BÁO CÁO KHOA HỌC TẠI HỘI THẢO
"Bảo tồn đa dạng
sinh học Dãy Trường Sơn"
(Tiếp
theo)
Xúc
tiến xây dựng hệ thống các khu bảo tồn xuyên biên giới
để bảo tồn ĐDSH cho dãy Trường Sơn
Các
giải pháp về chính sách lâm nghiệp để bảo vệ ĐDSH ở
các khu rừng trên dãy Trường Sơn
Kinh nghiệm bảo tồn và phát
triển VQG Bạch Mã
XÚC
TIẾN XÂY DỰNG HỆ THỐNG CÁC KHU BẢO TỒN XUYÊN BIÊN
GIỚI
ĐỂ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC CHO DÃY TRƯỜNG SƠN
Mai
Đình Yên
Hội Sinh thái
Mở
đầu
1.
Dãy Trường Sơn là dãy núi đồ sộ chung cho 3 nước
Việt Nam, Lào và Campuchia. Dãy Trường Sơn được xác định
là 1 trong số 127 vùng sinh thái của Thế giới cần bảo
tồn. Điều này được dẫn chứng là mãi gần đây các
nhà khoa học đã phát hiện được 4 loài thú lớn mới.
2.
Để bảo tồn Đa dạng sinh học (ĐDSH) chúng ta cũng
như 2 nước bạn Lào và Campuchia đều đã quy hoạch, xây
dựng một hê thống riêng cho mình các vườn Quốc gia và
Khu bảo tồn thiên nhiên. Thật là “khôn khéo”, chúng
lại có vị trí cạnh nhau từng cặp một.
3.
Báo cáo này nhấn mạnh đến hiệu quả bảo tồn
Đa dạng sinh học của mỗi nước là các nước thuộc dãy
Trường Sơn cần xây dựng chung các khu Bảo tồn xuyên
biên giới.
Nội
dung
1.
Dãy Trường Sơn Việt Nam và vùng Sinh thái số 53
thế giới
Dãy Trường Sơn
Việt Nam thường được mô tả gồm: Trường Sơn Bắc và
Trường Sơn Nam (Lê Bá Thảo, 2001; A.Agard, 1935). Đây là
một dãy núi kéo dài từ phía Nam thung lũng sông Cả đến
hết tỉnh Bình Thuận. Trường Sơn Bắc gồm nhiều dãy
núi chạy song song theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và
nằm so le với nhau. Đây là một miền núi thấp, độ
cao trung bình 600 - 800m, hẹp bề ngang, dốc nhanh về phía
đồng bằng duyên hải, còn phía bên kia thuộc địa
phận Lào, dốc thoải xuống sông Mê Kông. Dãy Trường Sơn
Bắc ngăn cách nước ta và nước bạn Lào là dãy núi
thấp nên vượt qua khá dễ dàng qua các đèo. Dãy Trường
Sơn Bắc về cơ bản chạy song song với đường bờ
biển nhưng thỉnh thoảng nó lại đâm một số nhánh ra
đến tận biển, ví dụ như đèo Ngang, đèo Hải Vân…
Trường Sơn Nam là đoạn tiếp nối của Trường Sơn
Bắc, không còn hình dạng của dãy núi mà là một khối
núi cao nguyên với bề mặt lượn sóng thênh thang. Trường
Sơn Nam của Việt Nam có cả Đông và Tây Trường Sơn. Tây
Nguyên Việt Nam mà các nhà Địa lý học người Pháp
gọi là “phía sau Trung bộ” tương ứng với Tây Trường
Sơn. Trường Sơn Nam chạy cho tới hết cao nguyên LangBian.
Như vậy là, dãy Trường Sơn của Việt Nam là dãy núi vô
cùng đồ sộ chạy dài trên 1000 km với bề ngang có
chỗ hẹp trên 50 km và chỗ rộng đến cả 200 km.
Cũng xin nhắc
lại ở đây là WWF chương trình Đông Dương (2004) đã
chia dãy Trường Sơn ra 3 phần: Bắc, Trung, Nam. Lý do phân
vùng sao cho hợp lý cần được nghiên cứu thêm (bản đồ
1).
Chương trình
của WWF thế giới, trong tài liệu nghiên cứu về các vùng
sinh thái cần bảo tồn trên thế giới đã xếp dãy Trường
Sơn vào vùng sinh thái số 53 trên tổng số 217 vùng sinh
thái của cả thế giới với tên gọi là: “Các rừng
gió mùa của Đông Dương (Lào, Campuchia và Việt Nam)”.
Động vật hoang dã được mô tả tại vùng này là rất
đa dạng, trong đó có nhiều loài quý hiếm đang bị đe
dọa tuyệt chủng. Các loài Voọc, Vượn, Tê giác, Trâu
rừng… lưu ý, gần đây đã phát hiện ra các loài thú
cỡ lớn mới: loài Sao La, loài Hoãng khổng lồ… (WWF,
2000).
2.
