cục trưởng Cục Lâm nghiệp, và ông
Bouaphanh Phanthavong, quyền Trưởng phòng Bảo tồn Tài
nguyên Lâm nghiệp.
Cũng giống quan chức
Cục Hải quan Lào, hai quan chức Cục Lâm nghiệp Lào
khẳng định không hề cấp giấy phép nào cho doanh
nghiệp Lào nào để xuất khỉ đuôi dài, rắn, và rùa
cho doanh nghiệp Việt Nam. Có chăng, theo ông Bouaphanh
Phanthavong, Cục Lâm nghiệp Lào vừa cấp phép lập trại
nuôi động vật hoang dã cho ba doanh nghiệp Lào mà thôi.
Theo ông Bouaphanh
Phanthavong, để được Cục Lâm nghiệp cấp phép, bắt
buộc phải có giấy phép của Cơ quan Thẩm quyền Khoa
học Lào. Như trình bày trước đó, phụ trách Cơ quan
Thẩm quyền Khoa học Lào thông tin cho tôi rằng, Cơ quan
Thẩm quyền Khoa học Lào chưa từng xem xét cấp phép cho
doanh nghiệp Lào nào xuất thú hoang sang Việt Nam. Như
vậy, nội dung trao đổi với quan chức Lào qua thư điện
tử đã được bên thứ ba khẳng định.
Liên quan đến các
số liệu xuất khỉ đuôi dài từ Lào sang Việt Nam đăng
trên website của CITES Quốc tế, thật bất ngờ, cả hai
ông cho biết không hề biết gì cho đến khi phóng viên
Việt Nam thông báo.
Cả hai ông đều
biết các vụ buôn lậu động vật hoang dã trên lãnh
thổ Lào nhiều năm qua nhưng chưa nghe thấy vụ vận
chuyển khỉ nào. Hơn nữa, không giống hải quan, Cục
Kiểm lâm Lào chưa bắt được vụ nào do lực lượng quá
mỏng.
Bất ngờ nữa là, toàn
bộ văn bản cho phép Cty Xay Savang xuất trực tiếp gần
80.000 động vật hoang dã (trong đó có 5.000 con khỉ đuôi
dài) cho Cty Trung Việt (mà Cục Kiểm lâm Việt Nam cung
cấp cho chúng tôi bản copy) được ông Thongphath Vongmany,
Phó cục trưởng Cục Lâm nghiệp, khẳng định là giả
mạo.
Vậy thực chất đường
dây nhập khẩu động vật hoang dã của ông Trần Quý
nhập từ nước nào? Vì sao đường dây này lại làm
giả hồ sơ nhập khẩu trực tiếp động vật từ Lào?
|
Những văn bản mà
Cục Kiểm lâm Việt Nam cung cấp cho phóng viên
bị phía Lào xác nhận là giả mạo, gồm:
1. Bản dịch tiếng
Việt Giấy phép Xuất khẩu, số 0652/LN.04,
Vientiane, ngày 12/6/2004, của FD Lào
2. Bản tiếng Lào văn
bản trên
3. Danh mục hàng hóa
bằng tiếng Anh đính kèm Giấy phép Xuất khẩu
số 0652/LN.04 ngày 12/4/ 2004, và
4. Thư khẳng định
bằng tiếng Anh ngày 29/4/2004 về giấy phép bằng
tiếng Lào và tiếng Việt nói trên của ông
Veunevang Bouttalath, Phó cục trưởng Cục Lâm
nghiệp Lào hồi đó, gửi TS Nguyễn Bá Thụ, Cục
trưởng Kiểm lâm Việt Nam, đồng thời phụ trách
Cơ quan Thẩm quyền CITES Việt Nam hồi đó.
Đối chiếu hai văn
bản, một của Cục Kiểm lâm Việt Nam cung cấp
cho phóng viên Tiền phong (tạm gọi là bản copy) và
một là bản gốc của Cục Kiểm lâm Lào (tạm
gọi là bản gốc), đều đề cập đến một
hoạt động.
Đó là vận chuyển
động vật hoang dã của một doanh nghiệp Lào cho
một doanh nghiệp Việt Nam, cụ thể là của Công
ty Xuất-Nhập khẩu Xay Savang tỉnh Bolikhamxay cho Công
ty Cổ phần Thương mại Biên mậu Trung - Việt.
