BÁO CÁO KHOA HỌC TẠI HỘI THẢO
"Bảo tồn đa dạng
sinh học Dãy Trường Sơn"
 |
Cộng
đồng với Môi trường:
Tiếp theo Hội thảo "Biến đổi khí hậu toàn
cầu và giải pháp ứng phó của Việt Nam", Hội
BVTN&MT Việt Nam phối hợp với Cục Bảo vệ Môi
trường, được sự hỗ trợ của một số cơ quan
và tổ chức trong và ngoài nước, sẽ tiến hành tổ
chức Hội thảo khoa học về "Bảo tồn đa dạng
sinh học Dãy Trường Sơn".
Trong
trang Web này, Cộng
đồng với Môi trường
đăng tải các báo cáo khoa học sẽ được trình bày
tại Hội thảo mà Văn phòng Hội đã nhận được.
|
Đánh
giá đa dạng loài thực vật ở đất rừng trồng
Kết
quả nghiên cứu đa dạng côn trùng trên dãy Trường Sơn
dọc theo đường HCM đoạn Trung Trung Bộ
KẾT
QUẢ NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG CÔN TRÙNG
TRÊN
DÃY TRƯỜNG SƠN DỌC THEO ĐƯỜNG HỒ CHÍ MINH ĐOẠN
TRUNG TRUNG BỘ
PGS.TS
Tạ Huy Thịnh
Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật
Tóm
tắt:
Trong
thời gian từ 2004-2007; với
11 điểm nghiên cứu, trên
địa bàn 30 xã, thị trấn nghiên cứu thuộc
7 huyện, 4 tỉnh nằm trên dãy Trường Sơn dọc
theo đường Hồ Chí Minh, từ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình)
tới huyện Phước Sơn (Quảng Nam), đã ghi nhận được
3 296 loài, thuộc 244 họ, 15 bộ côn trùng; bổ sung cho
khu hệ Việt Nam 350 loài; mô tả 01 loài mới cho khoa
học. Đã ghi nhận 16 loài có giá trị bảo tồn; trong đó
có 5 loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam năm 2000; 8
loài được ghi trong Sách Đỏ Việt Nam (2007); 2 loài ghi
trong CITES 2006; 3 loài có trong danh mục của Nghị định
32/CP. Đã đề xuất thêm 4 loài khác, gồm Bọ hung ba
sừng có mấu Chalcosoma
causasus (Fabricius, 1801); Cua bay hoa Kontum Cheirotonus
gestroi Pouillaude,
1913; Xén tóc lớn Đông Dương
Neocerambyx vitalisi Pic, 1923 và Bọ lá bụng thuôn Phyllium
bioculatum Gray, 1882. Trong số 16 loài có giá trị bảo
tồn, có 4 loài chỉ thấy phân bố ở Miền Trung và Tây
Nguyên là Chalcosoma
causasus; Chalcosoma atlas;
Cheirotonus gestroi;
và Neocerambyx vitalisi. Mức độ đa dạng côn trùng tại 11 điểm
điều tra được đánh giá chung là ở mức cao, cao xấp
xỉ các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn thiên nhiên, Rừng
đặc dụng đã được nghiên cứu. Thành phần loài côn
trùng phản ánh hệ sinh thái tự nhiên còn có mặt và
giữ vai trò chủ đạo trên toàn cung đường. Có sự sai
khác về thành phần loài côn trùng giữa khu vực từ Hướng
Hóa ra phía bắc với khu vực từ Đa Krông về phía Nam.
Abstract:
In period during
2004-2007, at 11 survey sites including 30 communes of 7 districts,
4 provinces along Ho Chi Minh Highway, lying on Truongson Range were
recorded 3 296 Insect species of 244 families, 15 orders. Among
them, one new species to science
was described, 350 species were newly recorded for
fauna of Vietnam. The paper also deal with a list of 16
Insect species of conservation concern of which four species are
newly proposed namely Chalcosoma
causasus (Fabricius, 1801); Cheirotonus
gestroi Pouillaude,
1913; Neocerambyx
vitalisi Pic, 1923 and Phyllium bioculatum Gray, 1882. The Insect diversity in the studied
communities showed high so that the value of Margalef Index and
Shannon-Weiver Index are approximated to those of other 15 studied
NPs and NRs of Vietnam.
