THÔNG
TIN - HOẠT ĐỘNG
Những
cánh đồng nhiên liệu trên biển
Cảnh báo về loài tảo biển mới
xâm nhập ở Khánh Hoà
Thêm
nguồn tài trợ bảo vệ đa dạng sinh học vùng Đông Dương
Hai
sinh viên Việt Nam sang Đức làm Đại sứ Môi trường
"Quỳ
gối" trước sự thật
THÔNG BÁO về Chương trình tài
trợ nhỏ (SGS)
Mẫu Đề xuất Dự án
Khuyến
mãi toàn dân dùng máy nước nóng năng lượng mặt trời
Hội nghị kỷ niệm 5 năm thành lập Bộ TN&MT:
Phó
Thủ tướng Hoàng Trung Hải - Nhiệm vụ, vai trò của
ngành TN&MT to lớn, lâu dài và rất cấp bách
Phó
Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Giải
quyết gấp bức xúc về đất an ninh lương thực và ô
nhiễm môi trường
Phát
động sáng tác kịch bản phim về môi trường
Những
cánh đồng nhiên liệu trên biển
(ThienNhien.Net, 13/8/2008)
Tảo biển có thể được trồng trên
một diện lớn làm nhiên liệu sinh
học. (Ảnh: Flickr/Wendylin20)
|
|
ThienNhien.Net - Những kỳ vọng
lớn lao về giải pháp cho vấn đề biến đổi khí
hậu bằng nhiên liệu sinh học đã bị “phá sản”
khi con người trồng chúng một cách ồ ạt trên đất
liền. Vấn đề không chỉ là việc gây ra những chi
phí về môi trường như phá hủy rừng, tiêu tốn
tài nguyên nước, phát thải khí nhà kính và những
hạn chế về hiệu quả sử dụng năng lượng mà còn
nằm ở chỗ nó đã châm ngòi cho cuộc khủng
hoảng lương thực trên toàn cầu và góp phần làm
gia tăng tỉ lệ đói nghèo. Nghiên cứu mới đây
của Hiệp hội Hoàng gia Anh nhận định tiềm năng phát
triển nguồn nhiên liệu sinh học ngoài đại dương đang
bị bỏ ngỏ. Trồng tảo biển làm nhiên liệu sinh
học có thể cải thiện được tình hình hiện
nay.
Tiềm năng lớn
Đại dương là một bể các-bon khổng lồ của hành
tinh, các-bon bao phủ hơn 70 % bề mặt đại dương, và
tỷ lệ này còn có khả năng tăng khi mực nước biển
dâng. Đại dương cũng nhận một lượng ánh sáng mặt
trời lớn hơn đất liền, đặc biệt là ở các vành
đai nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi mặt đất
bị che phủ. Đối với giới nông học thì đại dương
là một cánh đồng bao la với tiềm năng trồng trọt
to lớn nhưng chưa được khai thác.
Tiềm năng to lớn ấy mới chỉ được phát hiện
trong thời gian gần đây và mở ra khả năng xảy ra
một cuộc cách mạng xanh về nuôi trồng thực vật trên
biển đang ngày càng rõ rệt.
Những thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp
Quốc đã chỉ ra rằng, khả năng nuôi trồng thực
vật trên biển lớn nhất ở khu vực Châu Á và Thái Bình
Dương. Sản xuất thủy sản của thế giới đã tăng
60 lần từ đầu năm 1950 (đạt 59,4 triệu tấn vào năm
2004) và mang lại khoảng 70 tỷ đô la, trong đó 91,5%
ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.
Tương tự như vậy, 99,8% trong số 8 triệu tấn rong
biển được sản xuất, mang lại 6 tỷ đô la mỗi năm
là ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, chủ yếu là
Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.
Rong biển là một loại nhiên liệu
Cho đến nay, rong biển không những là thực phẩm rất
có giá trị, mà còn dùng để sản xuất phân bón,
thức ăn gia súc và gần đây là nguyên liệu cho ngành
công nghiệp tảo học, sản xuất algin, agar and
carrageenan. Không những thế nó còn đang là một nguồn
nguyên liệu chính để sản xuất năng lượng.
Tảo biển không cần đất, mặt khác lại có thể sử
dụng nguồn nước sẵn có, đây là một ưu thế vượt
trội so với trồng nhiên liệu sinh học trên đất
liền - nơi mà nước là yếu tố hạn chế nhất nếu
muốn mở rộng quy mô nuôi trồng, đặc biệt là khi khí
hậu thay đổi.
Cũng cần phải quan tâm khi thu hoạch một lượng
khổng lồ tảo tự nhiên để sản xuất năng lượng
sinh học. Điều này có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng
đối với hàm lượng khí CO2 trong khí quyển,
làm mất nơi cư trú của động thực vật... nhưng
trồng chúng thì lại là chuyện khác.
Ở Costa Rica và Nhật Bản, việc trồng tảo biển đã
được thực hiện để sản xuất năng lượng. Các nước
này đã thu được một lượng lớn sinh khối tảo
biển không các bon để sản xuất điện đồng thời
thu được một số hợp chất có giá trị cao từ quá
trình chiết nhiên liệu sinh học.
Hiện nay, mới có khoảng 3% diện tích bề mặt đại dương
và hơn 20% diện tích đất liền được sử dụng cho nông
nghiệp. Điều này có nghĩa là chỉ cần một diện tích
nhỏ trên biển cũng có thể thay thế một diện tích
lớn trên đất liền khi trồng nhiên liệu sinh học.
Nhiên liệu sinh học trồng trên đất liền sẽ đóng góp
vào việc giảm nồng độ CO2 do cắt giảm được lượng
phát sinh CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch. Nhiên liệu
sinh học là sản phẩm của quá trình quang hợp gần đây
và không có các bon. Trái lại, nhiên liệu hóa thạch là
kết quả của quá trình quang hợp trong quá khứ, do đó
các bon giải phóng khi đốt sẽ bị tích trữ sau đó
bị đẩy vào bầu khí quyển.
Yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình canh tác chính
là chất dinh dưỡng – bởi vì phần lớn dinh dưỡng
sẽ bị mất đi sau khi thu hoạch. Vì thế, chi phí để
bổ sung một lượng lớn chất dinh dưỡng vào đại dương
và tiêu tốn thêm năng lượng sẽ là những kết quả
không mong muốn.
Nguồn dinh dưỡng có thể bị lạm dụng một cách quá
đáng như nước thải sinh hoạt hoặc sản phẩm của
quá trình xử lý nước thải sinh hoạt. Nhu cầu phát
triển rong biển buộc phải sử dụng chất dinh dưỡng
từ nước thải sinh hoạt để tiết kiệm chi phí. Do
đó hàng triệu tấn nước thải chưa được xử lý đã
được đổ xuống đại dương mỗi ngày và tảo biển
sẽ đóng vai trò xử lý các chất thải này.
Ý tưởng này đã được thử nghiệm thành công ở
một số học viện tại Hoa Kỳ bao gồm Viện Hải dương
học Woods Hole và Viện Hải dương học Harbor Branch.
Về khía cạnh nông nghiệp thì tảo biển có giá trị
kinh tế cao để sản xuất lương thực và các sản
phẩm khác, ít nhất là mang lại giá trị kinh tế khi dùng
để sản xuất nhiên liệu và năng lượng sinh học.
Tuy nhiên, tương tự như ngành nông nghiệp trên đất,
sự bất cẩn khi canh tác trên biển cũng có thể gây
ra nhiều tác hại như khi canh tác trên đất.
Như một ảnh hưởng dây chuyền, việc sản xuất nhiên
liệu sinh học ngoài đại dương sẽ dành thêm diện tích
đất để sản xuất lương thực, do đó sẽ cung cấp
được nhiều lương thực và dinh dưỡng hơn cho mọi
người, đặc biệt là người nghèo.
Nguyễn Thành Trung biên dịch (
Theo Scidev.Net, 06/06/2008)
CẢNH
BÁO VỀ LOÀI TẢO BIỂN MỚI XÂM NHẬP Ở KHÁNH HÒA
PGS TS Nguyễn Đình Hòe, Hội Bảo vệ TN và MT Việt Nam
Tác
giả Hữu Trí trên Báo Thanh niên online ngày 15/8/2008 đưa
tin “Năm 2004, trong thời
gian kinh doanh đá granite, kỹ sư địa chất Lê Bền thường
tiếp xúc với nhiều đối tác người Nhật. Trong bữa
ăn với khách Nhật, ông thường nghe họ nhắc đến
một loại rong nho biển bổ dưỡng được người Nhật
ưa thích nhưng không có trong thực đơn ở Việt Nam. Từ
đó, ông Lê Bền nảy ra ý tưởng đem loài rong biển này
về trồng tại các đìa nuôi tôm của mình ở thôn Đông
Hà, xã Ninh Hải, huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa)…Sau
khi được một người Nhật mang cho 200 gr rong nho giống,
ông đem trồng thử nghiệm trong các bể kính để nhân
giống theo các tài liệu hướng dẫn của Nhật…Sau khi
trồng thành công, ông Lê Bền liên hệ với các đối tác
người Nhật để tìm đầu ra cho sản phẩm rong nho
biển của mình. Phía công ty Nhật đã cử chuyên gia sang
trực tiếp giám sát quy trình nuôi trồng và chế biến.
…Hiện tại, Công ty Centus (Nhật Bản) đang nhập rong
nho biển do công ty của ông Bền trồng với giá 8-10 USD/kg
…Theo kỹ sư Lê Bền, rong nho biển rất thích hợp khi
đem trồng tại các vùng ven biển ở nước ta, từ khi
trồng đến khi thu hoạch chỉ 15-20 ngày, năng suất trung
bình khoảng 30 tấn/ha/năm. Sản phẩm rong nho biển có
thể để tươi khoảng 5-6 ngày, còn rong muối thì thời
gian sử dụng từ 2-3 tháng….”
Tuy
nhiên theo nhiều nghiên cứu trên thế giới thì loài rong
Nho biển (còn được gọi là Nho Biển- Sea grapes , tên
latin là Caulerpa
lentillifera, còn được gọi là trứng
cá xanh- green caviar,ở Okinawa Nhật bản còn được gọi là umi-budo
). Đây là một loài tảo biển ăn được và khá ngon
miệng, phát triển rất nhanh và có khả năng rất cao
trong việc tích lũy kim loại nặng như đồng, chì, kẽm,...chúng
cũng phát triển
cực thịnh trong các vũng vịnh bị ô nhiễm nitrit NO2.
Vì thế nhiều nước đã dùng Nho Biển để làm sạch các
thủy vực nước mặn hay lợ bị ô nhiễm do kim loại
nặng hay chất hữu cơ. Các loài thủy sinh ăn phải Nho
Biển chứa các chất độc này có thể bị chết làm
nghề đánh bắt thủy sản bị thiệt hại nặng. Chất
độc từ các loài thủy sản ăn Nho Biển sẽ được
chuyển sang người nếu người ăn các loài thủy sản này.
Ngoài ra bản thân Nho Biển cũng tự tiết ra chất độc
(có tên là alkaloid
caulerpin)
để chống lại các loài ăn Nho Biển.Chất này cũng gây
độc cho người. Nhiều nước coi Nho Biển là loài thực
vật độc xâm nhập nguy hiểm. Mỹ đã liệt Nho biển vào
danh sách thực vật
bị kiểm soát, riêng tiểu bang California đã cấm đến 9
loài Caulerpa khác nhau.
Không
rõ việc nhập giống Nho Biển vào nuôi trồng thương
phẩm ở Khánh Hòa như báo Thanh Niên đưa tin đã được
cấp phép theo quy định
của Pháp lệnh kiểm dịch thực vật chưa và ngành
Thủy sản có lường đến khả năng nhiễu loạn sinh thái
do Nho Biển tạo ra không.Bởi vì việc lan tỏa Nho Biển
ra môi trường là không thể kiểm soát được trên
thực tế.
