MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY

Xử lý lô thép phế liệu bẩn: Đã xảy ra tiền lệ xấu

Chưa thể sản xuất đại trà túi nylon tự hủy tại Việt Nam

Chung quanh việc xử lý vụ 18 container sắt thép phế liệu nhập khẩu: Đà Nẵng: "Phớt lờ" mọi đề xuất của ngành TNMT

Việt Nam: Ô nhiễm làm cạn nguồn lợi thủy sản tại những vùng đất ngập nước

"Xẻ thịt" rừng

Golf – Lợi ít, hại nhiều sao vẫn duyệt? (Kỳ 2)

Golf – Lợi ít, hại nhiều sao vẫn duyệt? (Kỳ 1)

Hạn chế sử dụng túi nylon: Muộn còn hơn không!
Đề xuất tăng mạnh thuế tài nguyên khoáng sản
Tiếng nói của sự đói nghèo
Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BĐKH: Thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia do Thủ tướng làm trưởng ban

Phát hiện thêm 3 loài cây rừng ngập mặn VN
Tập đoàn dầu khí Macron: Đưa công nghệ DCR vào giúp Việt Nam xử lý sự cố tràn dầu và ô nhiễm môi trường
Bụi đô thị

Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT): Phải tái xuất 434 tấn rác bẩn tại Đà Nẵng

 

Xử lý lô thép phế liệu bẩn: Đã xảy ra tiền lệ xấu
(Lao Động, 04/09/2008)
(LĐ) - Về vụ Cty CP thép Thành Lợi Đà Nẵng nhập 18 container chứa 434 tấn phế liệu bẩn và cách xử lý "tiền hậu bất nhất" của cơ quan khoa học, sai quy định chính quyền Đà Nẵng, Bộ TNMT tiếp tục có chỉ đạo mới.

Ngày 1.9, Thứ trưởng Bộ TNMT, ông Trần Hồng Hà ký công văn (số 3353/ BTNMT-TCMT, V/v xử lý nhập khẩu phế liệu sai quy định) gửi UBND TP.Đà Nẵng "chất vấn" việc chính quyền không trả lời văn bản (số 3056/BTNMT-BVMT ký ngày 4.8) chỉ đạo của Bộ TNMT trong việc "đề nghị UBND TP.Đà Nẵng phối hợp với các ngành chức năng tiến hành xử phạt hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả, buộc tái xuất lô hàng 434 tấn phế liệu của Cty Thành Lợi".

Thứ trưởng Trần Hồng Hà nhấn mạnh: "Để không tạo tiền lệ xấu cho việc lợi dụng nhập khẩu phế liệu để đưa chất thải vào Việt Nam, Bộ TNMT một lần nữa đề nghị UBND TP.Đà Nẵng chỉ đạo các sở, ban ngành có chức năng xử lý nghiêm vụ việc nêu trên. Trường hợp doanh nghiệp không thể tái xuất được, buộc phải quyết định huỷ lô hàng, thì đề nghị  UBND TP.Đà Nẵng phải thực hiện đúng quy định tại Điều 171 và Điều 252 của Bộ luật Dân sự - (tức tịch thu toàn bộ lô hàng trước khi tiêu huỷ-PV), đồng thời chọn cơ sở đủ năng lực về công nghệ và thiết bị xử lý môi trường để tiêu huỷ, giám sát chặt chẽ... Đề nghị UBND TP.Đà Nẵng báo cáo kịp thời tiến trình xử lý lô hàng cho Bộ TNMT".

Trong thực tế chính quyền Đà Nẵng đã bất chấp ý kiến tham mưu của Sở TNMT, chỉ đạo của Bộ TNMT cũng như những quy định của pháp luật để vội vàng cho doanh nghiệp này... tự phân loại hàng và chỉ tiêu huỷ rác bẩn, chất độc hại lẫn trong lô hàng. UBND TP.Đà Nẵng cũng chưa thành lập hội đồng thiêu huỷ lô hàng, không ra quyết định tịch thu lô hàng như luật định.

Đáng nói là với cách xử lý tạo điều kiện quá thuận lợi cho doanh nghiệp, khiến cho Cty Thành Lợi tiếp tục có dấu hiệu vi phạm Luật Bảo vệ môi trường. Hiện nay, Cty Thành Lợi đã có văn bản gửi UBND TP.Đà Nẵng, xin được thực hiện việc thiêu huỷ lô hàng gần 400 tấn (vận đơn số 111347287, tờ khai HQ 135/NK/KD/KV2) mà doanh nghiệp này mới nhập tiếp về cảng Tiên Sa (sau lô hàng vi phạm, bị xử lý). Trước mắt, hải quan chưa cho thông quan lô hàng này, đề nghị cơ quan chức năng tham gia kiểm hoá, quyết định.

Như vậy, cách "xử lý" của chính quyền Đà Nẵng không những không răn đe doanh nghiệp vi phạm mà còn tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp trong các khâu cần chặt chẽ như thông quan, nhập khẩu... tạo nên "tiền lệ xấu" theo cách gọi của Bộ TNMT.

Thanh Hải

 

 

Chung quanh việc xử lý vụ 18 container sắt thép phế liệu nhập khẩu:

Đà Nẵng: "Phớt lờ" mọi đề xuất của ngành TNMT

(Tienphongonline, 31/8/2008)

Cuối cùng việc 18 container sắt thép phế liệu nhập khẩu của Công ty Thành Lợi cũng đã đến hồi kết, khi Chủ tịch UBND thành phố Đà Nẵng ký văn bản chỉ đạo các cơ quan chức năng liên quan tiến hành xử lý lô hàng trên.

Rác thải độc hại được chứ trong 18 container. Ảnh : Tuổi trẻ

 

Theo đó, lãnh đạo thành phố yêu cầu Công ty Thành Lợi phải có trách nhiệm chuyển toàn bộ lô hàng này đến Cty Thép Đà Nẵng -Ý để tiến hành phân loại tạp chất cần tiêu hủy.

Công ty Môi trường đô thị Đà Nẵng thực hiện việc tiêu hủy toàn bộ các tạp chất đã được phân loại; Sở Tài nguyên- Môi trường phối hợp với các đơn vị liên quan giám sát việc phân loại, tiêu hủy lô hàng.

Theo ông Nguyễn Văn Cán, Chánh Văn phòng - người phát ngôn chính thức của UBND thành phố Đà Nẵng cho biết:

Theo kết quả phân tích của Vinacontrol, lượng chất thải nguy hại lẫn trong tạp chất của lô hàng trên không vượt quá giới hạn nguy hại cho môi trường.

Cụ thể là đã xác định rõ lô hàng sắt thép phế liệu nhập khẩu khối lượng 434,10 tấn, lượng tạp chất chiếm 5% khối lượng lô hàng nhưng lượng chất thải nguy hại chứa trong tạp chất ấy không vượt quá ngưỡng cho phép gây ô nhiễm môi trường.

Trong khi đó, khối lượng sắt thép phế liệu chiếm 95% có thể được sử dụng trong các nhà máy luyện thép để tạo ra sản phẩm là phôi thép có giá trị sử dụng.

Tưởng chừng việc UBND thành phố Đà Nẵng giao 434 tấn phế liệu bẩn cho Công ty cổ phần thép Đà Nẵng-Ý (Khu công nghiệp Hoà Khánh) tiến hành phân loại tạp chất là quyết định khách quan!

Nhưng trên thực tế hoàn toàn không phải như vậy, bởi qua hồ sơ đăng ký kinh doanh của Công ty cổ phần Thành Lợi và Công ty thép Đà Nẵng- Ý tại Sở Kế hoạch- Đầu tư đều được cấp cùng ngày 27/4/2005. Ông chủ Huỳnh Văn Tân vừa là Chủ tịch HĐQT Công ty Đà Nẵng-Ý, đồng thời là Tổng Gíam đốc Cty Thành Lợi, là thành viên sáng lập, cổ đông lớn nhất của cả 2 Công ty này. Như vậy, chẳng khác nào đốt rác hộ doanh nghiệp!

Với quyết định trên, thành phố Đà Nẵng coi như "phớt lờ" mọi đề nghị của ngành tài nguyên môi trường. Bởi trước đó ngày 14/8, (trước 4 ngày thành phố họp để quyết định cho thiêu huỷ lô hàng), Thứ trưởng Bộ Tài nguyên- Môi trường Trần Hồng Hà đã ký văn bản 3056/BTNMT-BVMT gửi UBND thành phố Đà Nẵng nêu rõ quan điểm của lãnh đạo Bộ về xử lý việc nhập khẩu phế liệu sắt thép sai quy định.

Căn cứ báo cáo của Tổng cục Môi trường (Bộ TN-MT) sau cuộc họp với các ngành hữu quan về kết quả giám định lô hàng do Vinacontrol Đà Nẵng thực hiện, tại văn bản kể trên, lãnh đạo Bộ TN-MT đã đề nghị UBND thành phố Đà Nẵng chỉ đạo cơ quan Hải quan phối hợp với các ngành liên quan “tiến hành xử phạt vi phạm hành chính và áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả buộc tái xuất lô hàng trên theo đúng quy định của pháp luật”.