Đa dạng sinh học dãy Trường Sơn Việt Nam
Các điều tra
nghiên cứu về ĐDSH dãy Trường Sơn Việt Nam đều kết
luận là rất đa dạng và phong phú. Trong báo cáo này không
thể làm tổng quan chi tiết được và chỉ cho phép
chứng minh lý do là ở đây có nhiều thảm thực vật, có
nhiều trung tâm Đa dạng sinh học (ĐDSH) thực vật, đơn
vị sinh học và vùng địa lý sinh vật.
Birdlife, 1999 Chương
trình quốc tế Việt Nam phân biệt dãy Trường Sơn có 6
kiểu rừng: Rừng ẩm dãy Trường Sơn, Rừng ẩm Đông Dương,
rừng thông Đông Đông Dương, rừng núi cao Kontum, rừng
khô Trung Đông Dương, rừng núi Đà Lạt.
Schimid, 1993 Trường
Sơn có 3 trung tâm ĐDSH thực vật là V, VI và VII.
Dãy Trường Sơn
có 4 vùng ĐDSH: Bắc Trung bộ, Trung Trung bộ, Nam Trung
bộ và cao nguyên Tây Nguyên.
L. Averyanov và
nnk, 2004 cho biết khu hệ thực vật dãy Trường Sơn có 3
tiểu vùng: Bắc Đông Dương, Trung Trung bộ, Nam Trung bộ.
Đào Văn Tiến,
1983 phân ĐDSH thú rừng Trường Sơn ra 3 đơn vị địa lý
sinh vật: Bắc Trường Sơn, Nam Trường Sơn, Nam bộ.
Mai Đình Yên,
1995 phân vùng Địa lý phân bố cá Trường Sơn có 4 đơn
vị IV, VI, VII, X.
3.
Các vườn Quốc gia và Khu bảo tồn thiên nhiên
của dãy Trường Sơn Việt Nam và của Lào và Campuchia
Dọc dãy Trường
Sơn Việt Nam, chúng ta đã xây dựng 7 vườn Quốc gia và
khu Bảo tồn: Pù Mát, Vũ Quang, Phong Nha - Kẻ Bàng, Bạch
Mã, Chư Mom Ray, Yok Don và Bù Gia Mập với các thông tin
về diện tích và ĐDSH như Bảng 1. Các dẫn liệu trên
đã nói lên một lần nữa ĐDSH Trường Sơn là rất
phong phú. Rất ngạc nhiên đến mức có lý là hai nước
bạn Lào và Campuchia, cũng đã xây dựng tương ứng ở bên
kia biên giới các Khu bảo tồn và vườn Quốc gia sau (IUCN,
WWF Việt Nam, 1993, Anonym, 1999, WWF Việt Nam, 1989, 1993. J.
P. Bernon, B. chardonnet, 1994, Kao Por và nnk, 1997):
Lào: Nam Chuan
70.000 ha, Nakai - Nam Theun: 353.000ha, Hin Nam No 82.000ha, Sê sáp:
133.000 ha, Dong Amphan: 200.000 ha
Campuchia:
Virachay: 3.337.232 ha, Phnom Nam Lyr: 540.183 ha, Snoul: 759.900 ha
(bản đồ 2).

4.
Các dân tộc sống ở dãy Trường Sơn Việt Nam
Trong số 54 dân
tộc sống ở Việt Nam có tới 26 dân tộc sinh sống ở
dãy Trường Sơn. Đó là: Kinh, Tày, Thái, Khơme, H’
mông, Gia rai, Ê đê, Ba Na, Xơ đăng, Cơ Ho, M nông, X tiêng,
Bru Vân Kiều, Thổ, Cơ Tu, Giê Triêng, Mạ, Khơ Mú, Co, Tà
Ôi, Chơ Ro, Lào, B râu, Ơ đu, Rơ măm, Chứt (= Rục) (Đăng
Nghiêm Vạn và nnk, 1986).
Trừ dân tộc
Kinh là dân tộc đa số nói tiếng Việt, còn các dân
tộc khác là dân tộc thiểu số có ngôn ngữ riêng.
Tập quán sinh sống cũng vậy. Nguồn sống chính là khai
thác nguồn lợi tự nhiên và canh tác nông nghiệp nương
rẫy. Săn bắn, đánh cá, thu hái cây rừng… là hoạt động
hàng ngày của họ. Sống trên lãnh thổ của nước nào
thì lấy quốc tịch của nước đó. Giữa họ cùng một
dân tộc vẫn thường xuyên có quan hệ với nhau.
5.
Dự án xây dựng vườn Quốc gia (Khu bảo tồn) xuyên
biên giới Phong Nha- Kẻ bàng (Việt Nam) và Hin Nam No (Lào)
TS. J. Mckinnon
(1993) là người đầu tiên đề xuất về xây dựng các
khu Bảo tồn xuyên biên giới cho 4 nước: Việt Nam, Lào,
Campuchia, Thái Lan. Năm 1997 WWF chương trình Đông Dương
tổ chức Hội thảo ở Hà Nội để trao đổi vấn đề
này. Năm 1998 ra đời Dự án LINC do WWF chương trình Đông
Dương thực hiện cho giai đoạn 1, với tên là: Liên
kết Hin Nam No và Phong Nha - Kẻ Bàng thông qua công tác
bảo tồn song song 1998-1999. Nội dung của giai đoạn I là
xây dựng các cơ sở khoa học kinh tế xã hội và chính
trị cho việc bảo tồn song song cho 2 khu vực bảo tồn.