I.
Đặt vấn đề
Côn
trùng là nhóm động vật mà số lượng loài của chúng
nhiều hơn so với tất cả số động vật còn lại. Chúng
nằm trong các mắt xích đầu tiên trong chuỗi thức ăn
của một hệ sinh thái và gắn liền với thảm thực
vật ở đó.
Tư liệu về côn trùng ở các vùng thuộc dãy Trường
Sơn, thuộc khu vực Trung Trung bộ, đặc biệt gần biên
giới Việt-Lào có không nhiều, chủ yếu là các kết
quả điều tra từ một số Vườn Quốc gia (VQG) và Khu
Bảo tồn thiên nhiên (Khu BTTN) trong khu vực
[6,9,11,12,13,14,15]. Nhìn chung, đây là khu vực địa hình
hiểm trở, giao thông cực kỳ khó khăn và trong thời
kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước là vùng chiến
tranh ác liệt, bom đạn tàn phá và nhiều nơi bị rải
chất độc hoá học nặng nề. Gần đây, với sự mở
thông tuyến đường Hồ Chí Minh (nhánh Tây) đã tạo điều
kiện cho chúng tôi tiếp cận với khu vực này và tiến
hành điều tra côn trùng dọc theo tuyến đường Hồ Chí
Minh, đoạn từ Quảng Bình tới Quảng Nam.
II.
Địa điểm, thời gian và phương pháp nghiên cứu
2.1.
Thời gian:
Điều tra được tiến hành trong 4 năm, từ 2004-2007.
2.3.
Địa điểm:
Nghiên cứu được thực hiện dọc theo tuyến đường
Hồ Chí Minh, đoạn từ huyện Quảng Ninh (Quảng Bình)
tới huyện Phước Sơn (Quảng Nam), chủ yếu thuộc nhánh
Tây. Tổng số 11 điểm điều tra (gồm địa bàn 30 xã,
thị trấn; thuộc 7 huyện; 4 tỉnh) đã được lựa
chọn để điều tra côn trùng.
Điểm điều tra 1: Xã Phước Mỹ, Xã Phước
Năng và xã Phước Đức (Huyện Phước Sơn, Quảng Nam).
Địa hình đèo núi (đèo Lò Xo); cảnh quan tự nhiên còn
tốt; độ che phủ của rừng cao; tác động của con người
không lớn; hầu như không có khả năng phát triển khu dân
cư dọc theo tuyến đường. Toạ độ địa lý: Từ 15°13’41.3’’N;
107°44’06.4’’E tới
15°15’24.6’’N; 107° 43’57.6’’ E.
Điểm điều tra 2 : Thị trấn Khâm Đức, Xã
Phước Xuân và Xã Phước Hiệp (huyện Phước Sơn,
Quảng Nam). Địa hình thung lũng; có bộ phận là vùng đệm
của Khu BTTN Sông Thanh; cảnh quan tự nhiên bị tác động
bởi hoạt động của con người
với các hình thức khác nhau từ phát triển khu dân
cư nông thôn hoặc đô thị đến bước đầu phát
triển hệ sinh thái nông nghiệp; độ che phủ của rừng
giảm sút. Toạ độ địa lý: Từ 15°17’12.2’’N; 107°
24’41.5’’E tới
15°32’19.5’’N; 107° 48’41.8’’E
Điểm điều tra 3: Xã Tà BHinh, xã Chà Vàl và
xã La Dêê thuộc địa phận Khu BTTN Sông Thanh (huyện Nam
Giang, Quảng Nam). Địa hình núi thấp; cảnh quan tự nhiên
còn giữ tốt; độ che phủ của rừng cao; ít tác động
của con người; nằm ngoài phạm vi ảnh hưởng của đường
Hồ Chí Minh. Toạ độ địa lý: Từ 15°34’55.3’’N;
107° 28’19.4’’E tới 15°40’10.4’’N; 107°
42’54.4’’E.
Điểm điều tra 4: Xã Mà Cooih và Thị trấn
Prao (Huyện Đông Giang, Quảng Nam). Địa hình thung lũng;
cảnh quan tự nhiên bị tác động mạnh bởi hoạt động
của con người với các hình thức khác nhau từ phát
triển khu dân cư nông thôn hoặc đô thị đến phát
triển hệ sinh thái nông nghiệp; độ che phủ của rừng
giảm sút.Toạ độ địa lý: Từ 15°52’27.3’’N; 107°
36’38.4’’E tới
15°55’24.6’’N; 107° 37’12.9’’ E.