Ngày 22/8 (sau khi thành phố có quyết định buộc thiêu hủy toàn bộ lô hàng 18 container sắt, thép phế liệu nhập khẩu của Công ty cổ phần Thép Thành Lợi ngày 18/8), ông Nguyễn Điểu, Giám đốc Sở Tài nguyên- Môi trường thành phố đã có Văn bản số 384/BC-S TNMT gửi UBND thành phố đề nghị cần thiết phải ban hành quyết định tịch thu lô hàng trước khi thiêu hủy. Theo Sở Tài nguyên- Môi trường nếu theo Điều 171, 252 Bộ luật Dân sự, tài sản bị thiêu hủy thì quyền sở hữu đối với tài sản ấy bị chấm dứt.

Như vậy, để thực hiện việc thiêu hủy lô hàng đúng pháp luật, nhất thiết phải có quyết định thu hồi. Mặt khác, lô hàng 18 container sắt, thép phế liệu trên chỉ có hơn 0,5% là tạp chất, chất thải độc hại, sau khi thiêu hủy sẽ cho ra sản phẩm thép, có giá trị sử dụng.

Vì vậy, thành phố cần phải ra quyết định xử lý với tài sản phát sinh về sau. Điều đáng tiếc ở đây chính là việc cơ quan chức năng chỉ tiêu huỷ tạp chất 5% khối lượng lô hàng, số thép còn lại trên 410 tấn, có giá trị sử dụng, sẽ giao lại cho doanh nghiệp!

Xử như vậy thì khác nào giúp doanh nghiệp miễn thông quan và trốn thuế nhập khẩu, và Đà Nẵng đốt rác dùm doanh nghiệp!.

Theo Văn Sơn
TTXVN

 

Chưa thể sản xuất đại trà túi nylon tự hủy tại Việt Nam

(MONRE NET, 30/08/2008)

">

Về sản phẩm túi nylon được một số nhà sản xuất công bố là có khả năng tự hủy sau 3 tháng (nhưng không… hủy, trên thực tế), một số nhà khoa học cho rằng: sản xuất túi nylon thân thiện với môi trường, đưa vào sử dụng đại trà ở Việt Nam là giấc mơ... xa vời.

Giải thích về việc các sản phẩm túi nylon nói trên không tự hủy dù đã được chôn xuống đất (môi trường thích hợp cho việc phân hủy), TS. Phan Thế Đồng - Giảng viên bộ môn Hóa thực phẩm (Khoa Công nghệ thực phẩm, Đại học Nông Lâm TP.HCM) cho biết:  trong quá trình sản xuất các loại bao bì này, người ta trộn quá ít tinh bột bắp (nguyên liệu) để bao bì dai và chắc. Trong khi nếu trộn nhiều bột, quá trình phân hủy có thể diễn ra nhanh (nhưng lại khiến tính cơ học sẽ kém đi; bao bì dễ thấm nước).

Cùng quan điểm với TS. Phan Thế Đồng, nhiều nhà khoa học nhận định rằng, sử dụng túi nylon tự hủy là hướng giải quyết tốt nhưng rất khó thực hiện bởi giá thành sản xuất cao, độ bền sản phẩm lại thấp, khiến túi dễ bị rách, thấm nước, không phù hợp với mục đích sử dụng “đa năng” của người dân.

TS. Đồng, với 4 năm (2000-2004) nghiên cứu và xác định tính chất của các bao bì được làm từ tinh bột sắn và rau câu tại Pháp cho biết: ở nước ngoài, công nghệ sản xuất các loại bao bì thân thiện với môi trường không còn mới. Tuy nhiên, do giá thành sản xuất các loại bao bì đó tương đối đắt nên chưa thể sản xuất đại trà. 

Để sản xuất ra loại bao bì nói trên, người ta dùng bột khoai tây để tăng khả năng tự hủy của bao bì. Bột khoai tây sẽ làm cho cấu trúc mạch polimer của nylon rỗ ra. Càng cho nhiều bột khoai tây, tốc độ phân hủy của nylon càng nhanh, tuy nhiên khi trộn bột khoai tây vào nylon sẽ dẫn đến tình trạng độ bền (dai, chắc) của bao nylon bị giảm.  

Hiện có một số công ty đã chính thức ra mắt các sản phẩm túi nhựa sinh học sản xuất theo công nghệ tự phân hủy sinh học như Công ty Phú Hòa (Bến Tre) với bao bì tận dụng từ nguồn phế liệu bã mía, xơ dừa, hay túi nhựa Bibicom (Công ty Phúc Lê Gia, TP.HCM). Gần đây nhất là sự xuất hiện các sản phẩm như: hộp cơm, ly uống nước, hộp đựng bánh bao được sản xuất từ nguyên liệu là bột bắp, không gây ô nhiễm môi trường của Công ty Nhựa Tiến Thành (TP.HCM).  Các sản phẩm nói trên được nhà sản xuất khẳng định có thể tự hủy trong môi trường tự nhiên sau 1-4 tháng không sử dụng. Hiện chưa có bất kì quy định hay hướng dẫn cụ thể nào về quyền lợi, trách nhiệm của nhà sản xuất, nhà phân phối, người tiêu dùng đối với việc sử dụng túi nylon.

Ngoài bột khoai tây, người ta có thể dùng các vật liệu li trích từ rong biển để sản xuất túi nylon tự hủy. TS. Đồng cũng cho biết thêm, hiện ông chưa rõ là các công ty công bố sản xuất thành công các sản phẩm nylon thân thiện với môi trường theo quy trình nào. Tuy nhiên, ông Đồng khẳng định, trừ tinh bột bắp thì các thiết bị để sản xuất các loại nylon tự hủy đó chắc chắn được nhập ngoại (kể cả nguyên liệu chính để sản xuất là hạt nhựa). Theo TS. Đồng, ở Việt Nam, hạn chế lớn nhất trong việc sản xuất các loại bao bì tự hủy là do chưa có thiết bị để sản xuất, hầu hết các thiết bị này đều phải nhập ngoại. Về mặt nghiên cứu thì ta có thể nghiên cứu ra nhiều loại bao bì khác nhau nhưng để bắt tay vào sản xuất thì chưa được vì chưa có máy móc để sản xuất, cụ thể là chưa có hướng nghiên cứu các mô hình cần thiết để sản xuất. 

TS. Phan Thế Đồng cho biết, nhiều nước trên thế giới đã sản xuất đại trà Cellophan (bao bì tự hủy từ vật liệu thiên nhiên) hoặc Cellulose (chất xơ biến tính, rất đẹp nhưng thấm nước nên không phát huy được hết tác dụng, dù rất tốt và bền. Có nhiều cách để sản xuất các loại bao bì tự hủy với giá thành thấp nhưng vẫn đảm bảo về mặt kỹ thuật và yêu cầu sử dụng. Cách thứ nhất và cũng là cách dễ thực hiện nhất đó là trộn một phần vật liệu nylon với một phần vật liệu tự hủy và đây cũng là cách làm triển vọng hơn cả.  Cách thứ 2 là ghép các hợp chất kị nước vào các vật liệu thiên nhiên để tăng tính cản nước của bao bì. Hoặc người ta có thể làm các loại bao bì nhiều lớp, lớp đầu là tự hủy, tiếp đó là lớp cản nước (cũng tự hủy). Trong đó, lớp đầu là để tạo nên tính cơ học của bao bì, lớp thứ 2 tạo tính cản nước để có một bao bì chắc và cản nước. 

Cùng với việc tìm giải pháp sản xuất đại trà bao bì tự hủy với giá thành thấp, điều cốt yếu vẫn là “tập” cho người dân thói quen mới: sử dụng các loại bao bì thân thiện với môi trường, "nói không" với sử dụng bao bì bằng nhựa, nhất là vứt, ném bừa bãi loại rác khó phân hủy này !

 

Theo VNN

 

Việt Nam: Ô nhiễm làm cạn nguồn lợi thủy sản tại những vùng đất ngập nước

(Thiennhien Net, 28/8/2008)

ThienNhien.Net - TS. Vũ Văn Triệu, Trưởng Đại diện Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) tại Việt Nam nhận định: “Do sự gia tăng dân số, cộng với quá trình phát triển kinh tế-xã hội những năm qua thiếu tính bền vững, nên nguồn lợi thủy sản của những vùng đất ngập nước ở Việt Nam nghèo kiệt nhanh chóng. Đặc biệt, nạn ô nhiễm môi trường gia tăng đang đe dọa nghiêm trọng đến sự đa dạng sinh học nơi đây.

Việt Nam có khoảng 10 triệu ha đất ngập nước, trong đó bao gồm 4,2 triệu ha trồng lúa, 2 triệu ha nước mặt nuôi trồng thủy sản, 1 triệu ha đất ngập nước ngọt; hơn 3.260 km bờ biển, 15.000 km đới ven bờ, hơn 2.000 con sông suối và 4.000 hồ.

Đất ngập nước của Việt Nam rất đa dạng về kiểu loại, loại hình cảnh quan và sinh thái, phong phú về tài nguyên đa dạng sinh học, có nhiều chức năng, giá trị kinh tế, xã hội, văn hóa...quan trọng. Các vùng đất ngập nước này đã có những đóng góp quan trọng vào phát triển kinh tế-xã hội cho đất nước, mang lại nhiều sản phẩm phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của người dân.

