CÁC HOẠT ĐỘNG KỶ NIỆM 20 NĂM THÀNH LẬP HỘI (2)

“Anh hùng Môi trường” Võ Quý

Kinh tế môi trường - một vấn đề mới cần phát triển
Gặp gỡ Nhà báo Trường Giang, Chủ tịch Hội Văn hoá vì Môi trường, Tổng biên tập Tạp chí "Trí tuệ"

Kinh tế hoá tài chính hoá ở Việt Nam là một vấn đề mới, còn nhiều vấn đề để bàn và để làm

Phỏng vấn GS TS Vũ Hoan, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội

Phỏng vấn KS Đặng Nghĩa Phấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường

Trao đổi với TS. Cù Chí Lợi, phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam

PGS.TS Lưu Đức Hải: Lượng hoá Tài nguyên môi trường nhưng không thể lượng hoá tất cả 

Trao đổi cùng PGS. TS Nguyễn Thế Chinh về KINH TẾ HÓA,TÀI CHÍNH HÓA NGÀNH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

Phỏng vấn  PGS. TS Trương Mạnh Tiến:  "Chỉ ra các văn bản là chưa đủ mà còn cần có kế hoạch thực hiện cụ thể"

 

Nhân dịp kỷ niệm 20 năm thành lập Hội, các Tình nguyện viên-Phóng viên (TNV-PV) của Hội đã phỏng vấn các chuyên gia môi trường về những vấn đề môi trường bức xúc.
Cộng đồng với Môi trường xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

“Anh hùng Môi trường” Võ Quý

Nhân kỷ niệm 20 năm thành lập Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (26/11/1988), nhóm phóng viên VACNE đã có những cuộc phỏng vấn với những người đã tham gia sáng lâp và gắn liền với Hội trong suốt 20 năm qua. Người mà hôm nay chúng tôi đến thăm là GS Võ Quý, một trong những người tham gia sáng lập Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam và có những đóng góp hết sức lớn lao cho sự nghiệp phát triển của Hội trong suốt 20 năm qua. Hiện GS Võ Quý đang là Uỷ viên ban chấp hành Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam. Là một trong những người đầu tiên của Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, một chuyên gia hàng đầu hàng ngành điểu học của Việt Nam, với GS.Võ Quý tình yêu thiên nhiên, môi trường đã có trong máu của ông từ khi sinh ra, cuộc viếng thăm của chúng tôi đến nhà GS. Võ Quý diễn ra trong một buổi chiều cuối tuần khi mà Hà Nội không còn trong biển nước

 

PV: Là một người yêu thiên nhiên, môi trường hiện nay công việc chính của bác là gì vậy ạ?

 

GS Võ Quý: Tôi đã về hưu, hiện nay chủ yếu làm việc tại nhà, ngoài ra thỉnh thoảng còn tham gia giảng dậy tại Trung tâm nghiên cứu tài nguyên và môi trường (TTNCTN&MT) trực thuộc ĐHQGHN

 

PV: Cháu được biết TTNCTN&MT là do bác sáng lập ra vậy trung tâm đã hoạt động được lâu chưa ạ?

GS Võ Quý: Tôi thành lập trung tâm đó từ năm 1985, đến nay cũng đã được 23 năm rồi. Đó là trung tâm đầu tiên của Việt Nam nghiên cứu và đào tạo cán bộ về môi trường. Vào thời gian đó cán bộ về môi trường tại Việt Nam rất ít

 

PV: Hoạt động chính của trung tâm là gì vậy bác?

 

GS Võ Quý: Hoạt động chính của trung tâm gồm bốn lĩnh vực: 1) nghiên cứu; 2) đào tạo đôi ngũ cán bộ về môi trường với các lớp ngắn hạn, dài hạn và từ năm 2004 thì trung tâm đươc nhà nước giao cho nhiệm vụ đào tạo cao học và tiến sĩ về môi trường và vấn đề phát triển bền vững; 3) tư vấn ; và 4) dịch vụ về những vấn đề liên quan đến tài nguyên và môi trường.

 

PV: Bác là một GS đầu ngành về nghiên cứu chim tại Việt Nam, vậy bác đã có niềm đam mê thiên nhiên và các loài chim lâu chưa ạ?

 

GS Võ Quý: Chim là niềm đam mê từ nhỏ của tôi. Lúc 5-6 tuổi tôi đã cùng với các bạn cùng lứa tuổi thường hay vào rừng, quan sát chim làm tổ thế nào, ăn những quả gì, thức dậy lúc mấy giờ… Khi học chuyên khoa (cấp III bây giờ) tôi đã chọn ngành Sinh – Hóa tuy tôi rất thích môn tóan. Năm 1951, được cử đi học đại học, tôi cũng đã theo ngành Sinh học, liên quan đến thiên nhiên và chim là đối tượng nghiên cứu của tôi từ năm 1956, lúc bắt đầu công tác giảng dạy tại trường Đại học tổng hợp, Hà Nội , nay là Đại học Quốc gia, Hà Nôi.

 

PV: Bác đã có nhiều công trình nghiên cứu về chim ạ?

 

GS: Võ Quý: Cũng không nhiều, nhưng là người VN đầu tiên tìm hiểu về các lòai chim của Việt Nam và đã viết một số sách cơ bản về chim VN như: Chim Việt Nam, hình thái và phân lọai; Đời sống các lòai chim; Danh lục các lòai chim Việt Nam… 

 

PV: Năm 1964 bác đã phát hiện ra một loài Trĩ mới tại vùng hồ Kẻ Gỗ, bác có thể cho cháu biết về việc bác đã phát hiện ra như thế nào không ạ?

 

  GS: Võ Quý:  Năm 1964, một sinh viên của tôi trong lúc nghiên cứu ở vùng rừng Kẻ Gỗ, Hà Tĩnh đã bắt được một con chim trĩ lạ, chưa từng biết ở Việt Nam trước đó. Tôi dự kiến có thể là một lòai mới, nhưng vào thời gian ấy ở nước ta không có đủ tài liệu để tham khảo, mà liên hệ với nước ngòai hết sức khó khăn. Vào cuối năm ấy tôi được dịp sang Liên Xô chuẩn bị luận án Tiến sĩ, tôi có điều kiện nghiên cứu, liên hệ được với nhiều bảo tàng trên thế giới và nhiều nhà khoa học nghiên cứu về chim, và tôi đã khảng định được đây là một lòai trĩ mới cho khoa học, tìm thấy đầu tiên ở Việt Nam. Tôi đã công bố lòai trĩ mới đó với tên khoa học là Lophura hatinhensis và tên tiếng Anh là Hatinh Pheasant hay Vietnamese Pheasant. Vào những năm ấy, nhiếu nhà khoa học trên thế giới nghi ngờ và cho rằng không phải là một lòai chính thức mà có thể là một con lai giữa hai lòai trĩ đã có ở Việt Nam. Họ đã mất hơn 20 năm để kiểm tra, nhiều nhà phân lọai chim đã đến Việt Nam nhiều lần, đến vùng Kẻ Gỗ để khảo sát. Năm 1988, có dịp công tác ở nước Anh, Hội đồng quốc tế bảo vệ chim (ICBP) mời tôi đến thăm cơ quan và họ đã tặng tôi một cuốn sách về chim thế giới, trong đó có một chương về Việt Nam, trong đó có nói đến con Trĩ Hà Tĩnh. Họ chỉ cho tôi đọan viết đó với tên tiếng Anh là Vo Quy Pheasant. Tôi nói với họ là tôi chưa bao giờ gọi lòai chim đó là Vo Quy Pheasant, tại sao các ông lại gọi như thế. Họ trả lời là sau hơn 20 năm kiểm tra, chúng tôi đã xác nhận chim Trĩ Hà Tĩnh là một lòai mới chính thức và gọi tên tiếng anh như vậy để kỷ niệm là ông phát hiện được nó ( ghi chú: còn tên khoa học, theo luật  thì không ai có quyền thay đổi tên mà  tác giả đặt tên đầu tên cho một lòai mới). 