Giai đoạn I hoàn thành và đề xuất cho giai đoạn II
2000 - 2003 thì không được thực hiện lý do không rõ, có
lẽ là do không được cấp kinh phí. Ý kiến về xây
dựng các vườn Quốc gia xuyên biên giới đã được các
nhà khoa học về bảo tồn ở các nước rất hoan nghênh.
GS. Cao Văn Sung (1999) đã thuyết minh về tính cấp thiết
của nó đối với 3 nước Đông Dương. Tiến triển cho
công việc này là đã có văn bản hợp tác của 2 chính
phủ Việt Nam và Lào (1998) và đã giao việc thực hiện
cho chính quyền 2 tỉnh Quảng Bình (Việt Nam) và Khăm
Muộn (Lào) và tiếp tục cho đến nay là mới chỉ hợp
tác trong phòng chống cháy rừng và buôn bán Động vật
hoang dã. Năm 2005, tổ chức IUCN có ý định đẩy mạnh
và tìm mọi khía cạnh đã cản trở cho xây dựng khu
Bảo tồn xuyên biên giới Phong Nha - Kẻ Bàng và Hin Nam
No để xây dựng dự án mới. Họ đã mời tôi làm cố
vấn độc lập (Mai Đình Yên, 2005). Sau một thời gian đến
tìm hiểu tại chỗ tại vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
và làm việc với các cơ quan liên quan, tôi thấy nhu
cầu là rất cần thiết nhưng mọi người đều nghĩ,
nếu muốn khả thi thì cần làm song song trong một thời
gian ở 2 nước. Hai nước này sẽ hợp tác giúp đỡ
nhau chặt chẽ và quốc tế sẽ trợ giúp kinh phí. Tổ
chức IUCN đã nghiệm thu, nhưng sau đó vẫn không xây
dựng được các dự án để triển khai.
Kết
luận
Trên cơ sở các
nội dung đã phân tích ở trên, chúng ta thẫy rõ là nên
xúc tiến xây dựng hệ thống các Khu bảo tồn xuyên biên
giới để bảo tồn ĐDSH cho dãy Trường Sơn. Nên ưu tiên
chon ngay trường hợp của Phong Nha - Kẻ Bàng (Việt Nam)
và Hin Nam No (Lào) để làm trước, sau đó, là cặp ba biên
giới 3 nước: Việt Nam, Lào, Campuchia: Chư Monray, Dong Am
Phan, Virachay. Cặp đôi trên là Hệ sinh thái núi đá voi
đồ sộ và cặp ba dưới là Hệ sinh thái rừng khô
bạt ngàn điển hình của dãy Trường Sơn.
Bảng
1. Đa dạng Sinh học ở các vườn Quốc gia và khu Bảo
tồn thuộc dãy Trường Sơn - Việt Nam
|
TT
|
Vườn Quốc gia và
khu Bảo tồn
|
Diện tích (ha)
|
Thực vật
|
Ếch nhái
|
Bò sát
|
Thú
|
Chim
|
Khu Bảo tồn
đối diện
|
|
1
|
Pù Mát
|
91.713
|
961
|
25
|
25
|
64
(11)
|
137
(6)
|
Nam Chuan (Lào)
|
|
2
|
Vũ Quang
|
55.900
|
307
|
26
|
38
(10)
|
60
(26)
|
187
(10)
|
Na Kai Nam Theun (Lào)
|
|
3
|
Phong Nha - Kẻ Bàng
|
141.000
|
731
(10)
|
20
|
48
(20)
|
97
(28)
|
297
(21)
|
Hin Nam No (Lào)
|
|
4
|
Bạch Mã
|
22.031
|
501
|
33
|
41
|
55
|
233
|
Sê Sáp (Lào)
|
|
5
|
Chư Mom Ray
|
35.500
|
588
|
17
|
51
|
88
(30)
|
208
(9)
|
Dong Am Phan (Lào)
Virachey(Campuchia)
|
|
6
|
Yok Don
|
58.200
|
464
|
13
|
40(1)
|
62
(22)
|
196
(7)
|
Phnom Nam Lyr (Campuchia)
|
|
7
|
Bù Gia Mập
|
18.075
|
258
|
18
(3)
|
30
(12)
|
73
(32)
|
168
(10)
|
Snoul (Campuchia)
|
CÁC GIẢI PHÁP
VỀ CHÍNH SÁCH LÂM NGHIỆP
ĐỂ BẢO VỆ ĐA DẠNG SINH HỌC Ở
CÁC KHU RỪNG
TRÊN DÃY TRƯỜNG SƠN
Tô Đình
Mai
Tích cực bảo
vệ rừng Trường Sơn là công việc có tầm quan trọng
cao trong công tác bảo
vệ đa dạng sinh
học trên dãy Trường Sơn. Mặt khác, Trường Sơn là
bức “trường thành” có vị trí bảo vệ nguồn nước,
chống xói mòn đất đai, hạn chế tác hại của lũ
lụt cho các tỉnh vùng
Duyên hải Trung Bộ , nên
bảo vệ rừng ở Trường Sơn còn có ý nghĩa bảo vệ
đất đai cho một bộ phận lãnh thổ rộng đến hơn 9,5
triệu ha đất đai tự nhiên và có gần 20 triệu dân
sinh sống.