Hiện 1/5 dân số nước ta đang sống ở vùng đất ngập nước và phụ thuộc trực tiếp vào việc khai thác, sử dụng các sản phẩm của đất ngập nước. Song các vùng đất ngập nước này đã và đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi các hoạt động của phát triển kinh tế gây ra như: Ao, hồ bị lấp đi để lấy đất trồng trọt hoặc xây dựng; tài nguyên nước ngầm, hệ động vật, thực vật bị khai thác quá mức không thể tự hồi phục; tôm, cá bị đánh bắt bằng những phương thức mang tính hủy diệt bằng thuốc nổ, chất độc, xung điện làm chết toàn bộ các loài động vật trên diện tích rộng lớn; việc xây đê đắp đập, nắn dòng các con sông làm thay đổi đặc tính thủy văn của chúng. Nhất là một lượng lớn chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và thuốc trừ sâu, phân bón hóa học đổ ra các thủy vực đã và đang gây ô nhiễm nghiêm trọng một số vùng đất ngập nước.

GS.TS Lê Văn Khoa, Trường Đại học quốc gia Hà Nội cho biết: “Việc sử dụng phân bón hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp ở nước ta ngày một gia tăng, chỉ tính riêng lượng thuốc bảo vệ thực vật lên tới 30.000 tấn/năm. Hậu quả làm đất bị "chai cứng" và có đến 50% lượng phân bón hóa học và thuốc bảo vệ thực vật phát tán bằng nhiều con đường khác nhau, và đều tập kết tại những vùng đất ngập nước, gây ô nhiễm môi trường tác động tiêu cực đến sự đa dạng sinh học nơi đây”.

Qua khảo sát tại một số điểm trong 68 vùng đất ngập nước mang tầm quan trọng quốc gia, có khoảng 10% các loài cá có nguy cơ biến mất, trong đó nguy cấp nhất là các loài cá nước ngọt, sản lượng đánh bắt thủy sản tự nhiên tại những vùng này giảm tới mức báo động.

Để bảo vệ, cải thiện môi trường phục vụ phát triển bền vững các vùng đất ngập nước, Việt Nam cần nhân rộng các mô hình bảo tồn gắn với xóa đói giảm nghèo cho đồng bào địa phương như ở tỉnh Quảng Ninh; Cồn Lu, Cồn Ngạn thuộc huyện Giao Thủy (Nam Định)...

Tiến hành điều tra, thống kế, đánh giá tài nguyên để khoanh vùng và quy hoạch lại các vùng đất ngập nước. Đồng thời tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường nói chung và bảo tồn, phát triển bền vững các vùng đất ngập nước nói riêng, nhất là sử dụng có hiệu quả nguồn hỗ trợ quốc tế vào lĩnh vực này./.

Theo TTXVN, 29/08/2008

"Xẻ thịt" rừng
(VietnamNet, 24/08/2008)

 - Một đêm băng rừng, ngược lên phía rừng phòng hộ xã Ia Chía, Ia O (huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai), chứng kiến việc càn sát thú và đốn hạ gỗ ở đây, mới thấy rừng bị con người tàn phá thê thảm. Vùng rừng bị chặt phá thuộc các tiểu khu đã có chủ.

Những cây gỗ nhóm I đường kính 1,5m-2m ở rừng Ia Chía bị đốn hạ. Ảnh: Lê Văn Nhung

Đêm sát thú 

“Đoàng”! Một tiếng nổ khô khốc xé rách màn đêm tĩnh mịch. Ánh sáng chớp loè lên như một vết cắt giữa không gian rồi lặng mất hút. Tiếng con thú kêu lên thảm thiết. 

Một con hoẵng chừng 25 ký bị một vết đạn ca-lip-đu xuyên qua cổ nằm chết ngay tại chỗ. Những con hoẵng con đang bú mẹ bỏ chạy tan tác.

Nhóm săn bốn người đến điểm tập kết. Sau đó, hai người tách ra một mũi đi theo hướng khác. Tuy là một xạ thủ nhiều kinh nghiệm, nhưng đêm nay, mũi phía Ét vẫn không thể hạ gục con hoẵng khác vì nó lớn quá. 

Cả đêm Ét cứ theo vết máu con hoẵng nhưng cuối cùng đành bỏ cuộc. Chỉ vào họng súng còn khét lẹt, tay thợ săn tên Bin cho biết, loại súng này bắn đạn chùm, đã bắn thì khó con nào chạy thoát. Đạn lại dễ mua và rẻ, chỉ cần một trăm rưỡi ngàn đồng đến các điểm bán đồ thể thao tại TP.Pleiku là có mười viên và mua bao nhiêu cũng có. 

Ét nói, dù có kinh nghiệm nhưng đôi khi đi lả cả người trong đêm cũng đành thất bại vì bây giờ quá nhiều người đi săn. Để những mầm non cây cỏ gọi bầy thú về, đầu những tháng mùa mưa, người đi rừng thường tìm cách cho lửa cháy bén những thảm thực vật qua một mùa khô hạn. 

Đó cũng là lý do tại sao hàng năm vẫn có nhiều vụ cháy rừng ở khu vực Ia Chía, Ia O, Ia Meur, Ia Puch… Khi những cơn mưa ùa về, những mầm sống nhô lên cũng là lúc những tay thợ săn (dù không chuyên) ôm súng lên rừng… sát thú. Bầy thú, bất kể lớn nhỏ, đều rơi vào tầm ngắm.

Việc săn bắt thú rừng dù có nghiêm cấm gắt gao nhưng nhiều người vẫn không từ bỏ vì cái lợi rất lớn. Đó là chưa kể thú vui của một số cán bộ có trách nhiệm. Có người giấu cả súng trong rừng, khi nào cần đi săn họ chỉ việc vào rừng lấy súng ra sử dụng. Ét còn giải thích thêm: Thế mới thấy thịt rừng không bao giờ thiếu ở thành phố hay ở trung tâm các huyện, thị xã, dù các quán đã đề biển cam kết với ngành kiểm lâm  “không mua bán thịt thú rừng”!

Tan hoang rừng

Săn bắn thú đã thế, còn việc chặt phá rừng thì có lúc âm ỉ có lúc bùng phát. Mất nhiều giờ đồng hồ, len lỏi vào một số địa điểm thuộc hai tiểu khu 344 và 433, lâm phần Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai, dù các tiểu khu này thuộc rừng phòng hộ và đã được đóng cửa rừng cấm khai thác trên dưới 10 năm nay nhưng tình trạng phá rừng làm rẫy và lấy gỗ vẫn diễn ra.

Những gốc cây ứa nhựa đỏ vàng, dường như rừng cũng đang nhức nhối trước sự tàn phá khốc liệt không mảy may thương tiếc. Càng vào sâu những con dốc cao, càng thấy nhiều loại cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi như gõ mật (gụ mật), cà te, hương… có đường kính từ một đến hai mét bị “xẻ thịt”. Lá cây queo quắp  lại nhưng vẫn còn xanh như một sự trăn trở cuối cùng với rừng trước sự vô cảm của con người.  

Và bị xẻ thịt thành từng mảnh. Ảnh: Lê Văn Nhung

Bin vừa tiết lộ, chính quyền khó ngăn chặn người địa phương vào phá rừng làm rẫy bởi cán bộ cũng chặt cây lấy gỗ quý. Bin giải thích: “Gỗ quý đã được chấm “toạ độ”. Bằng chương trình trồng cây sao xanh xen lẫn rừng quản lý, người ta biết những loại cây này nằm ở vị trí nào, và chủ rừng cũng biết. 

Từ đó, cán bộ cho khai thác rồi tìm cách vận chuyển ra. Cho nên dân địa phương nói cán bộ lấy cây to được thì họ chặt cây nhỏ làm rẫy, nếu không họ sẽ tố giác”. 

“Đồi dốc thế này thì làm sao vận chuyển ra?” - “Họ đưa xe bò nghé, việc gì mà chẳng làm được”. Xe bò nghé là loại xe tương tự như xe bò vàng chuyên kéo gỗ nhưng nhỏ hơn. Loại xe này có hai đầu tời, một đầu giữ không cho xe tuột dốc, một đầu kéo gỗ ra. 

Từ khu vực rừng phòng hộ Ia Chía và Ia O ra, phải qua một trạm gác có một kiểm lâm viên địa bàn và các cán bộ thuộc Ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai, tổng cộng 6 người lúc nào cũng túc trực, nhưng gỗ vẫn lọt qua. 

Bó tay?

Ông Bùi Văn Nghĩa, Hạt trưởng Hạt kiểm lâm huyện Ia Grai, cho biết: Huyện Ia Grai quản lý hơn 55 ngàn héc-ta rừng, trong đó có hơn 17 ngàn héc-ta rừng phòng hộ. Còn lại là rừng sản xuất. Biên chế của Hạt chỉ có 18 cán bộ nên lực lượng “cắm” chốt ở địa bàn quá mỏng, trong khi Ia Grai có tới 13 xã, thị trấn có rừng. Ông Nghĩa nói rằng mới được điều động về phụ trách Hạt từ trước Tết Nguyên đán nên chưa nắm hết! 

Theo Hạt trưởng Nghĩa, thời gian qua có vài vụ phá rừng làm rẫy chứ không có trường hợp nào khai thác gỗ trái phép, có chăng vào những năm trước đó(!); việc săn bắn thú rừng lại càng… không có(?)