Bạn
đọc có thể đọc nguyên bản các thông tin về Nho
Biển trên internet sau khi nhập yêu cầu”Caulerpa
lentillifera” vào
mục tìm kiếm./.
| Hai
sinh viên Việt Nam sang Đức làm Đại sứ Môi trường |
| (Vietnam
Net, 15/08/2008) |
|
-
Hai sinh viên vừa được chọn đại diện cho 15 Đại
sứ Môi trường Bayer 2008 ở Việt Nam tham dự
chuyến du khảo môi trường tại thành phố
Leverkusen (Đức), cùng bạn trẻ từ 18 quốc gia.
 |
|
Đại
diện Bayer tại Khối các nước Bắc ASEAN
trao quyết định tham dự chuyến du khảo
tại Đức cho thí sinh tham dự cuộc thi. (Ảnh
: M.L)
|
Ngày 14/8, tại TP.HCM, Bộ Giáo dục Đào tạo, Chi
cục Bảo vệ Môi trường đã phối hợp cùng Công
ty Bayer Việt Nam tổ chức lễ tổng kết và trao
giải thưởng chương trình Đại sứ Môi trường
Bayer 2008.
Đại sứ Môi trường Bayer 2008 được triển khai dưới
hình thức cuộc thi viết với chủ đề “Giải
pháp giảm thiểu phát thải CO2”. Đây là năm
thứ 3 chương trình Đại sứ Môi trường Bayer được
tổ chức tại Việt Nam kể từ lần đầu tiên vào
năm 2006.
Chương trình đã thu hút sự tham gia của sinh viên
23 trường Đại học, Cao đẳng tại 13 tỉnh, thành.
Sinh viên Lê Thị Hải Yến (ĐH Ngoại thương cơ
sở II) và Ngô Thị Hương Ly (ĐH KHTN HN) sẽ đại
diện cho 15 Đại sứ Môi trường Bayer tại Việt
Nam tham dự chuyến du khảo môi trường tại thành
phố Leverkusen (Đức) diễn ra từ ngày 2-7/11/2008
với sự tham dự của các bạn trẻ đến từ 18
quốc gia khác nhau trên thế giới bao gồm Việt Nam,
Trung Quốc, Singapore, Indonesia, Ba Lan...
Đánh giá về kết quả cuộc thi viết “Giải pháp
giảm thiểu phát thải CO2”, một thành viên BTC
cuộc thi cho biết, một số ý tưởng trong các bài
thi nếu được đầu tư phát triển thêm sẽ có
khả năng đưa vào ứng dụng trong thực tế. Ví
dụ: ý tưởng về mô hình mái nhà xanh ở các công
ty; Phổ biến việc trồng cây sống đời trong các
khu dân cư đô thị; Dự án xe buýt xanh với việc
cải tiến kỹ thuật, thiết kế và nâng cao chất lượng
dịch vụ của xe buýt nhằm thu hút hành khách
thuộc tầng lớp trung lưu.
Với chuyến du khảo tại Đức vào tháng 11 tới,
sinh viên 18 nước sẽ có cơ hội tiếp xúc với
những phương pháp quản lý môi trường hiện đại,
gặp gỡ chuyên gia và chia sẻ các ý tưởng về
bảo vệ môi trường nơi đây.
|
Thêm
nguồn tài trợ bảo vệ đa dạng sinh học vùng Đông Dương
(Thiennhien Net, 18/8/2008)
Sông Mê kông là
một trong 2 khu vực thuộc hoạt động
bảo tồn của CEPF. (Ảnh: Vnmc.gov.vn)
|
|
ThienNhien.Net - Ngày 22/08/2008,
Quỹ đối tác về các hệ sinh thái trọng yếu (CEPF)
sẽ chính thức ra mắt nhằm bảo vệ các điểm nóng
đa dạng sinh học ở khu vực Đông Dương, một trong 34
điểm đang bị đe dọa nghiêm trọng nhất toàn cầu.
CEPF là sáng
kiến chung của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI), Cơ
quan Phát triển Pháp, Quỹ Môi trường Toàn cầu, Chính
phủ Nhật Bản, Quỹ John D. và Catherine T. MacArthur, và
Ngân hàng Thế giới.
Mục tiêu cơ bản của chương trình là thu hút sự tham
gia của các tổ chức xã hội dân sự vào công tác
bảo tồn đa dạng sinh học ở điểm nóng này.
Ở khu vực Đông Dương, phát triển kinh tế kết hợp
với dân số tăng nhanh đã tạo ra sức ép rất lớn đối
với nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng. Ở nhiều
nơi, khai thác quá mức đã lên tới đỉnh điểm do
thiếu quy hoạch và quản lý hiệu quả. Các hoạt động
bảo tồn do CEPF tài trợ sẽ hướng tới những nơi
thiếu nguồn tài trợ để bảo tồn loài bị đe dọa
ở mức độ toàn cầu và khuyến khích phát triển các
sáng kiến, ý tưởng do người dân địa phương đề
xuất cho hoạt động bảo tồn tại chỗ và thu hút
sự tham gia của các đối tác liên quan chính nhằm
tạo ra sự hài hòa giữa công tác bảo tồn và phát
triển kinh tế.
Chương trình đầu tư của CEPF dành cho khu vực Đông Dương
bao gồm các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam và
một phần nam Trung Quốc. Sự kiện quan trọng này là
sự hợp tác giữa Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế (BirdLife
International) và Quỹ đối tác về các hệ sinh thái
trọng yếu (CEPF).
Quỹ tài trợ trị giá 9,5 triệu đô la Mỹ sẽ được
giới thiệu rộng rãi nhằm bảo tồn đa dạng sinh
học cho khu vực Đông Dương kéo dài trong vòng 5 năm.
