THÔNG TIN - HOẠT ĐỘNG

Những cánh đồng nhiên liệu trên biển
Cảnh báo về loài tảo biển mới xâm nhập ở Khánh Hoà
Thêm nguồn tài trợ bảo vệ đa dạng sinh học vùng Đông Dương
Hai sinh viên Việt Nam sang Đức làm Đại sứ Môi trường
"Quỳ gối" trước sự thật
THÔNG BÁO về Chương trình tài trợ nhỏ (SGS)
Mẫu Đề xuất Dự án
Khuyến mãi toàn dân dùng máy nước nóng năng lượng mặt trời
Hội nghị kỷ niệm 5 năm thành lập Bộ TN&MT:
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải - Nhiệm vụ, vai trò của ngành TN&MT to lớn, lâu dài và rất cấp bách
Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải: Giải quyết gấp bức xúc về đất an ninh lương thực và ô nhiễm môi trường
Phát động sáng tác kịch bản phim về môi trường  

Những cánh đồng nhiên liệu trên biển

(ThienNhien.Net, 13/8/2008)
Tảo biển có thể được trồng trên một diện lớn làm nhiên liệu sinh học. (Ảnh: Flickr/Wendylin20)
ThienNhien.Net - Những kỳ vọng lớn lao về giải pháp cho vấn đề biến đổi khí hậu bằng nhiên liệu sinh học đã bị “phá sản” khi con người trồng chúng một cách ồ ạt trên đất liền. Vấn đề không chỉ là việc gây ra những chi phí về môi trường như phá hủy rừng, tiêu tốn tài nguyên nước, phát thải khí nhà kính và những hạn chế về hiệu quả sử dụng năng lượng mà còn nằm ở chỗ nó đã châm ngòi cho cuộc khủng hoảng lương thực trên toàn cầu và góp phần làm gia tăng tỉ lệ đói nghèo. Nghiên cứu mới đây của Hiệp hội Hoàng gia Anh nhận định tiềm năng phát triển nguồn nhiên liệu sinh học ngoài đại dương đang bị bỏ ngỏ. Trồng tảo biển làm nhiên liệu sinh học có thể cải thiện được tình hình hiện nay.


Tiềm năng lớn

Đại dương là một bể các-bon khổng lồ của hành tinh, các-bon bao phủ hơn 70 % bề mặt đại dương, và tỷ lệ này còn có khả năng tăng khi mực nước biển dâng. Đại dương cũng nhận một lượng ánh sáng mặt trời lớn hơn đất liền, đặc biệt là ở các vành đai nhiệt đới và cận nhiệt đới nơi mặt đất bị che phủ. Đối với giới nông học thì đại dương là một cánh đồng bao la với tiềm năng trồng trọt to lớn nhưng chưa được khai thác.

Tiềm năng to lớn ấy mới chỉ được phát hiện trong thời gian gần đây và mở ra khả năng xảy ra một cuộc cách mạng xanh về nuôi trồng thực vật trên biển đang ngày càng rõ rệt.

Những thống kê của Tổ chức Nông Lương Liên Hợp Quốc đã chỉ ra rằng, khả năng nuôi trồng thực vật trên biển lớn nhất ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương. Sản xuất thủy sản của thế giới đã tăng 60 lần từ đầu năm 1950 (đạt 59,4 triệu tấn vào năm 2004) và mang lại khoảng 70 tỷ đô la, trong đó 91,5% ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương.

Tương tự như vậy, 99,8% trong số 8 triệu tấn rong biển được sản xuất, mang lại 6 tỷ đô la mỗi năm là ở khu vực Châu Á và Thái Bình Dương, chủ yếu là Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc.

Rong biển là một loại nhiên liệu

Cho đến nay, rong biển không những là thực phẩm rất có giá trị, mà còn dùng để sản xuất phân bón, thức ăn gia súc và gần đây là nguyên liệu cho ngành công nghiệp tảo học, sản xuất algin, agar and carrageenan. Không những thế nó còn đang là một nguồn nguyên liệu chính để sản xuất năng lượng.

Tảo biển không cần đất, mặt khác lại có thể sử dụng nguồn nước sẵn có, đây là một ưu thế vượt trội so với trồng nhiên liệu sinh học trên đất liền - nơi mà nước là yếu tố hạn chế nhất nếu muốn mở rộng quy mô nuôi trồng, đặc biệt là khi khí hậu thay đổi.

Cũng cần phải quan tâm khi thu hoạch một lượng khổng lồ tảo tự nhiên để sản xuất năng lượng sinh học. Điều này có thể sẽ gây ra những ảnh hưởng đối với hàm lượng khí CO2 trong khí quyển, làm mất nơi cư trú của động thực vật... nhưng trồng chúng thì lại là chuyện khác.

Ở Costa Rica và Nhật Bản, việc trồng tảo biển đã được thực hiện để sản xuất năng lượng. Các nước này đã thu được một lượng lớn sinh khối tảo biển không các bon để sản xuất điện đồng thời thu được một số hợp chất có giá trị cao từ quá trình chiết nhiên liệu sinh học.

Hiện nay, mới có khoảng 3% diện tích bề mặt đại dương và hơn 20% diện tích đất liền được sử dụng cho nông nghiệp. Điều này có nghĩa là chỉ cần một diện tích nhỏ trên biển cũng có thể thay thế một diện tích lớn trên đất liền khi trồng nhiên liệu sinh học.

Nhiên liệu sinh học trồng trên đất liền sẽ đóng góp vào việc giảm nồng độ CO2 do cắt giảm được lượng phát sinh CO2 do đốt nhiên liệu hóa thạch. Nhiên liệu sinh học là sản phẩm của quá trình quang hợp gần đây và không có các bon. Trái lại, nhiên liệu hóa thạch là kết quả của quá trình quang hợp trong quá khứ, do đó các bon giải phóng khi đốt sẽ bị tích trữ sau đó bị đẩy vào bầu khí quyển.

Yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình canh tác chính là chất dinh dưỡng – bởi vì phần lớn dinh dưỡng sẽ bị mất đi sau khi thu hoạch. Vì thế, chi phí để bổ sung một lượng lớn chất dinh dưỡng vào đại dương và tiêu tốn thêm năng lượng sẽ là những kết quả không mong muốn.

Nguồn dinh dưỡng có thể bị lạm dụng một cách quá đáng như nước thải sinh hoạt hoặc sản phẩm của quá trình xử lý nước thải sinh hoạt. Nhu cầu phát triển rong biển buộc phải sử dụng chất dinh dưỡng từ nước thải sinh hoạt để tiết kiệm chi phí. Do đó hàng triệu tấn nước thải chưa được xử lý đã được đổ xuống đại dương mỗi ngày và tảo biển sẽ đóng vai trò xử lý các chất thải này.

Ý tưởng này đã được thử nghiệm thành công ở một số học viện tại Hoa Kỳ bao gồm Viện Hải dương học Woods Hole và Viện Hải dương học Harbor Branch.

Về khía cạnh nông nghiệp thì tảo biển có giá trị kinh tế cao để sản xuất lương thực và các sản phẩm khác, ít nhất là mang lại giá trị kinh tế khi dùng để sản xuất nhiên liệu và năng lượng sinh học. Tuy nhiên, tương tự như ngành nông nghiệp trên đất, sự bất cẩn khi canh tác trên biển cũng có thể gây ra nhiều tác hại như khi canh tác trên đất.

Như một ảnh hưởng dây chuyền, việc sản xuất nhiên liệu sinh học ngoài đại dương sẽ dành thêm diện tích đất để sản xuất lương thực, do đó sẽ cung cấp được nhiều lương thực và dinh dưỡng hơn cho mọi người, đặc biệt là người nghèo.


Nguyễn Thành Trung biên dịch ( Theo Scidev.Net, 06/06/2008)

 

CẢNH BÁO VỀ LOÀI TẢO BIỂN MỚI XÂM NHẬP Ở KHÁNH HÒA

 PGS TS Nguyễn Đình Hòe, Hội Bảo vệ TN và MT Việt Nam

Tác giả Hữu Trí trên Báo Thanh niên online ngày 15/8/2008 đưa tin “Năm 2004, trong thời gian kinh doanh đá granite, kỹ sư địa chất Lê Bền thường tiếp xúc với nhiều đối tác người Nhật. Trong bữa ăn với khách Nhật, ông thường nghe họ nhắc đến một loại rong nho biển bổ dưỡng được người Nhật ưa thích nhưng không có trong thực đơn ở Việt Nam. Từ đó, ông Lê Bền nảy ra ý tưởng đem loài rong biển này về trồng tại các đìa nuôi tôm của mình ở thôn Đông Hà, xã Ninh Hải, huyện Ninh Hòa (Khánh Hòa)…Sau khi được một người Nhật mang cho 200 gr rong nho giống, ông đem trồng thử nghiệm trong các bể kính để nhân giống theo các tài liệu hướng dẫn của Nhật…Sau khi trồng thành công, ông Lê Bền liên hệ với các đối tác người Nhật để tìm đầu ra cho sản phẩm rong nho biển của mình. Phía công ty Nhật đã cử chuyên gia sang trực tiếp giám sát quy trình nuôi trồng và chế biến. …Hiện tại, Công ty Centus (Nhật Bản) đang nhập rong nho biển do công ty của ông Bền trồng với giá 8-10 USD/kg …Theo kỹ sư Lê Bền, rong nho biển rất thích hợp khi đem trồng tại các vùng ven biển ở nước ta, từ khi trồng đến khi thu hoạch chỉ 15-20 ngày, năng suất trung bình khoảng 30 tấn/ha/năm. Sản phẩm rong nho biển có thể để tươi khoảng 5-6 ngày, còn rong muối thì thời gian sử dụng từ 2-3 tháng….”

Tuy nhiên theo nhiều nghiên cứu trên thế giới thì loài rong Nho biển (còn được gọi là Nho Biển- Sea grapes , tên latin là Caulerpa lentillifera, còn được gọi là trứng  cá xanh- green caviar,ở Okinawa Nhật bản còn được gọi là  umi-budo ). Đây là một loài tảo biển ăn được và khá ngon miệng, phát triển rất nhanh và có khả năng rất cao trong việc tích lũy kim loại nặng như đồng, chì, kẽm,...chúng cũng  phát triển cực thịnh trong các vũng vịnh bị ô nhiễm nitrit NO2. Vì thế nhiều nước đã dùng Nho Biển để làm sạch các thủy vực nước mặn hay lợ bị ô nhiễm do kim loại nặng hay chất hữu cơ. Các loài thủy sinh ăn phải  Nho Biển chứa các chất độc này có thể bị chết làm nghề đánh bắt thủy sản bị thiệt hại nặng. Chất độc từ các loài thủy sản ăn Nho Biển sẽ được chuyển sang người nếu người ăn các loài thủy sản này. Ngoài ra bản thân Nho Biển cũng tự tiết ra chất độc (có tên là alkaloid caulerpin) để chống lại các loài ăn Nho Biển.Chất này cũng gây độc cho người. Nhiều nước coi Nho Biển là loài thực vật độc xâm nhập nguy hiểm. Mỹ đã liệt Nho biển vào danh sách  thực vật bị kiểm soát, riêng tiểu bang California đã cấm đến 9 loài Caulerpa khác nhau.

Không rõ việc nhập giống Nho Biển vào nuôi trồng thương phẩm ở Khánh Hòa như báo Thanh Niên đưa tin đã được cấp phép  theo quy định của Pháp lệnh kiểm dịch thực vật chưa và ngành Thủy sản có lường đến khả năng nhiễu loạn sinh thái do Nho Biển tạo ra không.Bởi vì việc lan tỏa Nho Biển ra môi trường là không thể kiểm soát được trên thực tế.

Bạn đọc có thể đọc nguyên bản các thông tin về Nho Biển trên internet sau khi nhập yêu cầu”Caulerpa lentilliferavào mục tìm kiếm./.