Đến
nay, đã có nhiều công trình điều tra cơ bản về đa
dạng sinh học trên dãy Trường Sơn đã được công bố.
Trên địa phận dãy Trường Sơn, Chính phủ đã
quyết định thành lập các khu rừng đặc dụng,
trong đó có những Vườn Quốc gia rất quan trọng như: Pù
–Mát (Nghệ an), Vụ Quang (Hà Tĩnh), Bạch Mã (Thừa Thiên
-Huế) , Konkakinh (Gia Lai ), Chư Giang Sinh (Đăklăk)…
Chúng tôi đã
thực hiện một đề
tài cấp Bộ có tiêu đề: “Đánh
giá tác động của một số chính sách
lâm nghiệp chủ yếu trong giai đoạn vừa qua - Đề
xuất chính sách tạo động lực phát triển lâm nghiệp
bền vững giai đoạn 2006-2010 và định hướng
2011-2020”. Đề tài đã đánh giá tác động của 6
nhóm chính sách lâm nghiệp (CSLN) chủ yếu. ở 3 cấp độ
khác nhau: (i) Tác động trực tiếp của CSLN đến 5 đối
tượng có liên quan và thụ hưởng trực tiếp các CSLN
ở 11 tỉnh nghiên cứu điển hình, phân bố trên các vùng
(ii) Tác động của CSLN trên phạm vi các vùng lâm
nghiệp quan trọng, trong đó có vùng Duyên hải Bắc Trung
Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên: (iii) Tác động
của CSLN ở cấp độ toàn quốc.
Trong quá trình
thực hiện Đề tài, chúng tôi đã tiền hành khảo sát,
phỏng vấn , phân tích tác động của CSLN trên 11 tỉnh
nghiên cứu điển hình , trong đó có 4 tỉnh nằm trong các
vùng có liên quan đến dãy Trường Sơn là :Nghệ An, Binh
Định , Bình Thuận, Đăklăk. Tổng hợp những phân tích
về tác động của đề
tài, chúng tôi dã
trình bày trong bảng Phụ lục kèm theo.
Liên hệ với tình
hình tác động của CSLN ở các tỉnh thuộc dãy Trường
Sơn, chúng tôi nhấn mạnh các tác động còn yếu /chưa
tích cực của một số CSLN có ảnh hưởng đến tình hình
bảo vệ rừng và bảo vệ đa dạng sinh học ở
dãy Trường Sơn và xin đóng góp một số ý kiến
để nghiên cứu, thảo luận đến những giải pháp về
chính sách lâm nghiệp để quản lý và bảo vệ tính đa
dạng sinh học ở rừng Trường Sơn.
- Một số tình hình
“nóng bỏng” về quản lý bảo vệ rừng Trường Sơn
- Trường Sơn là vùng còn nhiều rừng tự nhiên
nhất của cả nước. Trên thực tế, công tác quản
lý, bảo vệ, sử dụng và phát triển rừng
ở Trường Sơn đã có một số tiến bộ. Tuy vậy, tình hình mất rừng, suy
giảm đa dạng sinh học ở dãy Trường Sơn vẫn còn
xảy ra ở múc độ nghiêm trọng, có nhiều thời gian,
nạn phá rừng ở các tỉnh trên dãy Trường Sơn đã
trở thành một thực trạng rất nóng bỏng về cả 3
mặt : bảo vệ tài nguyên, bảo đảm an ninh và thực
hiện công bằng xã
hội.
-Năm
2007, cả nước đã phát hiện 39.693 vụ vi phạm Luật
BV&PTR. Trong cùng
thời kỳ, các tỉnh Duyên hải Trung Bộ (từ Thanh Hoá đến
Bình Thuận) đã phát hiện 18.019 vụ, chiếm 45,39,%. Trên
báo chí đã nêu lên nhiều vụ phá rừng nghiêm trọng đã
xảy ra ở các khu rừng trên dãy Trường Sơn, từ những
vụ phá rừng lớn đã xảy ra ở Tánh Linh (Bình Thuận)
trước đây đến vụ
phá rừng Khe Diên ở Quảng Nam đã xảy ra gần đây.
-
Năm 2007 cả nước đã có 19.937 vụ vi phạm về vận
chuyển lâm sản trái phép.