Danh mục hàng hóa
ở hai văn bản cũng tương đối giống nhau về
loại hàng. Tuy nhiên, vẫn theo Phó Cục trưởng
Thongphath Vongmany, khác biệt ở hai văn bản lại
rất cơ bản và làm thay đổi gần như hoàn toàn
nội dung kinh doanh.
Thay vì bản gốc
chỉ cho phép tạm nhập tái xuất hàng từ Malaysia
sang Việt Nam, bản copy lại ghi cho phép doanh
nghiệp Lào xuất trực tiếp động vật hoang dã
khai thác từ Lào sang Việt Nam.
Hơn nữa, theo bản
copy, lượng khỉ được xuất từ Lào qua Việt
Nam lớn hơn nhiều so với lượng khỉ được phép
tạm nhập tái xuất từ Malaysia sang Việt Nam.
|
Quốc Dũng
Lật
tẩy đường dây buôn lậu thú hoang dã xuyên
quốc gia:
Kỳ
cuối: Sự thật
phơi bày
(Tienphognonline, ngày
28/10/2007)
TP - Tháng 3/2004, Cty
Trung Việt nhập 5.000 con khỉ qua cửa khẩu Cầu Treo,
tỉnh Hà Tĩnh. Nếu thời gian nhập khẩu này được xác
minh là đúng, có thể thấy, Trung Việt đã tiền trảm
hậu tấu do giấy phép nhập chỉ được phía Lào ký
một tháng sáu đó, ngày 12/4/2004.
 |
|
Lợi nhuận
từ xuất khỉ đuôi dài trong đường dây buôn
lậu là rất lớn
|
Nhưng quan trọng hơn cả,
giấy phép của Lào mà Cục Kiểm lâm Việt Nam cấp bản
copy cho phóng viên sai lệch với bản gốc do Cục Lâm
nghiệp Lào cung cấp gần như toàn bộ nội dung trừ ngày
cấp phép.
Bản gốc từ Cục Lâm
nghiệp Lào và bản copy Cục Kiểm lâm Việt Nam cung cấp
có sự khác nhau cơ bản ở 8 trong số 10 điểm so sánh (xem
bảng 1)
Tóm lại, từ một hồ sơ
có thật cho phép tạm nhập tái xuất thú hoang từ
Malaysia qua Lào và sang Việt Nam (bản gốc), người ta
biến nó thành hồ sơ xuất trực tiếp từ Lào qua Việt
Nam (bản copy).
Có thể kể đến một
số chi tiết đáng chú ý như số lượng khỉ khác nhau
rất nhiều. Trong khi bản gốc chỉ cho phép nhập – tái
xuất sang Việt Nam 1450 con khỉ nói chung, bản copy lại
ghi cho phép nhập trực tiếp vào Việt Nam 7.000 con khỉ
trong đó có 5.000 khỉ đuôi dài.
Mạng lưới quốc
tế
Chúng tôi đã đi cùng độc
giả một chặng đường để làm rõ việc số động
vật hoang dã mà Công ty Trung Việt nhập qua Cửa khẩu
Cầu Treo (Hà Tĩnh) cũng như qua Cửa khẩu Kà Tum (Tây
Ninh) hầu như bằng giấy phép giả mạo.
Với những chứng cứ
thu thập được, có thể nhận định hàng thú hoang mà
mạng lưới của Trần Quý nhập không phải đến từ Lào.
Vậy chúng đến từ đâu?
Điều tra ban đầu của
chúng tôi ở Cửa khẩu Kà Tum cùng một điều tra độc
lập của Traffic Việt Nam đều cho thấy số hàng này
thực chất đến từ Campuchia và bằng đường lậu. (Chúng
tôi sẽ có bài về riêng mảng này vào một dịp khác).
Về nguyên tắc, nếu
thực sự đến từ Lào với giấy phép của Lào, khi qua
đất Campuchia, hàng phải được Cơ quan Thẩm quyền
CITES Campuchia cấp phép tạm nhập tái xuất và Hải quan
Campuchia cấp giấy thông quan. Sau những thủ tục ấy,
mới có thể tái xuất sang Việt Nam như đối với thủ
tục tạm nhập tái xuất hàng từ Malaysia qu