Hoạt động bảo tồn của CEPF sẽ tập trung vào hai
khu vực lớn: các cao nguyên đá vôi phía bắc; sông Mê
Kông và các nhánh chính với 28 điểm đa dạng sinh
học trọng yếu ở khu vực này. 67 loài động vật và
248 loài thực vật đang gặp nguy cấp ở mức độ toàn
cầu cũng sẽ là đối tượng ưu tiên cho hoạt động
tài trợ của CEPF. Hành lang các cao nguyên đá vôi phía
bắc giữa biên giới Trung Quốc và Việt Nam sẽ là khu
vực đặc biệt quan trọng cho công tác bảo tồn linh
trưởng. Đây cũng là khu vực có ý nghĩa toàn cầu
trong việc bảo tồn hệ thực vật với nhiều loài quý
hiếm và tập hợp phong phú nhất của các loài thực
vật hạt trần trong khu vực. Sông Mê Kông và các nhánh
chính trải dài qua Campuchia, Lào và Thái Lan và là hệ
sinh thái ven sông tiêu biểu nhất còn lại của khu
vực Đông Dương.
Để biết thêm thông tin về quỹ tài trợ này xin mời
tham khảo thêm trang web: http://www.cepf.net/xp/cepf/.
Thông tin chi tiết và bản dịch bằng tiếng Việt, Anh,
Khơ-me và sắp tới là Lào được đăng trên trang web http://www.birdlifeindochina.org/.
Thông tin để có thể xin được tài trợ liên hệ:
cepf-rit@birdlife.netnam.vn.
Theo Birdlife International (ngày
14/08/2008)
"Quỳ
gối" trước sự thật
|
| (Vietnam
Net, 11/08/2008) |
| Phản
ứng rất thẳng thắn của ông Giám đốc Sở Tài
nguyên – Môi trường TP Đà Nẵng Nguyễn Điểu
về sự "khuất tất" của Trung tâm Kỹ
thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 2 chắc
hẳn sẽ được số đông công chúng đồng tình. |
|
Một ngày ra 2 văn bản... nghịch nhau!
VietNamNet
đưa tin, sáng 9/8/2008 lô hàng 434 tấn sắt thép
phế liệu chứa “rác bẩn” do Công ty Cổ phần
thép Thành Lợi (Khu công nghiệp Hoà Khánh, TP Đã
Nẵng) nhập từ nước ngoài về qua cảng Tiên Sa nhưng
đã được lãnh đạo Sở Tài nguyên - Môi trường,
Cục Hải Quan, Phòng Cảnh sát môi trường công an
T.P Đà Nẵng thống nhất quyết định buộc tái
xuất 100% lô hàng trên ra nước ngoài. (Bài “Buộc
tái xuất 100% lô sắt thép chứa “rác bẩn”, 9-8).
 |
|
Sắt
thép phế liệu lẫn nhiều tạp chất và
chất nguy hại (Ảnh: Công an Nhân dân)
|
Quyết định trên được đưa ra
sau khi Vinacontrol Đà Nẵng hoàn thành giám định “độ
bẩn” của lô hàng theo yêu cầu của Sở TN-MT Đà
Nẵng theo quy trình khách quan khoa học là kiểm tra
cảm quan tại hiện trường và phân tích ở phòng
thí nghiệm.
Kết quả giám định
cho kết luận lô hàng tuy không phải chất thải
nguy hại nhưng chứa nhiều chất thải nguy hại và
như vậy đã vị phạm quy định khoản 1, điều 43
Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, do vậy doanh
nghiệp phải tái xuất toàn bộ lô hàng.
Điều đáng nói là
trước đó, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường
chất lượng khu vự II (Quatest 2) khi được Sở
TN-MT T.P Đà Nẵng trưng cầu Giám định đã đưa ra
2 văn bản kết luận trái ngược nhau trong cùng ngày
21/7/2008 mà như ông Giám đốc trung tâm thanh minh là
do lỗi đánh máy(?).
Nếu theo kết
quả giám định ở văn bản sau do Trung tâm này đưa
ra thì lô hàng trên đủ điều kiện cho thông quan,
nhập khẩu. Việc này đã gây cho các cơ quan chức
năng Đà Nẵng không đủ cơ sở tin cậy để xử lý
nên phải trưng cầu giám định ở một đơn vị khác.
 |
|
Toàn
bộ 18 container sắt thép phế liệu nhập
khẩu chứa "rác bẩn" của Công ty Thành
Lợi đều bị buộc phải tái xuất (Ảnh:
VNN)
|
Đáng nói nữa là đơn vị thứ 2
và thứ 3 là Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường
chất lượng khu vưc I và III đã từ chối giám định
lô hàng này, buộc nhà chức trách Đà Nẵng phải
trưng cầu đơn vị thứ 4 là Vinacontrol Đã Nẵng giám
định và kết cục như ta biết toàn bộ lô hàng trên
là “rác bẩn” nếu cho nhập là vi phạm luật pháp
Việt Nam.
Vấn đề là tại
sao cùng mẫu vật phẩm vẫn đang trong các Container
lưu tại cảng mà Quatest 2 trong một ngày cho ra 2 văn
bản kết luận mà văn bản sau cho số liệu phủ
nhận kết quả giám định của văn bản trước mà
theo đó là lô hàng đủ điều kiện nhập khẩu ?
Đây chính là điều
công luận bức xúc vì Quatest 2 là một cơ quan
chức năng khoa học về Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường
chất lượng, việc hoàn thành chức năng nhiệm vụ
một cách khách quan, trung thực chính là phục vụ
cho công tác quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường
và cũng chính là bảo vệ pháp luật, mỗi kết
luận giám định đều mang nặng tính pháp lý cao.
"Khuất
tất có nghĩa là quỳ gối..."
Viêc làm của
Quatest 2 đã được ông Nguyễn Điểu, Giám đốc
Sở TN-MT TP Đà Nẵng khẳng định tại cuộc họp báo
trưa 9/8 cho là có nhiều khuất tất và chính vì
vậy mà dẫn tới sự việc phức tạp và kéo dài gây
tốn kém không chỉ chi phí mà còn thời gian, công
sức và các vấn đề liên quan khác đối với các
ngành chức năng…
|
Sở
TN-MT Đà Nẵng và GĐ Nguyễn Điểu
|
Ông Nguyễn Điểu còn thẳng
thắn nói: “Sẽ tham mưu cho UBND T.P Đà Nẵng có
văn bản đề nghị cơ quan chủ quản của Quatest 2
xem xét xử lý trách nhiệm của đơn vị này chứ
không để như thế được!”.