 

 

Hai sinh viên Việt Nam sang Đức làm Đại sứ Môi trường
(Vietnam Net, 15/08/2008)

 - Hai sinh viên vừa được chọn đại diện cho 15 Đại sứ Môi trường Bayer 2008 ở Việt Nam tham dự chuyến du khảo môi trường tại thành phố Leverkusen (Đức), cùng bạn trẻ từ 18 quốc gia.

 

Đại diện Bayer tại Khối các nước Bắc ASEAN trao quyết định tham dự chuyến du khảo tại Đức cho thí sinh tham dự cuộc thi. (Ảnh : M.L)


Ngày 14/8, tại TP.HCM, Bộ Giáo dục Đào tạo, Chi cục Bảo vệ Môi trường đã phối hợp cùng Công ty Bayer Việt Nam tổ chức lễ tổng kết và trao giải thưởng chương trình Đại sứ Môi trường Bayer 2008. 

Đại sứ Môi trường Bayer 2008 được triển khai dưới hình thức cuộc thi viết với chủ đề “Giải pháp giảm thiểu phát thải CO2”. Đây là năm thứ 3 chương trình Đại sứ Môi trường Bayer được tổ chức tại Việt Nam kể từ lần đầu tiên vào năm 2006.

Chương trình đã thu hút sự tham gia của sinh viên 23 trường Đại học, Cao đẳng tại 13 tỉnh, thành. Sinh viên Lê Thị Hải Yến (ĐH Ngoại thương cơ sở II) và Ngô Thị Hương Ly (ĐH KHTN HN) sẽ đại diện cho 15 Đại sứ Môi trường Bayer tại Việt Nam tham dự chuyến du khảo môi trường tại thành phố Leverkusen (Đức) diễn ra từ ngày 2-7/11/2008 với sự tham dự của các bạn trẻ đến từ 18 quốc gia khác nhau trên thế giới bao gồm Việt Nam, Trung Quốc, Singapore, Indonesia, Ba Lan...

Đánh giá về kết quả cuộc thi viết “Giải pháp giảm thiểu phát thải CO2”, một thành viên BTC cuộc thi cho biết, một số ý tưởng trong các bài thi nếu được đầu tư phát triển thêm sẽ có khả năng đưa vào ứng dụng trong thực tế. Ví dụ: ý tưởng về mô hình mái nhà xanh ở các công ty; Phổ biến việc trồng cây sống đời trong các khu dân cư đô thị; Dự án xe buýt xanh với việc cải tiến kỹ thuật, thiết kế và nâng cao chất lượng dịch vụ của xe buýt nhằm thu hút hành khách thuộc tầng lớp trung lưu.

Với chuyến du khảo tại Đức vào tháng 11 tới, sinh viên 18 nước sẽ có cơ hội tiếp xúc với những phương pháp quản lý môi trường hiện đại, gặp gỡ chuyên gia và chia sẻ các ý tưởng về bảo vệ môi trường nơi đây.  

 

  • Mai Loan

 

Thêm nguồn tài trợ bảo vệ đa dạng sinh học vùng Đông Dương

(Thiennhien Net, 18/8/2008)

Sông Mê kông là một trong 2 khu vực thuộc hoạt động bảo tồn của CEPF. (Ảnh: Vnmc.gov.vn)
ThienNhien.Net - Ngày 22/08/2008, Quỹ đối tác về các hệ sinh thái trọng yếu (CEPF) sẽ chính thức ra mắt nhằm bảo vệ các điểm nóng đa dạng sinh học ở khu vực Đông Dương, một trong 34 điểm đang bị đe dọa nghiêm trọng nhất toàn cầu.

CEPF là sáng kiến chung của Tổ chức Bảo tồn Quốc tế (CI), Cơ quan Phát triển Pháp, Quỹ Môi trường Toàn cầu, Chính phủ Nhật Bản, Quỹ John D. và Catherine T. MacArthur, và Ngân hàng Thế giới.

Mục tiêu cơ bản của chương trình là thu hút sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở điểm nóng này.

Ở khu vực Đông Dương, phát triển kinh tế kết hợp với dân số tăng nhanh đã tạo ra sức ép rất lớn đối với nguồn tài nguyên thiên nhiên trong vùng. Ở nhiều nơi, khai thác quá mức đã lên tới đỉnh điểm do thiếu quy hoạch và quản lý hiệu quả. Các hoạt động bảo tồn do CEPF tài trợ sẽ hướng tới những nơi thiếu nguồn tài trợ để bảo tồn loài bị đe dọa ở mức độ toàn cầu và khuyến khích phát triển các sáng kiến, ý tưởng do người dân địa phương đề xuất cho hoạt động bảo tồn tại chỗ và thu hút sự tham gia của các đối tác liên quan chính nhằm tạo ra sự hài hòa giữa công tác bảo tồn và phát triển kinh tế.

Chương trình đầu tư của CEPF dành cho khu vực Đông Dương bao gồm các nước Campuchia, Lào, Thái Lan, Việt Nam và một phần nam Trung Quốc. Sự kiện quan trọng này là sự hợp tác giữa Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế (BirdLife International) và Quỹ đối tác về các hệ sinh thái trọng yếu (CEPF).

Quỹ tài trợ trị giá 9,5 triệu đô la Mỹ sẽ được giới thiệu rộng rãi nhằm bảo tồn đa dạng sinh học cho khu vực Đông Dương kéo dài trong vòng 5 năm.

Hoạt động bảo tồn của CEPF sẽ tập trung vào hai khu vực lớn: các cao nguyên đá vôi phía bắc; sông Mê Kông và các nhánh chính với 28 điểm đa dạng sinh học trọng yếu ở khu vực này. 67 loài động vật và 248 loài thực vật đang gặp nguy cấp ở mức độ toàn cầu cũng sẽ là đối tượng ưu tiên cho hoạt động tài trợ của CEPF. Hành lang các cao nguyên đá vôi phía bắc giữa biên giới Trung Quốc và Việt Nam sẽ là khu vực đặc biệt quan trọng cho công tác bảo tồn linh trưởng. Đây cũng là khu vực có ý nghĩa toàn cầu trong việc bảo tồn hệ thực vật với nhiều loài quý hiếm và tập hợp phong phú nhất của các loài thực vật hạt trần trong khu vực. Sông Mê Kông và các nhánh chính trải dài qua Campuchia, Lào và Thái Lan và là hệ sinh thái ven sông tiêu biểu nhất còn lại của khu vực Đông Dương.