Ngược lại, với trách nhiệm của chủ rừng, mặc dù chúng tôi đã nhiều lần liên lạc để đăng ký làm việc với ông Ngô Càn Thanh - Trưởng ban quản lý rừng phòng hộ Ia Grai, nhưng rất tiếc ông Thanh vẫn tìm cách thoái thác. Vì vậy mà vẫn chưa có ai lý giải được, Ban quản lý rừng phòng hộ thường xuyên phải đi thị sát kiểm tra, quản lý rừng như thế, nhưng tại sao vẫn nhiều loại cây nhóm I hàng chục năm tuổi, thậm chí cả trăm năm vẫn bị đốn hạ.

Có thể thấy, việc xử lý hàng loạt các vụ vi phạm phá rừng làm rẫy thời gian vừa qua thực chất chỉ một phần bề nổi của tảng băng chìm. 

  • Lê Văn Nhun

Golf – Lợi ít, hại nhiều sao vẫn duyệt? (Kỳ 2)

Nguyên Dũng

(Tổ Quốc, 29/8/2008)

 

(Kỳ 2) - Chơi golf, môn thể thao quý tộc mới và đang phát triển ở nước ta. Tuy nhiên việc xây dựng các sân golf đang để lại những hậu quả ô nhiễm môi trường nghiêm trọng và lấn chiếm quỹ đất canh tác cuả người dân ở nhiều địa phương. Điều được dư luận quan tâm nhiều là vì sao sân golf mang lại lợi ít, hại nhiều như vậy mà các dự án sân golf vẫn được các địa phương tiếp tục xét duyệt?

 

Sân golf Đồng Mô Hà Nội

Lợi ít – Hại nhiều

Với những số liệu nêu trong bài kỳ 1, hẳn ai cũng thấy rõ môn thể thao golf chỉ phục vụ cho một số rất ít người trong giới “thượng lưu” hoặc các doanh nhân có nhiều tiền. Nó hoàn toàn không nhằm phục vụ cho số đông người dân như các môn thể thao khác, trong khi nó lại đem lại hậu quả ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng xấu tới đời sống của người dân.

Để bảo vệ cho việc xây dựng các sân golf, ông Ts Nguyễn Ngọc Chu, TTK HHSGVN cho rằng “ Theo chúng tôi, có nhiều sân golf càng có lợi cho sự phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, tạo việc làm và nâng cao sức khỏe của người dân” và rằng “ Sân golf ở nước ta không tấn công đất nông nghiệp. Các sân như Chí Linh, Lương Sơn, Tam Đảo là đất đồi, các sân ở Phan Thiết, Móng Cái xây dựng từ những bãi cát trắng bỏ hoang, sân Long Thành cũng làm từ ruộng bỏ hoang vì ngập mặn…”. Cứ theo cái lý của ông Chu thì có lẽ nước ta cần phải xây dựng nhiều sân golf hơn nữa vì chỉ toàn thấy cái “lợi” do nó đưa lại mà thôi. Sự thật có như ông Chu nói hay không? Hãy xem các nhà môi trường, các chuyên gia đánh giá như thế nào.

Trên thực tế những điều ông Chu nói lại không như vậy. Thử hỏi có bao nhiêu người chơi golf mà nói đem lại sức khỏe cho người dân? Có lợi cho sự phát triển kinh tế là như thế nào? 3 năm trước đây các sân golf đều kêu lỗ và kiến nghị Chính phủ giảm thuế cho họ. Thử hỏi nếu xây dựng sân golf mà lỗ hoài như vậy thì họ đầu tư vào xây dựng sân golf để làm gì? Các nhà đầu tư nước ngoài đến Việt Nam để kinh doanh thua lỗ như vậy thử hỏi họ còn có mục đích gì khác, ẩn chứa đằng sau?

Thực tế đã chỉ ra rằng phần lớn sân golf ở Việt Nam lại không phải được xây dựng trên các đồi cát ven biển hay đất hoang hóa không canh tác được mà lại được xây dựng ở những nơi có nhiều nước và có cảnh quan đẹp, đất rừng hay đất canh tác. Bởi nhiều sân golf được xây dựng đi kèm với các dự án xây dựng khu du lịch sinh thái hay khu nghỉ dưỡng cao cấp nên rất khó kiểm soát được đâu là đất thực sự dành cho sân golf với những quy chuẩn rõ ràng theo số lỗ gôn quy định. Chính sự mập mờ này đã tạo ra nhiều khe hở cho nhà đầu tư lợi dụng đầu tư vào bất động sản kiếm lời vì chi phí cho các dự án như vậy thường khá thấp. Tính chung các đất đền bù cho nông dân ở các khu dự án sân golf là khoảng 2-3 USD/m2 (như trường hợp ở Long An chỉ đền bù 35.000/m2).

Nếu xét về doanh thu thuần túy từ sân golf chắc khó có thể có lãi vì quá ít người chơi như vậy, trong khi chi phí bỏ ra để duy trì một sân golf lại rất tốn kém. Người ta đã tính trung bình một sân golf 18 lỗ mỗi ngày tiêu thụ khoảng 5000 m3 nước để tưới cây cỏ, tương đương với mức sử dụng của 5.000-8.000 hộ gia đình. Một sân golf thường chiếm dụng từ 30-60 héc ta đất.

Theo ông Gen Morita, nhà hoạt động môi trường của Nhật Bản thì trung bình mỗi năm 1 sân golf tiêu thụ 1,5 tấn hóa chất, trong đó có axit silic, ô xit nhôm và sắt là những tác nhân có nguy cơ gây bệnh ung thư. Các hóa chất, trong đó có thuốc diệt cỏ được phun xuống cỏ hàng ngày để giữ cho cỏ xanh tươi, ngấm xuống đất và nguồn nước làm cho người dùng nước dễ bị nhiễm độc và rối lọan chức năng hệ thần kinh TW. Mối nguy hiểm của việc sử dụng nhiều thuốc trừ sâu và phân hóa học đã được chứng minh tại CLB Sapporo Kokusai Country ở Tp Hiroshima Nhật Bản. Sau khi phun hóa chất có pha đồng xuống để cỏ khỏi héo vào mùa đông thì khi mưa xuống hóa chất đó đã tan vào nguồn nước, hệ thống thoát nước và làm chết 90.000 con cá của một dự án thủy sản gần đó. Nhiều người xung quanh bị viêm mũi dị ứng, phát ban kinh niên và hen suyễn…

Không những thế mỗi khi có dự án sân golf được triển khai thì nhiều người nông dân đã bị mất ruộng đất với giá đền bù cực kỳ rẻ mạt. Kinh nghiệm ở các nước Đông Nam Á đã cho thấy rõ điều đó. Ở Thái Lan có trường hợp các nhà đầu tư mua hết đất xung quanh một điểm dự định làm sân golf chặn hết đường đi của nông dân sống ở khu vực đó và buộc họ phải bán rẻ cho nhà đầu tư để di dời đi nơi khác. Ở Indonesia, tại đảo Cimacan vào năm 1991 để xây dựng sân golf người ta buộc phải di dời 287 hộ nông dân đi nơi khác với giá đền bù chỉ 1,5 xu Mỹ/m2.

Theo bà Anita Pleumaron - thành viên mạng lưới du lịch châu Á (ANTENNA) thì trái với tuyên bố của các nhà đầu tư, việc phát triển sân golf thường mang lại rất ít lợi ích kinh tế cho địa phương mà phần lớn lợi nhuận sẽ về tay các nhà đầu tư nước ngoài.

Các nhà khoa học của cơ quan bảo vệ môi trường của Mỹ (EPA) cho biết, thuốc trừ sâu làm ô nhiễm môi trường và phát tán 90% vào không khí khi được phun ra làm chết nhiều loại sinh vật có ích và một lượng lớn côn trùng, do đó gây ảnh hưởng lớn đến đất đai canh tác xung quanh.

Chính vì tác hại gây ra cho môi trường xung quanh và ảnh hưởng xấu đến đời sống của người dân mà các tổ chức hoạt động cho môi trường trên thế giới từ hơn 50 năm qua đã đấu tranh để phản đối việc xây dựng sân golf trên toàn thế giới. Đã hình thành phong trào phản đối sân golf ở nhiều nơi như: Mạng lưới toàn cầu hành động chống các sân golf của Nhật Bản (GNAGA); Mạng lưới con người và môi trường châu Á-TBD của Malaysia (APPEN)… đều kêu gọi một phong trào chống sân golf toàn cầu. Các nhà hoạt động môi trường thế giới tẩy chay sân golf bằng cách lấy ngày 29/4 hàng năm là ngày thế giới không có sân golf.

 

Song Be golf Resort

Có nên tiếp tục phê duyệt dự án sân golf?

Số người chơi golf ở Mỹ những năm gần đây đã giảm mạnh. Những người chơi trên 25 lần /năm đã giảm từ 6,9 triệu (2000) xuống còn 4,6 triệu (2005). Số người chơi golf nói chung đã giảm đi từ 30 triệu xuống còn 26 triệu trong cùng thời kỳ.

