




 |
MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
Xử
lý lô thép phế liệu bẩn: Đã xảy ra tiền lệ xấu
Chưa
thể sản xuất đại trà túi nylon tự hủy tại Việt Nam
Chung quanh việc xử lý vụ 18 container sắt
thép phế liệu nhập khẩu: Đà Nẵng: "Phớt lờ" mọi đề xuất của ngành
TNMT
Việt Nam: Ô nhiễm làm cạn nguồn lợi
thủy sản tại những vùng đất ngập nước
"Xẻ thịt" rừng
Golf – Lợi ít, hại nhiều sao vẫn duyệt? (Kỳ 2)
Golf – Lợi ít, hại nhiều sao vẫn duyệt? (Kỳ 1)
Hạn chế sử dụng túi nylon: Muộn còn
hơn không!
Đề
xuất tăng mạnh thuế tài nguyên khoáng sản
Tiếng nói của sự đói nghèo
Chương
trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH: Thành lập
Ban Chỉ đạo quốc gia do Thủ tướng làm trưởng ban
Phát hiện thêm 3 loài cây rừng ngập mặn VN
Tập
đoàn dầu khí Macron: Đưa công nghệ DCR vào giúp Việt
Nam xử lý sự cố tràn dầu và ô nhiễm môi trường
Bụi đô thị
Tổng cục Môi trường
(Bộ TN-MT): Phải
tái xuất 434 tấn rác bẩn tại Đà Nẵng
Xử
lý lô thép phế liệu bẩn: Đã xảy ra tiền lệ
xấu
(Lao
Động, 04/09/2008)
|
(LĐ)
- Về vụ Cty CP thép Thành Lợi Đà Nẵng nhập
18 container chứa 434 tấn phế liệu bẩn và cách
xử lý "tiền hậu bất nhất" của cơ
quan khoa học, sai quy định chính quyền Đà
Nẵng, Bộ TNMT tiếp tục có chỉ đạo mới.
Ngày 1.9, Thứ
trưởng Bộ TNMT, ông Trần Hồng Hà ký công văn
(số 3353/ BTNMT-TCMT, V/v xử lý nhập khẩu phế
liệu sai quy định) gửi UBND TP.Đà Nẵng "chất
vấn" việc chính quyền không trả lời văn
bản (số 3056/BTNMT-BVMT ký ngày 4.8) chỉ đạo
của Bộ TNMT trong việc "đề nghị UBND TP.Đà
Nẵng phối hợp với các ngành chức năng tiến
hành xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả, buộc tái xuất lô hàng
434 tấn phế liệu của Cty Thành Lợi".
Thứ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh: "Để
không tạo tiền lệ xấu cho việc lợi dụng
nhập khẩu phế liệu để đưa chất thải vào
Việt Nam, Bộ TNMT một lần nữa đề nghị UBND
TP.Đà Nẵng chỉ đạo các sở, ban ngành có
chức năng xử lý nghiêm vụ việc nêu trên. Trường
hợp doanh nghiệp không thể tái xuất được,
buộc phải quyết định huỷ lô hàng, thì đề
nghị UBND TP.Đà Nẵng phải thực hiện đúng
quy định tại Điều 171 và Điều 252 của Bộ
luật Dân sự - (tức tịch thu toàn bộ lô hàng
trước khi tiêu huỷ-PV), đồng thời chọn cơ
sở đủ năng lực về công nghệ và thiết bị
xử lý môi trường để tiêu huỷ, giám sát
chặt chẽ... Đề nghị UBND TP.Đà Nẵng báo cáo
kịp thời tiến trình xử lý lô hàng cho Bộ
TNMT".
Trong thực tế chính quyền Đà Nẵng đã bất
chấp ý kiến tham mưu của Sở TNMT, chỉ đạo
của Bộ TNMT cũng như những quy định của pháp
luật để vội vàng cho doanh nghiệp này... tự
phân loại hàng và chỉ tiêu huỷ rác bẩn,
chất độc hại lẫn trong lô hàng. UBND TP.Đà
Nẵng cũng chưa thành lập hội đồng thiêu huỷ
lô hàng, không ra quyết định tịch thu lô hàng
như luật định.
Đáng nói là với cách xử lý tạo điều kiện
quá thuận lợi cho doanh nghiệp, khiến cho Cty Thành
Lợi tiếp tục có dấu hiệu vi phạm Luật Bảo
vệ môi trường. Hiện nay, Cty Thành Lợi đã có
văn bản gửi UBND TP.Đà Nẵng, xin được thực
hiện việc thiêu huỷ lô hàng gần 400 tấn (vận
đơn số 111347287, tờ khai HQ 135/NK/KD/KV2) mà
doanh nghiệp này mới nhập tiếp về cảng Tiên
Sa (sau lô hàng vi phạm, bị xử lý). Trước
mắt, hải quan chưa cho thông quan lô hàng này, đề
nghị cơ quan chức năng tham gia kiểm hoá, quyết
định.
Như vậy, cách "xử lý" của chính
quyền Đà Nẵng không những không răn đe doanh
nghiệp vi phạm mà còn tạo điều kiện tốt hơn
cho doanh nghiệp trong các khâu cần chặt chẽ như
thông quan, nhập khẩu... tạo nên "tiền lệ
xấu" theo cách gọi của Bộ TNMT.
Thanh
Hải
|
Chung quanh việc xử
lý vụ 18 container sắt thép phế liệu nhập khẩu:
Đà
Nẵng: "Phớt lờ" mọi đề xuất của ngành TNMT
(Tienphongonline,
31/8/2008)
Cuối cùng
việc 18 container sắt thép phế liệu nhập khẩu
của Công ty Thành Lợi cũng đã đến hồi kết, khi
Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng ký văn bản chỉ
đạo các cơ quan chức năng liên quan tiến hành xử
lý lô hàng trên.
 |
|
Rác thải
độc hại được chứ trong 18
container. Ảnh : Tuổi trẻ |
Theo đó,
lãnh đạo thành phố yêu cầu Công ty Thành Lợi
phải có trách nhiệm chuyển toàn bộ lô hàng này
đến Cty Thép Đà Nẵng -Ý để tiến hành phân loại
tạp chất cần tiêu hủy.
Công ty
Môi trường đô thị Đà Nẵng thực hiện việc tiêu
hủy toàn bộ các tạp chất đã được phân loại; Sở
Tài nguyên- Môi trường phối hợp với các đơn vị
liên quan giám sát việc phân loại, tiêu hủy lô
hàng.
Theo ông
Nguyễn Văn Cán, Chánh Văn phòng - người phát
ngôn chính thức của UBND thành phố Đà Nẵng cho
biết:
Theo kết
quả phân tích của Vinacontrol, lượng chất thải
nguy hại lẫn trong tạp chất của lô hàng trên
không vượt quá giới hạn nguy hại cho môi trường.
Cụ thể là
đã xác định rõ lô hàng sắt thép phế liệu nhập
khẩu khối lượng 434,10 tấn, lượng tạp chất chiếm
5% khối lượng lô hàng nhưng lượng chất thải nguy
hại chứa trong tạp chất ấy không vượt quá ngưỡng
cho phép gây ô nhiễm môi trường.
Trong khi
đó, khối lượng sắt thép phế liệu chiếm 95% có
thể được sử dụng trong các nhà máy luyện thép để
tạo ra sản phẩm là phôi thép có giá trị sử dụng.
Tưởng
chừng việc UBND thành phố Đà Nẵng giao 434 tấn
phế liệu bẩn cho Công ty cổ phần thép Đà Nẵng-Ý
(Khu công nghiệp Hoà Khánh) tiến hành phân loại
tạp chất là quyết định khách quan!
Nhưng
trên thực tế hoàn toàn không phải như vậy, bởi
qua hồ sơ đăng ký kinh doanh của Công ty cổ phần
Thành Lợi và Công ty thép Đà Nẵng- Ý tại Sở Kế
hoạch- Đầu tư đều được cấp cùng ngày 27/4/2005.
Ông chủ Huỳnh Văn Tân vừa là Chủ tịch HĐQT Công
ty Đà Nẵng-Ý, đồng thời là Tổng Gíam đốc Cty
Thành Lợi, là thành viên sáng lập, cổ đông lớn
nhất của cả 2 Công ty này. Như vậy, chẳng khác
nào đốt rác hộ doanh nghiệp!
Với quyết
định trên, thành phố Đà Nẵng coi như "phớt lờ"
mọi đề nghị của ngành tài nguyên môi trường. Bởi
trước đó ngày 14/8, (trước 4 ngày thành phố họp
để quyết định cho thiêu huỷ lô hàng), Thứ trưởng
Bộ Tài nguyên- Môi trường Trần Hồng Hà đã ký văn
bản 3056/BTNMT-BVMT gửi UBND thành phố Đà Nẵng
nêu rõ quan điểm của lãnh đạo Bộ về xử lý việc
nhập khẩu phế liệu sắt thép sai quy định.
Căn cứ
báo cáo của Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) sau
cuộc họp với các ngành hữu quan về kết quả giám
định lô hàng do Vinacontrol Đà Nẵng thực hiện,
tại văn bản kể trên, lãnh đạo Bộ TN-MT đã đề
nghị UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo cơ quan Hải
quan phối hợp với các ngành liên quan “tiến hành
xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp
khắc phục hậu quả buộc tái xuất lô hàng trên
theo đúng quy định của pháp luật”.