 

PV: Khi tên mình được đặt cho một loài chim bác cảm thấy thế nào?

 

GS: Võ Quý: Tôi hết sức vui mừng vì công sức của mình đã được cộng đồng các nhà khoa học công nhận. Đó là một vinh dự lớn đối với tôi..

 

PV: Được biết là bác là một người đi rất nhiều, như vậy sẽ có rất nhiều những kỷ niêm đáng nhớ, bác có thể chia sẻ cho cháu biết kỷ niệm đáng nhớ nhất của bác là gì được không ạ?

GS Võ Quý : Hơn  60 năm công, tác tôi đã   dịp được đi gần khắp các vùng  của đất nước ta từ  bắc chí nam, mỗi  chỗ tôi đến công tác đều có  những  kỷ  niệm khó quên, nhưng chuyến đi công tác hơn 3 tháng vào đầu năm 1974, lúc còn chiến tranh, dọc đường mòn Hồ Chi Minh vào đến Đắc lắk để nghiên cứu về hậu quả của chiến tranh, nhất là chất độc hóa học do Mỹ sử dụng ở miền nam Việt Nam là kỷ niệm không bao giờ quên. Chuyến đi công tác mà tôi đã mong ước từ lâu, nhưng vì có nhiều khó khăn và nguy hiểm nên tôi đã phải chuẩn bị thời gian dài mới được cấp trên cho phép. Đoàn công tác đặc biệt này có 10 người mà tôi là trưởng đoàn. Không nói đến nỗi gian nan và nguy hiểm dọc đường công tác, đó là điều tất nhiên, nhưng hình ảnh làm tôi nhớ mãi là cảnh hàng ngàn hecta rừng nguyên thủy bị chết trụi do chất độc hóa học của Mỹ, không một bóng chim bay, không có tiếng vượn hót, nai kêu, đâu đâu cũng cảnh chết chóc, hoang tàn. Chính hình ảnh đó đã giúp tôi gắn bó với công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên, thúc dục tôi vượt nhiều khó khăn trong công tác liên quan đến bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên cho đến ngày nay.

 

  PV: Bác là một trong những sinh viên đầu tiên của nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, bác có thể nói về điều đó được không ạ?

 

GS Võ Quý: Năm 1951 tôi được cử đi học đại học tại Việt Bắc (Tuyên Quang). Tôi đã đi bộ từ Hà Tĩnh đến Tuyên Quang mất khoảng một tháng, đêm đi ngày nghỉ. Khi đến Tuyên Quang thì được biết trường đã chuyển sang Quảng Tây, Trung quốc. Lại phải mất  một tháng nữa đi từ Tuyên Quang đến Đồng Đăng để sang Trung Quốc. Lúc đó có hai trường đại học là trường Khoa học cơ bản, với khoảng 100 sinh viên và trường Sư phạm cao cấp. Tôi được học  trường Sư phạm cao cấp.  Khóa đầu  SPCC lúc đó chỉ có 27 sinh viên với ba chuyên ngành và tôi đã chọn học ngành Sinh-Hóa và là một trong số những sinh viên đầu tiên của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà.

 

 

PV: Đến nay bác đã giành được bao nhiêu giải thưởng quốc tế rồi ạ?

 

 GS Võ Quý: Đến nay tôi đã nhận được chín giải thưởng quốc tế về môi trường như huy chương vàng của Ngân quỹ Quốc tế về Bảo vệ môi trường (WWF) năm 1988; bằng danh tự global 500 của Liên hiệp quốc năm 1992; Huy chương John Phillips  của Hiệp hội quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN), năm 1994, là phần thưởng cao nhất của IUCN, cứ 3 năm mới chọn một người để trao tặng; giải thưởng Hành tinh xanh năm 2003…và  mới đây (tháng 10- 2008) đã được tạp chí Time (Mỹ) bình chọn là một trong 35 Anh hùng môi trường năm 2008. Đây là vinh dự rất lớn, không những đối với tôi mà cả đối với những người làm công tác môi trường của Việt Nam.

 

PV: Bác đã tham gia Hội thiên nhiên bảo vệ môi trường Việt Nam lâu chưa ạ?

 

GS Võ Quý: (bác cười) Tôi là một trong những người đề xướng vấn đề thành lập Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam và được bầu làm Uỷ viên ban chấp hành Hội từ những ngày đầu tiên, khi Hội mới thành lập và hiện nay tôi vẫn đang tham gia các hoạt động của Hội.

 

PV: Lúc mới đầu khi mới hoạt động Hội có gặp nhiều khó khăn không thưa bác?

 

GS Võ Quý: tất nhiên khi mới thành lập Hội gặp rất nhiều khó khăn, vì bỡ  ngỡ  với  công việc, kinh phí  không có, nhưng qua thời gian, Hội đã tích lũy được nhiều kinh nghiêm và lớn mạnh dần về tổ chức và họat động, được mọi người chấp nhận.

 

PV: Bác có nhận xét vì về những thành tựu của Hội trong 20 năm qua?

 

GS Võ Quý: Hi đã có nhiều thành tựu lớn trong thời gian qua trong nhiều lĩnh vực như nghiên cứu khoa học; tư vấn, phản biện, giám định xã hội về bảo vệ môi trường; xây dựng mô hình phát triển bền vững; tuyên truyền, phổ biến nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về BVMT; nâng cao năng lực cho các thành viện của Hôi.

 

PV: Bác đánh giá thế nào về vấn đề truyền thông môi trường ở Việt Nam hiện nay?

 

GS Võ Quý: Các cơ quan liên quan đến công tác truyền thông về môi trường đã có nhiều cố gắng, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Các thông tin về môi trường chưa đến được người dân, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa. Công tác tuyên truyền về môi trường còn dàn trãi, nên hiệu quả còn nhiều hạn chế. Có lẽ nên có những đợt tuyên truyền tập trung vào một vài vấn đề đang bức xúc và tổ chức vận động mọi tầng lớp nhân dân cùng tham gia thì kết quả sẽ cao hơn nhiều.

 

PV: Những vấn đề mà bác quan tâm đến nhất là gì vây?

 

GS Võ Quý: Hiện nay nước ta đang phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường. Tôi đang quan tâm đến vấn đề suy thóai tài nguyên thiên nhiên, nhất là tài nguyên rừng. và đất. Vấn đề bảo vệ thiên nhiên cần phải có sự tham gia của cộng đồng, nhất là người nghèo. Người ta thường lên án người nghèo phá rừng, săn bắt động vật hoang dã. Tôi cho rằng người nghèo không phá rừng. Họ buộc phải khai thác tài nguyên rừng vì cuộc sống trước mắt của họ và gia đình họ, vì họ không có cách nào khác để sống.  Chính người giàu mới phá rừng vì họỏtực tiếp khai thác rừng, phá hủy môi trường hay thúc dục người khác làm việc đó cho họ để kiếm lời. Chúng ta thường nói:”rừng là bát cơm manh áo của người nghèo” vì thế mà chúng ta không thể và không có quyền cướp bát cơm, manh áo đó của người nghèo, mà chúng ta phải tìm cách thay bát cơm đó bằng bát cơm khác mà không phải phá rừng. Vì vậy để bảo vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên thì phải giúp cho người nghèo xóa đói, nâng cao cuộc sống bằng cácsử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên: đất, nước, tài nguyên rừng thì họ sẽ không phá rừng không xâm hại đến thiên nhiên và họ sẽ tích cực tham gia vào bảo vệ môi trường vì lợi ích cho cuộc sống của họ. Việt Nam có hơn 2/3 diện tích là đồi núi, phải có ít  nhất 50% diện tự nhiên có rừng che phủ mới đảm bảo cân bằng sinh thái. Thế nhưng diện tích rừng hiên nay chỉ mới đạt 37% diện tích tự nhiên, mà phần lớn là rừng nghèo, lại đang bị chuyển đổi vào mục đích khác. Lu lụt, lũ quét, sụt lở đất xẩy ra trong mấy năm qua, phần chính là do chúng ta đã phá quá nhiều rừng, phải đẩy mạnh hơn nữa công tác bảo vệ rừng và trồng rừng. Tôi cũng đang tham gia vào công tác hồi phục lại các vùng đất bị phá hủy do chất độc Da cam/ Dioxin ở các tỉnh phía nam.