Để biết thêm thông tin về quỹ tài trợ này xin mời tham khảo thêm trang web: http://www.cepf.net/xp/cepf/. Thông tin chi tiết và bản dịch bằng tiếng Việt, Anh, Khơ-me và sắp tới là Lào được đăng trên trang web http://www.birdlifeindochina.org/. Thông tin để có thể xin được tài trợ liên hệ: cepf-rit@birdlife.netnam.vn.


Theo Birdlife International (ngày 14/08/2008)

"Quỳ gối" trước sự thật
(Vietnam Net, 11/08/2008)
Phản ứng rất thẳng thắn của ông Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường TP Đà Nẵng Nguyễn Điểu về sự "khuất tất" của Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 2 chắc hẳn sẽ được số đông công chúng đồng tình.


Một ngày ra 2 văn bản... nghịch nhau! 

VietNamNet đưa tin, sáng 9/8/2008 lô hàng 434 tấn sắt thép phế liệu chứa “rác bẩn” do Công ty Cổ phần thép Thành Lợi (Khu công nghiệp Hoà Khánh, TP Đã Nẵng) nhập từ nước ngoài về qua cảng Tiên Sa nhưng đã được lãnh đạo Sở Tài nguyên - Môi trường, Cục Hải Quan, Phòng Cảnh sát môi trường công an T.P Đà Nẵng thống nhất quyết định buộc tái xuất 100% lô hàng trên ra nước ngoài. (Bài “Buộc tái xuất 100% lô sắt thép chứa “rác bẩn”, 9-8). 

 

Sắt thép phế liệu lẫn nhiều tạp chất và chất nguy hại (Ảnh: Công an Nhân dân)

Quyết định trên được đưa ra sau khi Vinacontrol Đà Nẵng hoàn thành giám định “độ bẩn” của lô hàng theo yêu cầu của Sở TN-MT Đà Nẵng theo quy trình khách quan khoa học là kiểm tra cảm quan tại hiện trường và phân tích ở phòng thí nghiệm. 

Kết quả giám định cho kết luận lô hàng tuy không phải chất thải nguy hại nhưng chứa nhiều chất thải nguy hại và như vậy đã vị phạm quy định khoản 1, điều 43 Luật Bảo vệ môi trường Việt Nam, do vậy doanh nghiệp phải tái xuất toàn bộ lô hàng.

Điều đáng nói là trước đó, Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng khu vự II (Quatest 2) khi được Sở TN-MT T.P Đà Nẵng trưng cầu Giám định đã đưa ra 2 văn bản kết luận trái ngược nhau trong cùng ngày 21/7/2008 mà như ông Giám đốc trung tâm thanh minh là do lỗi đánh máy(?). 

Nếu theo kết quả giám định ở văn bản sau do Trung tâm này đưa ra thì lô hàng trên đủ điều kiện cho thông quan, nhập khẩu. Việc này đã gây cho các cơ quan chức năng Đà Nẵng không đủ cơ sở tin cậy để xử lý nên phải trưng cầu giám định ở một đơn vị khác. 

 

Toàn bộ 18 container sắt thép phế liệu nhập khẩu chứa "rác bẩn" của Công ty Thành Lợi đều bị buộc phải tái xuất (Ảnh: VNN)

Đáng nói nữa là đơn vị thứ 2 và thứ 3 là Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng khu vưc I và III đã từ chối giám định lô hàng này, buộc nhà chức trách Đà Nẵng phải trưng cầu đơn vị thứ 4 là Vinacontrol Đã Nẵng giám định và kết cục như ta biết toàn bộ lô hàng trên là “rác bẩn” nếu cho nhập là vi phạm luật pháp Việt Nam.

Vấn đề là tại sao cùng mẫu vật phẩm vẫn đang trong các Container lưu tại cảng mà Quatest 2 trong một ngày cho ra 2 văn bản kết luận mà văn bản sau cho số liệu phủ nhận kết quả giám định của văn bản trước mà theo đó là lô hàng đủ điều kiện nhập khẩu ? 

Đây chính là điều công luận bức xúc vì Quatest 2 là một cơ quan chức năng khoa học về Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng, việc hoàn thành chức năng nhiệm vụ một cách khách quan, trung thực chính là phục vụ cho công tác quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường và cũng chính là bảo vệ pháp luật, mỗi kết luận giám định đều mang nặng tính pháp lý cao. 

"Khuất tất có nghĩa là quỳ gối..."

Viêc làm của Quatest 2 đã được ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở TN-MT TP Đà Nẵng khẳng định tại cuộc họp báo trưa 9/8 cho là có nhiều khuất tất và chính vì vậy mà dẫn tới sự việc phức tạp và kéo dài gây tốn kém không chỉ chi phí mà còn thời gian, công sức và các vấn đề liên quan khác đối với các ngành chức năng…

 

Sở TN-MT Đà Nẵng và GĐ Nguyễn Điểu

Ông Nguyễn Điểu còn thẳng thắn nói: “Sẽ tham mưu cho UBND T.P Đà Nẵng có văn bản đề nghị cơ quan chủ quản của Quatest 2 xem xét xử lý trách nhiệm của đơn vị này chứ không để như thế được!”.

Thái độ kiên quyết của ông Nguyễn Điểu đối với vụ việc này rất đáng được hoan nghênh. 

Viêc ông Nguyễn Điểu đánh giá việc làm thiếu khoa học, thiếu trách nhiệm đến khó hiểu của Quatest 2 là “khuất tất”, và để rõ sâu thêm ngữ nghĩa của từ “khuất tất” vì đây là một từ gốc Hán, tôi đã tra các Từ điển Hán Việt và Tiếng Việt.