Ngày 22/8
(sau khi thành phố có quyết định buộc thiêu hủy
toàn bộ lô hàng 18 container sắt, thép phế liệu
nhập khẩu của Công ty cổ phần Thép Thành Lợi
ngày 18/8), ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở Tài
nguyên- Môi trường thành phố đã có Văn bản số
384/BC-S TNMT gửi UBND thành phố đề nghị cần
thiết phải ban hành quyết định tịch thu lô hàng
trước khi thiêu hủy. Theo Sở Tài nguyên- Môi
trường nếu theo Điều 171, 252 Bộ luật Dân sự,
tài sản bị thiêu hủy thì quyền sở hữu đối với
tài sản ấy bị chấm dứt.
Như vậy,
để thực hiện việc thiêu hủy lô hàng đúng pháp
luật, nhất thiết phải có quyết định thu hồi. Mặt
khác, lô hàng 18 container sắt, thép phế liệu
trên chỉ có hơn 0,5% là tạp chất, chất thải độc
hại, sau khi thiêu hủy sẽ cho ra sản phẩm thép,
có giá trị sử dụng.
Vì vậy,
thành phố cần phải ra quyết định xử lý với tài
sản phát sinh về sau. Điều đáng tiếc ở đây chính
là việc cơ quan chức năng chỉ tiêu huỷ tạp chất
5% khối lượng lô hàng, số thép còn lại trên 410
tấn, có giá trị sử dụng, sẽ giao lại cho doanh
nghiệp!
Xử như
vậy thì khác nào giúp doanh nghiệp miễn thông
quan và trốn thuế nhập khẩu, và Đà Nẵng đốt rác
dùm doanh nghiệp!.
Theo Văn Sơn
TTXVN
|
|
|
Chưa thể sản xuất đại
trà túi nylon tự hủy tại Việt Nam
(MONRE
NET, 30/08/2008) |
|
| ">
Về sản phẩm túi nylon được một số nhà sản xuất công bố là có
khả năng tự hủy sau 3 tháng (nhưng không… hủy, trên thực tế),
một số nhà khoa học cho rằng: sản xuất túi nylon thân thiện
với môi trường, đưa vào sử dụng đại trà ở Việt Nam là giấc
mơ... xa vời.
Giải thích về việc các sản phẩm túi nylon nói trên không tự
hủy dù đã được chôn xuống đất (môi trường thích hợp cho việc
phân hủy), TS. Phan Thế Đồng - Giảng viên bộ môn Hóa thực
phẩm (Khoa Công nghệ thực phẩm, Đại học Nông Lâm TP.HCM) cho
biết: trong quá trình sản xuất các loại bao bì này, người
ta trộn quá ít tinh bột bắp (nguyên liệu) để bao bì dai và
chắc. Trong khi nếu trộn nhiều bột, quá trình phân hủy có
thể diễn ra nhanh (nhưng lại khiến tính cơ học sẽ kém đi;
bao bì dễ thấm nước).
Cùng quan điểm với TS. Phan Thế Đồng, nhiều nhà khoa học
nhận định rằng, sử dụng túi nylon tự hủy là hướng giải quyết
tốt nhưng rất khó thực hiện bởi giá thành sản xuất cao, độ
bền sản phẩm lại thấp, khiến túi dễ bị rách, thấm nước,
không phù hợp với mục đích sử dụng “đa năng” của người dân.
TS. Đồng, với 4 năm (2000-2004) nghiên cứu và xác định tính
chất của các bao bì được làm từ tinh bột sắn và rau câu tại
Pháp cho biết: ở nước ngoài, công nghệ sản xuất các loại bao
bì thân thiện với môi trường không còn mới. Tuy nhiên, do
giá thành sản xuất các loại bao bì đó tương đối đắt nên chưa
thể sản xuất đại trà.
Để sản xuất ra loại bao bì nói trên, người ta dùng bột khoai
tây để tăng khả năng tự hủy của bao bì. Bột khoai tây sẽ làm
cho cấu trúc mạch polimer của nylon rỗ ra. Càng cho nhiều
bột khoai tây, tốc độ phân hủy của nylon càng nhanh, tuy
nhiên khi trộn bột khoai tây vào nylon sẽ dẫn đến tình trạng
độ bền (dai, chắc) của bao nylon bị giảm.
Hiện có một số công ty đã chính thức ra mắt các sản phẩm túi
nhựa sinh học sản xuất theo công nghệ tự phân hủy sinh học
như Công ty Phú Hòa (Bến Tre) với bao bì tận dụng từ nguồn
phế liệu bã mía, xơ dừa, hay túi nhựa Bibicom (Công ty Phúc
Lê Gia, TP.HCM). Gần đây nhất là sự xuất hiện các sản phẩm
như: hộp cơm, ly uống nước, hộp đựng bánh bao được sản xuất
từ nguyên liệu là bột bắp, không gây ô nhiễm môi trường của
Công ty Nhựa Tiến Thành (TP.HCM). Các sản phẩm nói trên
được nhà sản xuất khẳng định có thể tự hủy trong môi trường
tự nhiên sau 1-4 tháng không sử dụng. Hiện chưa có bất kì
quy định hay hướng dẫn cụ thể nào về quyền lợi, trách nhiệm
của nhà sản xuất, nhà phân phối, người tiêu dùng đối với
việc sử dụng túi nylon.
Ngoài bột khoai tây, người ta có thể dùng các vật liệu li
trích từ rong biển để sản xuất túi nylon tự hủy. TS. Đồng
cũng cho biết thêm, hiện ông chưa rõ là các công ty công bố
sản xuất thành công các sản phẩm nylon thân thiện với môi
trường theo quy trình nào. Tuy nhiên, ông Đồng khẳng định,
trừ tinh bột bắp thì các thiết bị để sản xuất các loại nylon
tự hủy đó chắc chắn được nhập ngoại (kể cả nguyên liệu chính
để sản xuất là hạt nhựa). Theo TS. Đồng, ở Việt Nam, hạn chế
lớn nhất trong việc sản xuất các loại bao bì tự hủy là do
chưa có thiết bị để sản xuất, hầu hết các thiết bị này đều
phải nhập ngoại. Về mặt nghiên cứu thì ta có thể nghiên cứu
ra nhiều loại bao bì khác nhau nhưng để bắt tay vào sản xuất
thì chưa được vì chưa có máy móc để sản xuất, cụ thể là chưa
có hướng nghiên cứu các mô hình cần thiết để sản xuất.
TS. Phan Thế Đồng cho biết, nhiều nước trên thế giới đã sản
xuất đại trà Cellophan (bao bì tự hủy từ vật liệu thiên
nhiên) hoặc Cellulose (chất xơ biến tính, rất đẹp nhưng thấm
nước nên không phát huy được hết tác dụng, dù rất tốt và bền.
Có nhiều cách để sản xuất các loại bao bì tự hủy với giá
thành thấp nhưng vẫn đảm bảo về mặt kỹ thuật và yêu cầu sử
dụng. Cách thứ nhất và cũng là cách dễ thực hiện nhất đó là
trộn một phần vật liệu nylon với một phần vật liệu tự hủy và
đây cũng là cách làm triển vọng hơn cả. Cách thứ 2 là ghép
các hợp chất kị nước vào các vật liệu thiên nhiên để tăng
tính cản nước của bao bì. Hoặc người ta có thể làm các loại
bao bì nhiều lớp, lớp đầu là tự hủy, tiếp đó là lớp cản nước
(cũng tự hủy). Trong đó, lớp đầu là để tạo nên tính cơ học
của bao bì, lớp thứ 2 tạo tính cản nước để có một bao bì
chắc và cản nước.
Cùng với việc tìm giải pháp sản xuất đại trà bao bì tự hủy
với giá thành thấp, điều cốt yếu vẫn là “tập” cho người dân
thói quen mới: sử dụng các loại bao bì thân thiện với môi
trường, "nói không" với sử dụng bao bì bằng nhựa, nhất là
vứt, ném bừa bãi loại rác khó phân hủy này !
Theo VNN |
Việt Nam: Ô nhiễm làm cạn nguồn lợi
thủy sản tại những vùng đất ngập nước
(Thiennhien Net, 28/8/2008)
ThienNhien.Net
- TS. Vũ Văn Triệu, Trưởng Đại diện Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc
tế (IUCN) tại Việt Nam nhận định: “Do sự gia tăng dân số, cộng với
quá trình phát triển kinh tế-xã hội những năm qua thiếu tính bền
vững, nên nguồn lợi thủy sản của những vùng đất ngập nước ở Việt Nam
nghèo kiệt nhanh chóng. Đặc biệt, nạn ô nhiễm môi trường gia tăng
đang đe dọa nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học nơi đây.
Việt Nam có khoảng
10 triệu ha đất ngập nước, trong đó bao gồm 4,2 triệu ha trồng lúa,
2 triệu ha nước mặt nuôi trồng thủy sản, 1 triệu ha đất ngập nước
ngọt; hơn 3.260 km bờ biển, 15.000 km đới ven bờ, hơn 2.000 con sông
suối và 4.000 hồ.
Đất ngập nước của
Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại, loại hình cảnh quan và sinh thái,
phong phú về tài nguyên đa dạng sinh học, có nhiều chức năng, giá
trị kinh tế, xã hội, văn hóa...quan trọng. Các vùng đất ngập nước
này đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội
cho đất nước, mang lại nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu
của người dân.
Hiện 1/5 dân số nước ta đang sống ở vùng đất ngập nước và phụ thuộc
trực tiếp vào việc khai thác, sử dụng các sản phẩm của đất ngập nước.