Trong khi thế giới số người chơi golf giảm đi thì số các dự án xây dựng sân golf ở Việt Nam lại tăng lên đáng kể. Có thể nói các tỉnh đều có dự án sân golf, thậm chí có tỉnh còn có nhiều dự án sân golf được triển khai như Hà Nội, Tp HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An…

Các nhà đầu tư vào xây dựng sân golf ở nước ta đều nhằm vào chính sách cho thuê đất ưu đãi của Nhà nước cùng với chính sách đền bù bắt chẹt người dân để tìm cách đầu tư vào bất động sản kiếm lời do tính chất sinh lợi cao của đất đai trong thời gian qua. Ở đây cũng phải nhận thấy có sự khác biệt về vấn đề sở hữu ruộng đất cũng tạo ra sự dễ dãi trong việc xét duyệt cấp đất cho các dự án xây dựng sân golf núp dưới các chiêu bài xây dựng khu nghỉ mát sinh thái, xây biệt thự, khách sạn cao cấp… để phục vụ khách du lịch, vì lợi ích công cộng… Vì đất thuộc sở hữu Nhà nước nên việc xét duyệt các dự án xây dựng sân golf mới diễn ra phổ biến tràn lan như vậy. Điển hình là việc xét duyệt 13 dự án xây dựng sân golf ở Long An vừa qua đã vấp phải sự chống đối mạnh mẽ của người dân địa phương. Việc UBND tỉnh Thừa Thiên – Huế cấp giấy phép cho công ty cổ phần Thiên An xây dựng sân golf 36 lỗ trên diện tích 150 héc ta ở xã Thủy Dương đã đẩy 360 hộ nông dân ở đây lâm vào cảnh mất đất, bị kết án nghèo… Xu hướng xây dựng các dự án sân golf nhiều lỗ để có thêm nhiều diện tích sử dụng được các nhà đầu tư khai thác triệt để vì mục đích làm giàu của riêng họ.

Việc các nhà đầu tư tìm cách lợi dụng cơ chế quyền sở hữu Nhà nước về đất đai để tìm mọi cách chiếm dụng được càng nhiều quỹ đất bao nhiêu càng có lợi bấy nhiêu đã trở thành câu chuyện thường ngày ở huyện. Sự cấu kết móc ngoặc giữa các nhà đầu tư với các quan chức Nhà nước để hợp pháp hóa việc sử dụng đất đai vào các dự án sân golf với mục đích xem ra rất “vì quốc kế dân sinh” như nào là mang lại lợi ích kinh tế đóng góp vào ngân sách NN, nào là sẽ tạo ra công ăn việc làm cho dân địa phương, nào là phục vụ nhu cầu du khách đến VN ngày một tăng lên… Tuy nhiên cái lợi thì ít, còn cái hại lâu dài thì như đã phân tích trên đây là quá rõ ràng. Cái hại trước mắt là làm cho quỹ đất canh tác thu hẹp dần lại, người nông dân mất đất, sói mòn đất đồi, rừng, gây ô nhiễm không khí và môi trường nước xung quanh…

Nhận thức được những nguy cơ từ các dự án sân golf mang lại, ngày 4/4/2008 Thủ tướng Chính phủ đã có công văn yêu cầu rà soát lại các sân golf trên cả nước. Tuy nhiên do sự phân cấp đầu tư nên hầu hết các dự án sân golf đều do các địa phương xét duyệt và cấp giấy phép và chính điều đó đã dẫn đến bùng nổ các dự án sân golf thời gian qua.

Các cấp chính quyền địa phương không hiểu vì lý do gì, biết hay không biết tác hại của các sân golf mà vẫn cứ thi nhau duyệt cho các doanh nghiệp triển khai các dự án sân golf như vậy? Nhiều đại gia (DNNN) cũng đã nhảy vào để làm các dự án sân golf như Vinashin đã có dự trù xây dựng 5 sân golf ở Long An là một ví dụ.

Đã đến lúc Nhà nước cần có các biện pháp mạnh ngưng cấp giấy phép đối với các dự án không mang lại nhiều lợi ích cho cộng đồng cũng như cho nền kinh tế như sân golf để tránh các hậu quả của sự việc “đã rồi” , để rồi sau đó lại tiếp tục kêu gọi rà soát và rút kinh nghiệm./.

N.D

 

Golf – Lợi ít, hại nhiều sao vẫn duyệt? (Kỳ 1)

Nguyên Dũng
(Tổ Quốc, 26/8/2008)

(Toquoc) – Thập niên trở lại đây cùng với sự phát triển kinh tế nhanh chóng của đất nước, chơi golf đã trở thành môn thể thao của những người giàu và đã bùng nổ phong trào xây dựng sân golf.

Sân golf ở nước ta mới bùng phát trong thập niên trở lại đây và ngày càng có xu hướng nhiều dự án xây dựng sân golf được gửi lên các chính quyền địa phương ở cấp Tỉnh. Vì sao lại có tình trạng như vậy? Phải chăng số người dân thích chơi golf đã tăng lên nhanh chóng? Hay lợi nhuận do các dự án xây dựng sân golf đưa lại đã hấp dẫn các nhà đầu tư? Những số liệu thống kê và phân tích lợi hại của các chuyên gia đưa ra đáng để chúng ta phải suy nghĩ. Có nên hay không tiếp tục duyệt các dự án xây dựng sân golf?

 

Sân golf Ngôi sao Chí Linh

Golf – môn thể thao của người giàu
 

Cho đến nay người ta vẫn chưa biết chính xác chơi golf xuất phát từ đâu, nhưng đa số đều thừa nhận golf xuất phát từ Scotland, chứ không phải từ Hà Lan vào thế kỷ 11. Người ta cũng ghi nhận cuộc chơi golf đầu tiên vào 1456 ở Scotland rồi sau đó lan vào Anh và rồi sang các nước nói tiếng Anh khác (theo ghi nhận của Hiệp hội golf Eidinburg Burgess).

Về tên gọi, GOLF có nhiều cách lý giải song cách giải thích được ưa chuộng nhất đó là viết tắt chữ cái đầu tiên bằng tiếng Anh các từ: Green, Oxygen, Light, Fresh = GOLF.

Theo thống kê của Hiệp hội golf quốc tế vào năm 2005 trên thế giới có khoảng 32.000 sân golf ,trong đó riêng Mỹ chiếm gần một nửa. Những nước có nhiều sân golf là những nước đều nói tiếng Anh như Scotland, Anh, New Zealand, Australia, Ireland, Wales, Canada, và nước duy nhất không dùng tiếng Anh là Thụy Điển.

Trong thập niên vừa qua môn thể thao golf đã lan nhanh sang các nước Đông Á như Nhật và Hàn Quốc. Ngay ở Trung Quốc vào giữa thập kỷ 80 mới có 1 sân golf đến 2005 đã có 200 sân golf.

Những tên tuổi, những nhà chơi golf nổi tiếng thế giới như Tiger Woods, Jack Nicklaus, Lorena Ochoa và Annika Sôrenstam đã trở nên nổi tiếng trong làng golf thế giới mà những ai nghiền môn thể thao này đều biết đến.

Tuy nhiên môn thể thao này chỉ dành cho giới thượng lưu và những người lắm tiền nhiều của, còn người dân thường thì không thể có đủ điều kiện tham gia vì nó rất tốn kém công sức và tiền của. Chỉ cần nhìn qua biểu giá các dụng cụ cần thiết dùng cho môn chơi thể thao quý tộc này chắc nhiều người sẽ phải giật mình. Một bộ gậy đánh golf có giá từ 11 triệu đến 20 triệu VND. Một hộp bóng 12 quả có giá từ 470.000 đến 850.000. Găng tay dùng cho đánh golf có giá 270.000 và ô che nắng giá 640.000.

Muốn tham gia chơi golf bạn phải bỏ ra mỗi lần chơi tiền lệ phí sân khoảng 100 USD cộng với 25 USD tiền thuê gậy và khoảng 30 USD tiền ăn… tổng cộng khoảng 150-200 USD/1 lần chơi, tức bằng lương cả tháng của một công chức có thu nhập cao. Mức tiền này nhiều ít còn tùy thuộc vào từng loại sân có bao nhiêu lỗ mà bạn muốn tham gia. Những người chơi golf thường xuyên đều phải mua thẻ hội viên CLB golf với mức từ 10.000 USD đến 20.000 USD/năm. Lệ phí hội viên CLB golf Sông Bé hiện là 23.000 USD, còn thẻ hội viên CLB golf 36 lỗ ở Thủ Đức có giá 36.000 USD…

Với số tiền trên chắc mọi người sẽ hiểu những người đến sân golf họ là ai rồi. Theo thống kê của Hiệp hội golf VN, hiện cả nước có khoảng 5000 hội viên song số người chơi golf thường xuyên chỉ có khoảng 2000 người mà đa phần là người nước ngoài. Nhiều hội viên trong số đó là khách VIP của các DN hoặc của các CLB golf mà người ta thường ám chỉ là khách “ngoại giao”, những khách rất cần cho các DN và CLB golf trong làm ăn kinh doanh.