Số lượng lâm sản tịch thu được trong năm 2007 vào
khoảng gần 40.000
m3 gỗ tròn , gần 5000 m3 gỗ xẻ và hơn 2 tỷ đồng
tiền bán các loại lâm sản khác đã bị tịch thu. Rõ ràng,
lượng gỗ tiêu hao từ rừng
(là một chỉ tiêu chưa thống kê và giám sát được)
đã lớn hơn hạn ngạch được phép khai thác từ rừng
tự nhiên rất nhiều. Chưa thể xem chính sách “đóng
cửa rừng tự nhiên của chúng ta đã được thực thi
tốt. Thêm vào đó, nạn buôn bán động vật hoang dã quí
hiếm đã phát hiện được không phải ít.
- Trong 4.874
vụ vi phạm đã phát hiện đươc vào 2
tháng đầu năm 2008 trên phạm vi cả nước, có 584 vụ
phá rừng làm nương rẫy, 473 vụ khai thác trái phép và
2.524 vụ khai thác vận chuyển gỗ trái phép. Trong đó, những
vụ đã xảy ra trên địa phận của dãy Trường Sơn đã
chiếm tỷ trọng không nhỏ và mức độ nghiêm trọng cũng
không thấp.
- Những số liệu vi phạm luật bảo vệ và phát
triển rừng đã phát hiện được chắc chắn ít hơn
rất nhiều so với những vụ vi phạm đã xảy ra trên
địa bàn. Trong những loại hình vi phạm pháp luật
đã xảy ra ,
thì tỷ trọng số vụ về phá rừng đã phát hiện
được chỉ chiếm khoảng trên dưới 10%. Điều
này, chưa có thể khẳng định là công tác “bảo
vệ rừng tại gốc” của chúng ta đã tốt, mà
chắc chắc là do công tác phát hiện, thống kê
vi phạm tại địa bàn rừng của chúng ta chưa
đầy đủ.Trên địa bàn các tỉnh dọc Trường Sơn
những năm qua đã nổi lên nhiều “cơn sốt về săn
tìm gỗ quí “, buôn bán động vật, thực vật hoang
dã . Chúng ta đã phát hiện tính đa dạng cao của
rừng Trường Sơn , đã phát hiện sự quí giá vô cùng
của một vùng địa lý dài và rộng và đã thực thi
một số chính sách để bảo vệ rừng Trường Sơn.
Tuy vậy, kết quả bảo vệ rừng
ở Trường Sơn thực
sự vẫn còn rất hạn chế.
- Rừng Trường Sơn đang bị suy giảm về: diện tích
đất có rừng , độ che phủ rừng. Đáng lo lắng
nhất là,
khả năng phục hồi rừng ở Trường Sơn càng ngày càng
khó khăn hơn trước đây rất nhiều. Đất đai
bị xói mòn, bị sụt lở, rừng bị diễn thế theo
chiều hướng thoái hoá dần. Tình hình đó ai cũng
thấy, ai cũng nói và thường nói giống nhau về nguyên
nhân. Đề xuất
giải pháp cũng rất thống nhất, gần như rất nhất
trí với những giải pháp đã đề ra ở các quyết
định đã đựoc phê duyệt về qui hoạch vùng, về
chính sách phát triển kinh tế xã hội của vùng.
- Tại sao rừng Trường
Sơn vẫn bị mất ?
Nguyên nhân
bị mất rừng thì có nhiều. Chúng tôi phát hiện
và đề xuất chú ý các nguyên nhân sau đây:
·
Nguyên nhân sâu xa
vẫn là tình
trạng nghèo đói ở các tỉnh Duyên hải miền Trung vẫn
còn ở mức độ cao . Ai cũng biết, chúng ta đã
đạt được những thành tựu cao về xoá đối giảm nghèo
trên cả nước. Ai cũng biết, 14 tỉnh Duyên hải miền
Trung và 5 tỉnh Tây
Nguyên vẫn là 2 vùng có tỷ lệ đói nghèo cao. Đã có
những công trình nghiên cứu về đói nghèo và mất
rừng. Tuy vậy, ít
công trình nghiên cứu phân tích rõ là trong bối cảnh đói
nghèo, phải phá rừng để kiếm sống như đã xảy ra đã
tạo ra được bao nhiêu thu nhập cho người nghèo?
Khảo sát của chúng tôi trong quá trình nghiên
cứu ở Nghệ An, Bình Định, Bình Thuận Thuận, Đăklăk
đã cho thấy là: Người nghèo phá rừng trái phép để làm
rẫy đã thật sự được giảm bớt. Tuy vậy, ngưòi nghèo
bị lâm tặc lợi dụng thuê đi khai thác gỗ và lâm
sản trái phép với giá tiền công rẻ mạt có xu hướng
tăng thêm và thường xảy ra ở những nơi chính quyền và
hệ thống chính trị tại xã quá yếu hoặc có sự thông
đồng với các quan chức lâm nghiệp địa phương.
·
Đã và đang xuất
hiện tình trạng “ giàu lên, đời sống khá hơn
lại phá rừng, phá đa dạng sinh học mạnh hơn“.
Nạn tiêu dùng gỗ quí đang xuất hiện ở nhiều cơ
quan các cấp, nhiều gia đình, nạn tiêu dùng các loại
động vật rừng quí hiếm đang phát triển và thường
chỉ bị ngăn chặn vào những đợt truy quét tập trung.