Song các vùng đất ngập nước này đã và đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng
bởi các hoạt động của phát triển kinh tế gây ra như: Ao, hồ bị lấp
đi để lấy đất trồng trọt hoặc xây dựng; tài nguyên nước ngầm, hệ
động vật, thực vật bị khai thác quá mức không thể tự hồi phục; tôm,
cá bị đánh bắt bằng những phương thức mang tính hủy diệt bằng thuốc
nổ, chất độc, xung điện làm chết toàn bộ các loài động vật trên diện
tích rộng lớn; việc xây đê đắp đập, nắn dòng các con sông làm thay
đổi đặc tính thủy văn của chúng. Nhất là một lượng lớn chất thải
sinh hoạt, chất thải công nghiệp và thuốc trừ sâu, phân bón hóa học
đổ ra các thủy vực đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng một số vùng
đất ngập nước.
GS.TS Lê Văn Khoa, Trường Đại học quốc gia Hà Nội cho biết: “Việc sử
dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp ở
nước ta ngày một gia tăng, chỉ tính riêng lượng thuốc bảo vệ thực
vật lên tới 30.000 tấn/năm. Hậu quả làm đất bị "chai cứng" và có đến
50% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật phát tán bằng
nhiều con đường khác nhau, và đều tập kết tại những vùng đất ngập
nước, gây ô nhiễm môi trường tác động tiêu cực đến sự đa dạng sinh
học nơi đây”.
Qua khảo sát tại một số điểm trong 68 vùng đất ngập nước mang tầm
quan trọng quốc gia, có khoảng 10% các loài cá có nguy cơ biến mất,
trong đó nguy cấp nhất là các loài cá nước ngọt, sản lượng đánh bắt
thủy sản tự nhiên tại những vùng này giảm tới mức báo động.
Để bảo vệ, cải thiện môi trường phục vụ phát triển bền vững các vùng
đất ngập nước, Việt Nam cần nhân rộng các mô hình bảo tồn gắn với
xóa đói giảm nghèo cho đồng bào địa phương như ở tỉnh Quảng Ninh;
Cồn Lu, Cồn Ngạn thuộc huyện Giao Thủy (Nam Định)...
Tiến hành điều tra, thống kế, đánh giá tài nguyên để khoanh vùng và
quy hoạch lại các vùng đất ngập nước. Đồng thời tăng cường hợp tác
quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và bảo tồn, phát
triển bền vững các vùng đất ngập nước nói riêng, nhất là sử dụng có
hiệu quả nguồn hỗ trợ quốc tế vào lĩnh vực này./.
Theo TTXVN, 29/08/2008
|
"Xẻ thịt" rừng |
|
(VietnamNet, 24/08/2008)
|
|
- Một đêm
băng rừng, ngược lên phía rừng phòng hộ xã Ia Chía, Ia O (huyện
Ia Grai, tỉnh Gia Lai), chứng kiến việc càn sát thú và đốn
hạ gỗ ở đây, mới thấy rừng bị con người tàn phá thê thảm.
Vùng rừng bị chặt phá thuộc các tiểu khu đã có chủ.
 |
|
Những cây gỗ nhóm I đường kính 1,5m-2m ở rừng Ia
Chía bị đốn hạ. Ảnh: Lê Văn Nhung |
Đêm sát thú
“Đoàng”! Một tiếng
nổ khô khốc xé rách màn đêm tĩnh mịch. Ánh sáng chớp loè lên
như một vết cắt giữa không gian rồi lặng mất hút. Tiếng con
thú kêu lên thảm thiết.
Một con hoẵng chừng 25 ký bị một vết đạn ca-lip-đu xuyên qua
cổ nằm chết ngay tại chỗ. Những con hoẵng con đang bú mẹ bỏ
chạy tan tác.
Nhóm săn bốn người
đến điểm tập kết. Sau đó, hai người tách ra một mũi đi theo
hướng khác. Tuy là một xạ thủ nhiều kinh nghiệm, nhưng đêm
nay, mũi phía Ét vẫn không thể hạ gục con hoẵng khác vì nó
lớn quá.
Cả đêm Ét cứ theo vết máu con hoẵng nhưng cuối cùng đành bỏ
cuộc. Chỉ vào họng súng còn khét lẹt, tay thợ săn tên Bin
cho biết, loại súng này bắn đạn chùm, đã bắn thì khó con nào
chạy thoát. Đạn lại dễ mua và rẻ, chỉ cần một trăm rưỡi ngàn
đồng đến các điểm bán đồ thể thao tại TP.Pleiku là có mười
viên và mua bao nhiêu cũng có.
Ét nói, dù có kinh
nghiệm nhưng đôi khi đi lả cả người trong đêm cũng đành thất
bại vì bây giờ quá nhiều người đi săn. Để những mầm non cây
cỏ gọi bầy thú về, đầu những tháng mùa mưa, người đi rừng
thường tìm cách cho lửa cháy bén những thảm thực vật qua một
mùa khô hạn.
Đó cũng là lý do tại sao hàng năm vẫn có nhiều vụ cháy rừng
ở khu vực Ia Chía, Ia O, Ia Meur, Ia Puch… Khi những cơn mưa
ùa về, những mầm sống nhô lên cũng là lúc những tay thợ săn
(dù không chuyên) ôm súng lên rừng… sát thú. Bầy thú, bất kể
lớn nhỏ, đều rơi vào tầm ngắm.
Việc săn bắt thú
rừng dù có nghiêm cấm gắt gao nhưng nhiều người vẫn không từ
bỏ vì cái lợi rất lớn. Đó là chưa kể thú vui của một số cán
bộ có trách nhiệm. Có người giấu cả súng trong rừng, khi nào
cần đi săn họ chỉ việc vào rừng lấy súng ra sử dụng. Ét còn
giải thích thêm: Thế mới thấy thịt rừng không bao giờ thiếu
ở thành phố hay ở trung tâm các huyện, thị xã, dù các quán
đã đề biển cam kết với ngành kiểm lâm “không mua bán thịt
thú rừng”!
Tan hoang
rừng
Săn bắn thú đã thế,
còn việc chặt phá rừng thì có lúc âm ỉ có lúc bùng phát. Mất
nhiều giờ đồng hồ, len lỏi vào một số địa điểm thuộc hai
tiểu khu 344 và 433, lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Ia
Grai, dù các tiểu khu này thuộc rừng phòng hộ và đã được
đóng cửa rừng cấm khai thác trên dưới 10 năm nay nhưng tình
trạng phá rừng làm rẫy và lấy gỗ vẫn diễn ra.
Những gốc cây ứa
nhựa đỏ vàng, dường như rừng cũng đang nhức nhối trước sự
tàn phá khốc liệt không mảy may thương tiếc. Càng vào sâu
những con dốc cao, càng thấy nhiều loại cây gỗ quý hàng trăm
năm tuổi như gõ mật (gụ mật), cà te, hương… có đường kính từ
một đến hai mét bị “xẻ thịt”. Lá cây queo quắp lại nhưng
vẫn còn xanh như một sự trăn trở cuối cùng với rừng trước sự
vô cảm của con người.
 |
|
Và bị xẻ thịt thành từng
mảnh. Ảnh: Lê Văn Nhung |
Bin vừa
tiết lộ, chính quyền khó ngăn chặn người địa phương vào phá
rừng làm rẫy bởi cán bộ cũng chặt cây lấy gỗ quý. Bin giải
thích: “Gỗ quý đã được chấm “toạ độ”. Bằng chương trình
trồng cây sao xanh xen lẫn rừng quản lý, người ta biết những
loại cây này nằm ở vị trí nào, và chủ rừng cũng biết.
Từ đó, cán bộ cho khai thác rồi tìm cách vận chuyển ra. Cho
nên dân địa phương nói cán bộ lấy cây to được thì họ chặt
cây nhỏ làm rẫy, nếu không họ sẽ tố giác”.
“Đồi dốc thế này
thì làm sao vận chuyển ra?” - “Họ đưa xe bò nghé, việc gì mà
chẳng làm được”. Xe bò nghé là loại xe tương tự như xe bò
vàng chuyên kéo gỗ nhưng nhỏ hơn. Loại xe này có hai đầu tời,
một đầu giữ không cho xe tuột dốc, một đầu kéo gỗ ra.
Từ khu vực rừng phòng hộ Ia Chía và Ia O ra, phải qua một
trạm gác có một kiểm lâm viên địa bàn và các cán bộ thuộc
Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai, tổng cộng 6 người lúc nào
cũng túc trực, nhưng gỗ vẫn lọt qua.
Bó tay?
Ông Bùi Văn Nghĩa,
Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Ia Grai, cho biết: Huyện Ia
Grai quản lý hơn 55 ngàn héc-ta rừng, trong đó có hơn 17
ngàn héc-ta rừng phòng hộ. Còn lại là rừng sản xuất. Biên
chế của Hạt chỉ có 18 cán bộ nên lực lượng “cắm” chốt ở địa
bàn quá mỏng, trong khi Ia Grai có tới 13 xã, thị trấn có
rừng. Ông Nghĩa nói rằng mới được điều động về phụ trách Hạt
từ trước Tết Nguyên đán nên chưa nắm hết!
Theo Hạt trưởng Nghĩa, thời gian qua có vài vụ phá rừng làm
rẫy chứ không có trường hợp nào khai thác gỗ trái phép, có
chăng vào những năm trước đó(!); việc săn bắn thú rừng lại
càng… không có(?)