Theo đó, “khuất tất” được chẻ ra để hiểu là “khuất” có nghĩa là “quỳ”, “cúi” , “luồn cúi”; còn “ tất” có nghĩa là “gối” (gối chân). Hiểu nghĩa thông dụng thuần Việt thì “khuất tất” có nghĩa là “quỳ gối”, “khuỵu gối” , “lom khom”. Vận vào trường hợp trên có thể nói cơ quan giám định Quatest 2 đã “quỳ gối trước sự thật”. 

Cái sự thật ấy là lô rác trên là “rác bẩn” chứ không phải đủ điều kiện nhập khẩu theo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường luật mà nước ta quy định. Vậy với cái tâm, trách nhiệm, lòng tự trọng, năng lực của Quatest 2 như vậy thì các vị có trách nhiệm chính ở đây có đáng được tin tưởng giao nhiệm vụ nữa không? 

Theo tôi khó có thể tiếp tục tin tưởng giao nhiệm vụ cho họ được. Vì với một vị bác sĩ do sức ép, động cơ tiêu cực nào đó bắt, kê bệnh sai cho bệnh nhân sẽ cực kỳ nguy hiểm, hoặc một chuyên gia pháp y do sức ép nào đó kết luận sai lệch kết giám định tử thi thì cũng thật nguy hại cho việc phá án, làm rõ đúng sai, bảo vệ công lý…

Rất may, điều băn khoăn của tôi đã được giải toả cũng là điều tôi thực sự tâm đắc và rất có ấn tượng đó là lời nói rất thẳng thắn của ông Giám đốc Sở Tài nguyên –Môi trường TP Đà Nẵng Nguyễn Điểu về tương lai của Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 2 là:

“Tôi chắc là trong tương lai chẳng còn ai dám đến với Quatest 2 nữa. Chẳng còn doanh nghiệp nào dám đưa cho họ giám định, mà có đưa cho họ giám định thì cơ quan chức năng như chúng tôi cũng chẳng dám tin. Như vậy là họ đã hết đất sống, đã tự đào hố chôn mình rồi !”.

Nhưng tôi thì nghĩ Quatest 2 là cơ quan chức năng chuyên ngành tiêu chuẩn đo lường chất lượng của nhà nước thuộc ngành Tài nguyên – Môi trường, trên họ có cơ quan chủ quản, họ ăn lương của dân đâu có thể muốn làm sao cũng được?

Rất mong việc này phải được làm rõ nếu tới mức hình sự cũng không nên ngần ngại vì khi thực thi nhiệm vụ họ đã “quỳ gối” trước sự thật một cách đáng chê trách. 

Trong cuộc sống cũng không ít trường hợp “quỳ gối” trước sự thật như vậy.

  • Bạn đọc Trịnh Thanh Phi

 

 

TỔ CHỨC CARE QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

Chương trình tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội
trong xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên giai đoạn II

CHƯƠNG TRÌNH TÀI TRỢ NHỎ (SGS) 2007 – 2009 ­­­­­

____________________

THÔNG BÁO

về Chương trình tài trợ nhỏ (SGS)

 

1.      Giới thiệu

Trong những năm gần đây xã hội dân sự đã có nhiều thay đổi tích cực. Rất nhiều tổ chức, trong đó có Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam đã và đang tiến hành các hoạt động góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội dân sự, thông qua các hoạt động hỗ trợ cải thiện môi trường pháp lý cho sự phát triển của xã hội dân sự nói chung và nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự nói riêng. Ví dụ, sau một thời gian dài lấy ý kiến đóng góp từ rất nhiều các bên liên quan khác nhau, đến nay Luật về Hội đã được trình lên Quốc hội để thông qua. Bên cạnh đó, Nghị định về tổ hợp tác cũng đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì phối hợp với các ban ngành liên quan để soạn thảo, lấy ý kiến đóng góp và đệ trình lên Thủ tướng chính phủ phê duyệt. Điều đó cho thấy chính phủ  đã quan tâm nhiều hơn đối với sự phát triển của xã hội dân sự.

Chương trình CASI đã có nhiều kinh nghiệm làm việc với nhiều loại hình tổ chức xã hội dân sự như:  các Tổ chức quần chúng, các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGO), các Hội nghề nghiệp và các Tổ chức dựa vào cộng đồng (CBOs). Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ Việt Nam và các Tổ chức dựa vào cộng đồng hiện đang ở giai đoạn đầu của tiến trình phát triển. Thực tiễn đang đặt ra đòi hỏi  cần nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự  nhằm giúp các tổ chức này có thể cung cấp các dịch vụ tốt hơn cũng như có thể đại diện cho tiếng nói, nhu cầu và mối quan tâm của người dân ở cấp cơ sở.  Một trong những phương pháp nâng cao năng lực hiệu quả nhất chính là thông qua các hoạt động tại hiện trường. Nhiều Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và các Tổ chức dựa vào cộng đồng đã thừa nhận rằng họ đang phải “vật lộn” để tìm kiếm các dự án và nguồn tài trợ, nhằm đảm bảo cho sự sống còn và nâng cao năng lực cho tổ chức.        

Mục tiêu dài hạn của Chương trình CASI là cải thiện một cách bền vững đời sống của những người còn chịu thiệt thòi và sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên trong các vùng nông thôn mà họ không được tiếp cận với các nguồn lực phát triển một cách đầy đủ và ít có ảnh hưởng lên các quyết định có tác động đến cuộc sống của họ.  Để đạt được tiêu này, Chương trình CASI hướng tới  03 mục tiêu ngắn hạn đó là:

                     i.            Các Tổ chức quần chúng, các VNGO và các Tổ chức cộng đồng cung cấp các dịch vụ phù hợp cho người nghèo sống phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên ở các vùng nông thôn và qua đó giúp họ cải thiện đời sống

                   ii.            Các Tổ chức quần chúng, các VNGO và các Tổ chức tại cộng đồng hỗ trợ những người nghèo sống phụ thuộc  thuộc vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở các vùng nông thôn tham gia vào quá trình ra các quyết định có tác động đến cuộc sống của họ

                  iii.            Đẩy mạnh sự tham gia của các Tổ chức quần chúng, các VNGO và các Tổ chức tại cộng đồng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững dựa trên nhu cầu và sự tham gia của cộng đồng

Chương trình CASI tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự nhằm khuyến khích họ tham gia và có tiếng nói trong quá trình phát triển nhằm tạo ra những tác động mang tính dài hạn và bền vững. Chương trình CASI mong muốn tạo ra những tác động đến nhiều nhóm người dân một cách gián tiếp thông qua việc nhân rộng, vận động và phản hồi chính sách.