Du lịch sinh thái” với
những biển hiệu đã phát triển khắp nơi, còn nội
dung hoạt động của các cơ sở kinh doanh du lịch sinh thái,
thì chắc rằng
rất ít nơi kiểm soát và điều chỉnh kịp thời ngay
từ khi xây dựng đến lúc hoạt động.
·
Thu
hút đầu tư đang phát
triển ở nhiều vùng trên các tỉnh Duyên hải miền
Trung và Tây Nguyên , trong khi đó chưa có đánh giá tác
động môi trường về rừng một cách khách quan và đầy
đủ. Bất kể dự án
đầu tư nào được thu hút vào địa phương khi lập
dự án đều trình bày những luận chứng rất hấp dẫn
về kinh tế, tạo việc làm, nhưng rất ít có những dự
án trình bày đầy
đủ những luận chứng và giải pháp để giữ rừng, phát triển rừng. Chúng tôi đã nhìn
thấy, những hiện tượng phá hoại cảnh quan rừng đang
xảy ra ở nhiều địa bàn đang phát triển “ du lịch
sinh thái” ở bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng), để phát
triển du lịch sinh thái, khai thác Titan …đang phá nhiều
khu rừng phòng hộ ven biển miền Trung.
·
Cơ
sở hạ tầng nông thôn phảt triển, đường Hồ Chí
Minh khai thông đã tạo
thêm nhiều thuận lợi về lưu thông hàng hoá hợp pháp
cho nhiều buôn /làng ở Tây Nguyên , nhưng cũng dễ tạo
nên những bất lợi về bảo vệ rừng Trường Sơn.
·
Kinh
tế miền núi của các tỉnh Duyên hải miền Trung đang
phát triển , nhưng chúng ta còn thiếu nhiều chính sách,
thể chế để bảo vệ rừng trong bối cảnh kinh tế phát
triển và tăng cường công nghiệp hoá.
Chúng tôi đã khảo sát trực tiếp tại huyện Quỳ hợp
(tỉnh Nghệ An) và đã nhìn thấy tại chỗ một huyện
miền núi đang phát triển đang tăng trưởng kinh tế và
nguồn thu trên địa bàn đi cùng với sự phát triển không
bền vững 4 nguồn
tài nguyên lớn của địa phương: Rừng, Thiếc, Đá và
Cảnh quan.
·
Chính
sách , cơ chế quản lý rừng chưa phù hợp với điều
kiện tự nhiên-kinh tế-xã hội của Trường Sơn và sự
phát triển của thị trường và thể chế kinh tế thị
trường ở các tỉnh Duyên hải miền Trung.
Trong chu trình chính sách lâm nghiệp chúng ta còn coi nhẹ
khâu đánh giá tác động của các chính sách đã
thực thi trước khi đề xuất các chính sách
mới.Từ khi thống nhất đất nước đến nay, trên địa
bàn các tỉnh thuộc dãy Trường Sơn đã có hàng trăm
bảng qui hoạch, luận chứng kinh tế-kỹ thuật đã dược
phê duyệt và thực thi để mở mang các vùng kinh tế lâm
-nông công nghiệp, xây dựng các vườn quốc gia và
nhiều chủ trương về phát triển các loại cây trồng ,vật
nuôi . Thế nhưng, lại tìm thấy rất ít các tài liệu
tổng kết, các công trình có tính khoa học về đánh giá
tác động của việc thực hiện các chính sách, các
phương án đã hoạch định và thực thi. Chính vì vậy, chúng ta rất
khó thoát khỏi những tư duy của thời kỳ bao
cấp và khó tiếp nhận những tư duy mới của nền kinh
tế thị trường. Phải chăng đây cũng là một nguyên nhân
của nạn mất rừng ?
·
Quản lý rừng và
nghề rừng của chính quyền địa phương đã có tiến
bộ, nhưng chưa tiến kịp và chưa thích ứng với yêu
cầu quản lý bền vững tài nguyên rừng
đang là một nguyên
nhân có ảnh hưởng quan
trọng. Tổ chức và hoạt động của cơ quan quản lý nhà
nước về lâm nghiệp ở các cấp còn yếu, phân tán
theo xu hướng càng xuống cấp dưới càng yếu, càng
gần rừng càng yếu.
- Tác động của
hệ thống CSLN hiện hành đối với mục tiêu bảo
vệ rừng và đa dạng sinh học ở rừng Trường Sơn.
Tổng hợp những phân tích về tác động của đề
tài, chúng tôi dã
trình bày trong bảng Phụ lục kèm theo. Liên hệ với tình
hình tác động của CSLN ở các tỉnh thuộc dãy Trường
Sơn, chúng tôi nhấn
mạnh các tác động còn yếu /chưa tích cực có ảnh hưởng
đến tình hình bảo vệ đa dạng sinh học ở
dãy Trường Sơn ở các điểm sau:
- Chính sách lâm nghiệp (CSLN) chưa đến được người
thụ hưởng chính sách bằng những kênh trực tiếp mà
thông qua các kênh gián tiếp. Người nghèo và những
nhóm bị thiệt thòi thường khó tiếp cận chính sách
lâm nghiệp đã ban hành.