Điểm điều tra 5: Xã Hướng Nguyên và Xã A
Roàng (huyện A Lưới, Thừa thiên-Huế). Địa hình đèo
núi và cảnh quan tự nhiên còn tốt; là cung đường hoàn
toàn mới mở xuyên qua rừng nên độ che phủ của rừng
cao; ít tác động của con người; không có khả năng phát
triển khu dân cư dọc theo tuyến đường. Toạ độ địa
lý: Từ 16°04’18.9’’N; 107° 29’43.9’’E
tới 16°06’36.0’’N;
107° 24’30.7’’ E.
Điểm điều tra 6: Thị trấn A Lưới, xã
Hồng Quảng, xã Hồng Kim, xã Bắc Sơn, xã Hồng Trung, xã
Hồng Vân và xã Hồng Thuỷ (huyện A Lưới, Thừa thiên-Huế).
Địa hình thung lũng chiếm chủ đạo, có bộ phận gò
đồi và đèo núi; cảnh quan tự nhiên bị tác động
bởi hoạt động của con người với các hình thức khác
nhau từ phát triển khu dân cư nông thôn hoặc đô thị
đến phát triển hệ sinh thái nông nghiệp; độ che phủ
của rừng giảm sút. Toạ độ địa lý: Từ 16°18’16.4’’N; 107°
12’10.5’’E tới 16°23’40.5’’N; 107° 06’ 09.9’’
E.
Điểm điều tra 7: Xã A Bung, xã A Ngo và xã Tà
Rụt (huyện Đa Krông, Quảng Trị). Địa hình thung lũng
chiếm chủ đạo, có bộ phận đèo núi (đèo Pê Ke);
cảnh quan tự nhiên bị tác động bởi hoạt động của
con người với mức độ nhẹ; độ che phủ của rừng có
giảm sút nhẹ và bắt đầu phát triển khu dân cư tập
trung. Toạ độ địa lý: Từ 16°23’40.6’’N; 107°06’09.3’’E
tới 16°24’31.4’’N; 107°01’04.6’’E.
Điểm điều tra 8: Xã Húc Nghì (huyện Đa Krông,
Quảng Trị). Địa hình thung lũng; là vùng đệm của Khu
BTTN Đa Krông; cảnh quan tự nhiên bị tác động bởi
hoạt động của con người với mức độ nhẹ; độ che
phủ của rừng giảm sút nhẹ và bắt đầu phát triển
hệ sinh thái nông nghiệp. Toạ độ địa lý: Từ 16°28’45.6’’N;
107°00’44.6’’E tới 16°30’28.8’’N; 106°59’57.4’’E.
Điểm điều tra 9: Thị trấn Khe Sanh, xã Hướng
Tân, xã Hướng Linh (Huyện Hướng Hoá, Quảng Trị). Địa
hình gò đồi; cảnh quan tự nhiên bị tác động bởi
hoạt động của con người với các hình thức khác nhau
từ phát triển khu dân cư nông thôn hoặc đô thị đến
phát triển hệ sinh thái nông nghiệp; độ che phủ của
rừng giảm sút mạnh. Toạ độ địa lý: Từ 16°38’09.9’’N;
106° 44’33.6’’E tới 16°40’45.0’’N; 106°
42’06.4’’E.
Điểm điều tra 10: Xã Hướng Phùng,
Xã Hướng Việt (huyện Hướng Hóa, Quảng Trị).
Địa hình đèo núi (đèo Sa Mù); ở khu vực giữa đèo
cảnh quan tự nhiên còn tương đối tốt; độ che phủ
của rừng cao; nhưng chủ yếu là rừng phục hồi tái
sinh; có tác động của con người; ở hai bên đèo chỉ
phát triển khu dân cư nông thôn. Toạ độ địa lý:
Từ 16°43’44.8’’N; 106°37’58.3’’E tới 16°49’42.5’’N;
106° 34’01.6’’E.