Nhiều Tổ chức phi chính phủ Việt Nam đã và đang tham gia vào Chương trình CASI với tư cách là đối tác (trong các dự án VUSTA, VNCB, CEFM) hoặc các nhà cung cấp dịch vụ hay những chuyên gia kỹ thuật về phương pháp phát triển. Đồng thời các VNGOs cũng là nhóm đối tượng trong các hoạt động xây dựng năng lực của hợp phần VUSTA và VNCB trong giai đoạn 2004 – 2006 và ENBALE trong giai đoạn 2007 – 2009.

Chương trình CASI hiện có một Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) hỗ trợ các sáng kiến của các tổ chức xã hội dân sự đóng góp trực tiếp cho mục tiêu dài hạn của Chương trình CASI.  Mục tiêu của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) là kết nối các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam, các Tổ chức quần chúng, các Tổ chức dựa và cộng đồng và các Cơ quan đối tác địa phương cùng nhau làm việc để đạt được tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn của Chương trình CASI. Chương trình tài trợ nhỏ
hỗ trợ kinh phí cho các sáng kiến của các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam, các Tổ chức quần chúng, các Tổ chức dựa vào cộng đồng và các Cơ quan đối tác địa phương trong các vùng dự án của Chương trình CASI bao gồm : Hà Nội. Hoà Bình, Bắc Kạn, Thanh Hoá, Thái Nguyên và Yên Bái. Chương trình tài trợ nhỏ sẽ hướng ưu tiên tới những hoạt động phù hợp với mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn của Chương trình CASI.     

2.      Mục tiêu của chương trình tài trợ nhỏ (SGS)

Mục tiêu chung của Chương trình tài trợ nhỏ là nhằm hỗ trợ các tổ chức xã hội dân sự  tham gia cải thiện bền vững điều kiện sống và tăng cường sự tham gia của những người còn chịu thiệt thòi và sống phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên ở những vùng nông thôn mà họ không được tiếp cận với các nguồn lực phát triển một cách đầy đủ và ít có ảnh hưởng lên các quyết định có tác động đến cuộc sống của họ.

Mục tiêu cụ thể của chương trình tài trợ nhỏ là:  

1)      Nâng cao năng lực cho các Tổ chức dựa vào cộng đồng, các Tổ chức quần chúng; các Tổ chức phi chính phủ Việt Nam và Cơ quan đối tác địa phương tại các địa bàn hoạt động của Chương trình CASI  để họ có thể tham gia và có tiếng nói trong quá trình phát triển và hoạch định chính sách.

2)      Khuyến khích các tổ chức xã hội dân sự tăng cường sự tham gia của người nghèo trong quá trình ra quyết định.

3)      Tạo cơ hội chia sẻ và học hỏi giữa các tổ chức xã hội dân sự.

4)      Tằng cường quan hệ đối tác và làm việc theo nhóm giữa các tổ chức xã hội dân sự ở các cấp độ khác nhau, cũng như tăng cường sự liên kết giữa các tổ chức ở cấp địa phương, với cấp tỉnh và cấp trung ương.

5)      Cải thiện sự tiếp cận và tham gia của các VNGO vào các hoạt động phát triển có sử dụng phương pháp tiếp cận dựa trên quyền.  

6)      Tạo cơ hội cho các tổ chức xã hội dân dự phát huy các sáng kiến của họ nhằm đóng góp cho mục tiêu dài hạn và mục tiêu ngắn hạn của Chương trình CASI.

Các sáng kiến đề xuất gửi tới Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) có thể đóng góp cho một hoặc nhiều mục tiêu trên đây.   


 

3.    Các lĩnh vực ưu tiên

Ngân sách của Chương trình tài trợ này được sử dụng để hỗ trợ các sáng kiến của các tổ chức xã hội dân sự nhằm đạt được mục đích và mục tiêu cụ thể của Chương trình CASI. Các sáng kiến đề xuất có thể liên quan đến một hoặc nhiều lĩnh vực sau đây:     

1.      Khuyến khích sự tham gia và tiếng nói của xã hội dân sự:  ưu tiên cho các ý tưởng  hướng vào nâng cao nhận thức về vai trò của xã hội dân sự trong phát triển, xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên và xây dựng năng lực cho các tổ chức CBOs/VNGOs cũng như hoàn thiện môi trường pháp lý cho xã hội dân sự tại Việt Nam và thúc đẩy sự phát triển đa dạng của các loại hình tổ chức dựa vào cộng đồng và sự tham gia của họ trong xoá đói giảm nghèo ở cấp cơ sở.

2.      Phản hồi/đối thoại/vận động chính sách: ưu tiên cho các ý tưởng  hướng vào nỗ lực của các tổ chức xã hội dân sự trong vận động, phản hồi chính sách liên quan đến sự phát triển của xã hội dân sự và cung cấp các dịch vụ hiệu quả đến người nghèo ở các cấp độ khác nhau, cũng như đánh giá tác động của các chính sách hiện hành đối với sự phát triển của xã hội dân sự và tăng cường mạng lưới hoạt động về phản hồi và vận động chính sách giữa các bên liên quan khác nhau.