- Chính sách Giao đất lâm nghiệp (GĐLN ) được hoạch định
và tổ chức thực thi tách rời giữa giao quyền sử
dụng đất lâm nghiệp và thực thi có hiệu quả
quyền sử dụng đất lâm nghiệp, nên chưa
tạo được động lực đủ mạnh để đẩy mạnh
trồng rừng và quản lý rừng bền vững.
- Chính sách khoán
đất rừng sản xuất ở các LTQD chưa được cả bên
giao khoán và bên nhận khoán thực hiện nghiêm túc,
dễ bị lợi dụng “đẩy mạnh diện tích giao khoán
theo mục đích có lợi cho mình”. Một số nơi
thực hiện giao khoán đã tạo ra những bất hợp lý
mới về đất đai. Một số nơi, chính sách khoán
rừng bị lợi dụng để chiếm đoạt quyền sử
dụng đất đai đang do các LTQD quản lý một cách
bất hợp pháp.
- Quản lý đất lâm
nghiệp và rừng ở các LTQD và ban quản lý rừng còn
quá lỏng lẻo, có tác động chưa tích cực đến
nhiều mặt trong đời sống xã hội và quản lý lâm
nghiệp
- Các
chính sách quản lý rừng tự nhiên còn nhiều lúng túng,
không nhất quán và không rõ ràng,
nên tác động đến chủ trương “kiên quyết ngăn chặn nạn phá rừng” không
đạt hiệu quả cao. Nhân dân không được hưởng
lợi cụ thể thì động lực gì để thúc đấy họ
bảo vệ rừng, ngoài những qui định rất chung chung
về nghĩa vụ “bảo
vệ rừng là
sự nghiệp của toàn dân”.
- Các
giải pháp kỹ thuật về bảo vệ rừng tự nhiên, làm
giàu rừng tự nhiên rất phức tạp, nhiều qui trình kỹ thuật qui định rất rắc rối, người
sử dụng rừng rất khó sử dụng trong thực tế.
- Chưa
có nhận thức và cơ chế để quản lý rừng như
quản lý tài sản
- Quản
lý nhà nước về rừng ở cấp xã còn rất yếu.
- Chưa
có chính sách về tiêu dùng lâm sản theo hướng thân
thiện với môi trường, bảo vệ tài nguyên.
Đánh
giá tác động chưa tích cực của chính sách, chương trình
và dự án phát triển lâm nghiệp, cần nhấn mạnh các
vấn đề sau:
- Nhận
thức
về tác động của chính sách đối với môi trường
chưa rõ ràng và chưa đúng tầm, nên những chính sách
hoặc mục tiêu chính sách về môi trường còn ít và
thiếu.
- Các
chương trình, dự án chính sách lâm nghiệp thường
đề ra những mục tiêu quá rộng, ít tính đến nhu
cầu nguồn lực
để thực hiện những mục tiêu chính sách đã đề
ra, nên đã dẫn đến tình trạng phải điều chỉnh
về mục tiêu (như Chương trình 327) hoặc nhiệm vụ
cụ thể (như Dự án 661).
- Tư duy và phương pháp kinh doanh rừng, quản lý lâm nghiệp
chưa đổi mới, nhiều thủ tục quá rườm rà và không
phù hợp,
nên nhiều khi chính sách rất thông thoáng, nhưng
thủ tục lại quá rườm rà và trở thành rào
cản để thực thi chính sách đã hoạch định với
những mục tiêu rất hợp lý.
- Lâm
nghiệp là ngành kinh tế có tác động rộng, chu kỳ
sản xuất dài, nhưng chưa
bao giờ có hệ thống theo dõi, giám sát thường xuyên
về ngành lâm nghiệp. Cho đến nay, hoạch định
chính sách và tổ chức chính sách chưa thoát khỏi tình
trạng chỉ do một cơ quan
tham mưu thực hiện, và cũng xoay quanh mục tiêu
tổng kết tình hình thực hiện chính sách là chủ
yếu.
- Vai trò, trách nhiệm của bộ máy nhà nước về quản lý tài
nguyên rừng và nguồn lực để phát triển lâm
nghiệp còn phân tán.
Khảo
sát thực tế cho thấy là đến chính quyền nhà nước
ở cấp xã thì gần như chưa làm được những
nhiệm vụ được Thủ tướng Chính phủ phân cấp
ở Quyết định số 245. Mặc dù chính sách phân cấp
quản lý nhà nước về rừng đã ban hành từ lâu, nhưng
hiện nay quản lý rừng và nghề rừng ở cấp xã
gần như chưa có gì khác hơn trước đây, ngoài ý
thức trách nhiệm bảo vệ rừng trên địa bàn xã
ở một số nơi có tăng thêm.