 

Một người suốt cuộc đời cống hiến cho sự nghiệp môi trường, nói chuyện với GS. Võ Quý đã giúp chúng tôi hiểu hơn về thiên nhiên, môi trường Việt Nam. Chúng tôi cảm nhận được từ Giáo Sư một bầu nhiệt huyết vì môi trường luôn cháy bỏng trong Giáo Sư. Năm nay đã bước sang tuổi 80, nhưng nhìn GS Võ Quý vẫn còn rất khoẻ mạnh, có lẽ tình yêu thiên nhiên và môi trường và việc sống nhiều với thiên nhiên đã giúp cho Giáo Sư chỉ già về tuổi tác chứ không già về tinh thần và tâm hồn  Với một cặp mắt tinh anh, một trí tuệ uyên bác có lẽ bất cứ ai khi được nói chuyện với Giáo Sư Võ Quý  đều muốn có dịp được hầu chuyện Giáo Sư lần nữa để nghe Giáo Sư kể chuyên về cuộc sống, về các loài chim. Chúng Tôi kính chúc Giáo Sư ngày càng khoẻ mạnh để tiếp cống hiến thêm nũa cho môi trường Viêt Nam nói chung và cho sự phát triển của VACNE nói riêng!

Nhóm phóng viên VACNE thực hiện

 

Kinh tế môi trường - một vấn đề mới cần phát triển

 

Kinh tế hoá tài chính hoá(KTH,TCH) ngành Tài Nguyên Môi Trường là một vấn đề mới ở nước ta hiện nay, đang chập chững  những bước đi đầu tiên trong quá trình thực hiện chủ trương mới này của bộ Tài Nguyên và Môi Trường. Đây là một chủ trương  đúng đắn của bộ Tài Nguyên và Môi Trường, gắn lợi ích môi trường với  kinh tế để qua đó có thể thấy được vai trò và tác dụng to lớn của môi trường trong quá trình phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay. Trong quá trình tìm hiểu chủ trương mới này của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường, chúng  tôi đã có cuộc tiếp xúc và trao đổi ý kiến với PGS. TS Nguyễn Đình Hoè, Ủy viên Ban Chấp hành TW Hội Bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (VACNE) về vấn đề này.

 

Phác thảo diện mạo của Kinh tế học Môi trường

Bảo vệ môi trường là một thành tố quan trọng trong quá trình phát triển bền vững ở nước ta hiện nay, môi trường không chỉ là yếu tố đầu vào mà còn là yếu tố đầu ra của sản xuất, chúng ta đang sống và tận dụng những nguồn tài nguyên của môi trường vậy chúng ta sẽ phải trả cho môi trường những gì và bảo vệ môi trường như thế nào? Việc kinh tế hoá môi trường lúc này cần hơn bao giờ hết. Việc tính toán chi phí và lợi ích môi trường trên bình diện kinh tế sẽ cho chúng ta thấy vấn đề môi trường một cách toàn diện và cụ thể hơn. Môi trường không chỉ là những giá trị mang lại trước mắt mà còn có những giá trị lâu dài sau này. Những đóng góp của môi trường trong công cuộc phát triển kinh tế đất nước là hết sức lớn lao, chính vì điều này mà ở nước ta “vấn đề tính toán giá trị kinh tế” của môi trường cần phải được đẩy mạnh hơn nữa và nhanh chóng được thực thi.

 

Thách thức của việc áp dụng các công cụ kinh tế

Một vấn đề mới bao giờ cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc thực hiện với chủ trương KTH, TCH còn rất mới mẻ này ở Việt Nam nhưng không còn là mới đối với nhiều nước khác trên thế giới.

Hiện nay ở nước ta những công cụ kinh tế áp dụng trong quản lý môi trường còn chưa đủ và chưa thực sự hiệu quả. Những công cụ kinh tế chỉ phát huy được hiệu quả tốt nhất khi nó được đặt trong một nền kinh tế thi trường hoàn hảo, ở đó có sự cạnh tranh công bằng và chấp nhận rủi ro, nền kinh tế ở Việt Nam hiện nay chưa có các điều kiện này.

Những năm qua, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều chủ trương, chính sách về bảo vệ môi trường,  như chiến lược Phát triển bền vững, Luật Bảo vệ môi trường, Nghị quyết 41 của Bộ Chính Trị về bảo vệ Môi Trường trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Việc đưa những ý tưởng, chủ trương này vào quy hoạch, kế hoạch, chiến lược của các ngành, các địa phương còn gặp nhiều khó khăn, các cấp, ngành phía dưới vẫn còn thụ động trong việc tiếp nhận những chủ trương, chính sách mới của Nhà nước, ở một số nơi vẫn còn suy nghĩ theo quan niệm cũ chưa có cách nhìn mới trong những chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước.

Nhóm TNV-PV VACNE

 

GẶP GỠ NHÀ BÁO TRƯỜNG GIANG -CHỦ TỊCH HỘI VĂN HÓA VÌ MÔI TRƯỜNG, TỔNG BIÊN TẬP TẠP CHÍ “TRÍ TUỆ

Nhà báo Trường Giang là người đầu tiên chúng tôi chọn trong loạt bài viết thứ hai, sau loạt bài về vấn đề “Kinh tế hoá, Tài chính hoá ngành tài nguyên môi trường (TNMT)”. Ở loạt bài này, chúng tôi sẽ có những buổi gặp gỡ, trò chuyện chân tình với những nhân vật đã gắn bó với Hội bảo vệ Thiên nhiên Môi trường Việt Nam (VACNE) từ những ngày đầu tiên. Họ là những con ngừơi tâm huyết và làm hết mình vì sự nghiệp của Hội. Thân thiện, mến khách – Đó là điều đầu tiên chúng tôi cảm nhận được từ nhà báo lão thành Trường Giang.

 PV: Đầu tiên cho phép chúng cháu tỏ lòng kính trọng với bác, một bậc tiền bối trong công tác bảo vệ MT của VACNE. Chúng cháu được biết bác là một trong những người có công đầu trong sự nghiệp của Hội.

Nhà báo Trường Giang: Tiền bối thì bác không dám nhận. Bác chỉ coi mình là một người yêu MT và quan tâm đến vấn đề bảo bệ MT thôi.

 PV: Bác rất khiêm tốn. Cho phép cháu được hỏi về công việc của bác hiện nay?

Nhà báo Trường Giang: Hiện nay bác là tổng biên tập tạp chí Trí Tuệ, thuộc Hiệp hội các trường Đại học Cao đẳng ngoài công lập. Ngoài ra, bác làm chủ tịch Hội Văn hoá vì Môi trường.

 PV: Bác có thể nói rõ hơn về Hội văn hoá vì MT?