Thái độ kiên
quyết của ông Nguyễn Điểu đối với vụ việc này
rất đáng được hoan nghênh.
Viêc ông Nguyễn
Điểu đánh giá việc làm thiếu khoa học, thiếu trách
nhiệm đến khó hiểu của Quatest 2 là “khuất
tất”, và để rõ sâu thêm ngữ nghĩa của từ
“khuất tất” vì đây là một từ gốc Hán, tôi
đã tra các Từ điển Hán Việt và Tiếng Việt.
Theo đó, “khuất
tất” được chẻ ra để hiểu là “khuất”
có nghĩa là “quỳ”, “cúi” , “luồn cúi”; còn
“ tất” có nghĩa là “gối” (gối chân). Hiểu
nghĩa thông dụng thuần Việt thì “khuất tất” có
nghĩa là “quỳ gối”, “khuỵu gối” , “lom
khom”. Vận vào trường hợp trên có thể nói cơ
quan giám định Quatest 2 đã “quỳ gối trước sự
thật”.
Cái sự thật ấy
là lô rác trên là “rác bẩn” chứ không phải đủ
điều kiện nhập khẩu theo tiêu chuẩn bảo vệ môi
trường luật mà nước ta quy định. Vậy với cái
tâm, trách nhiệm, lòng tự trọng, năng lực của
Quatest 2 như vậy thì các vị có trách nhiệm chính
ở đây có đáng được tin tưởng giao nhiệm vụ
nữa không?
Theo tôi khó có
thể tiếp tục tin tưởng giao nhiệm vụ cho họ
được. Vì với một vị bác sĩ do sức ép, động
cơ tiêu cực nào đó bắt, kê bệnh sai cho bệnh nhân
sẽ cực kỳ nguy hiểm, hoặc một chuyên gia pháp y
do sức ép nào đó kết luận sai lệch kết giám định
tử thi thì cũng thật nguy hại cho việc phá án, làm
rõ đúng sai, bảo vệ công lý…
Rất may, điều băn
khoăn của tôi đã được giải toả cũng là điều
tôi thực sự tâm đắc và rất có ấn tượng đó
là lời nói rất thẳng thắn của ông Giám đốc
Sở Tài nguyên –Môi trường TP Đà Nẵng Nguyễn Điểu
về tương lai của Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn
đo lường chất lượng 2 là:
“Tôi chắc là
trong tương lai chẳng còn ai dám đến với Quatest 2
nữa. Chẳng còn doanh nghiệp nào dám đưa cho họ giám
định, mà có đưa cho họ giám định thì cơ quan
chức năng như chúng tôi cũng chẳng dám tin. Như
vậy là họ đã hết đất sống, đã tự đào hố
chôn mình rồi !”.
Nhưng tôi thì nghĩ
Quatest 2 là cơ quan chức năng chuyên ngành tiêu
chuẩn đo lường chất lượng của nhà nước
thuộc ngành Tài nguyên – Môi trường, trên họ có
cơ quan chủ quản, họ ăn lương của dân đâu có
thể muốn làm sao cũng được?
Rất mong việc này
phải được làm rõ nếu tới mức hình sự cũng không
nên ngần ngại vì khi thực thi nhiệm vụ họ đã
“quỳ gối” trước sự thật một cách đáng chê
trách.
Trong cuộc sống cũng
không ít trường hợp “quỳ gối” trước sự
thật như vậy.
|
TỔ CHỨC CARE QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM
Chương trình tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội
trong xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên giai đoạn
II
CHƯƠNG TRÌNH TÀI TRỢ NHỎ (SGS) 2007 – 2009
____________________
THÔNG BÁO
về Chương trình tài trợ nhỏ (SGS)
1.
Giới thiệu
Trong những
năm gần đây xã hội dân sự đã có nhiều thay đổi tích cực. Rất
nhiều tổ chức, trong đó có Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam đã
và đang tiến hành các hoạt động góp phần thúc đẩy sự phát triển
của xã hội dân sự, thông qua các hoạt động hỗ trợ cải thiện môi
trường pháp lý cho sự phát triển của xã hội dân sự nói chung và
nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự nói riêng. Ví dụ,
sau một thời gian dài lấy ý kiến đóng góp từ rất nhiều các bên
liên quan khác nhau, đến nay Luật về Hội đã được trình lên Quốc
hội để thông qua. Bên cạnh đó, Nghị định về tổ hợp tác cũng đã
được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với
các ban ngành liên quan để soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp và đệ
trình lên Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Điều đó cho thấy chính
phủ đã quan tâm nhiều hơn đối với sự phát triển của xã hội dân
sự.
Chương trình CASI đã có nhiều kinh
nghiệm làm việc với nhiều loại hình tổ chức xã hội dân sự như: các
Tổ chức quần chúng, các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGO),
các Hội nghề nghiệp và các Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs). Tuy
nhiên, các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và các Tổ chức dựa vào
cộng đồng hiện đang ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển.
Thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi cần nâng cao năng lực cho các tổ
chức xã hội dân sự nhằm giúp các tổ chức này có thể cung cấp
các dịch vụ tốt hơn cũng như có thể đại diện cho tiếng nói, nhu
cầu và mối quan tâm của người dân ở cấp cơ sở. Một trong những
phương pháp nâng cao năng lực hiệu quả nhất chính là thông qua
các hoạt động tại hiện trường. Nhiều Tổ chức phi chính phủ Việt
Nam và các Tổ chức dựa vào cộng đồng đã thừa nhận rằng họ đang
phải “vật lộn” để tìm kiếm các dự án và nguồn tài trợ, nhằm đảm
bảo cho sự sống còn và nâng cao năng lực cho tổ chức.
Mục tiêu dài hạn của Chương trình CASI
là cải thiện một cách bền vững đời sống của những người còn chịu
thiệt thòi và sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên
trong các vùng nông thôn mà họ không được tiếp cận với các nguồn
lực phát triển một cách đầy đủ và ít có ảnh hưởng lên các quyết
định có tác động đến cuộc sống của họ. Để đạt được tiêu này,
Chương trình CASI hướng tới 03 mục tiêu ngắn hạn đó là:
i.