Ngược lại, với
trách nhiệm của chủ rừng, mặc dù chúng tôi đã nhiều lần liên
lạc để đăng ký làm việc với ông Ngô Càn Thanh - Trưởng ban
quản lý rừng phòng hộ Ia Grai, nhưng rất tiếc ông Thanh vẫn
tìm cách thoái thác. Vì vậy mà vẫn chưa có ai lý giải được,
Ban quản lý rừng phòng hộ thường xuyên phải đi thị sát kiểm
tra, quản lý rừng như thế, nhưng tại sao vẫn nhiều loại cây
nhóm I hàng chục năm tuổi, thậm chí cả trăm năm vẫn bị đốn
hạ.
Có thể thấy, việc
xử lý hàng loạt các vụ vi phạm phá rừng làm rẫy thời gian
vừa qua thực chất chỉ một phần bề nổi của tảng băng chìm.
|
Golf
– Lợi ít, hại nhiều sao vẫn
duyệt? (Kỳ 2)
Nguyên Dũng
(Tổ Quốc, 29/8/2008)
(Kỳ 2) - Chơi golf, môn
thể thao quý tộc mới và đang
phát triển ở nước ta. Tuy
nhiên việc xây dựng các sân
golf đang để lại những hậu
quả ô nhiễm môi trường
nghiêm trọng và lấn chiếm
quỹ đất canh tác cuả người
dân ở nhiều địa phương. Điều
được dư luận quan tâm nhiều
là vì sao sân golf mang lại
lợi ít, hại nhiều như vậy mà
các dự án sân golf vẫn được
các địa phương tiếp tục xét
duyệt?
Sân golf Đồng Mô Hà
Nội
Lợi ít – Hại nhiều
Với những số liệu nêu trong
bài kỳ 1, hẳn ai cũng thấy
rõ môn thể thao golf chỉ
phục vụ cho một số rất ít
người trong giới “thượng lưu”
hoặc các doanh nhân có nhiều
tiền. Nó hoàn toàn không
nhằm phục vụ cho số đông
người dân như các môn thể
thao khác, trong khi nó lại
đem lại hậu quả ô nhiễm môi
trường và ảnh hưởng xấu tới
đời sống của người dân.
Để bảo vệ cho việc xây dựng
các sân golf, ông Ts Nguyễn
Ngọc Chu, TTK HHSGVN cho
rằng “ Theo chúng tôi, có
nhiều sân golf càng có lợi
cho sự phát triển kinh tế,
bảo vệ môi trường, tạo việc
làm và nâng cao sức khỏe của
người dân” và rằng “ Sân
golf ở nước ta không tấn
công đất nông nghiệp. Các
sân như Chí Linh, Lương Sơn,
Tam Đảo là đất đồi, các sân
ở Phan Thiết, Móng Cái xây
dựng từ những bãi cát trắng
bỏ hoang, sân Long Thành
cũng làm từ ruộng bỏ hoang
vì ngập mặn…”. Cứ theo cái
lý của ông Chu thì có lẽ
nước ta cần phải xây dựng
nhiều sân golf hơn nữa vì
chỉ toàn thấy cái “lợi” do
nó đưa lại mà thôi. Sự thật
có như ông Chu nói hay không?
Hãy xem các nhà môi trường,
các chuyên gia đánh giá như
thế nào.
Trên thực tế những điều ông
Chu nói lại không như vậy.
Thử hỏi có bao nhiêu người
chơi golf mà nói đem lại sức
khỏe cho người dân? Có lợi
cho sự phát triển kinh tế là
như thế nào? 3 năm trước đây
các sân golf đều kêu lỗ và
kiến nghị Chính phủ giảm
thuế cho họ. Thử hỏi nếu xây
dựng sân golf mà lỗ hoài như
vậy thì họ đầu tư vào xây
dựng sân golf để làm gì? Các
nhà đầu tư nước ngoài đến
Việt Nam để kinh doanh thua
lỗ như vậy thử hỏi họ còn có
mục đích gì khác, ẩn chứa
đằng sau?
Thực tế đã chỉ ra rằng phần
lớn sân golf ở Việt Nam lại
không phải được xây dựng
trên các đồi cát ven biển
hay đất hoang hóa không canh
tác được mà lại được xây
dựng ở những nơi có nhiều
nước và có cảnh quan đẹp,
đất rừng hay đất canh tác.
Bởi nhiều sân golf được xây
dựng đi kèm với các dự án
xây dựng khu du lịch sinh
thái hay khu nghỉ dưỡng cao
cấp nên rất khó kiểm soát
được đâu là đất thực sự dành
cho sân golf với những quy
chuẩn rõ ràng theo số lỗ gôn
quy định. Chính sự mập mờ
này đã tạo ra nhiều khe hở
cho nhà đầu tư lợi dụng đầu
tư vào bất động sản kiếm lời
vì chi phí cho các dự án như
vậy thường khá thấp. Tính
chung các đất đền bù cho
nông dân ở các khu dự án sân
golf là khoảng 2-3 USD/m2 (như
trường hợp ở Long An chỉ đền
bù 35.000/m2).
Nếu xét về doanh thu thuần
túy từ sân golf chắc khó có
thể có lãi vì quá ít người
chơi như vậy, trong khi chi
phí bỏ ra để duy trì một sân
golf lại rất tốn kém. Người
ta đã tính trung bình một
sân golf 18 lỗ mỗi ngày tiêu
thụ khoảng 5000 m3 nước để
tưới cây cỏ, tương đương với
mức sử dụng của 5.000-8.000
hộ gia đình. Một sân golf
thường chiếm dụng từ 30-60
héc ta đất.
Theo ông Gen Morita, nhà
hoạt động môi trường của
Nhật Bản thì trung bình mỗi
năm 1 sân golf tiêu thụ 1,5
tấn hóa chất, trong đó có
axit silic, ô xit nhôm và
sắt là những tác nhân có
nguy cơ gây bệnh ung thư.
Các hóa chất, trong đó có
thuốc diệt cỏ được phun
xuống cỏ hàng ngày để giữ
cho cỏ xanh tươi, ngấm xuống
đất và nguồn nước làm cho
người dùng nước dễ bị nhiễm
độc và rối lọan chức năng hệ
thần kinh TW. Mối nguy hiểm
của việc sử dụng nhiều thuốc
trừ sâu và phân hóa học đã
được chứng minh tại CLB
Sapporo Kokusai Country ở Tp
Hiroshima Nhật Bản. Sau khi
phun hóa chất có pha đồng
xuống để cỏ khỏi héo vào mùa
đông thì khi mưa xuống hóa
chất đó đã tan vào nguồn
nước, hệ thống thoát nước và
làm chết 90.000 con cá của
một dự án thủy sản gần đó.
Nhiều người xung quanh bị
viêm mũi dị ứng, phát ban
kinh niên và hen suyễn…
Không những thế mỗi khi có
dự án sân golf được triển
khai thì nhiều người nông
dân đã bị mất ruộng đất với
giá đền bù cực kỳ rẻ mạt.
Kinh nghiệm ở các nước Đông
Nam Á đã cho thấy rõ điều đó.
Ở Thái Lan có trường hợp các
nhà đầu tư mua hết đất xung
quanh một điểm dự định làm
sân golf chặn hết đường đi
của nông dân sống ở khu vực
đó và buộc họ phải bán rẻ
cho nhà đầu tư để di dời đi
nơi khác. Ở Indonesia, tại
đảo Cimacan vào năm 1991 để
xây dựng sân golf người ta
buộc phải di dời 287 hộ nông
dân đi nơi khác với giá đền
bù chỉ 1,5 xu Mỹ/m2.
Theo bà Anita Pleumaron -
thành viên mạng lưới du lịch
châu Á (ANTENNA) thì trái
với tuyên bố của các nhà đầu
tư, việc phát triển sân golf
thường mang lại rất ít lợi
ích kinh tế cho địa phương
mà phần lớn lợi nhuận sẽ về
tay các nhà đầu tư nước
ngoài.
Các nhà khoa học của cơ quan
bảo vệ môi trường của Mỹ
(EPA) cho biết, thuốc trừ
sâu làm ô nhiễm môi trường
và phát tán 90% vào không
khí khi được phun ra làm
chết nhiều loại sinh vật có
ích và một lượng lớn côn
trùng, do đó gây ảnh hưởng
lớn đến đất đai canh tác
xung quanh.
Chính vì tác hại gây ra cho
môi trường xung quanh và ảnh
hưởng xấu đến đời sống của
người dân mà các tổ chức
hoạt động cho môi trường
trên thế giới từ hơn 50 năm
qua đã đấu tranh để phản đối
việc xây dựng sân golf trên
toàn thế giới. Đã hình thành
phong trào phản đối sân golf
ở nhiều nơi như: Mạng lưới
toàn cầu hành động chống các
sân golf của Nhật Bản
(GNAGA); Mạng lưới con người
và môi trường châu Á-TBD của
Malaysia (APPEN)… đều kêu
gọi một phong trào chống sân
golf toàn cầu. Các nhà hoạt
động môi trường thế giới tẩy
chay sân golf bằng cách lấy
ngày 29/4 hàng năm là ngày
thế giới không có sân golf.
Song Be golf Resort
Có nên tiếp tục phê duyệt dự
án sân golf?
Số người chơi golf ở Mỹ
những năm gần đây đã giảm
mạnh. Những người chơi trên
25 lần /năm đã giảm từ 6,9
triệu (2000) xuống còn 4,6
triệu (2005). Số người chơi
golf nói chung đã giảm đi từ
30 triệu xuống còn 26 triệu
trong cùng thời kỳ.