Nhà báo Trường Giang: Đây là Hội không phải bảo vệ MT trực tiếp mà bảo vệ MT thông qua các hoạt động văn hoá. Các hoạt động đó bao gồm văn học nghệ thuật, điện ảnh, sân khấu, báo chí, âm nhạc, hội hoạ, nghiên cứu khoa học..… quan tâm đến đề tài MT, đề tài bảo vệ thiên nhiên Việt Nam. Hoạt động của Hội không trực tiếp bảo vệ rừng như anh kiểm lâm đi chống lâm tặc mà thông qua văn hoá tác động đến vấn đề bảo vệ rừng. Hội văn hoá vì MT là một thành viên của VACNE.

 PV: Vậy thành viên của Hội văn hoá vì MT có phải là những nhà làm nghệ thuật không ạ?

Nhà báo Trường Giang: Không đơn thuần chỉ có như vậy. Ngay cả các nhà khoa học cũng có thể thông qua văn hoá để bảo vệ MT và trở thành thành viên của Hội.

 PV: Bác đã tham gia vào VACNE từ khi nào?

Nhà báo Trường Giang: Bác tham gia từ năm 1994

 PV: Trong hòan cảnh nào, thưa bác?

Nhà báo Trường Giang: Năm đó, bác được một tổ chức quốc tế mời dẫn đầu một đoàn gồm các nhà văn, nhà báo đi nghiên cứu MT xuyên Việt. Mục đích của chuyến đi là tham quan, nghiên cứu những vấn đề MT ở Việt Nam. Sau chuyến đi đó, tất cả các thành viên tham gia đã kiến nghị thành lập một Hội đặt tên là “Hội văn hoá vì MT”. “Văn hoá vì MT” chứ không phải “Văn hoá và MT”. Khi đó bác đang là Tổng biên tập báo Giáo dục và thời đại. Bác đã thành lập Hội văn hoá vì MT với tư cách chủ tịch Hội. Ngay trong năm đó, Hội văn hoá vì MT đã được kết nạp vào VACNE.

PV: Như vậy có nghĩa là trước khi thành lập Hội văn hoá vì MT thì bác chưa phải là thành viên của VACNE?

Nhà báo Trường Giang: Khi đó bác là một người quan tâm đến vấn đề MT. Khi Hội văn hoá vì MT thành lập thì bác đã trở thành thành viên của VACNE.

 PV: Thưa bác, ban đầu Hội của bác có bao nhiêu thành viên ạ?

Nhà báo Trường Giang: Ban đầu Hội chỉ có 30 thành viên nhưng số thành viên của Hội ngày càng tăng. Đến nay đã có khoảng 200 thành viên trên cả nước, nhưng chủ yếu ở Hà Nội.

 PV: Khi mới ra đời, Hội văn hoá vì MT được dư luận đón nhận như thế nào?

Nhà báo Trường Giang: Vấn đề MT không của riêng ai, riêng ngành nào mà nó ảnh hưởng đến sự sống còn của mỗi người, tương lai của đất nước. Do đó khi Hội ra đời đã được dư luận đón nhận rất nhiệt tình.

 PV: Bác có thể cho cháu biết, cho đến nay những tác phẩm văn hoá nào cuả Hội đã được dư luận đánh giá cao trong công tác bảo vệ MT?

Nhà báo Trường Giang: Đó là những bộ phim, những phóng sự điều tra vấn đề bảo vệ rừng của nhà báo Trần Bình Minh, “Trở về cội nguồn” của nhà văn Nguyên Ngọc. Những tác phẩm ấy đã được nhận giải thưởng của Hội. Ở các thể loại khác, vấn đề MT cũng được phản ánh rất nhiều. Đặc biệt là hội hoạ với đề tài là vẻ đẹp của thiên nhiên và công tác bảo vệ thiên nhiên.

 PV: Hiện nay bác vừa là TBT Tạp chí Trí Tuệ, lại vừa là chủ tịch Hội văn hóa vì MT. Hai công việc đó có làm bác cảm thấy quá bận rộn hay không?

Nhà báo Trường Giang: Rất bận nhưng cũng rất vui. Công việc của bác mang lại rất nhiều lợi ích, niềm vui cho bác. Cho nên dù đến tuổi thất thập cổ lai hy nhưng bác vẫn rất đam mê công việc, làm mãi cũng không biết chán.

 PV: Hai công việc đó có gì liên quan không thưa bác?

Nhà báo Trường Giang: Rất liên quan là đằng khác. Bởi vì khi được hưởng thụ thiên nhiên tươi đẹp thì nó ảnh hưởng rất nhiều đến khả năng viết, khả năng cảm thụ, khả năng suy tư của con người. Do đó bác làm chủ tịch Hội văn hoá vì MT cũng là để rèn luyện khả năng làm báo bên tạp chí Trí Tuệ. Hai đề tài mà bác luôn quan tâm là MT và giáo dục, nó nằm trong hai công việc mà bác đang tham gia.

 PV: Bác công tác bên tạp chí Trí Tuệ được bao lâu rồi?

Nhà báo Trường Giang: Khi bác về hưu, không tham gia bên tờ Giáo dục và thời đại nữa thì được mời làm cho tờ Trí Tuệ này. Tính đến nay đã được ba năm.

 PV: Như vậy đến nay bác đã tham gia vào VACNE được 14 năm. Trong suốt thời gian đó, bác đã có những cống hiến gì cho sự nghiệp của Hội?

Nhà báo Trường Giang: Bác luôn động viên những văn nghệ sĩ hãy quan tâm đến vấn đề MT, hãy biến nó trở nên sống động trong tất cả các hoạt động lao động sáng tạo của mình. Về hoạt động giáo dục, nhiều vấn đề MT đã được đưa vào giảng dạy. Các báo giáo dục của bác cũng thường đề cập đến MT.

 PV: Cháu rất muốn được bác chia sẻ những kỉ niệm của bác trong thời gian bác là thành viên của VACNE?

Nhà báo Trường Giang: Có một kỉ niệm mà bác không bao giờ quên. Bác quen một ông hoạ sĩ người Philipin rất say đắm với đề tài MT. Khi biết mình bị ung thư và không còn sống được bao nhiêu nữa, ông đã sang Việt Nam, đi ngắm nhìn MT Việt Nam lần cuối. Ông lên một ngọn núi và đặt một tấm bia. Trên đó ghi tên bác và tên ông ta cùng dòng chữ “MT sạch của thế giới muôn năm”. Sau đó, ông ta nhờ con gọi điện cho bác và nói lời vĩnh biệt. Chắc chắn trong tâm tưởng ông ta, bác cùng chung chí hướng với ông. Cả hai đều là những người tâm huyết, yêu MT đến từng hơi thở cuối cùng.

 PV: Cháu nghĩ đó là một kỉ niệm mà bác sẽ không bao giờ quên. Vâng thưa bác, VACNE sắp kỉ niệm 20 năm thành lập. Theo bác đánh giá thì Hội đã làm được gì cho MT và công tác bảo vệ MT?

Nhà báo Trường Giang: Theo bác đây là một Hội lớn, có rất nhiều đóng góp cho công tác bảo vệ MT. Hội có rất nhiều họat động cụ thể để bảo vệ MT. Hội có những tên tuổi hàng đầu về ngành MT ở Việt Nam, những chuyên gia đầu ngành, hoạt động không biết mệt mỏi vì sự nghiệp MT như GS Võ Quý, Lê quý An, TS Nguyễn Ngọc Sinh, Phạm Ngọc Đãng,… Bác chưa thấy một Hội nào về MT lại có nhiều tên tuổi nổi tiếng như thế. Những GS TS đó đã đóng góp không nhỏ cho MT nước ta. Do đó, Hội văn hoá vì MT cũng xin gắn bó trung thành với VACNE cùng hứơng tới một mục tiêu chung là MT trong sạch.

 PV: Thế còn những điều gì mà Hội chưa làm được?