4. Những
khuyến nghị về CSLN hướng tới phát triển lâm nghiệp
bền vững và bảo tồn đa dạng sinh học
Nước
ta đã có những thành công lớn trong chuyển đổi định
hướng phát triển lâm nghiệp và đã ban hành và tổ
chức thực thi liên tục 2 Chương trình khôi phục rừng
có tầm cỡ quốc gia và nhiều chính sách cụ thể để
phát triển rừng và lâm nghiệp theo hướng bền vững.
Đến nay, vừa mới ban hành Chiến lược phát triển lâm
nghiệp giai đoạn 2006-2020. Đó là một tiến bộ lớn
về hoạch định CSLN. Trong 15 năm qua, chúng ta đã tổ
chức thực hiện 2 Chương trình khôi phục và phát
triển rừng và thực thi nhiều chính sách lâm nghiệp
cụ thể để phát triển rừng và nghề rừng.
Chúng
tôi đề xuất một
số chính sách lâm nghiệp cần phải hoàn thiện để
tạo động lực trong giai đoạn mới, bao gồm :
- Cần
đẩy mạnh việc tuyên truyền Chiến lược phát
triển lâm nghiệp 2006-2020.
- Tổng kết, nâng cao nhận thức, đổi mới tư
duy và phương pháp hoạch định CSLN và lập qui
hoạch, kế hoạch phát triển lâm nghiệp.Về thực
thi các chính sách , chương trình phát triển lâm
nghiệp , cần coi trọng việc tổ chức.phối hợp
rất chặt chẽ giữa các tỉnh trên địa phận dáy
Trường Sơn.
- Đổi
mới tư duy , phương pháp và tổ chức lại lực lượng
điều tra qui hoạch rừng thành tổ chức sự nghiệp
công để làm tốt các công tác: (i) Thống kê và theo
dõi diễn biến tài nguyên rừng; (ii)
Xác định sớm lâm phận cố định; (iii) Qui
hoạch tổng thể về lâm nghiệp. Tuy qui hoạch không
thuộc phạm trù của chính
sách , nhưng là căn cứ để hoạch định và thực
thi chính sách. Vì vậy, không nâng cao qui hoạch và
thay đổi thường xuyên về qui hoạch thì khó có
những chính sách tác động tốt vào sản xuất lâm
nghiệp đươc.
- Giao quyền sử dụng đất lâm nghiệp ổn định,
xác định rõ quyền sở hữu rừng trồng , xúc tiến
thị trường lâm sản và dịch vụ lâm nghiệp được
thực hiện đồng bộ sẽ tạo nên những động lực
tích cực để phát triển lâm nghiệp.
- Xác
định sớm và cụ thể những chính sách cần ban hành
trong thời kỳ tiếp chuyển, từ khi kết thúc Dự án
661 đến kế hoạch 2011-2015 và đưa vào chương trình
xây dựng VBQPPPL theo những định kỳ được Chính
phủ qui định.
- Thiết lập một chương trình nghiên cứu tổng
hợp ở cấp nhà nước về chủ đề: “Quản lý,
bảo vệ và sử dụng rừng tự nhiên ở Việt Nam”
để nghiên cứu các giải pháp kỹ thuật, kinh tế,
chính sách đối với việc nâng cao hiệu quả kinh
tế - xã hội - môi trường của rừng tự nhiên theo
quan điểm “phát triển bền vững và gắn chặt
bảo vệ, bảo tồn và phát triển”.
- Phát
triển hệ thống chính sách để thúc đẩy tốc độ
trồng rừng nguyên liệu công nghiệp với mục đích
chủ yếu là “trồng rừng để bán gỗ và tạo thu
nhập, lợi nhuận cao” cần được bổ sung và hoàn
thiện gấp để phát huy những tác động tích cực
của thị trường gỗ rừng trồng. Đây là một chủ
trương cần lưu
ý phát triển vì thông qua trồng rừng ở vùng đồi
núi thấp và ven biển sẽ tạo điều kiện giảm
bớt sức ép lên rừng tự nhiên và các khu rừng đặc
dụng ở dãy Trường Sơn.
- Đẩy
mạnh giao đất lâm nghiệp đến cộng đồng , phát
triển lâm nghiệp cộng đồng
- Giám sát chặt chẽ quá trình đổi mới LTQD và
hoạt động của các Công ty lâm nghiệp đã được
chuyển đổi từ LTQD và có giải pháp đổi mới tích
cực để đưa các công ty lâm nghiệp thành tổ chức
kinh doanh có hiệu quả và bảo vệ quyền sở hữu nhà
nước về rừng tự nhiên là rừng sản xuất.Cần có
một nghiên cứu cụ thể và sâu sắc hơn về « Sở
hữu nhà nước về rừng và nhà nước kinh doanh
rừng » để làm
cơ sở đổi mới tổ chức LTQD có hiệu quả hơn
Giám
đốc Trung tâm Môi trường và phát triển cộng đồng
KINH NGHIỆM BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN
VƯỜN QUỐC GIA bẠCH Mã
TS. Huỳnh Văn Kéo
1. Một số đặc điểm Vừờn quốc gia
Bạch Mã