Trong khi thế giới số người
chơi golf giảm đi thì số các
dự án xây dựng sân golf ở
Việt Nam lại tăng lên đáng
kể. Có thể nói các tỉnh đều
có dự án sân golf, thậm chí
có tỉnh còn có nhiều dự án
sân golf được triển khai như
Hà Nội, Tp HCM, Bình Dương,
Đồng Nai, Long An…
Các nhà đầu tư vào xây dựng
sân golf ở nước ta đều nhằm
vào chính sách cho thuê đất
ưu đãi của Nhà nước cùng với
chính sách đền bù bắt chẹt
người dân để tìm cách đầu tư
vào bất động sản kiếm lời do
tính chất sinh lợi cao của
đất đai trong thời gian qua.
Ở đây cũng phải nhận thấy có
sự khác biệt về vấn đề sở
hữu ruộng đất cũng tạo ra sự
dễ dãi trong việc xét duyệt
cấp đất cho các dự án xây
dựng sân golf núp dưới các
chiêu bài xây dựng khu nghỉ
mát sinh thái, xây biệt thự,
khách sạn cao cấp… để phục
vụ khách du lịch, vì lợi ích
công cộng… Vì đất thuộc sở
hữu Nhà nước nên việc xét
duyệt các dự án xây dựng sân
golf mới diễn ra phổ biến
tràn lan như vậy. Điển hình
là việc xét duyệt 13 dự án
xây dựng sân golf ở Long An
vừa qua đã vấp phải sự chống
đối mạnh mẽ của người dân
địa phương. Việc UBND tỉnh
Thừa Thiên – Huế cấp giấy
phép cho công ty cổ phần
Thiên An xây dựng sân golf
36 lỗ trên diện tích 150 héc
ta ở xã Thủy Dương đã đẩy
360 hộ nông dân ở đây lâm
vào cảnh mất đất, bị kết án
nghèo… Xu hướng xây dựng các
dự án sân golf nhiều lỗ để
có thêm nhiều diện tích sử
dụng được các nhà đầu tư
khai thác triệt để vì mục
đích làm giàu của riêng họ.
Việc các nhà đầu tư tìm cách
lợi dụng cơ chế quyền sở hữu
Nhà nước về đất đai để tìm
mọi cách chiếm dụng được
càng nhiều quỹ đất bao nhiêu
càng có lợi bấy nhiêu đã trở
thành câu chuyện thường ngày
ở huyện. Sự cấu kết móc
ngoặc giữa các nhà đầu tư
với các quan chức Nhà nước
để hợp pháp hóa việc sử dụng
đất đai vào các dự án sân
golf với mục đích xem ra rất
“vì quốc kế dân sinh” như
nào là mang lại lợi ích kinh
tế đóng góp vào ngân sách NN,
nào là sẽ tạo ra công ăn
việc làm cho dân địa phương,
nào là phục vụ nhu cầu du
khách đến VN ngày một tăng
lên… Tuy nhiên cái lợi thì
ít, còn cái hại lâu dài thì
như đã phân tích trên đây là
quá rõ ràng. Cái hại trước
mắt là làm cho quỹ đất canh
tác thu hẹp dần lại, người
nông dân mất đất, sói mòn
đất đồi, rừng, gây ô nhiễm
không khí và môi trường nước
xung quanh…
Nhận thức được những nguy cơ
từ các dự án sân golf mang
lại, ngày 4/4/2008 Thủ tướng
Chính phủ đã có công văn yêu
cầu rà soát lại các sân golf
trên cả nước. Tuy nhiên do
sự phân cấp đầu tư nên hầu
hết các dự án sân golf đều
do các địa phương xét duyệt
và cấp giấy phép và chính
điều đó đã dẫn đến bùng nổ
các dự án sân golf thời gian
qua.
Các cấp chính quyền địa
phương không hiểu vì lý do
gì, biết hay không biết tác
hại của các sân golf mà vẫn
cứ thi nhau duyệt cho các
doanh nghiệp triển khai các
dự án sân golf như vậy?
Nhiều đại gia (DNNN) cũng đã
nhảy vào để làm các dự án
sân golf như Vinashin đã có
dự trù xây dựng 5 sân golf ở
Long An là một ví dụ.
Đã đến lúc Nhà nước cần có
các biện pháp mạnh ngưng cấp
giấy phép đối với các dự án
không mang lại nhiều lợi ích
cho cộng đồng cũng như cho
nền kinh tế như sân golf để
tránh các hậu quả của sự
việc “đã rồi” , để rồi sau
đó lại tiếp tục kêu gọi rà
soát và rút kinh nghiệm./.
N.D
Golf – Lợi ít, hại nhiều
sao vẫn duyệt? (Kỳ 1)
Nguyên Dũng
(Tổ Quốc, 26/8/2008)
(Toquoc) – Thập niên trở lại đây cùng với sự
phát triển kinh tế nhanh chóng của đất nước,
chơi golf đã trở thành môn thể thao của những
người giàu và đã bùng nổ phong trào xây dựng sân
golf.
Sân golf ở nước ta mới bùng phát trong thập niên
trở lại đây và ngày càng có xu hướng nhiều dự án
xây dựng sân golf được gửi lên các chính quyền
địa phương ở cấp Tỉnh. Vì sao lại có tình trạng
như vậy? Phải chăng số người dân thích chơi golf
đã tăng lên nhanh chóng? Hay lợi nhuận do các dự
án xây dựng sân golf đưa lại đã hấp dẫn các nhà
đầu tư? Những số liệu thống kê và phân tích lợi
hại của các chuyên gia đưa ra đáng để chúng ta
phải suy nghĩ. Có nên hay không tiếp tục duyệt
các dự án xây dựng sân golf?
Sân golf Ngôi sao
Chí Linh
Golf – môn thể thao của người giàu
Cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác
chơi golf xuất phát từ đâu, nhưng đa số đều thừa
nhận golf xuất phát từ Scotland, chứ không phải
từ Hà Lan vào thế kỷ 11. Người ta cũng ghi nhận
cuộc chơi golf đầu tiên vào 1456 ở Scotland rồi
sau đó lan vào Anh và rồi sang các nước nói
tiếng Anh khác (theo ghi nhận của Hiệp hội golf
Eidinburg Burgess).
Về tên gọi, GOLF có nhiều cách lý giải song cách
giải thích được ưa chuộng nhất đó là viết tắt
chữ cái đầu tiên bằng tiếng Anh các từ: Green,
Oxygen, Light, Fresh = GOLF.
Theo thống kê của Hiệp hội golf quốc tế vào năm
2005 trên thế giới có khoảng 32.000 sân golf ,trong
đó riêng Mỹ chiếm gần một nửa. Những nước có
nhiều sân golf là những nước đều nói tiếng Anh
như Scotland, Anh, New Zealand, Australia,
Ireland, Wales, Canada, và nước duy nhất không
dùng tiếng Anh là Thụy Điển.
Trong thập niên vừa qua môn thể thao golf đã lan
nhanh sang các nước Đông Á như Nhật và Hàn Quốc.
Ngay ở Trung Quốc vào giữa thập kỷ 80 mới có 1
sân golf đến 2005 đã có 200 sân golf.
Những tên tuổi, những nhà chơi golf nổi tiếng
thế giới như Tiger Woods, Jack Nicklaus, Lorena
Ochoa và Annika Sôrenstam đã trở nên nổi tiếng
trong làng golf thế giới mà những ai nghiền môn
thể thao này đều biết đến.
Tuy nhiên môn thể thao này chỉ dành cho giới
thượng lưu và những người lắm tiền nhiều của,
còn người dân thường thì không thể có đủ điều
kiện tham gia vì nó rất tốn kém công sức và tiền
của. Chỉ cần nhìn qua biểu giá các dụng cụ cần
thiết dùng cho môn chơi thể thao quý tộc này
chắc nhiều người sẽ phải giật mình. Một bộ gậy
đánh golf có giá từ 11 triệu đến 20 triệu VND.
Một hộp bóng 12 quả có giá từ 470.000 đến
850.000. Găng tay dùng cho đánh golf có giá
270.000 và ô che nắng giá 640.000.
Muốn tham gia chơi golf bạn phải bỏ ra mỗi lần
chơi tiền lệ phí sân khoảng 100 USD cộng với 25
USD tiền thuê gậy và khoảng 30 USD tiền ăn… tổng
cộng khoảng 150-200 USD/1 lần chơi, tức bằng
lương cả tháng của một công chức có thu nhập
cao. Mức tiền này nhiều ít còn tùy thuộc vào
từng loại sân có bao nhiêu lỗ mà bạn muốn tham
gia. Những người chơi golf thường xuyên đều phải
mua thẻ hội viên CLB golf với mức từ 10.000 USD
đến 20.000 USD/năm. Lệ phí hội viên CLB golf
Sông Bé hiện là 23.000 USD, còn thẻ hội viên CLB
golf 36 lỗ ở Thủ Đức có giá 36.000 USD…
Với số tiền trên chắc mọi người sẽ hiểu những
người đến sân golf họ là ai rồi. Theo thống kê
của Hiệp hội golf VN, hiện cả nước có khoảng
5000 hội viên song số người chơi golf thường
xuyên chỉ có khoảng 2000 người mà đa phần là
người nước ngoài. Nhiều hội viên trong số đó là
khách VIP của các DN hoặc của các CLB golf mà
người ta thường ám chỉ là khách “ngoại giao”,
những khách rất cần cho các DN và CLB golf trong
làm ăn kinh doanh.