Các Tổ chức quần chúng,
các VNGO và các Tổ chức cộng đồng cung cấp các dịch vụ phù hợp
cho người nghèo sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên ở các
vùng nông thôn và qua đó giúp họ cải thiện đời sống
ii.
Các Tổ chức quần chúng,
các VNGO và các Tổ chức tại cộng đồng hỗ trợ những người nghèo
sống phụ thuộc thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các
vùng nông thôn tham gia vào quá trình ra các quyết định có tác
động đến cuộc sống của họ
iii.
Đẩy mạnh sự tham gia của
các Tổ chức quần chúng, các VNGO và các Tổ chức tại cộng đồng
trong quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững dựa trên nhu cầu
và sự tham gia của cộng đồng
Chương trình CASI tăng cường sự tham
gia của các tổ chức xã hội dân sự nhằm khuyến khích họ tham gia
và có tiếng nói trong quá trình phát triển nhằm tạo ra những tác
động mang tính dài hạn và bền vững. Chương trình CASI mong muốn
tạo ra những tác động đến nhiều nhóm người dân một cách gián
tiếp thông qua việc nhân rộng, vận động và phản hồi chính sách.
Nhiều Tổ chức phi chính phủ Việt Nam
đã và đang tham gia vào Chương trình CASI với tư cách là đối tác
(trong các dự án VUSTA, VNCB, CEFM) hoặc các nhà cung cấp dịch
vụ hay những chuyên gia kỹ thuật về phương pháp phát triển. Đồng
thời các VNGOs cũng là nhóm đối tượng trong các hoạt động xây
dựng năng lực của hợp phần VUSTA và VNCB trong giai đoạn 2004 –
2006 và ENBALE trong giai đoạn 2007 – 2009.
Chương trình CASI hiện có một
Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) hỗ trợ các sáng kiến của các
tổ chức xã hội dân sự đóng góp trực tiếp cho mục tiêu dài hạn
của Chương trình CASI. Mục tiêu của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS)
là kết nối các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam, các Tổ chức quần
chúng, các Tổ chức dựa và cộng đồng và các Cơ quan đối tác địa
phương cùng nhau làm việc để đạt được tiêu dài hạn và mục tiêu
ngắn hạn của Chương trình CASI. Chương trình tài trợ nhỏ
hỗ trợ kinh phí cho các sáng kiến của các Tổ chức phi chính
phủ Việt Nam, các Tổ chức quần chúng, các Tổ chức dựa vào
cộng đồng và các Cơ quan đối tác địa phương trong các vùng
dự án của Chương trình CASI bao gồm : Hà Nội. Hoà Bình, Bắc
Kạn, Thanh Hoá, Thái Nguyên và Yên Bái. Chương trình tài trợ
nhỏ sẽ hướng ưu tiên tới những hoạt động phù hợp với mục tiêu
ngắn hạn và mục tiêu dài hạn của Chương trình CASI.
Mục tiêu chung của Chương trình tài trợ nhỏ là nhằm hỗ trợ các
tổ chức xã hội dân sự tham gia cải thiện bền vững điều kiện
sống và tăng cường sự tham gia của những người còn chịu thiệt
thòi và sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên ở những
vùng nông thôn mà họ không được tiếp cận với các nguồn lực phát
triển một cách đầy đủ và ít có ảnh hưởng lên các quyết định có
tác động đến cuộc sống của họ.
Mục tiêu cụ thể của chương trình tài trợ nhỏ là:
1)
Nâng cao năng lực cho các Tổ chức dựa vào cộng đồng, các
Tổ chức quần chúng; các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và Cơ
quan đối tác địa phương tại các địa bàn hoạt động của Chương
trình CASI để họ có thể tham gia và có tiếng nói trong quá
trình phát triển và hoạch định chính sách.
2)
Khuyến khích các tổ chức xã hội dân sự tăng cường sự tham
gia của người nghèo trong quá trình ra quyết định.
3)
Tạo cơ hội chia sẻ và học hỏi giữa các tổ chức xã hội dân
sự.
4)
Tằng cường quan hệ đối tác và làm việc theo nhóm giữa các
tổ chức xã hội dân sự ở các cấp độ khác nhau, cũng như tăng
cường sự liên kết giữa các tổ chức ở cấp địa phương, với cấp
tỉnh và cấp trung ương.
5)
Cải thiện sự tiếp cận và tham gia của các VNGO vào các
hoạt động phát triển có sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên
quyền.
6)
Tạo cơ hội cho các tổ chức xã hội dân dự phát huy các
sáng kiến của họ nhằm đóng góp cho mục tiêu dài hạn và mục tiêu
ngắn hạn của Chương trình CASI.
Các sáng kiến đề xuất gửi tới Chương
trình tài trợ nhỏ (SGS) có thể đóng góp cho một hoặc nhiều mục
tiêu trên đây.
3.
Các
lĩnh vực ưu tiên
Ngân sách của Chương trình tài trợ này
được sử dụng để hỗ trợ các sáng kiến của các tổ chức xã hội dân
sự nhằm đạt được mục đích và mục tiêu cụ thể của Chương trình
CASI. Các sáng kiến đề xuất có thể liên quan đến một hoặc nhiều
lĩnh vực sau đây:
1.
Khuyến khích sự tham
gia và tiếng nói của xã hội dân sự:
ưu tiên cho các ý
tưởng hướng vào nâng cao nhận thức về vai trò của xã hội
dân sự trong phát triển, xoá đói giảm nghèo và quản lý tài
nguyên thiên nhiên và xây dựng năng lực cho các tổ chức CBOs/VNGOs
cũng như hoàn thiện môi trường pháp lý cho xã hội dân sự tại
Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển đa dạng của các loại hình tổ
chức dựa vào cộng đồng và sự tham gia của họ trong xoá đói giảm
nghèo ở cấp cơ sở.
2.