Nhà báo Trường Giang: Điều chưa làm được thì còn nhiều, trước mắt còn rất nhiều việc phải làm. Quan trọng nhất là ta chưa tìm ra một cơ chế thật hữu hiệu để bảo vệ MT trong hòan cảnh đất nước đang công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Thời nguyên thuỷ, nền kinh tế còn đơn sơ, sự tàn phá MT không đáng là bao. Nhưng xã hội càng phát triển thì người ta càng huỷ hoại MT. Chúng ta đang thiếu cơ chế quản lí điều này.

 PV: Vậy theo bác, chúng ta sẽ phải làm gì để bảo vệ MT tốt hơn?

Nhà báo Trường Giang: Các nhà nghiên cứu cần phải xây dựng một cơ chế khoa học, chặt chẽ, quán xuyến được nhiều lĩnh vực. Thứ nữa, phải đào tạo đội ngũ cán bộ có kĩ năng, kiến thức, có khả năng xây dựng nền kinh tế hiện đại, hài hoà với MT. Nếu không, nền kinh tế càng phát triển bao nhiêu thì càng huỷ hoại MT bấy nhiêu. Về phía VACNE, phải có một bộ phận chuyên nghiên cứu để góp phần xây dựng cơ chế. Lực lượng bảo vệ MT cần được đào tạo có chất lượng hơn. Cuối cùng, cần tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân thật sự giác ngộ ý thức bảo vệ MT.

 PV: Trong tương lai bác có phương hướng phát triển Hội văn hoá vì MT như thế nào?

Nhà báo Trường Giang: Hội sẽ tổ chức những cuộc thi về đề tài MT. Ngoài ra Hội sẽ làm một bộ sách tập hợp những bài viết, những tác phẩm về MT như những thước phim ca ngợi các chiến sĩ bảo vệ MT hay miêu tả MT tươi đẹp; tập hợp tranh ảnh hội hoạ. Hội sẽ tổ chức những chuyến đi thực tế về những vùng có vấn đề về MT, có thể là rất tốt hoặc rất xấu.

 PV: Cháu được biết năm 2000, Hội có trao giải thưởng cho các nghệ sĩ có nhiều đóng góp cho MT. Xin bác hãy chia sẻ những kỉ niệm ấy cho độc giả được biết?

Nhà báo Trường Giang: Năm đó, nhà báo Trần Bình Minh và nhà văn Nguyên Ngọc nhận giải thưởng. Ngoài ra còn một số văn nghệ sĩ khác. Bác rất mong giải thưởng này được duy trì để khuyến khích nhiều người tham gia làm tác phẩm về MT nhưng kinh phí của Hội cũng có hạn. Sắp tới, Hội đang có ý định liên kết với tổ chức Công nghệ Việt Mỹ để xây dựng giải thưởng của Hội. Tuy nhiên còn phải làm việc và trao đổi nhiều với bên họ trước khi ý tưởng đó có thể thành công.

 Không chỉ nói chuyện công việc, nhà báo Trường Giang rất hào hứng nói với chúng tôi những câu chuyện “bên lề”, về cuộc sống, về quá khứ. Chúng tôi không còn cảm giác ngồi bên cạnh một ông tổng biên tập quyền cao vọng trọng nữa. Chúng tôi thấy bác rất gần gũi, thân quen. Bác chia sẻ: “Năm nay đã 73 tuổi, cái tuổi thất thập cổ lai hy. Thế nhưng bác vẫn rất say mê, hết mình vì công việc. Công việc cho bác niềm vui, niềm tin yêu cuộc sống. Bác có thể làm việc cả đêm chỉ với một tách café và chiếc bánh mì”. Khả năng làm việc của bác làm chúng tôi phải kính phục bởi những người trẻ tuổi như chúng tôi chưa chắc đã có thể làm việc như bác. Những ngày nghỉ cuối tuần, cũng như bao người cao tuổi khác, bác thích ra ngoại thành hóng mát, câu cá. Những buổi picnic hội họp bạn bè có khi cũng trở thành buổi nói chuyện công việc. Là thành viên của Hội nhà báo Việt Nam với 15 cuốn sách tập hợp những bài báo được dư luận quan tâm, tưởng chừng như nhà báo Trường Giang tham gia quá nhiều công việc. Thế nhưng bác cho biết: Bác sẽ làm việc đến khi nào không thể làm được nữa mới thôi. Câu hỏi của chúng tôi về chuyên ngành bác học hồi còn trẻ dường như đã làm sống lại trong bác những kỉ niệm thời sinh viên. Đã từng học ngành Sư phạm ở Trung Quốc, học ngành Báo chí ở Liên Xô (Tốt nghiệp với tấm bằng đỏ với kết quả cao nhất khoá), bác nói: “Kiến thức là một dòng chảy không ngừng. Do đó con người phải thường xuyên tích luỹ kiến thức cho mình. Tuy tuổi cao nhưng hàng ngày bác vẫn đọc báo trong nước, nước ngoài, sách, tạp chí. Do đó bác có thể nói chuyện với các cháu về những vấn đề hiện đại mà không sợ lạc hậu”. Với nhà báo Trường Giang, sự cằn cỗi về thể xác không đáng sợ bằng sự cằn cỗi về tâm hồn. Nếu ta yêu cuộc sống này, đam mê với công việc thì không bao giờ chúng ta già. Bởi thế mà ở độ tuổi của bác, bác vẫn làm tốt cùng một lúc nhiều công việc. 

Chia tay nhà báo Trường Giang trong sự nuối tiếc, chúng tôi thầm mong được có cơ hội quay trở lại để “hầu chuyện” bác, nghe bác kể những câu chuyện thú vị về cuộc đời cũng như công việc. Kính chúc bác luôn luôn có một sức khoẻ dồi dào để tiếp tục làm tốt công tác của mình, đặc biệt là góp phần xây dựng VACNE ngày một lớn mạnh hơn!

 Nhóm PV VACNE thực hiện

Kinh tế hoá tài chính hoá ở Việt Nam là một vấn đề mới, còn nhiều vấn đề để bàn và để làm.

 

Nền kinh tế Việt Nam trong những năm gần đây có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao, trung bình trong 5 năm trở lại đây tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn đạt trên 8% trở lên. Vậy với tốc độ tăng trưởng như vậy tác động như thế nào đến môi trường của Việt Nam? Con đường phát triển bền vững mà Việt Nam đã chọn trong những năm qua đang phát triển ra sao. Phóng viên Vacne đã có cuộc trao đổi với Tiến sĩ Phan Văn Tân phó tổng tư ký Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật Việt Nam.

 Hoạt động môi trường là một hoạt động kinh tế trong chiến lược phát triển bền vững của Việt Nam…

 Bảo vệ Môi trường là một trong ba thành tố trong phát triển bền vững(PTBV) gồm: phát triển kinh tế, ổn định xã hôi và bảo vệ môi trường, chính vì vậy mà  chúng ta phải gắn lợi ích kinh tế trong vấn đề bảo vệ môi trường. Trong lĩnh vực môi trường thì việc lượng hoá các tài nguyên môi truờng bằng những chỉ tiêu, con số cụ thể phải được thực thi. Môi trường vừa là yếu tố đầu vào, cũng là yếu tố đầu ra của sản xuất bởi vậy môi trường góp phần vào phát triển kinh tê và là một trong những thành tố quan trọng của (PTBV)theo Tiến Sĩ Phan Văn Tân. Như vậy có thể nói rằng trong vấn đề phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường và những vấn đề môi trường có một vị trí hết sức quan trọng, nếu không thực hiện tốt thành tố môi trường trong phát triển bền vững thì chúng ta sẽ phải gáng chịu hậu quả hết sức nặng nề sau này về môi trường.