Đua nhau làm sân golf

Một câu hỏi được đặt ra là sân golf ở nước ta nhiều hay ít? Về vấn đề này có hai quan điểm rõ ràng. Quan điểm từ những nhà đầu tư và thích chơi golf thì cho rằng chưa nhiều. Còn quan điểm của các nhà kinh tế và bảo vệ môi trường cũng như người dân thì hiện đã quá nhiều sân golf. Theo thống kê của Bộ TN&MT cho đến nay cả nước ta có 123 dự án xây dựng sân golf được trình lên xin phép ở các tỉnh với số đất dự định sử dụng lên tới trên 38.000 héc ta. Chỉ điểm sơ qua mấy thành phố lớn chúng ta đã thấy khá nhiều sân golf đã và đang được đưa vào xây dựng. Quanh Hà Nội có 7 sân golf trên tổng số 25 sân golf được quy hoạch xây dựng ở vùng Đồng bằng Bắc bộ.Cũng theo quy hoạch Tp Hồ Chí Minh sẽ có 13 sân golf, trong đó hiện có 1 sân golf đã đi vào hoạt động là sân golf Hoa Việt ở quận 9, 5 sân khác đã được cấp giấy phép với tổng diện tích 1.262 héc ta ( Q.2 – 1, Q.9 – 2, Q.Tân Bình – 1, Q.Bình Chánh – 1, Củ Chi – 1) và 2 dự án đang xin chủ trương để đầu tư. Tuy nhiên vừa qua trước sức ép của dư luận UBND Tp HCM đã phải ra thông báo tạm ngưng cấp giấy phép cho các dự án đầu tư xây dựng sân golf trên địa bàn thành phố. Tại Bình Dương hiện cũng đang có 4 sân golf ( Mekong golf villas -199,2 ha; Golf Palm Sông Bé – 104 ha; Twin Doves golf club & Resort – 165 ha và CLB sân golf và khu nghỉ dưỡng đảo Hồ Diệp – 150 ha), trong khi tổng diện tích xây dựng sân golf chỉ có 257,6 ha.

Chỉ tính riêng tỉnh Long An trong năm 2007 đã phê duyệt 13 dự án sân golf kèm theo dự án xây dựng khu dân cư chiếm tổng cộng trên 7000 héc ta đã tạo ra phản ứng mạnh mẽ từ những người dân địa phương và trong dư luận. Chính vì vậy mà Tỉnh ủy Long an đã quyết định chỉ chấp nhận 3 dự án sân golf trên địa bàn 3 huyện Cần Giuộc, Thủ Thừa và Đức Hòa. Những dự án trên đã chiếm tới 700 ha đất nông nghiệp nên vẫn tiếp tục bị pphản đối mạnh mẽ của người dân và cuối cùng Tỉnh ủy chỉ còn chấp nhận duyệt 1 dự án xây dựng sân golf. Xung quanh việc xét duyệt ồ ạt các dự án xây dựng sân golf trên địa bàn tỉnh Long An đã gây xôn xao dư luận, khiến người dân không hiểu vì lẽ gì mà một tỉnh nhỏ như Long An lại định cho xây dựng nhiều sân golf đến như vậy?

Theo Ts Nguyễn Ngọc Chu – TTK Hiệp hội sân golf Việt Nam (HHSGVN ra đời 17/8/2007) thì ở nước ta hiện có 17 sân golf đi vào hoạt động. Đó là các sân golf như: SG 36 lỗ Chí Linh (HD), SG 36 lỗ Đồng Mô (HT cũ), CLB golf Đà Lạt Palace 18 lỗ (LĐ), Sông Bé golf Resort 18 lỗ (BD), Golf Long Thành 36 lỗ (ĐN), Dongnai golf Resort 18 lỗ (ĐN), Vung Tau Paradise 27 lỗ ….

Ông Chu cho hay ở Việt Nam mới có 17 sân golf đi vào hoạt động trong khi ở Thái Lan lại có gần 1000 sân golf để bảo vệ quan điểm nước ta chưa có nhiều sân golf như người ta phê phán

 

Đề xuất tăng mạnh thuế tài nguyên khoáng sản

(ThienNhien.Net, 25/8/2008)
Tăng thuế để định hướng tiêu dùng tiết kiệm và bảo vệ môi trường (Ảnh: PanNature)
ThienNhien.Net - Để hạn chế tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi, không hiệu quả như hiện nay, Bộ Tài chính dự kiến trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết sửa đổi khung thuế suất thuế tài nguyên quy định tại Pháp lệnh Thuế tài nguyên. Dự kiến mức thuế sẽ được nâng cao nhằm thắt chặt quản lý khai thác tài nguyên khoáng sản và tăng nguồn thu cho ngân sách.


Trong bản thuyết trình đề nghị lên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Bộ Tài chính cho rằng, khai thác khoáng sản, đặc biệt là kim loại quý hiếm vẫn xảy ra bừa bãi, nặng về xuất khẩu thô và ít chế biến theo chiều sâu. Theo đó, dự kiến điều chỉnh nâng khung thuế suất sẽ chủ yếu đối với tài nguyên khoáng sản kim loại có giá trị kinh tế cao và không tái tạo được.

Thuế tài nguyên là nguồn thu quan trọng đối với ngân sách địa phương, vì đây là khoản thu điều tiết 100% cho ngân sách địa phương (trừ dầu khí), đồng thời là công cụ hữu hiệu để các cơ quan quản lý nhà nước có thể tăng cường việc theo dõi, giám sát hoạt động khai thác tài nguyên của các đối tượng nộp thuế ngoài việc quản lý thông qua giấy phép thăm dò, khai thác, chế biến tài nguyên...

Với khung thuế suất thuế tài nguyên hiện hành, Pháp lệnh Thuế tài nguyên vẫn chưa đạt được mục tiêu yêu cầu đặt ra là góp phần hạn chế việc khai thác tài nguyên nguyên khai quá mức, khuyến khích đầu tư chế biến quặng tinh nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên.

Việc kéo dài tình trạng khai thác khoáng sản bừa bãi không những phá vỡ quy hoạch tổng thể về quản lý khai thác tài nguyên, làm cạn kiệt nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường, mà còn giảm nguồn thu thuế và hạn chế giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu. Vì thế, để siết chặt hoạt động quản lý, bảo vệ nguồn tài nguyên quý giá không thể tái tạo được và để tăng nguồn thu cho ngân sách, rất cần thiết phải sửa đổi khung thuế suất quy định tại Pháp lệnh Thuế tài nguyên.

Cụ thể, dự kiến điều chỉnh khung thuế suất thuế tài nguyên như sau: khoáng sản kim loại (trừ vàng và đất hiếm) sẽ tăng từ 1-5% lên 10-30%; khoáng sản không kim loại tăng từ 1-5% lên 5-10%. Riêng đối với nhóm tài nguyên đá quý từ mức 3-8% sẽ tăng lên 5-20%; than từ 1-3% lên 5-20%. Khí thiên nhiên sẽ điều chỉnh tăng từ 0-10% lên 6-25%.

Các nhóm tài nguyên khác vẫn giữ khung thuế suất như hiện hành: Dầu mỏ từ 6-25%; sản phẩm rừng tự nhiên 1-40%; thủy sản tự nhiên 1-10%; nước thiên nhiên 0-10%; tài nguyên khác: 0-20%.

Căn cứ khung thuế suất thuế tài nguyên, Chính phủ sẽ quy định cụ thể mức thuế suất đối với từng nhóm tài nguyên khoáng sản cho phù hợp với điều kiện thực tế của tài nguyên và hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân.

Do đó, nếu thực hiện khung thuế tài nguyên dự kiến sửa đổi như trên thì mức quy đổi cố định sẽ là: Sắt và Mangan từ 15.000 đ/tấn lên 30.000-75.000 đ/tấn; Chì từ 20.000 đ/tấn lên 40.000-66.000 đ/tấn; Kẽm từ 40.000 đ/tấn lên 80.000-195.000 đ/tấn; Đồng từ 100.000 đ/tấn lên 200.000-600.000 đ/tấn; Thiếc từ 650.000 đ/tấn lên 1.300.000-3.900.000 đ/tấn; Than tù 4.000-6.000 đ/tấn lên 20.000-80.000 đ/tấn; Đá xây dựng từ 750đ-4.000đ lên 1.500-8.000đ/m3; Cát từ 1.000đ lên 2.000đ/m3...

Với mức giá này, nếu cộng thêm thuế và phí, giá bán của các loại khoáng sản trên sẽ bị đẩy lên mức cao hơn khá nhiều. Tuy nhiên, nếu so sánh với mức thuế tài nguyên của Trung Quốc, thì mức thuế mới này vẫn còn thấp hơn.

Tính toán của Bộ Tài chính cho thấy, với mức thuế suất thuế tài nguyên dự kiến tối thiểu là 10%, thì số thu thuế tài nguyên, kể tài nguyên đối với dầu khí dự kiến đạt khoảng 21.500 tỷ đồng/năm (trong đó số thu thuế tài nguyên đối với tài nguyên khoáng sản tăng trên 12 tỷ đồng/năm). Với mức thuế suất tối đa 30% thì số thu thuế tài nguyên dự kiến khoảng 22.000 tỷ đồng/năm (trong đó số thu thế tài nguyên đối với quặng kim loại tăng thêm khoảng trên 60 tỷ đồng/năm)

Theo đánh giá chung, việc nâng thuế suất thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi truờng trong hoạt động khai thác khoáng sản là điều cần thiết. Điều đó sẽ góp phần hạn chế việc khai thác tràn lan, tăng thu cho ngân sách địa phương để có nguồn kinh phí cho việc cải tạo môi trường, sửa chữa hạ tầng quanh khu vực khai thác. Đồng thời buộc các doanh nghiệp phải tính toán khai thác tiết kiệm, hiệu quả để giảm chi phí và tập trung đầu tư vào chế biến sâu, qua đó góp phần bảo vệ tài nguyên và nâng cao giá trị tài nguyên.