Phản hồi/đối thoại/vận
động chính sách:
ưu tiên cho các ý tưởng hướng
vào nỗ lực của các tổ chức xã hội dân sự trong vận
động, phản hồi chính sách liên quan đến sự phát triển của xã hội
dân sự và cung cấp các dịch vụ hiệu quả đến người nghèo ở các
cấp độ khác nhau, cũng như đánh giá tác động của các chính sách
hiện hành đối với sự phát triển của xã hội dân sự và tăng cường
mạng lưới hoạt động về phản hồi và vận động chính sách giữa các
bên liên quan khác nhau.
3.
Các phương pháp
tiếp cận có sự tham gia và tiếp cận dựa trên quyền trong các dự
án phát triển: ưu
tiên cho các ý tưởng hướng vào thúc đẩy việc học hỏi và
chia sẻ kinh nghiệm trong các tổ chức VNGOs; CBOs và các tổ chức
quần chúng và các bên liên quan khác về cách tiếp cận dựa trên
quyền; lý thuyết và thực hành liên quan đến sự tham gia của
người dân; lý thuyết và thực hành liên quan đến Quy chế dân chủ
ở cơ sở và tạo quyền cho cộng đồng ở các cấp độ khác nhau. Cải
thiện và thúc đẩy việc học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm/hiểu biết
giữa các tổ chức phi chính phủ, tổ chức dựa vào cộng đồng và các
tổ chức quần chúng và các bên liên quan khác trong lĩnh vực quản
lý tài nguyên thiên nhiên bền vững và xoá đói giảm nghèo.
4.
Các loại hình đề xuất dự án
Trong năm 2008 – 2009,
Chương trình tài trợ nhỏ hướng ưu tiên tới các loại hình đề xuất sau
đây:
- Nghiên cứu can
thiệp: Các đề xuất nghiên cứu can thiệp của một hoặc một
nhóm các tổ chức xã hội dân sự về một trong ba lĩnh vực ưu tiên,
hướng đến các giải pháp can thiệp hiệu quả.
- Hội thảo: Các
đề xuất liên quan đến hội thảo chia sẻ kinh nghiệm và thông tin,
các bài học kinh nghiệm thuộc một trong 3 lĩnh vực ưu tiên trên
đây giữa các thành viên của các tổ chức xã hội dân sự .
- Tập huấn: Các
đề xuất liên quan đến tập huấn thuộc một trong 3 lĩnh vực ưu
tiên trên đây giữa các thành viên của các tổ chức xã hội dân sự
.
- Tài liệu hoá các
bài học kinh nghiệm hoặc phương pháp phát triển: các đề xuất
về tài liệu hoá các bài học kinh nghiệm hoặc phương pháp phát
triển phù hợp ở vùng nông thôn và dân tộc thiểu số.
- Đối thoại/phản hổi/vận
động chính sách: các đề xuất tổ chức sự kiện như đối thoại/phản
hồi chính sách giữa người dân và các nhà hoạch định chính sách
về xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như
vận động hành lang pháp lý cho các tổ chức xã hội dân sự.
- Đánh giá tác động
của Chương trình CASI: các đề xuất đánh giá tác động của
Chương trình CASI ở các cấp độ khác nhau.
5.
Điều kiện của chương trình tài trợ nhỏ.
Chương trình tài trợ nhỏ hỗ trợ các
loại hình đề xuất dự án với nhiều mức kinh phí và thời gian khác
nhau liên quan đến những lĩnh vực ưu tiên trên đây.
1.
Ngân sách hỗ trợ tối đa cho một đề xuất dự án là US$5,000.
2.
Thời gian thực hiện một đề xuất dự án tối đa là 12 tháng.
3.
Đề xuất dự án phải liên quan đến mục tiêu và lĩnh vực ưu tiên
của Chương trình SGS.
4.
Kinh phí đề xuất phải tương ứng với kế hoạch hoạt động.
5.
Khoản kinh phí KHÔNG hỗ
trợ: Chương trình tài trợ nhỏ
SGS sẽ KHÔNG hỗ trợ ngân sách cho việc mua sắm trang thiết bị hoặc
xây dựng cơ sở hạ tầng. Những khoản mục này nếu có được xem như là
phần đóng góp của tổ chức cho việc thực hiện dự án đề xuất hoặc tổ
chức có thể xin hỗ trợ từ các nguồn tài trợ khác.
6.
Chương trình tài trợ nhỏ có thể hỗ trợ mở rộng phạm vi của
những dự án đang triển khai nếu thuộc những lĩnh vực liên quan tới
chương trình CASI. Trong tương lai, Chương trình CASI cũng có thể hỗ
trợ tổ chức đã được SGS tài trợ tìm kiếm thêm các nguồn kinh phí từ
các nhà tài trợ khác.
7.
Đề xuất dự án có thể viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh.
8.
Đề xuất dự án phải viết theo mẫu gửi kèm trong thông báo này.
Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) chỉ
dành cho các tổ chức sau đây:
1.
Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGOs);
2.
Các tổ chức/cơ quan đối tác địa phương của
chương trình CASI
Tất cả các đề xuất dự án nộp cho
Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) sẽ được xem xét và tuyển chọn bởi Ban
tuyển chọn dựa theo tiêu chí của Chương trình tài trợ nhỏ. Kết quả
lựa chọn (thành công hay không thành công) sẽ được thông báo bằng
thư tới tất cả các tổ chức đã nộp đơn.
Nếu đề xuất dự án được chọn, Ban tuyển
chọn sẽ mời đại diện của tổ chức có đề xuất dự án được chọn đến để
thảo luận và góp ý thêm để hoàn thiện đề xuất dự án. Sau đó, các tổ
chức này hoàn thiện bản đề xuất dự án lần cuối dựa trên những ý kiến
góp ý của các thành viên trong Ban tuyển chọn và nộp lại bản đề
xuất hoàn thiện cho Ban tuyển chọn của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS).
Sau khi nhận được bản đề xuất hoàn
thiện, Ban tuyển chọn của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) sẽ ký thoả
thuận hỗ trợ với đại diện tổ chức có đề xuất được chọn và tổ chức đó
chịu trách nhiệm tổ chức triển khai dự án với sự hỗ trợ của Tổ chức
CARE quốc tế tại Việt Nam và cán bộ có liên quan của Chương trình
CASI.