 Ở Việt Nam hiện nay vấn đề kinh tế hoá, tài chính hoá ngành tài nguyên môi trường còn là vấn đề rất mới, chính vì vậy mà việc lượng hoá tài nguyên môi trường còn gặp nhiều khó khăn và cần phải có thời gian để thực hiện.

  Các công cụ kinh tế trong việc quản lý môi trường còn chưa đầy đủ, chưa chặt chẽ và chưa đủ mạnh.   

Công cụ kinh tế là một trong nhiều công cụ chính để quản lý môi trường, những công cụ kinh tế trong quản lý môi trường sẽ góp phần thực thi những quy định, thuế của nhà nước trong vấn đè bảo vệ môi trường. Hiện nay theo TS Phan Văn Tân các chính sách công cụ kinh tế của chúng ta còn ở giai đoạn đầu, chưa được chặt chẽ, đủ mạnh, thực sự chưa hoàn hảo. Chúng ta cần phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa hệ thống pháp luật để điều chỉnh sao quá trình sản xuất tác động đến môi trường ít nhất, ngoài ra chúng ta phải nghiên cứu để phù hợp và mang tính mềm dẻo trong việc tính toán thuế và chi phí môi trường sao cho không quá thấp cũng không quá cao đối với các cá nhân, doanh nghiệp và tính toán giá trị môi trường theo công năng của nguồn tài nguyên đó để không mất mát nguồn thu của nhà nước qua từng năm khi mà công năng đó thay đổi do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan đưa lại, tức là phải hoạch toán tài nguyên nhưng phải tính đủ.

  Việt Nam tăng trưởng nhanh nhưng không bền vững…

 Sau luật bảo vệ môi trường được ban hành vào năm 1993 vấn đề ý thức của người dân,các doanh nghiêp đã có những thay đổi tích cực trong việc bảo vệ môi trường, chính phủ cũng đã có những quan tâm nhiều hơn tới môi trường khi giành 1% GDP cho vấn đề môi trường. Nhưng hiện nay vấn đề bảo vệ môi trưòng của chúng ta đang gặp nhiều khó khăn do sức ép của vấn đề tăng trưởng kinh tế của một nước đang phát triển, nên chúng ta đã ít quan tâm đến môi trường. Chúng ta tăng trưởng quá “nóng” chính vì vậy mà tăng trưởng không bền vững, tốc độ tăng trưởng Việt Nam đạt 8%/năm nhưng hậu quả của quá trình tăng trưởng nhanh đó là hàng loạt những vấn đề môi trường xảy ra như: suy thoái môi trường, ô nhiễm nguồn nước, đât, không khí ngày càng gia tăng, nhiều hệ sinh thái đã mất đi do đòi hỏi về phát triển kinh tế. Trong số 8%/năm thì chúng ta lại phải bỏ 3% đến 4% cho chi phí môi trường. Đó chính là phân tích của TS Phan Văn Tân khi đánh giá về tăng trưởng kinh tế tác động đến môi trường

 

Phải có những giải pháp đồng bộ và áp dụng những phương pháp, công nghệ mới

Chúng ta phải thực hiện chiến lược môi trường thiết thực theo TS Phan Văn Tân chiến lược đó gồm ba vấn đề cơ bản sau: phòng ngừa, xử lý và phục hồi, trong đó chúng ta chủ trương phòng bệnh còn hơn là chữa bệnh để qua đó tác động tích cực đến môi trường. chúng ta cũng nên nhân rộng hơn mô hình “Sản xuất sạch hơn” mà hiện nay đang là xu thế trên thế giới, với công nghệ mới này thì các cá nhân và doanh nghiệp sẽ tiết kiêm được chi phí về nguyên,nhiên liệu và vật tư khi áp dụng công nghệ mới này mà ảnh hưởng rất ít tới môi trường do quy trình xử lý môi trường trong sản xuất sạch hơn không cần là quy trình cuối đường ống nữa( công nghệ bẩn) mà thay vào đó là hệ thống xử lý ngay trong quá trình sản xuất, nên rất ít ỗ nhiễm môi trường xung quanh.

 

Nhóm PV VACNE thực hiện

Phỏng vấn GS TS Vũ Hoan, Phó Chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Hà Nội

Trong thời gian diễn ra hội thảo “Môi trường và trách nhiệm của doanh nghiệp qua vụ việc Vêđan” do Hội bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tổ chức, chúng tôi đã may mắn được GS TS Vũ Hoan dành cho vài phút để trả lời phỏng vấn giữa công việc tất bật của ông.

 PV: Thưa ông, mới đây Bộ trưởng Bộ TNMT đã đưa ra chủ trương của ngành trong tương lai là kinh tế hoá tài chính hoá. Vậy quan điểm của ông về vấn đề này như thế nào?

GS TS Vũ Hoan: Theo tôi, tài nguyên thiên nhiên là hữu hạn chứ không phải vô hạn. Nó là do tạo hoá ban tặng cho chúng ta. TNMT là vật chất cụ thể chứ không phải là khái niệm chung. Vì hữu hạn nên ta phải biết tính toán, tiết kiệm để giữ được tài nguyên, đồng thời bảo vệ MT. Tài nguyên gắn liền MT. Nếu khai thác quá mức tài nguyên thì huỷ hoại MT. Kinh tế hoá, tài chính hoá tài nguyên, theo tôi là việc đương nhiên. Từ xưa đến nay, ta chưa đưa khái niệm này ra nhưng việc khai thác tài nguyên như than, dầu mỏ, đất đai để bán đã có từ lâu. Có điều ta chưa đưa vào quy luật, chưa ghép thành thể chế nên chúng ta tuỳ tiện khai thác. Bây giờ, ta đưa việc khai thác thành kinh tế hoá thì ta phải tính toán lâu dài. Đứng về mặt lí thuyết cũng như thực tiễn thì tôi thấy kinh tế, tài chính hoá tài nguyên, thể chế hoá nó đi là có lợi cho MT và có lợi cho nền kinh tế quốc dân trước mắt cũng như lâu dài.

 PV: Thưa ông, chủ trương này có thể hiểu đơn giản là ta tính toán chính xác các giá trị thực của tài nguyên MT, và khi các doanh nghiệp khai thác nó bao nhiêu thì phải trả tiền bấy nhiêu không ạ?

GS TS Vũ Hoan: Đúng. Bản thân tài nguyên thì rõ rồi. Còn MT thì lâu nay người ta chưa tính đến mặc dầu  luật đã ra rồi. Anh sử dụng MT, phá hoại MT thì phải đền bù. Ví dụ khi ta vào công viên cây xanh không khí trong lành, không những ta phải trả phí dịch vụ mà còn phải trả cả phí do được hưởng MT trong sạch. Còn việc thải chất thải làm ô nhiễm MT thì phải trả phí cải tạo MT là quá rõ rồi.

 PV: Chúng ta sẽ phải có những sự thay đổi nào để chủ trương này có thể khả thi, thưa ông?

GS TS Vũ Hoan: Trước hết ta phải giáo dục cho toàn dân. Tài nguyên hữu hạn thì rõ rồi nhưng dân chưa hiểu, bản thân các doanh nghiệp cũng chưa hiểu cho nên cứ khai thác bừa bãi. Như vậy phải làm cho người dân, các doanh nghiệp, các cơ sở hiểu rằng: sử dụng tài nguyên là phải trả tiền.

 PV: Nhưng với một số loại tài nguyên khó định lượng như đất, gió, không khí thì chủ trương này liệu có khả thi không ạ?

GS TS Vũ Hoan: Tôi nghĩ là không có tài nguyên nào không tính toán được cả. Nếu nó có thể định lượng thì ta tính toán theo cách khác. Nếu không định lượng thì ta tính toán theo ảnh hưởng đến sinh vật, con người, sức khỏe, cuộc sống. Tất cả những cái đó đều tính toán được cả.