Điểm điều tra 11: Xã Trường Sơn (huyện
Quảng Ninh, Quảng Bình). Ở khu vực phía bắc có địa hình
đèo núi; cảnh quan tự nhiên còn tương đối tốt; độ
che phủ của rừng cao; chủ yếu là rừng phòng hộ; ở
khu vực phía nam có mặt khu dân cư và hệ sinh thái đồng
ruộng xen kẽ rừng sản xuất.Toạ độ địa lý: Từ 17°25’52.0’’N;
106° 23’09.9’’E tới
17°05’29.6’’N; 106° 23’28.9’’ E.
2.4.
Phương pháp nghiên cứu:
Để
phản ánh khu hệ côn trùng
của khu vực nghiên cứu, tất cả các mẫu vật
được thu thập theo mọi phương pháp thu mẫu. Các đặc điểm của khu hệ
được phân tích dựa trên cấu trúc thành phần loài;
đặc điểm phân bố Bắc-Nam của khu hệ. Các loài quý
hiếm được đánh giá theo Sách Đỏ Việt Nam (2000); Sách
Đỏ Việt Nam (2007); Nghị định 32/ NĐ - CP (2006) và
CITES List (2006) [1,2,3,4]. Điều tra côn trùng
bằng các phương pháp thường quy trong côn trùng
học và phù hợp với từng nhóm đối tượng côn trùng.
Đối với phần lớn các nhóm côn trùng thì các phương
pháp thu mẫu thông dụng được sử dụng (vợt, bắt tay,
bẫy đèn). Bẫy đèn bằng bóng cao áp với phông trắng
kích thước 2x3 m, từ 18h30’ tới 23h30’. Riêng nhóm Đuôi
bật Collembola, mẫu vật được thu ở lớp thảm mục và
trong đất; nhóm Mối Isoptera, mẫu vật được thu trên
mặt đất, trên cây hoặc gỗ mục, ở ụ mối; còn nhóm
Cánh úp Plecoptera chỉ thu mẫu trưởng thành bằng vợt và
bẫy đèn.
Để đánh giá mức độ phong phú và đa dạng côn trùng ở
khu vực nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp so
sánh các chỉ số đa dạng côn trùng được xác định
từ các điểm điều tra với
số liệu tương ứng từ các điểm điều tra khác
ở Việt Nam, được nghiên cứu theo cùng một phương
pháp nghiên cứu định lượng. Phương pháp điều tra
theo tuyến định lượng (Tạ Huy Thịnh và ctv, 2003), được
mô tả như sau: “Điều tra theo tưyến, với các tuyến
đường chọn sao cho phản ánh đầy đủ nhất cảnh quan
và trạng thái rừng của khu vực nghiên cứu. Tổng
chiều dài quãng đường điều tra tại mỗi điểm điều
tra là 40 km với 2 người điều tra thu thập mẫu song hành.
Côn trùng được thu thập bằng vợt, hoặc bắt tay; đối
tượng thu bắt là côn trùng đậu trên cây, trên mặt đất
hoặc đang bay; không gian thu mẫu là từ mặt đất tới
chiều cao 5m. Sự thu bắt diễn ra khi nhìn thấy côn trùng,
và cứ 100m vợt 1 lần ngẫu nhiên 10 vợt trên cây, cỏ.
Thông thường tốc độ di chuyển của người điều tra
là 1 - 1,5 km/h, khi
số người tham gia điều tra nhiều hơn thì phân đoạn
điều tra, sao cho đạt cơ số tổng 40 km/ 2 người. Ngoài
ra, phương pháp này phải nhất quán tại mọi điểm điều
tra và tuân thủ một số ước định như sau: Thời gian
điều tra diễn ra vào mùa côn trùng sinh trưởng tôt
nhất trong năm; không thu bắt trong điều kiện thời
tiết bất thường; chỉ thu mẫu và tính số lượng côn
trùng trưởng thành; riêng đối với côn trùng sống
tập đoàn hoặc thành ổ chỉ tính tới 5 cá thể cho 1
ổ ”. Từ phương pháp thu mẫu này, các chỉ số đa
dạng được sử dụng để phân tích số liệu là:
Chỉ số phong phú (Chỉ số Margalef: d), Chỉ số đa
dạng (Chỉ số Shannon - Weiver: H’), Chỉ số ưu thế (Chỉ
số ưu thế nghịch của Simpson: 1-l’),
Độ tương đồng (Hệ số Bray - Curtis: S’jk).Các chỉ
số đa dạng được xây dựng theo phần mềm Primer v5 .