3.       Các phương pháp tiếp cận có sự tham gia và tiếp cận dựa trên quyền trong các dự án phát triển:  ưu tiên cho các ý tưởng  hướng vào thúc đẩy việc học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm trong các tổ chức VNGOs; CBOs và các tổ chức quần chúng và các bên liên quan khác về cách tiếp cận dựa trên quyền; lý thuyết và thực hành liên quan đến sự tham gia của người dân; lý thuyết và thực hành liên quan đến Quy chế dân chủ ở cơ sở và tạo quyền cho cộng đồng ở các cấp độ khác nhau. Cải thiện và thúc đẩy việc học hỏi và chia sẻ kinh nghiệm/hiểu biết giữa các tổ chức phi chính phủ, tổ chức dựa vào cộng đồng và các tổ chức quần chúng và các bên liên quan khác trong lĩnh vực quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững và xoá đói giảm nghèo.


 

 

4.    Các loại hình đề xuất dự án

 

Trong năm 2008 – 2009, Chương trình tài trợ nhỏ hướng ưu tiên tới các loại hình đề xuất sau đây:

  • Nghiên cứu can thiệp: Các đề xuất nghiên cứu can thiệp của một hoặc một nhóm các tổ chức xã hội dân sự về một trong ba lĩnh vực ưu tiên, hướng đến các giải pháp can thiệp hiệu quả. 
  • Hội thảo: Các đề xuất liên quan đến hội thảo chia sẻ kinh nghiệm và thông tin, các bài học kinh nghiệm thuộc một trong 3 lĩnh vực ưu tiên trên đây giữa các thành viên của các tổ chức xã hội dân sự .
  • Tập huấn: Các đề xuất liên quan đến tập huấn thuộc một trong 3 lĩnh vực ưu tiên trên đây giữa các thành viên của các tổ chức xã hội dân sự .
  • Tài liệu hoá các bài học kinh nghiệm hoặc phương pháp phát triển: các đề xuất về tài liệu hoá các bài học kinh nghiệm hoặc phương pháp phát triển phù hợp ở vùng nông thôn và dân tộc thiểu số. 
  • Đối thoại/phản hổi/vận động chính sách: các đề xuất tổ chức sự kiện như đối thoại/phản hồi chính sách giữa người dân và các nhà hoạch định chính sách về xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên cũng như  vận động hành lang pháp lý cho các tổ chức xã hội dân sự.
  • Đánh giá tác động của Chương trình CASI: các đề xuất đánh giá tác động của Chương trình CASI ở các cấp độ khác nhau. 

5.      Điều kiện của chương trình tài trợ nhỏ.

 

Chương trình tài trợ nhỏ hỗ trợ các loại hình đề xuất dự án với nhiều mức kinh phí và thời gian khác nhau liên quan đến những lĩnh vực ưu tiên trên đây.  

1.       Ngân sách hỗ trợ tối đa cho một đề xuất dự án là US$5,000.   

2.       Thời gian thực hiện một đề xuất dự án tối đa là 12 tháng.

3.       Đề xuất dự án phải liên quan đến mục tiêu và lĩnh vực ưu tiên của Chương trình SGS.

4.       Kinh phí đề xuất phải tương ứng với kế hoạch hoạt động.

5.       Khoản kinh phí KHÔNG hỗ trợ: Chương trình tài trợ nhỏ SGS sẽ KHÔNG hỗ trợ ngân sách cho việc mua sắm trang thiết bị hoặc xây dựng cơ sở hạ tầng. Những khoản mục này nếu có được xem như là phần đóng góp của tổ chức cho việc thực hiện dự án đề xuất hoặc tổ chức có thể xin hỗ trợ từ các nguồn tài trợ khác.

6.       Chương trình tài trợ nhỏ có thể hỗ trợ mở rộng phạm vi của những dự án đang triển khai nếu thuộc những lĩnh vực liên quan tới chương trình CASI. Trong tương lai, Chương trình CASI cũng có thể hỗ trợ tổ chức đã được SGS tài trợ tìm kiếm thêm các nguồn kinh phí  từ các nhà tài trợ khác.

7.       Đề xuất dự án có thể viết bằng tiếng Việt hoặc tiếng Anh.

8.       Đề xuất dự án phải viết theo mẫu gửi kèm trong thông báo này.  

6.      Những đối tượng có thể nộp đề xuất dự án cho  SGS?

Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) chỉ dành cho các tổ chức sau đây:  

1.       Các tổ chức phi chính phủ Việt Nam (VNGOs);

2.       Các tổ chức/cơ quan đối tác địa phương của chương trình CASI   

 

7.      Quy trình lựa chọn  

Tất cả các đề xuất dự án nộp cho Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) sẽ được xem xét và tuyển chọn bởi Ban tuyển chọn dựa theo tiêu chí của Chương trình tài trợ nhỏ. Kết quả lựa chọn (thành công hay không thành công) sẽ được thông báo bằng thư tới tất cả các tổ chức đã nộp đơn.  

Nếu đề xuất dự án được chọn, Ban tuyển chọn sẽ mời đại diện của tổ chức có đề xuất dự án được chọn đến để thảo luận và góp ý thêm để hoàn thiện đề xuất dự án. Sau đó, các tổ chức này hoàn thiện bản đề xuất dự án lần cuối dựa trên những ý kiến góp ý của các thành viên trong  Ban tuyển chọn và nộp lại bản đề xuất hoàn thiện cho Ban tuyển chọn của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS).   

Sau khi nhận được bản đề xuất hoàn thiện, Ban tuyển chọn của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) sẽ ký thoả thuận hỗ trợ với đại diện tổ chức có đề xuất được chọn và tổ chức đó chịu trách nhiệm tổ chức triển khai dự án với sự hỗ trợ của Tổ chức CARE quốc tế tại Việt Nam và cán bộ có liên quan của Chương trình CASI. 

8.      Mẫu đề xuất dự án  

 

Mẫu đề xuất dự án của chương trình SGS được gửi kèm theo thông báo này cả bằng tiếng Việt và tiếng Anh. Xin vui lòng xem trong file đính kèm để hoàn thiện đề xuất dự án theo mẫu quy định. 