Đua nhau làm sân golf
Một câu hỏi được đặt ra là sân golf ở nước ta
nhiều hay ít? Về vấn đề này có hai quan điểm rõ
ràng. Quan điểm từ những nhà đầu tư và thích
chơi golf thì cho rằng chưa nhiều. Còn quan điểm
của các nhà kinh tế và bảo vệ môi trường cũng
như người dân thì hiện đã quá nhiều sân golf.
Theo thống kê của Bộ TN&MT cho đến nay cả nước
ta có 123 dự án xây dựng sân golf được trình lên
xin phép ở các tỉnh với số đất dự định sử dụng
lên tới trên 38.000 héc ta. Chỉ điểm sơ qua mấy
thành phố lớn chúng ta đã thấy khá nhiều sân
golf đã và đang được đưa vào xây dựng. Quanh Hà
Nội có 7 sân golf trên tổng số 25 sân golf được
quy hoạch xây dựng ở vùng Đồng bằng Bắc bộ.Cũng
theo quy hoạch Tp Hồ Chí Minh sẽ có 13 sân golf,
trong đó hiện có 1 sân golf đã đi vào hoạt động
là sân golf Hoa Việt ở quận 9, 5 sân khác đã
được cấp giấy phép với tổng diện tích 1.262 héc
ta ( Q.2 – 1, Q.9 – 2, Q.Tân Bình – 1, Q.Bình
Chánh – 1, Củ Chi – 1) và 2 dự án đang xin chủ
trương để đầu tư. Tuy nhiên vừa qua trước sức ép
của dư luận UBND Tp HCM đã phải ra thông báo tạm
ngưng cấp giấy phép cho các dự án đầu tư xây
dựng sân golf trên địa bàn thành phố. Tại Bình
Dương hiện cũng đang có 4 sân golf ( Mekong golf
villas -199,2 ha; Golf Palm Sông Bé – 104 ha;
Twin Doves golf club & Resort – 165 ha và CLB
sân golf và khu nghỉ dưỡng đảo Hồ Diệp – 150
ha), trong khi tổng diện tích xây dựng sân golf
chỉ có 257,6 ha.
Chỉ tính riêng tỉnh Long An trong năm 2007 đã
phê duyệt 13 dự án sân golf kèm theo dự án xây
dựng khu dân cư chiếm tổng cộng trên 7000 héc ta
đã tạo ra phản ứng mạnh mẽ từ những người dân
địa phương và trong dư luận. Chính vì vậy mà
Tỉnh ủy Long an đã quyết định chỉ chấp nhận 3 dự
án sân golf trên địa bàn 3 huyện Cần Giuộc, Thủ
Thừa và Đức Hòa. Những dự án trên đã chiếm tới
700 ha đất nông nghiệp nên vẫn tiếp tục bị pphản
đối mạnh mẽ của người dân và cuối cùng Tỉnh ủy
chỉ còn chấp nhận duyệt 1 dự án xây dựng sân
golf. Xung quanh việc xét duyệt ồ ạt các dự án
xây dựng sân golf trên địa bàn tỉnh Long An đã
gây xôn xao dư luận, khiến người dân không hiểu
vì lẽ gì mà một tỉnh nhỏ như Long An lại định
cho xây dựng nhiều sân golf đến như vậy?
Theo Ts Nguyễn Ngọc Chu – TTK Hiệp hội sân golf
Việt Nam (HHSGVN ra đời 17/8/2007) thì ở nước ta
hiện có 17 sân golf đi vào hoạt động. Đó là các
sân golf như: SG 36 lỗ Chí Linh (HD), SG 36 lỗ
Đồng Mô (HT cũ), CLB golf Đà Lạt Palace 18 lỗ (LĐ),
Sông Bé golf Resort 18 lỗ (BD), Golf Long Thành
36 lỗ (ĐN), Dongnai golf Resort 18 lỗ (ĐN), Vung
Tau Paradise 27 lỗ ….
Ông Chu cho hay ở Việt Nam mới có 17 sân golf đi
vào hoạt động trong khi ở Thái Lan lại có gần
1000 sân golf để bảo vệ quan điểm nước ta chưa
có nhiều sân golf như người ta phê phán
Đề
xuất tăng mạnh thuế tài nguyên khoáng sản
(ThienNhien.Net, 25/8/2008)
Tăng thuế để định hướng tiêu dùng
tiết kiệm và bảo vệ môi trường (Ảnh:
PanNature)
|
|
ThienNhien.Net - Để hạn chế tình
trạng khai thác khoáng sản bừa bãi, không hiệu quả
như hiện nay, Bộ Tài chính dự kiến trình Ủy ban Thường
vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết sửa đổi khung
thuế suất thuế tài nguyên quy định tại Pháp lệnh
Thuế tài nguyên. Dự kiến mức thuế sẽ được nâng
cao nhằm thắt chặt quản lý khai thác tài nguyên khoáng
sản và tăng nguồn thu cho ngân sách.
Trong bản thuyết trình đề nghị lên Ủy ban Thường
vụ Quốc hội, Bộ Tài chính cho rằng, khai thác khoáng
sản, đặc biệt là kim loại quý hiếm vẫn xảy ra
bừa bãi, nặng về xuất khẩu thô và ít chế biến
theo chiều sâu. Theo đó, dự kiến điều chỉnh nâng
khung thuế suất sẽ chủ yếu đối với tài nguyên khoáng
sản kim loại có giá trị kinh tế cao và không tái
tạo được.
Thuế tài nguyên là nguồn thu quan trọng đối với ngân
sách địa phương, vì đây là khoản thu điều tiết
100% cho ngân sách địa phương (trừ dầu khí), đồng
thời là công cụ hữu hiệu để các cơ quan
quản lý nhà nước có thể tăng cường việc theo dõi,
giám sát hoạt động khai thác tài nguyên của các đối
tượng nộp thuế ngoài việc quản lý thông qua giấy
phép thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyên...
Với khung thuế suất thuế tài nguyên hiện hành, Pháp
lệnh Thuế tài nguyên vẫn chưa đạt được mục tiêu
yêu cầu đặt ra là góp phần hạn chế việc khai thác
tài nguyên nguyên khai quá mức, khuyến khích đầu tư
chế biến quặng tinh nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên.
Việc kéo dài tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi
không những phá vỡ quy hoạch tổng thể về quản lý
khai thác tài nguyên, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và
ô nhiễm môi trường, mà còn giảm nguồn thu thuế và
hạn chế giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu.
Vì thế, để siết chặt hoạt động quản lý, bảo
vệ nguồn tài nguyên quý giá không thể tái tạo được
và để tăng nguồn thu cho ngân sách, rất cần thiết
phải sửa đổi khung thuế suất quy định tại Pháp
lệnh Thuế tài nguyên.
Cụ thể, dự kiến điều chỉnh khung thuế suất thuế
tài nguyên như sau: khoáng sản kim loại (trừ vàng và
đất hiếm) sẽ tăng từ 1-5% lên 10-30%; khoáng sản không
kim loại tăng từ 1-5% lên 5-10%. Riêng đối với nhóm tài
nguyên đá quý từ mức 3-8% sẽ tăng lên 5-20%; than từ
1-3% lên 5-20%. Khí thiên nhiên sẽ điều chỉnh tăng
từ 0-10% lên 6-25%.
Các nhóm tài nguyên khác vẫn giữ khung thuế suất như
hiện hành: Dầu mỏ từ 6-25%; sản phẩm rừng tự nhiên
1-40%; thủy sản tự nhiên 1-10%; nước thiên nhiên
0-10%; tài nguyên khác: 0-20%.
Căn cứ khung thuế suất thuế tài nguyên, Chính phủ
sẽ quy định cụ thể mức thuế suất đối với
từng nhóm tài nguyên khoáng sản cho phù hợp với điều
kiện thực tế của tài nguyên và hoạt động khai thác,
sử dụng tài nguyên của các doanh nghiệp, tổ chức, cá
nhân.
Do đó, nếu thực hiện khung thuế tài nguyên dự kiến
sửa đổi như trên thì mức quy đổi cố định sẽ là:
Sắt và Mangan từ 15.000 đ/tấn lên 30.000-75.000 đ/tấn;
Chì từ 20.000 đ/tấn lên 40.000-66.000 đ/tấn; Kẽm từ
40.000 đ/tấn lên 80.000-195.000 đ/tấn; Đồng từ 100.000
đ/tấn lên 200.000-600.000 đ/tấn; Thiếc từ 650.000 đ/tấn
lên 1.300.000-3.900.000 đ/tấn; Than tù 4.000-6.000 đ/tấn lên
20.000-80.000 đ/tấn; Đá xây dựng từ 750đ-4.000đ lên
1.500-8.000đ/m3; Cát từ 1.000đ lên 2.000đ/m3...
Với mức giá này, nếu cộng thêm thuế và phí, giá bán
của các loại khoáng sản trên sẽ bị đẩy lên mức
cao hơn khá nhiều. Tuy nhiên, nếu so sánh với mức
thuế tài nguyên của Trung Quốc, thì mức thuế mới này
vẫn còn thấp hơn.