III.
Kết quả nghiên cứu:
2.1. Thành phần loài côn trùng
Qua
04 năm điều tra (2004-2007) trên dãy Trường Sơn dọc theo
tuyến đường Hồ Chí Minh, đoạn từ huyện Quảng Ninh
(Quảng Bình) tới huyện Phước Sơn (Quảng Nam), từ vĩ
độ 17° 25’N tới 15°13’N, đã thu được 28 680 mẫu
vật côn trùng. Tổng số 15 bộ, 244 họ đã được xác
định. Các bộ côn trùng đã được xác định gồm:
bộ Cánh cứng Coleoptera (65 họ); bộ Hai cánh Diptera (50
họ); bộ Cánh vảy Lepidoptera (23 họ); bộ Cánh màng
Hymenoptera (24 họ); bộ Cánh khác Heteroptera (20 họ); bộ
Cánh giống Homoptera (19 họ); bộ Cánh thẳng Orthoptera (8
họ); bộ Bọ que Phasmatodea (3 họ); bộ Bọ ngựa Mantodea
(4 họ); bộ Gián Blatodea (3 họ); bộ Cánh da (5 họ); bộ
Bọ nhảy Collembola (15 họ); bộ Cánh úp Plecoptera
(2 họ); bộ Cánh đều Isoptera (2 họ); bộ Cánh gân
Neuroptera (có 1 họ). Tổng
số 3 296 loài đã được định tên khoa học; đã ghi
nhận bổ sung 350 loài côn trùng cho khu hệ Việt Nam. Có
một loài mới cho khoa học đã được mô tả là Tyloperla
trui Cao et Bae, 2007 (Plecoptera: Perlidae). Trong số các loài
được ghi nhận, một bộ phận lớn (khoảng 2000 loài)
đã được tập thể các tác giả lần lượt công bố
trong vài năm gần đây [7,8,16-26]
Số
lượng 3 296 loài định loại được ở khu vực 4 tỉnh
miền Trung là một dữ liệu lớn, nếu ta so với các công
bố lớn đã có về thành phần loài côn trùng trên toàn
quốc hoặc ở miền Bắc Việt Nam. Kết quả điều tra côn
trùng Đông dương của Vitalis de Salvaza, xuất bản năm
1919, công bố trên 3000 loài bắt gặp ở Đông Dương,
trong đó ở Việt Nam ghi nhận 2 512 loài [28]. Kết quả
điều tra côn trùng ở miền Bắc Việt Nam trong 2 năm
1967-1968, tính từ Quảng Bình trở ra, đưa ra một danh sách
côn trùng lớn nhất ở Việt Nam cho đến nay gồm 2 962
loài [27]. Năm 1981, Mai Quý, Trần Thị Lài, Trần Thị Bích
Lan cũng báo cáo kết quả điều tra côn trùng ở miền
Bắc Việt Nam, với 1 380 loài được ghi nhận [9]. Cũng
ở khu vực Trung Trung bộ, số loài ghi nhận nhiều nhất
là tại một điểm nghiên cứu là VQG Bạch Mã, với
khoảng 1000 loài [10].
Trong
hệ sinh thái tự nhiên, bộ Cánh cứng luôn là nhóm côn
trùng chiếm ưu thế cả về số lượng họ, số lượng
loài và số lượng cá thể. Tại khu vực nghiên cứu,
tỷ lệ số loài Cánh cứng thu được chiếm 42,89 %; điều
này cho thấy khu hệ côn trùng tại địa bàn nghiên cứu
mang hình ảnh chủ yếu của khu hệ côn trùng trong hệ
sinh thái tự nhiên.
|
|
|
Hình
1. CẤU
TRÚC THÀNH PHẦN LOÀI CÔN TRÙNG THU THẬP ĐƯỢC
|
2.2. Đặc điểm phân
bố Bắc-Nam của một số nhóm côn trùng
Ở
nước ta chưa có nhiều những nghiên cứu về khu hệ côn
trùng trên toàn bộ lãnh thổ để có thể phân tích
một cách toàn diện đặc tính phân bố địa lý động
vật của côn trùng Việt Nam; tuy nhiên các nghiên cứu đã
có đều khẳng định vai trò chủ đạo của yếu tố Đông
Phương trong khu hệ côn trùng Việt Nam; đồng thời
một số tác giả cũng nhận thấy khu hệ côn trùng
Việt Nam có sự sai khác về thành phần loài giữa Miền
Bắc và Miền Nam; mà khu vực Miền trung là đoạn giao
thoa chuyển tiếp, hoặc giả ranh giới phân chia Bắc-Nam
nằm trong khu vực này.