Hồng Phượng
Hạn chế sử dụng túi nylon: Muộn còn hơn không!
 
(Báo  Vĩnh Phúc, 27.08.2008)

 

 
Trong bối cảnh nhiều nước trên thế giới đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm giảm thiểu sử dụng túi nylon thì tại nước ta, bao bì nylon vẫn được xài “vô tư”. Tại hội thảo bàn về giải pháp giảm thiểu sử dụng túi nylon do Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM phối hợp cùng Bộ Tài nguyên và Môi trường Hàn Quốc tổ chức vào ngày 26-8, nguyên nhân của vấn nạn này được xác định là cơ quan chức năng chưa thực sự quan tâm, chưa xem đây là một hiểm họa của môi trường. Còn đối với người dân thì đó là thói quen chưa thể bỏ được.

 

93% người dân có thói quen sử dụng túi nylon
Bà Ngô Nguyễn Ngọc Thanh, chuyên viên Quỹ tái chế TPHCM cho biết, kết quả khảo sát thực tế tình trạng sử dụng túi nylon trong cộng đồng cho thấy, có đến 93% người dân khi đi mua hàng không mang theo túi vì cho rằng người bán sẽ cung cấp và mang theo túi đi mua hàng rất bất tiện. Mặt khác, có đến 28% người dân vứt ngay túi nylon sau khi mua hàng về, số còn lại thì giữ lại một ít túi nylon sạch để đựng rác. Điều này dẫn đến hậu quả là môi trường TPHCM chịu tải trên 30 tấn túi nylon/ngày. Trong đó khu vực phát sinh nhiều nhất là chợ chiếm 70%, kế đến là siêu thị 25% và cuối cùng là trung tâm thương mại 3%.
Tại hội thảo, nhiều nhà quản lý của Hàn Quốc và Việt Nam nói chung đã khẳng định, việc thu gom và tái chế rác nylon là giải pháp hữu hiệu nhất để hạn chế ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên, ở nước ta, chỉ có khoảng 3%-4% rác nylon được thu gom tái chế, phần lớn là phát thải ra môi trường. Lý giải thực tế này, bà Trần Thị Mỹ Diệu, Khoa Công nghệ và quản lý môi trường Đại học Văn Lang cho rằng, nguyên nhân chủ yếu là vấn đề giá thành và chất lượng sản phẩm tái chế không thể cạnh tranh với sản phẩm nhựa chính phẩm.
Thậm chí trong một vài trường hợp, sản phẩm làm từ vật liệu tái chế có chi phí cao hơn so với sản phẩm được làm từ nhựa chính gốc. Người tiêu dùng cũng ưa chuộng sản phẩm làm bằng nguyên liệu nhựa chính gốc hơn vì không bị lẫn lộn nhiều loại tạp chất, phụ gia như nguyên liệu nhựa tái chế. Mặt khác, túi nylon được sử dụng phân tán rộng trong cộng đồng nên việc thu gom, xử lý, tái chế nhựa phế thải rất khó khăn và tốn kém. Điều đáng nói trong môi trường đất, thời gian để có thể phân hủy túi nylon phải mất khoảng 400 năm.
Vì vậy số lượng lớn túi nylon phát thải ra môi trường đã và đang gây ra những tác hại rất nghiêm trọng. Dễ nhận thấy nhất là những mảng lớn rác túi nylon đang tích tụ trên các con sông, kênh thoát nước nội ô… đã làm tắc nghẽn hệ thống thoát nước của thành phố, gây ngập mỗi khi trời mưa, phá hủy hệ thống đất nông nghiệp, gia tăng thể tích bãi rác tại các bãi chôn lấp, gây cản trở việc phân hủy rác, tăng chi phí ngân sách trong việc xử lý rác… Chưa kể, trong quá trình xử lý bằng phương pháp đốt có thể phát sinh khí dioxin gây nguy hại đến sức khỏe cộng đồng.
Loay hoay tìm giải pháp
Bà Kim Ae, đại diện Bộ Tài nguyên và Môi trường Hàn Quốc cho biết, kinh nghiệm giảm thiểu sử dụng túi nylon tại Hàn Quốc cho thấy, nhất thiết phải có sự can thiệp từ phía nhà nước và sự hưởng ứng tích cực từ phía cộng đồng. Về phía nhà nước phải cụ thể hóa quy định cấm sản xuất và phân phối sản phẩm nhựa sử dụng 1 lần. Cụ thể như cấm sản xuất và phân phối ly, chén dĩa, đũa gỗ, tăm, muỗng, ống hút, các tấm đệm nhựa… dùng 1 lần; cấm hệ thống siêu thị, bán hàng phát miễn phí túi giấy, nhựa hoặc túi mua sắm dùng 1 lần…
Mặt khác, ban hành chính sách khuyến khích, vận động sự tham gia tự nguyện từ phía cộng đồng, doanh nghiệp như hoàn trả tiền hoặc giảm tiền cho người tiêu dùng nếu không sử dụng sản phẩm nhựa 1 lần; thưởng cho người có công phát hiện các hành vi vi phạm trong việc sử dụng sản phẩm nhựa sử dụng 1 lần… Đã có những lúc, tại Hàn Quốc rộ lên phong trào toàn dân chụp hình những hành vi vi phạm sử dụng túi 1 lần mà nhờ vậy chỉ sau 1 năm áp dụng, số lượng rác thải của Hàn Quốc đã giảm từ 486 túi xuống còn 231 túi/1.000 khách hàng.
Tuy nhiên, khi nhìn lại vấn đề giảm thiểu sử dụng túi nylon tại nước ta thì tất cả đều là con số 0. Ông Lê Văn Khoa, Giám đốc Quỹ tái chế TPHCM cho rằng, để giảm thiểu sử dụng túi nylon giải pháp hiệu quả nhất là tăng cường sử dụng bao bì tự hủy. Tuy nhiên, việc sản xuất loại bao bì tự hủy có giá thành cao hơn khoảng 14% so với bao bì tái chế.
Vì thế nhất thiết phải có sự hỗ trợ từ phía nhà nước. Nhưng chính sách hỗ trợ cho vấn đề này cho đến nay vẫn chưa được xây dựng. Ông Bùi Cách Tuyến, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng, phải xây dựng lộ trình hạn chế sử dụng túi nylon và nên bắt đầu từ các siêu thị; đầu tư cho việc nghiên cứu sản xuất các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường, đặc biệt cần có chính sách nâng cao nhận thức cộng đồng về tác hại túi nylon từ đó từng bước từ bỏ thói quen sử dụng túi nylon... nhưng bao giờ mới bắt đầu thì còn phải chờ. Có thể nói, ngay từ bây giờ các cơ quan chức năng bắt tay vào xây dựng biện pháp nhằm giảm thiểu sử dụng túi nylon là đã là muộn. Thế nhưng muộn còn hơn không!



 

Trung tâm Thông tin TN&MT (Theo www.sggp.org.vn

 

 

Tiếng nói của sự đói nghèo

(Thiennhien Net, 21/8/2008)
80% người dân ở trong những ngôi làng xung quanh vùng Tonle Sap, một vùng mà nghề kiếm sống chính là trồng trọt và đánh cá, đang phải sống trong nỗi lo lắng vì nghèo đói. (Ảnh: PanNature).
ThienNhien.Net - Nghèo đói là gì? Đó là việc một người phụ nữ phải chứng kiến đứa con trai của mình chết do sốt Dengue bởi vì cô ấy không có tiền để thuê taxi đưa con tới một bệnh viện gần đó. Đó là việc một người đàn ông tiếp tục chặt phá rừng bất hợp pháp bởi vì ông ấy cần tiền trang trải cho bữa ăn gia đình. Đó là việc một người phụ nữ bị nhiễm HIV/AIDS từ người chồng do anh ta phải rong ruổi dọc theo biên giới để bán sức lao động của mình. Đó chính là đứa trẻ đến tuổi mà không được đến trường. Và nếu đến trường thì có tác dụng gì khi chúng đã phải nhịn đói mấy bữa liền.


Mới đây, Cơ quan nguồn lực phát triển Campuchia (CDRI) đã hợp tác với Cơ quan thống kê quốc gia của nước này, thực hiện một cuộc nghiên cứu về sự nghèo đói ở vùng nông thôn, với tiêu đề “Chúng ta lúc nào cũng sống trong nỗi lo lắng”, được hỗ trợ tài chính bởi Quỹ hợp tác giảm đói nghèo (PRCF), của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).

Nghiên cứu đã truyền tải được tiếng nói thực sự của người dân và phản ánh thực trạng đời sống của họ, đặc biệt là cảnh sống của những người nghèo ở 24 ngôi làng thuộc vùng Tonle Sap - hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Tại đây, người người dân kiếm sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và đánh cá. Mặc dù các nhà chức trách ở Campuchia luôn quan tâm đặc biệt tới vùng này, thậm chí còn đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cách kiếm sống của người dân nơi đây, nhưng tỷ lệ nghèo đói ở vùng hạ lưu Tonle Sap luôn cao tới 80%.