Tính toán của Bộ Tài chính cho thấy, với mức thuế
suất thuế tài nguyên dự kiến tối thiểu là 10%, thì
số thu thuế tài nguyên, kể tài nguyên đối với dầu
khí dự kiến đạt khoảng 21.500 tỷ đồng/năm (trong
đó số thu thuế tài nguyên đối với tài nguyên khoáng
sản tăng trên 12 tỷ đồng/năm). Với mức thuế suất
tối đa 30% thì số thu thuế tài nguyên dự kiến
khoảng 22.000 tỷ đồng/năm (trong đó số thu thế tài
nguyên đối với quặng kim loại tăng thêm khoảng trên
60 tỷ đồng/năm)
Theo đánh giá chung, việc nâng thuế suất thuế tài
nguyên và phí bảo vệ môi truờng trong hoạt động
khai thác khoáng sản là điều cần thiết. Điều đó
sẽ góp phần hạn chế việc khai thác tràn lan, tăng
thu cho ngân sách địa phương để có nguồn kinh phí
cho việc cải tạo môi trường, sửa chữa hạ tầng
quanh khu vực khai thác. Đồng thời buộc các doanh
nghiệp phải tính toán khai thác tiết kiệm, hiệu quả
để giảm chi phí và tập trung đầu tư vào chế biến
sâu, qua đó góp phần bảo vệ tài nguyên và nâng cao
giá trị tài nguyên.
Hồng Phượng
Hạn chế sử dụng túi nylon: Muộn còn hơn không!
(Báo Vĩnh Phúc, 27.08.2008)
Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu sử dụng túi nylon thì tại nước ta, bao bì nylon vẫn được xài “vô tư”. Tại hội thảo bàn về giải pháp giảm thiểu sử dụng túi nylon do Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường Hàn Quốc tổ chức vào ngày 26-8, nguyên nhân của vấn nạn này được xác định là cơ quan chức năng chưa thực sự quan tâm, chưa xem đây là một hiểm họa của môi trường. Còn đối với người dân thì đó là thói quen chưa thể bỏ được.
93% người dân có thói quen sử dụng túi nylon
Bà Ngô Nguyễn Ngọc Thanh, chuyên viên Quỹ tái chế TPHCM cho biết, kết quả khảo sát thực tế tình trạng sử dụng túi nylon trong cộng đồng cho thấy, có đến 93% người dân khi đi mua hàng không mang theo túi vì cho rằng người bán sẽ cung cấp và mang theo túi đi mua hàng rất bất tiện. Mặt khác, có đến 28% người dân vứt ngay túi nylon sau khi mua hàng về, số còn lại thì giữ lại một ít túi nylon sạch để đựng rác. Điều này dẫn đến hậu quả là môi trường TPHCM chịu tải trên 30 tấn túi nylon/ngày. Trong đó khu vực phát sinh nhiều nhất là chợ chiếm 70%, kế đến là siêu thị 25% và cuối cùng là trung tâm thương mại 3%.
Tại hội thảo, nhiều nhà quản lý của Hàn Quốc và Việt Nam nói chung đã khẳng định, việc thu gom và tái chế rác nylon là giải pháp hữu hiệu nhất để hạn chế ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, ở nước ta, chỉ có khoảng 3%-4% rác nylon được thu gom tái chế, phần lớn là phát thải ra môi trường. Lý giải thực tế này, bà Trần Thị Mỹ Diệu, Khoa Công nghệ và quản lý môi trường Đại học Văn Lang cho rằng, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề giá thành và chất lượng sản phẩm tái chế không thể cạnh tranh với sản phẩm nhựa chính phẩm.
Thậm chí trong một vài trường hợp, sản phẩm làm từ vật liệu tái chế có chi phí cao hơn so với sản phẩm được làm từ nhựa chính gốc. Người tiêu dùng cũng ưa chuộng sản phẩm làm bằng nguyên liệu nhựa chính gốc hơn vì không bị lẫn lộn nhiều loại tạp chất, phụ gia như nguyên liệu nhựa tái chế. Mặt khác, túi nylon được sử dụng phân tán rộng trong cộng đồng nên việc thu gom, xử lý, tái chế nhựa phế thải rất khó khăn và tốn kém. Điều đáng nói trong môi trường đất, thời gian để có thể phân hủy túi nylon phải mất khoảng 400 năm.
Vì vậy số lượng lớn túi nylon phát thải ra môi trường đã và đang gây ra những tác hại rất nghiêm trọng. Dễ nhận thấy nhất là những mảng lớn rác túi nylon đang tích tụ trên các con sông, kênh thoát nước nội ô… đã làm tắc nghẽn hệ thống thoát nước của thành phố, gây ngập mỗi khi trời mưa, phá hủy hệ thống đất nông nghiệp, gia tăng thể tích bãi rác tại các bãi chôn lấp, gây cản trở việc phân hủy rác, tăng chi phí ngân sách trong việc xử lý rác… Chưa kể, trong quá trình xử lý bằng phương pháp đốt có thể phát sinh khí dioxin gây nguy hại đến sức khỏe cộng đồng.
Loay hoay tìm giải pháp
Bà Kim Ae, đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường Hàn Quốc cho biết, kinh nghiệm giảm thiểu sử dụng túi nylon tại Hàn Quốc cho thấy, nhất thiết phải có sự can thiệp từ phía nhà nước và sự hưởng ứng tích cực từ phía cộng đồng. Về phía nhà nước phải cụ thể hóa quy định cấm sản xuất và phân phối sản phẩm nhựa sử dụng 1 lần. Cụ thể như cấm sản xuất và phân phối ly, chén dĩa, đũa gỗ, tăm, muỗng, ống hút, các tấm đệm nhựa… dùng 1 lần; cấm hệ thống siêu thị, bán hàng phát miễn phí túi giấy, nhựa hoặc túi mua sắm dùng 1 lần…
Mặt khác, ban hành chính sách khuyến khích, vận động sự tham gia tự nguyện từ phía cộng đồng, doanh nghiệp như hoàn trả tiền hoặc giảm tiền cho người tiêu dùng nếu không sử dụng sản phẩm nhựa 1 lần; thưởng cho người có công phát hiện các hành vi vi phạm trong việc sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng 1 lần… Đã có những lúc, tại Hàn Quốc rộ lên phong trào toàn dân chụp hình những hành vi vi phạm sử dụng túi 1 lần mà nhờ vậy chỉ sau 1 năm áp dụng, số lượng rác thải của Hàn Quốc đã giảm từ 486 túi xuống còn 231 túi/1.000 khách hàng.
Tuy nhiên, khi nhìn lại vấn đề giảm thiểu sử dụng túi nylon tại nước ta thì tất cả đều là con số 0. Ông Lê Văn Khoa, Giám đốc Quỹ tái chế TPHCM cho rằng, để giảm thiểu sử dụng túi nylon giải pháp hiệu quả nhất là tăng cường sử dụng bao bì tự hủy. Tuy nhiên, việc sản xuất loại bao bì tự hủy có giá thành cao hơn khoảng 14% so với bao bì tái chế.
Vì thế nhất thiết phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước. Nhưng chính sách hỗ trợ cho vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xây dựng. Ông Bùi Cách Tuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, phải xây dựng lộ trình hạn chế sử dụng túi nylon và nên bắt đầu từ các siêu thị; đầu tư cho việc nghiên cứu sản xuất các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường, đặc biệt cần có chính sách nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại túi nylon từ đó từng bước từ bỏ thói quen sử dụng túi nylon... nhưng bao giờ mới bắt đầu thì còn phải chờ. Có thể nói, ngay từ bây giờ các cơ quan chức năng bắt tay vào xây dựng biện pháp nhằm giảm thiểu sử dụng túi nylon là đã là muộn. Thế nhưng muộn còn hơn không!
Trung tâm Thông tin TN&MT (Theo www.sggp.org.vn |
|
|
|
|
|
|
Tiếng
nói của sự đói nghèo
(Thiennhien Net, 21/8/2008)
80% người dân ở trong những ngôi làng
xung quanh vùng Tonle Sap, một vùng mà
nghề kiếm sống chính là trồng trọt
và đánh cá, đang phải sống trong
nỗi lo lắng vì nghèo đói. (Ảnh: PanNature).
|
|
ThienNhien.Net - Nghèo đói là gì?
Đó là việc một người phụ nữ phải chứng kiến đứa
con trai của mình chết do sốt Dengue bởi vì cô ấy không
có tiền để thuê taxi đưa con tới một bệnh viện
gần đó. Đó là việc một người đàn ông tiếp tục
chặt phá rừng bất hợp pháp bởi vì ông ấy cần
tiền trang trải cho bữa ăn gia đình. Đó là việc
một người phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS từ người
chồng do anh ta phải rong ruổi dọc theo biên giới để
bán sức lao động của mình. Đó chính là đứa trẻ
đến tuổi mà không được đến trường. Và nếu đến
trường thì có tác dụng gì khi chúng đã phải nhịn
đói mấy bữa liền.
Mới đây, Cơ quan nguồn lực phát triển Campuchia (CDRI)
đã hợp tác với Cơ quan thống kê quốc gia của nước
này, thực hiện một cuộc nghiên cứu về sự nghèo đói
ở vùng nông thôn, với tiêu đề “Chúng ta lúc nào cũng
sống trong nỗi lo lắng”, được hỗ trợ tài chính
bởi Quỹ hợp tác giảm đói nghèo (PRCF), của Ngân hàng
phát triển Châu Á (ADB).
Nghiên cứu đã truyền tải được tiếng nói thực
sự của người dân và phản ánh thực trạng đời
sống của họ, đặc biệt là cảnh sống của những
người nghèo ở 24 ngôi làng thuộc vùng Tonle Sap - hồ
nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Tại đây, người
người dân kiếm sống chủ yếu dựa vào trồng trọt
và đánh cá. Mặc dù các nhà chức trách ở Campuchia luôn
quan tâm đặc biệt tới vùng này, thậm chí còn đóng
góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cách kiếm sống
của người dân nơi đây, nhưng tỷ lệ nghèo đói ở
vùng hạ lưu Tonle Sap luôn cao tới 80%.