Nhằm
góp phần làm sáng tỏ vấn đề này, nhân dịp các điều
tra côn trùng của đề tài này nằm ở khu vực Trung
Trung bộ, trong khoảng từ trên 15° N tới trên 17° N, nghĩa
là hai bên của dãy Bạch Mã-Hải Vân, chúng tôi đặt
vấn đề tìm hiểu tính chất phân bố Bắc-Nam của khu
hệ một số nhóm côn trùng.
Để
phục vụ mục tiêu nghiên cứu này, các điểm điều tra
đã được tập hợp lại theo khoảng cách về vĩ độ,
để dảm bảo các điểm nghiên cứu phân bố có chiều
dài Bắc-Nam tương đương nhau; chúng tôi nhóm họp 11 điểm
điều tra vào 6 điểm
nghiên cứu phân bố như sau: (1) Quảng Ninh: Từ 17°05’29.6’’N-17°25’52.0’’N;
(2) Hướng Hoá: Từ 16°38’09.9’’N-16°49’ 42.5’’N;
(3) Đa Krông: Từ 16°23’40.6’’N-16°30’28.8’’N; (4)
A Lưới: Từ 16°04’18.9’’N - 16°23’40.5’’N; (5) Nam
Giang + Đông Giang: Từ 15°34’ 55.3’’N-15°55’24.6’’N;
và (6) Phước Sơn: Từ 15°13’41.3’’N-15°32’
19.5’’N. Mỗi điểm nghiên cứu phân bố này bao hàm các
cảnh quan đa dạng tập hợp từ các điểm điều tra, nên
số liệu về loài thu được từ mỗi điểm nghiên cứu
coi như đã được dung hòa; hạn chế ảnh hưởng của các
điều kiện cảnh quan cụ thể; có thể sử dụng để
phân tích yếu tố phân bố địa lý. Các mẫu vật được
thu thập theo phương pháp định lượng theo tuyến, bằng
vợt; đảm bảo sự đồng đều về dẫn liệu thu được
qua các điểm nghiên cứu.
Trên
cơ sở phân tích 6001 mẫu vật côn trùng của 967 loài (Ruồi:
320 loài, 1552 mẫu; Bọ xít: 246 loài, 1173 mẫu; Cánh
cứng ăn lá: 431 loài, 3276 mẫu); số liệu về độ tương
đồng thành phần loài giữa các điểm nghiên cứu phân
bố được được biểu thị qua biểu đồ cluster ở hình
2.
Qua
hình 2, trước hết ta thấy sự tạọ thành 2 cụm tương
đồng (sister group) giữa 2 cặp điểm có vị trí địa lý
nối tiếp nhau (A Lưới và Đa Krông; Phước Sơn và Nam
Giang + Đông Giang). Phân tích cụ thể ta thấy giữa 2 điểm
Phước Sơn và Nam Giang + Đông Giang có sự tương đồng
thành phần loài cao và tạo thành một cụm. Đây là quãng
vĩ độ từ 15°13’N đến 15°55’N, cùng nằm ở phía
Nam của dãy Bạch Mã - Hải Vân. Giữa 2 điểm A Lưới và
Đa Krông cũng có sự tương đồng thành phần loài cao và
tạo thành một cụm. Đây là quãng vĩ độ từ 16°04’N
đến , 16°30’ N; phần lớn diện tích nằm trên dãy
Bạch Mã - Hải Vân và một bộ phận nằm ở phía bắc
dãy Bạch Mã - Hải Vân. Tuy vậy, giữa 2 cụm này vẫn có
sự tương đồng tương đối cao và tạo thành một nhóm.