 PV: Được biết ông là phó chủ tịch Liên hiệp các Hội Khoa học và Kĩ thuật Hà Nội, vậy ông có thể cho biết hiện nay khoa học kĩ thuật đã được áp dụng nhiều vào MT hay chưa?

 GS TS Vũ Hoan: Hiện nay khoa học đã được áp dụng vào MT khá nhiều, đặc biệt là từ những năm 90 trở lại đây. Việc đào tạo các ngành chuyên sâu vào MT cũng được quan tâm, nhiều khoa MT bậc Đại học được mở như MT sinh thái, kinh tế MT,… Đó là bước tiến lớn của chúng ta. Ngoài ra thì các Sở TNMT được tách ra từ Sở Khoa học công nghệ và MT trước đây đã có những chính sách bám sát, cụ thể về MT.

 PV: Trong tương lai chắc chắn chúng ta sẽ phải đưa khoa học vào MT nhiều hơn nữa. Vậy theo ông, giải pháp nào để chúng ta có thể khoa học hoá MT một cách hiệu quả?

 GS TS Vũ Hoan: Đầu tiên, việc khai thác tài nguyên phải tính toán theo kế hoạch. Vừa khai khác tài nguyên đồng thời bảo vệ MT. Chúng ta phát triển những ngành công nghiệp sạch để giảm thiểu những tác hại của công nghiệp gây cho MT chứ không chỉ đợi đến khi gây ô nhiễm rồi mới đi giải quyết. Phát triển công nghiệp sạch, sản xuất sạch không những tiết kiệm nguyên liệu lại bảo vệ MT. Đây là một ngành công nghiệp mà ta cần nghiên cứu và phát triển. Các nhà công nghệ, các nhà MT phải phối hợp để cùng nghiên cứu.

 PV: Câu hỏi cuối cùng dành cho ông, ông nhận định như thế nào về MT của Việt Nam trong tương lai? Liệu ông có khả quan về một MT xanh sạch trong tương lai gần hay không?

 GS TS Vũ Hoan: Hơi khó. Ta phải tính toán cụ thể. Các tiêu chuẩn của ta còn chưa theo kịp thế giới. Ví dụ về giao thông phải có 30% dành cho đường đô thị nhưng của ta lại quá ít. Ngay cây xanh của thủ đô Hà Nội tính ra vẫn chưa đủ tiêu chuẩn về mật độ. Do đó, các nhà MT, các nhà hoạch định chính sách vĩ mô cần hướng tới những cái đó để thực hiện. Muốn có MT theo tiêu chuẩn thể giới thì ta còn cả một bước dài. Những chính sách của nhà nước thì các cơ sở cần nghiêm chỉnh thực hiện thì mới mong có MT sạch trong tương lai. Còn trước mắt thì hơi khó.

 PV: Vậy là chúng ta còn rất nhiều việc phải làm, phải không ạ. Nhưng dù sao chúng ta vẫn cứ hi vọng phải không thưa ông?

 GS TS Vũ Hoan: Tôi xin nói thêm là ta đã có luật, có nghị định, có quy chế. Giờ chỉ việc thực hiện thôi. Tất nhiên luật còn nhiều vấn đề. Tuy nhiên nếu ta làm đúng luật, đúng nghị định, có xử phạt nghiêm minh, có theo dõi, kiểm tra tốt, người dân và doanh nghiệp có ý thức thực hiện thì chắc chắn sẽ thành công.

 PV: Rất cảm ơn ông về buổi trò chuyện này!

 Nhóm PV VACNE thực hiện

 

 

Phỏng vấn KS Đặng Nghĩa Phấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường.

        

Mỗi một chủ trương do nhà nước đưa ra luôn nhận được sự quan tâm của dư luận. Có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề. Chủ trương “Kinh tế hoá, tài chính hoá ngành tài nguyên môi trường (TNMT)” của Bộ tài nguyên và môi trường cũng vậy. Để công chúng có thể hiểu thêm về chủ trương này, chúng tôi tiếp tục hành trình của mình đến với ông Đặng Nghĩa Phấn - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Phát triển Dân số, Xã hội và Môi trường.

 PV: Thưa ông, ông có thể đánh gía một cách chung nhất về tình hình MT ở VN hiện nay?

KS Đặng Nghĩa Phấn: So với các nước đã phát triển thì MT của chúng ta kém hơn rất nhiều. Nhưng so với các nước đang phát triển như Thái Lan, Ấn Độ thì MT của chúng ta vẫn còn tốt. Tôi đã sang Thái Lan thấy đồi núi đỏ quạch trong khi đồi núi của ta vẫn còn xanh tươi. Rất may mắn là khi MT bắt đầu bị tàn phá thì thế giới đã nhìn ra điều đó. Hội nghị thượng đỉnh về MT tại Cairô năm 1992 đã xác định gắn dân số với MT.

 PV: Ông là một chuyên gia trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển dân số, xã hội, MT. Vậy xin ông cho biết mối quan hệ của MT đối với dân số và xã hội?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Nước ta có mật độ dân số vào loại cao. Nghị quyết TW IV đã xác định: dân số phát triển nhanh ảnh hưởng đến phát triển kinh tế xã hội và tương lai của đất nước. Một trong những biện pháp hàng đầu để phát triển kinh tế là giải quyết vấn đề dân số. Trước đây, thu nhập bình quân hàng năm của người dân Trung Quốc là 100 đô la. Năm 1976, Trung Quốc giải quyết vấn đề dân số. Năm 1982-1983 nước này áp dụng chính sách mỗi hộ gia đình một con. Nhờ đó hiện nay, thu nhập của họ dã tăng lên 2500 đôla. Như vậy dân số ảnh hưởng lớn đến kinh tế. Đồng thời dân số cao dẫn đến phá rừng để có đất ở, khai thác quá mức thuỷ sản, tàn phá biển… Hiện nay, sản lượng cá ở Đại Tây Dương đã thấp hơn nhiều so với Thái Bình Dương. Thủ đô Băng Cốc của Thái Lan có khoảng 5 triệu dân. Ước tính mỗi năm, thủ đô này bị lún sâu 1cm. Như vậy chỉ 100 năm nữa, với tốc độ lún này, thủ đô của Thái Lan sẽ chìm trong biển nước, chưa kể đến ảnh hưởng của băng tan làm nước biển dâng lên. Mặt khác, chính dân số lại là nạn nhân của những ảnh hưởng từ MT, phải gánh chịu lũ lụt, động đất, ô nhiễm….. Tóm lại, dân số, xã hội và MT có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Sự thay đổi của một yếu tố sẽ kéo theo sự thay đổi của các yếu tố còn lại.

 PV: Trung quốc có diện tích và dân số lớn hơn chúng ta rất nhiều. Vậy tại sao dường như vấn đề MT của Trung Quốc vẫn tốt hơn chúng ta?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Với dân số hơn 1 tỉ và 100 triệu tấn C02 thải vào MT mỗi năm thì không thể nói MT của Trung Quốc là tốt được. Nhận xét chung thì Trung Quốc vẫn bị ô nhiễm nghiêm trọng. Thế nhưng khi tôi quan sát ở biên giới Việt Trung, phía Việt Nam rừng thưa hơn bên Trung Quốc. Con sông Hồng đoạn ở Trung Quốc rất sạch. Chỉ khi sang đến VN nó mới bẩn. Những biểu hiện ấy cho thấy: so với VN thì MT của Trung Quốc vẫn tốt hơn nhiều.