Thực tế đáng buồn
Nghiên cứu đã truyền tải được tiếng nói thực
sự của người dân và phản ánh thực trạng đời
sống của họ, đặc biệt là cảnh sống của những
người nghèo ở 24 ngôi làng thuộc vùng Tonle Sap - hồ
nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Tại đây, người
người dân kiếm sống chủ yếu dựa vào trồng trọt
và đánh cá. Mặc dù các nhà chức trách ở Campuchia luôn
quan tâm đặc biệt tới vùng này, thậm chí còn đóng
góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cách kiếm sống
của người dân nơi đây, nhưng tỷ lệ nghèo đói ở
vùng hạ lưu Tonle Sap luôn cao tới 80%.
Qua các báo cáo của nghiên cứu, những mô tả thực
tế đời sống của người dân ở vùng nông thôn
Campuchia đã cho thấy nhiều vấn đề đáng lo ngại. Đó
là nghèo đói và dịch bệnh.
Nguồn nước bị nhiễm bẩn là hiện trạng điển hình
ở các khu làng. Hậu quả là dịch bệnh xuất hiện,
người dân trong làng thường bị ốm và mắc các
bệnh như tiêu chảy, dạ dày, viêm da…, đặc biệt là
những người phụ nữ thường mắc các bệnh phụ khoa.
Và khi mọi người ngã bệnh, hầu như những nơi chăm
sóc sức khỏe thì không đáng tin cậy, xa xôi và đắt
đỏ. Để có được thuốc điều trị, họ phải tốn
khá nhiều tiền cho việc khám bệnh hay các dịch vụ y
tế.
Nhiều chiến lược phát triển bền vững, giảm đói
nghèo cho các khu vực này đã được đề xuất. Nhiều
chương trình cải thiện điều kiện sống cho các gia
đình nghèo đã được chính phủ Campuchia khởi xướng.
Nhưng những kế hoạch đó tưởng chừng khả thi lại
xem ra không phù hợp với điều kiện thực tế.
Bằng chứng cho thấy, việc trợ cấp thuốc men, thực
phẩm cho người dân ở những vùng xa phải trải qua
một quãng đường dài, tốn khá nhiều thời gian cũng
như nhân lực. Thuốc men, thự phẩm đến nơi thì quá
hạn và người bệnh cũng đã quá nặng. Hay như ở vùng
Tonle Sap, người dân được cơ quan y tế hỗ trợ phương
tiện đi lại là chiếc xuồng máy để phục vụ việc
khám chữa bệnh, thế nhưng xuồng máy có động cơ
rất lớn và tiêu tốn nhiều nhiên liệu. Trong khi đó,
người dân không có đủ tiền để chi trả. Do đó,
mọi nỗ lực hỗ trợ cho những người dân nghèo dường
như bằng không.
Sự tồn tại rời rạc
Có thể nói những gì thu nhận được thông qua cuộc
nghiên cứu này là tiếng chuông báo động về điều
kiện sống của một bộ phận người nghèo khó. Đó là
sự tồn tại rời rạc, yếu ớt của những ngôi làng
cách xa thành phố cả về địa lý và sự phát triển.
Cuộc sống của họ là một thảm cảnh. Ví như nhiều
gia đình sống chung trong toa hành khách của một con tàu
bị bỏ lâu ngày, hay một góa phụ ở ngôi làng Kampong
Thkoul luôn giữ bên mình cái lưới đánh cá bởi vì đó
là thứ duy nhất để bà kiếm sống, mất nó có nghĩa
cuộc sống của bà không tồn tại.
Những phận người nghèo khó đó, họ không có gì để
dựa vào trừ đất đai, vì thế khi họ phải đối
mặt với bất cứ vấn đề khó khăn gì như những
mối lo về sức khỏe thì họ phải bán đất, đó là
cách duy nhất để họ sống sót. Và rồi họ không còn
gì để dựa vào mà sống, khó khăn lại chồng khó khăn,
hậu quả là nghèo đói, nguy cơ dịch bệnh cùng nhiều
tệ nạn khác rình rập…
Nghiên cứu cũng cho thấy, trong hoàn cảnh sống như
vậy, những người phụ nữ thường gặp khó khăn hơn
những người đàn ông. Việc chăm sóc y tế và giáo
dục thì ít có khả năng tiếp cận hơn đối với
những người phụ nữ nghèo, họ thường là nạn nhân
của bạo lực gia đình và bị lây truyền HIV/AIDS qua
những người chồng của họ.

Những chính sách cộng
đồng dường như không đến được với những
người dân nghèo ở khu vực Tonle Sap. (Ảnh: AFP). |
Và những câu chuyện khủng khiếp
Cuộc sống nghèo đói, khó khăn, ít được tiếp cận
với nguồn thông tin đã tạo ra một hệ quả khác
nữa, đó là bạo lực gia đình. Thật khủng khiếp khi
bạo lực gia đình đang là vấn đề nổi cộm ở hầu
hết các ngôi làng nghèo. Tại làng Kouk Trach, có đến
90% gia đình trong làng xuất hiện tệ nạn này.
Điều này thường hay xảy ra trong những gia đình nghèo,
ở đó những người đàn ông thường hay chơi cờ
bạc và rượu chè. Họ thường trở về nhà khi chơi
cờ bạc hết sạch tiền hay trong trạng thái say xỉn,
và sau đó thì họ đánh vợ con mình. Trong khi đó,
những người phụ nữ bị cưỡng bức và bạo lực
lại có rất ít hoặc không có sự đền bù hợp pháp
hay sự bênh vực của xã hội. Hầu hết các vụ án cưỡng
bức đã được xét xử một cách dễ dàng.
Một người phụ nữ ở làng Plov Loung đã kể lại câu
chuyện của mình: “Bạo lực xảy ra khi chồng tôi
uống rượu say và ghen tuông với tôi. Anh ta luôn luôn
lăng mạ và mắng mỏ tôi.Đôi khi anh ta ép buộc cô
ấy phải quan hệ tình dục với mình. Nếu tôi từ
chối, anh ta sẽ kết tội tôi ngoại tình”.
Những câu chuyện như thế diễn ra không ít ở các ngôi
làng, chúng phản ánh thực trạng mất cân bằng xã
hội nghiêm trọng, nếu tiếp diễn nó sẽ tạo ra sự
tuyệt vọng cho đại bộ phận những người phụ nữ.
Đây là vấn đề mà nghiên cứu đã đề cập khá sâu,
giúp các nhà chính sách đưa ra hướng giải quyết,
thay đổi luật pháp phù hợp.
Vòng quay của sự tuyệt
vọng
Nghèo đói và tuyệt vọng, những người dân đã tìm
mọi cách để tồn tại, dù đó là hành vi bất hợp
pháp. Dùng xung điện để đánh bắt cá hay chặt phá
rừng và kể cả bán sức lao động của mình cho
những đầu nậu khai thác gỗ…., miễn sao có tiền để
sống.
Khoảng cách lại tiếp nối khoảng cách, chính những
người dân của vùng Tonle Sap cho biết, họ hầu như không
thể tiếp cận với nền giáo dục, chăm sóc sức
khỏe là một vấn đề lớn, và cơ sở hạ tầng không
được cải tạo. Để tìm cách thoát khỏi nghèo đói,
những dân làng đã phải gửi con cái của họ đi làm
việc ở nước láng giềng Thái Lan với tiền công dưới
2$ một ngày hay chỉ bằng một nửa số đó ở ngay chính
trong Campuchia.
Nỗi sợ hãi là khi vòng quay của sự tuyệt vọng này
sẽ tiếp tục ở vùng hạ lưu Tonle Sap, ngay cả khi tăng
trưởng kinh tế dựa vào du lịch.
Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các chính sách cộng đồng
đã không được thực hiện một cách đúng mức, bởi
chính quyền địa phương thường hay đối lập với
mục tiêu chính sách, thông tin tới người dân thường
bị sai lệch và kém chất lượng, nhà cầm quyền thì
mơ hồ, sự đe dọa của các nguồn bạo lực và một
vài công dân bất hợp tác.
Qua đó, cho thấy những thách thức đối với những nhà
làm chính sách, yêu cầu họ phải tăng cường những
chiến lược có tính bền vững, giảm nghèo nhằm giúp
cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Và cách tốt
nhất để thực hiện điều này, đó là chính phủ, các
nhà từ thiện và các tổ chức phi chính phủ cần
phải chú tâm lắng nghe tiếng nói của sự đói nghèo.
Lương Thị Toán biên dịch (Theo
Development Asia, 05/2008)
Chương
trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí
hậu: Kiến nghị thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia do
Thủ tướng làm trưởng ban
(VnMedia,
ngày 21/08/2008)
Đó
là một trong những điểm mới của dự thảo Chương trình
mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu do
Bộ Tài Nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng. Dự
thảo lần này (lần thứ 9 và cũng là lần cuối cùng)
được đưa ra trong buổi hội thảo chiều ngày 20/8/2008
tại Hà Nội. Hội
thảo lần này, ngòai sự có mặt của đại diện các cơ
quan, bộ ngành liên quan như Bộ Tài Nguyên Môi trường,
Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển
Nông thôn… còn thu hút rất đông đại diện các Đại
sứ quán nước ngòai tại Việt Nam cùng các tổ chức
phi chính phủ. Đây cũng chính là các nhà tài trợ đầy
tiềm năng cho việc triển khai thực hiện Chương trình
Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
Giáo
sư, | | |