8.
Mẫu đề xuất dự án
Mẫu đề xuất dự án của
chương trình SGS được gửi kèm theo thông báo này cả bằng tiếng Việt
và tiếng Anh. Xin vui lòng xem trong file đính kèm để hoàn thiện đề
xuất dự án theo mẫu quy định.
9.
Hạn nộp đề xuất dự án
Tất cả các tổ chức xã
hội dân sự thuộc đối tượng ở trên có thể nộp đề xuất dự án tới
Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) chậm nhất vào ngày
29 tháng 8 năm 2008.
Kết quả thành công hay
không thành công sẽ được thông báo tới tất cả các tổ chức nộp đề
xuất dự án chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày hết hạn nộp
đề xuất dự án.
10.
Người liên hệ
Các đề xuất dự án nộp
tới SGS có thể gửi qua fax, email, hoặc đường bưu điện tới địa chỉ
dưới đây:
Mr. Lê Văn Sơn
CARE International in Vietnam
66 Xuân Diệu – Tây Hồ – Hà Nội
ĐT: 04 - 716 1930 Fax 04
-7161935 Email :
lvson@care.org.vn
(Xin hãy ghi «ĐỀ XUẤT DỰ ÁN GỬI CHƯƠNG TRÌNH SGS » bên góc trái của
phong bì nếu tổ chức của bạn gửi qua đường bưu điện).

TỔ CHỨC CARE QUỐC TẾ
TẠI VIỆT NAM
Chương trình tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội
trong xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên (CASI)
Tầng 4, Số 66 Xuân Diệu, Tây Hồ, Hà Nội
ĐT.: 04 7161930
Fax: 04 7161935
CHƯƠNG TRÌNH TÀI TRỢ
NHỎ 2007 – 2009
ĐỀ
XUẤT DỰ ÁN
1.
TÓM TẮT
|
|
|
Tên đầy đủ
của tổ chức |
|
|
Địa chỉ |
|
|
|
|
|
E-mail |
|
|
Website (nếu
có) |
|
|
Người liên
hệ |
|
|
Địa chỉ
email của người liên lạc |
|
|
Ngày gửi |
|
|
2. Tên đơn
vị/cơ quan chủ quản (đăng ký hoạt động của tổ chức)
|
|
|
3. Tên cơ
quan/tổ chức đối tác (trong đề xuất dự án này - Nếu có) |
|
|
4. Tên dự
án đề xuất dự án/hoạt động |
|
|
4. Địa
điểm triển khai |
|
|
5. Thời
gian thực hiện |
|
|
6. Tổng
ngân sách |
|
|
7. Ngân
sách yêu cầu từ SGS |
|
|
8. Ngân
sách từ nguồn khác |
|
Chữ
ký của giám đốc và đóng dấu (nếu có)
2.
THÔNG TIN VỀ DỰ ÁN/HOẠT ĐỘNG
(Tổng số tối đa là 5 trang).
2.1. Tên Dự
án/Hoạt động đề xuất:
2.1. Tóm tắt Dự án/Hoạt động đề xuất:
2.3. Mô tả mục tiêu của Dự án/Hoạt động đề xuất:
2.4. Giải thích Dự án/Hoạt động đề xuất có liên quan như thế nào đối
với chương trình CASI và các mục tiêu cũng như lĩnh vực ưu tiên của
Chương trình tài trợ nhỏ (SGS)
2.5. Mô tả
phương pháp sử dụng để đạt mục đích và mục tiêu của Dự án/Hoạt động
đề xuất.
2.6. Mô tả
các kết quả đạt được/đầu ra chính của Dự án/hoạt động đề xuất:
2.7. Giải
thích tính bền vững của Dự án/Hoạt động đề xuất:
2.8. Kế hoạch
hoạt động của Dự án/hoạt động đề xuất:
(Đính kèm phụ lục kế hoạch
và kinh phí )
2.9. Mô tả kế hoạch giám sát và đánh giá Dự án/Hoạt động đề xuất:
3.
THOẢ THUẬN TÀI CHÍNH
3.1. Tổng ngân sách yêu cầu từ Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) và chi
tiết các khoản chi phí cần thiết để thực hiện Dự án/hoạt động (Xin
đính kèm phần mô tả các hoạt động và dòng ngân sách tương ứng; Tham
khảo phần các chi phí cho phép của chương trình SGS).
3.2. Hiện tại, Tổ chức của
bạn ĐÃ nhận được kinh phí hỗ trợ từ các nhà tài trợ khác cho Dự án/hoạt
động này chưa? Nếu có, tổ chức bạn đã xin tài trợ bao nhiêu tiền và
từ nhà tài trợ nào?
3.3. Tổ chức của bạn có
KẾ HOẠCH xin kinh phí hỗ trợ từ các nhà tài trợ khác cho Dự án/hoạt
động này không? Nếu có, tổ chức bạn định xin tài trợ bao nhiêu và từ
nhà tài trợ nào?
3.4.
Nếu tổ chức của bạn đã nhận được tài trợ từ chương trình CASI hoặc
Chương trình tài trợ nhỏ (SGS), xin hãy ghi rõ thời điểm, tổng ngân
sách và mô tả ngắn gọn dự án/hoạt động đã được tài trợ.
3.5. Xin hãy đính kèm bản photo Quyết định/giấy phép hoạt động hoặc
tờ rơi/thông tin giới thiệu về tổ chức (nếu có).
(Xin lưu ý, chúng tôi sẽ
thông báo tình trạng của đề xuất dự án (thành công hay không thành
công) bằng thư tới tổ chức của bạn chậm nhất là sau 30 ngày kể từ
ngày hết hạn nộp đề xuất. Chính vì thế, bạn không cần thiết phải gọi
cho chúng tôi để hỏi về tình trạng của đề xuất dự án đã nộp).
Phụ lục 1:
Mẫu kế hoạch hoạt động và kinh phí
|
Các hoạt động/công
việc chính |
Thời gian |
Kinh phí |
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|