Nhóm này tạo sự khác biệt với các điểm Hướng Hóa
và Quảng Ninh; kéo từ 16°38’N đến 17°26’N; nằm hoàn
toàn phía bắc của dãy Bạch Mã - Hải Vân. Như vậy, dãy
Bạch Mã-Hải Vân có tạo ra sự khác biệt về thành
phần loài giữa triền Nam (Phước Sơn, Nam Giang, Đông
Giang) và triền Bắc của dãy Bạch Mã-Hải Vân (A Lưới,
Đa Krông). Tuy nhiên, đồng thời có thể nhận thấy toàn
bộ khu vực từ Phước Sơn tới Đa Krông là vùng ảnh hưởng
của dãy Bạch Mã-Hải Vân, là nơi giao thoa của khu hệ
côn trùng giữa Miền Bắc và Miền Nam nước ta, là nơi
có thành phần loài côn trùng rất phong phú. Đây là vị
trí có tọa độ khoảng từ 15°30’ tới 16°30’. Mặt
khác, khu vực này, tính từ Đa Krông về phía Nam có sự
sai khác về thành phần loài côn trùng rõ ràng so với
khu vực từ Hướng Hóa ra phía bắc.
|
|
|
Hình
2 . SỰ TƯƠNG ĐỒNG
THÀNH PHẦN LOÀI CỦA CÁC NHÓM CÔN TRÙNG
|
2.3. Đánh giá các loài có ý nghĩa bảo tồn
Giữa
các loài côn trùng thu được, đã ghi nhận 16 loài có giá
trị bảo tồn; trong đó có 5 loài được ghi trong Sách
Đỏ Việt Nam năm 2000; 8 loài đựoc ghi trong Sách Đỏ
Việt Nam (2007); 2 loài ghi trong CITES 2006; 3 loài có trong
danh mục của Nghị định 32/CP.
Ngoài
ra, chúng tôi đề xuất thêm 4 loài gồm Bọ hung ba sừng
có mấu Chalcosoma causasus (Fabricius,
1801); Cua bay hoa Kontum Cheirotonus
gestroi Pouillaude,
1913; Xén tóc lớn Đông Dương
Neocerambyx vitalisi Pic, 1923 và Bọ lá bụng thuôn Phyllium
bioculatum Gray, 1882. Chúng tôi cũng đề nghị sửa
cấp bậc phân hạng của loài
Bọ hung ba sừng không mấu Chalcosoma
atlas (Linnaeus, 1758) từ bậc CR (theo Sách Đỏ Việt
Nam – Tu chỉnh) xuống bậc EN.
Trong
số 16 loài có giá trị bảo tồn, có 4 loài sau là đặc
trưng cho miền Trung, nghĩa là ở Việt Nam chỉ thấy phân
bố ở miền Trung và Tây Nguyên: Bọ hung ba sừng có
mấu Chalcosoma causasus (Fabricius,
1801); Bọ hung ba sừng không mấu Chalcosoma atlas (Linnaeus, 1758); Cua bay hoa Kontum Cheirotonus
gestroi Pouillaude,
1913; và Xén tóc lớn Đông Dương
Neocerambyx vitalisi Pic, 1923.
Cho
tới nay, tại khu vực nghiên cứu chưa thấy hiện tượng
săn bắt, thu mua côn trùng.
Bảng 1. DANH
SÁCH CÁC LOÀI CÓ GIÁ TRỊ BẢO TỒN
|
TT
|
Taxon
|
SĐVN
2000
|
SĐVN
2007
|
CITES
2006
|
32/2006/NĐ-CP
|
Đề
xuất mới
|
|
1
|
Bọ hung ba
sừng có mấu Chalcosoma
causasus (Fabricius, 1801)
|
|
|
|
|
EN
|
|
2
|
Bọ hung ba
sừng không mấu
Chalcosoma
atlas
(Linnaeus, 1758)
|
|
CR
|
|
|
(EN)
|
|
3
|
Bọ
hung hình chữ Y
Allomyrina
dichotomus (Linnaeus, 1756)
|
|
EN
|
|
|
|
|
4
|
Bọ
hung năm sừng màu vàng
Eupatorus
gracilicornis Arrow, 1908
|
|
VU
|
|
IIB
|
|
|
5
|
Cua bay hoa Kontum
Cheirotonus
gestroi Pouillaude, 1913
|
|
|
|
|
EN
|
|
6
|
Cặp kìm
sừng đao
Dorcus
titanus westermanni
Hope, 1842
|
|
EN
|
|
IIB
|
|
|
7
|
Cặp kìm nẹp vàng
Odontolabis
cuvera fallaciosa Boileau,
1901
|
|
VU
|
|
|
|
|
8
|
Xén tóc
lớn Đông Dương
Neocerambyx
vitalisi Pic, 1923
|
|
|
|
|
EN
|
|
9
|
Bướm phượng
cánh chim chấm liền
Troides
helena cerberus C.