Thực tế đáng buồn

Nghiên cứu đã truyền tải được tiếng nói thực sự của người dân và phản ánh thực trạng đời sống của họ, đặc biệt là cảnh sống của những người nghèo ở 24 ngôi làng thuộc vùng Tonle Sap - hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á. Tại đây, người người dân kiếm sống chủ yếu dựa vào trồng trọt và đánh cá. Mặc dù các nhà chức trách ở Campuchia luôn quan tâm đặc biệt tới vùng này, thậm chí còn đóng góp trực tiếp hoặc gián tiếp vào cách kiếm sống của người dân nơi đây, nhưng tỷ lệ nghèo đói ở vùng hạ lưu Tonle Sap luôn cao tới 80%.

Qua các báo cáo của nghiên cứu, những mô tả thực tế đời sống của người dân ở vùng nông thôn Campuchia đã cho thấy nhiều vấn đề đáng lo ngại. Đó là nghèo đói và dịch bệnh.

Nguồn nước bị nhiễm bẩn là hiện trạng điển hình ở các khu làng. Hậu quả là dịch bệnh xuất hiện, người dân trong làng thường bị ốm và mắc các bệnh như tiêu chảy, dạ dày, viêm da…, đặc biệt là những người phụ nữ thường mắc các bệnh phụ khoa.

Và khi mọi người ngã bệnh, hầu như những nơi chăm sóc sức khỏe thì không đáng tin cậy, xa xôi và đắt đỏ. Để có được thuốc điều trị, họ phải tốn khá nhiều tiền cho việc khám bệnh hay các dịch vụ y tế.

Nhiều chiến lược phát triển bền vững, giảm đói nghèo cho các khu vực này đã được đề xuất. Nhiều chương trình cải thiện điều kiện sống cho các gia đình nghèo đã được chính phủ Campuchia khởi xướng. Nhưng những kế hoạch đó tưởng chừng khả thi lại xem ra không phù hợp với điều kiện thực tế.

Bằng chứng cho thấy, việc trợ cấp thuốc men, thực phẩm cho người dân ở những vùng xa phải trải qua một quãng đường dài, tốn khá nhiều thời gian cũng như nhân lực. Thuốc men, thự phẩm đến nơi thì quá hạn và người bệnh cũng đã quá nặng. Hay như ở vùng Tonle Sap, người dân được cơ quan y tế hỗ trợ phương tiện đi lại là chiếc xuồng máy để phục vụ việc khám chữa bệnh, thế nhưng xuồng máy có động cơ rất lớn và tiêu tốn nhiều nhiên liệu. Trong khi đó, người dân không có đủ tiền để chi trả. Do đó, mọi nỗ lực hỗ trợ cho những người dân nghèo dường như bằng không.

Sự tồn tại rời rạc

Có thể nói những gì thu nhận được thông qua cuộc nghiên cứu này là tiếng chuông báo động về điều kiện sống của một bộ phận người nghèo khó. Đó là sự tồn tại rời rạc, yếu ớt của những ngôi làng cách xa thành phố cả về địa lý và sự phát triển. Cuộc sống của họ là một thảm cảnh. Ví như nhiều gia đình sống chung trong toa hành khách của một con tàu bị bỏ lâu ngày, hay một góa phụ ở ngôi làng Kampong Thkoul luôn giữ bên mình cái lưới đánh cá bởi vì đó là thứ duy nhất để bà kiếm sống, mất nó có nghĩa cuộc sống của bà không tồn tại.

Những phận người nghèo khó đó, họ không có gì để dựa vào trừ đất đai, vì thế khi họ phải đối mặt với bất cứ vấn đề khó khăn gì như những mối lo về sức khỏe thì họ phải bán đất, đó là cách duy nhất để họ sống sót. Và rồi họ không còn gì để dựa vào mà sống, khó khăn lại chồng khó khăn, hậu quả là nghèo đói, nguy cơ dịch bệnh cùng nhiều tệ nạn khác rình rập…

Nghiên cứu cũng cho thấy, trong hoàn cảnh sống như vậy, những người phụ nữ thường gặp khó khăn hơn những người đàn ông. Việc chăm sóc y tế và giáo dục thì ít có khả năng tiếp cận hơn đối với những người phụ nữ nghèo, họ thường là nạn nhân của bạo lực gia đình và bị lây truyền HIV/AIDS qua những người chồng của họ.

 
Những chính sách cộng đồng dường như không đến được với những người dân nghèo ở khu vực Tonle Sap. (Ảnh: AFP).
Và những câu chuyện khủng khiếp

Cuộc sống nghèo đói, khó khăn, ít được tiếp cận với nguồn thông tin đã tạo ra một hệ quả khác nữa, đó là bạo lực gia đình. Thật khủng khiếp khi bạo lực gia đình đang là vấn đề nổi cộm ở hầu hết các ngôi làng nghèo. Tại làng Kouk Trach, có đến 90% gia đình trong làng xuất hiện tệ nạn này.

Điều này thường hay xảy ra trong những gia đình nghèo, ở đó những người đàn ông thường hay chơi cờ bạc và rượu chè. Họ thường trở về nhà khi chơi cờ bạc hết sạch tiền hay trong trạng thái say xỉn, và sau đó thì họ đánh vợ con mình. Trong khi đó, những người phụ nữ bị cưỡng bức và bạo lực lại có rất ít hoặc không có sự đền bù hợp pháp hay sự bênh vực của xã hội. Hầu hết các vụ án cưỡng bức đã được xét xử một cách dễ dàng.

Một người phụ nữ ở làng Plov Loung đã kể lại câu chuyện của mình: “Bạo lực xảy ra khi chồng tôi uống rượu say và ghen tuông với tôi. Anh ta luôn luôn lăng mạ và mắng mỏ tôi.Đôi khi anh ta ép buộc cô ấy phải quan hệ tình dục với mình. Nếu tôi từ chối, anh ta sẽ kết tội tôi ngoại tình”.

Những câu chuyện như thế diễn ra không ít ở các ngôi làng, chúng phản ánh thực trạng mất cân bằng xã hội nghiêm trọng, nếu tiếp diễn nó sẽ tạo ra sự tuyệt vọng cho đại bộ phận những người phụ nữ. Đây là vấn đề mà nghiên cứu đã đề cập khá sâu, giúp các nhà chính sách đưa ra hướng giải quyết, thay đổi luật pháp phù hợp.

Vòng quay của sự tuyệt vọng

Nghèo đói và tuyệt vọng, những người dân đã tìm mọi cách để tồn tại, dù đó là hành vi bất hợp pháp. Dùng xung điện để đánh bắt cá hay chặt phá rừng và kể cả bán sức lao động của mình cho những đầu nậu khai thác gỗ…., miễn sao có tiền để sống.
Khoảng cách lại tiếp nối khoảng cách, chính những người dân của vùng Tonle Sap cho biết, họ hầu như không thể tiếp cận với nền giáo dục, chăm sóc sức khỏe là một vấn đề lớn, và cơ sở hạ tầng không được cải tạo. Để tìm cách thoát khỏi nghèo đói, những dân làng đã phải gửi con cái của họ đi làm việc ở nước láng giềng Thái Lan với tiền công dưới 2$ một ngày hay chỉ bằng một nửa số đó ở ngay chính trong Campuchia.

Nỗi sợ hãi là khi vòng quay của sự tuyệt vọng này sẽ tiếp tục ở vùng hạ lưu Tonle Sap, ngay cả khi tăng trưởng kinh tế dựa vào du lịch.

Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các chính sách cộng đồng đã không được thực hiện một cách đúng mức, bởi chính quyền địa phương thường hay đối lập với mục tiêu chính sách, thông tin tới người dân thường bị sai lệch và kém chất lượng, nhà cầm quyền thì mơ hồ, sự đe dọa của các nguồn bạo lực và một vài công dân bất hợp tác.

Qua đó, cho thấy những thách thức đối với những nhà làm chính sách, yêu cầu họ phải tăng cường những chiến lược có tính bền vững, giảm nghèo nhằm giúp cho sự phát triển kinh tế và xã hội. Và cách tốt nhất để thực hiện điều này, đó là chính phủ, các nhà từ thiện và các tổ chức phi chính phủ cần phải chú tâm lắng nghe tiếng nói của sự đói nghèo.

Lương Thị Toán biên dịch (Theo Development Asia, 05/2008)

 

Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu: Kiến nghị thành lập Ban Chỉ đạo quốc gia do Thủ tướng làm trưởng ban

(VnMedia, ngày 21/08/2008)

Đó là một trong những điểm mới của dự thảo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu do Bộ Tài Nguyên và Môi trường chủ trì xây dựng. Dự thảo lần này (lần thứ 9 và cũng là lần cuối cùng) được đưa ra trong buổi hội thảo chiều ngày 20/8/2008 tại Hà Nội. Hội thảo lần này, ngòai sự có mặt của đại diện các cơ quan, bộ ngành liên quan như Bộ Tài Nguyên Môi trường, Bộ Khoa học Công nghệ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn… còn thu hút rất đông đại diện các Đại sứ quán nước ngòai tại Việt Nam cùng các tổ chức phi chính phủ. Đây cũng chính là các nhà tài trợ đầy tiềm năng cho việc triển khai thực hiện Chương trình Mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Giáo sư,