9.       Hạn nộp đề xuất dự án

 

Tất cả các tổ chức xã hội dân sự thuộc đối tượng ở trên có thể nộp đề xuất dự án tới Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) chậm nhất vào ngày 29 tháng 8 năm 2008.  

Kết quả thành công hay không thành công sẽ được thông báo tới tất cả các tổ chức nộp đề xuất dự án chậm nhất là 30 ngày kể từ ngày hết hạn nộp đề xuất dự án.  

10.  Người liên hệ

 

Các đề xuất dự án nộp tới SGS có thể gửi qua fax, email, hoặc đường bưu điện tới địa chỉ dưới đây:  

Mr.  Lê Văn Sơn

CARE International in Vietnam

66 Xuân Diệu – Tây Hồ – Hà Nội  

ĐT: 04 - 716 1930  Fax  04 -7161935      Email : lvson@care.org.vn

(Xin hãy ghi «ĐỀ XUẤT DỰ ÁN GỬI CHƯƠNG TRÌNH SGS » bên góc trái của phong bì nếu tổ chức của bạn gửi qua đường bưu điện).

Text Box: Dành cho hành chính
Đề xuất số: ________
Ngày nhận: ____________

 

 

 


 

TỔ CHỨC CARE QUỐC TẾ TẠI VIỆT NAM

Chương trình tăng cường sự tham gia của các tổ chức xã hội
trong xoá đói giảm nghèo và quản lý tài nguyên thiên nhiên (CASI)  

Tầng 4, Số 66 Xuân Diệu, Tây Hồ, Hà Nội

ĐT.: 04 7161930  Fax: 04 7161935

­

CHƯƠNG TRÌNH TÀI TRỢ NHỎ 2007 – 2009

 

ĐỀ XUẤT DỰ ÁN

 

1.      TÓM TẮT  

1.  Cơ quan/Tổ chức nộp đề xuất

Tên đầy đủ của tổ chức

 

Địa chỉ  

 

Điện thoại/Fax

 

E-mail

 

Website (nếu có)

 

Người liên hệ

 

Địa chỉ email của người liên lạc

 

Ngày gửi

 

2. Tên đơn vị/cơ quan chủ quản (đăng ký hoạt động của tổ chức)

 

3. Tên cơ quan/tổ chức đối tác (trong đề xuất dự án này - Nếu có)

 

4. Tên dự án đề xuất dự án/hoạt động

 

4.  Địa điểm triển khai

 

5.  Thời gian thực hiện

 

6.  Tổng ngân sách

 

7.  Ngân sách yêu cầu từ SGS

 

8. Ngân sách từ nguồn khác

  

Chữ ký của giám đốc và đóng dấu (nếu có)

 

 

 

 

 

2.      THÔNG TIN VỀ DỰ ÁN/HOẠT ĐỘNG

(Tổng số tối đa là 5 trang).

 

2.1. Tên Dự án/Hoạt động đề xuất:

 

 

 

2.1. Tóm tắt Dự án/Hoạt động đề xuất:

 

 

 

2.3. Mô tả mục tiêu của Dự án/Hoạt động đề xuất:

 

 

2.4. Giải thích Dự án/Hoạt động đề xuất có liên quan như thế nào đối với chương trình CASI và các mục tiêu cũng như lĩnh vực ưu tiên của Chương trình tài trợ nhỏ (SGS)  

 

2.5. Mô tả phương pháp sử dụng để đạt mục đích và mục tiêu của Dự án/Hoạt động đề xuất.

 

 

2.6. Mô tả các kết quả đạt được/đầu ra chính của Dự án/hoạt động đề xuất:

 

2.7. Giải thích tính bền vững của Dự án/Hoạt động đề xuất:

 

 

 

2.8. Kế hoạch hoạt động của Dự án/hoạt động đề xuất:

(Đính kèm phụ lục kế hoạch và kinh phí )

 

 

 

2.9. Mô tả kế hoạch giám sát và đánh giá Dự án/Hoạt động đề xuất:

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

3.       THOẢ THUẬN TÀI CHÍNH

 

3.1. Tổng ngân sách yêu cầu từ Chương trình tài trợ nhỏ (SGS) và chi tiết các khoản chi phí cần thiết để thực hiện Dự án/hoạt động (Xin đính kèm phần mô tả các hoạt động và dòng ngân sách tương ứng; Tham khảo phần các chi phí cho phép của chương trình SGS).

 

 

 

3.2. Hiện tại, Tổ chức của bạn ĐÃ nhận được kinh phí hỗ trợ  từ các nhà tài trợ khác cho Dự án/hoạt động này chưa? Nếu có, tổ chức bạn đã xin tài trợ bao nhiêu tiền và từ nhà tài trợ nào? 

 

 

 

 

3.3. Tổ chức của bạn  có KẾ HOẠCH xin kinh phí hỗ trợ từ các nhà tài trợ khác cho Dự án/hoạt động này không? Nếu có, tổ chức bạn định xin tài trợ bao nhiêu và từ nhà tài trợ nào? 

 

 

 

 

3.4. Nếu tổ chức của bạn đã nhận được tài trợ từ chương trình CASI hoặc Chương trình tài trợ nhỏ (SGS), xin hãy ghi rõ thời điểm, tổng ngân sách và mô tả ngắn gọn dự án/hoạt động đã được tài trợ.

 

 

 

3.5.  Xin hãy đính kèm bản photo Quyết định/giấy phép hoạt động hoặc tờ rơi/thông tin giới thiệu về tổ chức (nếu có).

_____________________________________________________________________

(Xin lưu ý, chúng tôi sẽ thông báo tình trạng của đề xuất dự án (thành công hay không thành công) bằng thư tới tổ chức của bạn chậm nhất là sau 30  ngày kể từ ngày hết hạn nộp đề xuất. Chính vì thế, bạn không cần thiết phải gọi cho chúng tôi để hỏi về tình trạng của đề xuất dự án đã nộp).

 

 

Phụ lục 1:  Mẫu kế hoạch hoạt động và kinh phí  

 

Các hoạt động/công việc chính

Thời gian

Kinh phí