& R. Felder, 1865
|
E
|
VU
|
II
|
IIB
|
|
|
10
|
Bướm phượng
cánh chim chấm rời
Troides
aeacus aeacus C.
& R. Felder, 1865
|
|
VU
|
II
|
|
|
|
11
|
Bướm phượng
cánh đuôi nheo
Lamproptera
curius (Fabrricius,
1787)
|
T
|
|
|
|
|
|
12
|
Bướm phượng
cánh kiếm
Graphium
antiphates (Cramer,
1775)
|
E
|
|
|
|
|
|
13
|
Bướm khế
Attacus
atlas Linnaeus, 1758
|
R
|
|
|
|
|
|
14
|
Bọ lá
bụng thuôn
Phyllium
bioculatum Gray, 1882
|
|
|
|
|
VU
|
|
15
|
Cà cuống
Lethocerus
indicus (Lepletier
et Serville, 1775)
|
|
VU
|
|
|
|
|
16
|
Bọ ngựa thường
Mantis
religiosa Linnaeus,
1758
|
V
|
|
|
|
|
2.4. Đánh giá mức độ đa dạng côn
trùng tại khu vực nghiên cứu
Bảng
2 .
SO SÁNH MỨC ĐỘ ĐA DẠNG CÔN TRÙNG VỚI MỘT SỐ ĐIỂM
ĐIỀU TRA KHÁC Ở VIỆT NAM
|
Điểm
điều
tra
|
Chỉ
số phong phú loài
(d)
|
Chỉ
số đa dạng
(H’)
|
Ưu
thế nghịch
(1-l’)
|
Đánh
giá chung
|
|
VQG
Hoàng Liên-Sa Pa, Lào Cai
|
90,53
|
5,97
|
0,991
|
rất
cao
|
|
VQG
Ba Bể, Bắc Kạn
|
71,35
|
5,71
|
0,995
|
cao
|
|
VQG
Cát Bà, Hải Phòng
|
66,27
|
5,54
|
0,993
|
cao
|
|
VQG
Tam Đảo, Vĩnh Phúc
|
137,43
|
6,28
|
0,996
|
rất
cao
|
|
VQG
Bạch Mã, Thừa thiên-Huế
|
87,64
|
6,05
|
0,997
|
rất
cao
|
|
VQG
Núi Chúa, Ninh Thuận
|
51,18
|
5,22
|
0,989
|
trung
bình
|
|
VQG
Đất Mũi, Cà Mau
|
31,93
|
4,77
|
0,988
|
trung
bình
|
|
Khu
Di tích lịch sử,văn hóa và môi trường Mường Phăng,
Điện Biên
|
114,42
|
6,34
|
0,998
|
rất
cao
|
|
Khu
BTTN
Thần
Xa-Phượng Hoàng, Thái Nguyên
|
77,98
|
5,79
|
0,995
|
cao
|
|
Khu
BTTN Hang Kia- Pà Cò, Hòa Bình
|
88,83
|
6,00
|
0,997
|
rất
cao
|
|
Khu
BTTN Pù Luông (Xã Lũng Cao), Thanh Hóa
|
90,49
|
5,95
|
0,995
|
rất
cao
|
|
Khu
BTTN Pù Luông (Xã Thành Sơn), Thanh Hóa
|
83,99
|
5,85
|
0,995
|
cao
|
|
Khu
Rừng đặc dụng Đamb’ri, Lâm Đồng
|
101,18
|
6,21
|
0,997
|
rất
cao
|
|
Khu
du lịch Hồ Tuyền Lâm, Lâm Đồng
|
61,10
|
5,65
|
0,995
|
cao
|
|
Khu
BTTN Kiên-Hà-Hải, Kiên Giang
|
46,52
|
5,25
|
|