 PV: Gần đây có nhiều vụ bê bối về MT bị phát giác như vụ VEDAN, MIWON thải trực tiếp nước thải không qua xử lí ra sông. Ông có suy nghĩ gì về những vụ việc này?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Theo tôi đây không chỉ là một vài vụ mà đó là cả một quá trình. Thâm chí công ty VEDAN đã từng được Việt Nam tặng huy chương về phát triển kinh tế xã hội. Như vậy ngay từ đầu chúng ta đã không có những chủ trương, những quy định rõ ràng về việc bảo vệ MT để yêu cầu VEDAN tuân thủ. Mà nếu lúc đó chúng ta quy định cụ thể thì chắc gì VEDAN đã đầu tư vào Việt Nam. Chỉ đến khi VEDAN vi phạm lớn quá ta mới phạt họ. Tôi nghĩ chính sách của chúng ta cần phải đi trước thực tế chứ không phải chạy theo vụ việc như vậy. Nhận thức về MT của ta còn chậm nên chính sách đưa ra không có tính dự báo. Người ta là tư bản nên cái gì thu được nhiều lợi thì họ làm. Chúng ta cũng phải chịu trách nhiệm chứ không chỉ đổ lỗi cho họ.Vì thế ta phải nhanh chóng rà soát lại các quy định, chính sách về MT.

 PV: Ông có nghĩ những hình phạt cho các công ty này là còn nhẹ?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Theo tôi hình phạt cho Vedan còn nhẹ. Nhưng trong tổng số hình phạt chính xác là bao nhiêu thì cũng có một phần trách nhiệm của chúng ta trong đó.

 PV: Theo ông, ta nên coi trọng phát triển kinh tế hay bảo vệ MT hơn?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Thực ra cả 2 vấn đề ấy chỉ là một. Ta vừa phát triển kinh tế vừa phải bảo vệ MT. Tuy nhiên nếu chúng ta đặt quá cao vấn đề bảo vệ MT, bắt các doanh nghiệp sản xuất phải chi quá nhiều tiền cho MT thì họ sẽ không đầu tư vào Việt Nam nữa. Khi đó đất nước ta khó mà phát triển so với thế giới. Song nếu không đầu tư vào MT thì ta cũng chết.

 PV: Vâng, như vậy là cái gì cũng có 2 mặt. Chúng ta phải chú trọng phát triển kinh tế và đi kèm với đó là bảo vệ MT thiên nhiên phải không ạ?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Chính xác là như vậy! Hai vấn đề đó phải hài hoà làm một.

PV: Thưa ông, mới đây thì Bộ trưởng Bộ TNMT có đưa ra chủ trương của ngành trong thời gian sắp tới là “Kinh tế hoá, tài chính hoá ngành TNMT”. Chủ trương ấy có nội dung cốt lõi là gì và ý nghĩa của nó trong hoàn cảnh hiện nay?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Làm cái gì chúng ta cũng phải cân nhắc. Chúng ta càng hạn chế được ô nhiễm MT bao nhiêu thì tốt bấy nhiêu. Chủ trương của Bộ có hai mặt. Thứ nhất, ta phải coi MT là một ngành sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Thứ hai, sử dụng công cụ kinh tế để bảo vệ MT. Hiện nay nền kinh tế của chúng ta phụ thuộc rất nhiều vào quốc tế, đặc biệt là Mĩ và Nhật. Nếu chúng ta không làm tốt công tác MT thì người ta cũng ép chúng ta phải làm. Bởi một khi hàng hoá Việt Nam không đảm bảo tiêu chuẩn thân thiện với MT thì thế giới sẽ tấy chay hàng Việt Nam, kinh tế nước ta sẽ khủng hoảng.

 PV: Chủ trương này liệu có khả thi không, thưa ông?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Tôi nghĩ có khả thi. Tuy nhiên hiện nay chúng ta đang thiếu chính sách hướng tới tương lai, chính sách của chúng ta quá cũ, từ thời bao cấp, mang nặng tính chất khẩu hiệu. Chúng ta nên áp dụng cánh lập chính sách của Tư bản nước ngoài. Những thứ chúng ta đang có là những chính sách dài hạn, xa vời, khó áp dụng, trong khi những chính sách tuy nhỏ mà thiết thực thì lại chưa có.

 PV: Vậy xin ông hãy đưa ra những giải pháp để phát triển MT ở Việt Nam trong tương lai?

KS Đặng Nghĩa Phấn: Nói chung, những chính sách của chúng ta khó có thể vượt tầm thế giới. Cần chia nhỏ các loại chính sách tức thời, ngắn hạn, trung hạn và dài hạn; có quy hoạch chung phát triển kinh tế vùng miền. Nước ta có khoảng 14 triệu đồng bào dân tộc thiểu số, sống trên ¾ diện tích lãnh thổ đất nước nhưng vấn đề MT ở những vùng đó lại chưa được đầu tư thoả đáng. Tiếp theo, ta cần lôi kéo nước ngoài đầu tư vào Việt Nam nhưng phải lái họ theo hướng của chúng ta để có thể bảo vệ MT trong nước. Cần mạnh dạn đầu tư vào MT hơn, vận động người dân và các doanh nghiệp cùng bảo vệ MT vì công tác truyền thông MT của chúng ta hiện nay chưa tốt. Cuối cùng, ta cần đầu tư cho ngành khoa học MT. Hiện tại chúng ta rất thiếu những thông tin khoa học có thể áp dụng, thiếu những viện nghiên cứu , trung tâm nghiên cứa quy mô lớn. Hi vọng những giải pháp ấy sẽ giúp MT nước ta được cải thiện trong thời gian gần.

 PV: Rất cảm ơn ông về buổi phỏng vấn này!

 Thực hiện: Nhóm PV VACNE

Trao đổi với TS. Cù Chí Lợi, phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam

Sáng 17/10/2008, nhóm phóng viên Vacne đã có một buổi nói chuyện với TS. Cù Chí Lợi, phó Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam. Trong cuộc trao đổi về vấn đề môi trường hiện nay thì nổi cộm là vấn đề của Vedan. Theo TS. Cù Chí Lợi thì cái yếu của nhà nước ta hiện nay chính là “ngại giám sát”, giống như Vedan hay Miwon nhà nước ta dường như “nể nang” những nhà đầu tư lớn,  chính điều đó đã làm cho những nhà đầu tư này “đục nước thả câu”.

“Kinh tế hóa, tài chính hóa ngành tài nguyên môi trường đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới”.

Các nước trên thế giới đang áp dụng cách thức là đóng thuế ô nhiễm và họ sử dụng các biện pháp để điều tiết và xử lý hành vi của những doanh nghiệp vi phạm bảo vệ môi trường. Biện pháp hành chính như là cấm doanh nghiệp tiếp tục kinh doanh cho tới khi DN đó đã xử lý xong ô nhiễm do mình gây ra; các biện pháp khác mềm dẻo hơn như cho phép xả thải ra môi trường các chất ô nhiễm trong giới hạn cho phép, áp dụng biện pháp khuyến khích kinh tế, có nghĩa là gây ra ô nhiễm càng ít thì đóng thuế càng thấp. Họ quy định những mức độ ô nhiễm khác nhau và những mức thuế khác nhau, điều đó tác động tới các doanh nghiệp buộc họ phải chú trọng công tác bảo vệ môi trường trước khi họ mất một khoản tiền lớn.

Biện pháp này đã có tác động rất tích cực đối với sự phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường chính vì vậy Việt Nam nên học hỏi và áp dụng.

“Việt Nam còn ngại giám sát đối với các nhà đầu tư nước ngoài mặc dù có luật”

Một thực tế đang xảy ra ở Việt Nam là mặc dù có luật, có văn bản hướng dẫn nhưng chúng ta chưa cương quyết trong công tác thanh tra giám sát hoạt động của các doanh nghiệp. Hiện tại ở nước ta nhà nước luôn khuyến khích đầu tư mà không chú ý tới công tác môi trường, chính điều đó đã làm cho các doanh nghiệp không coi trọng việc xử lý rác thải. Chính sách pháp luật, công tác thanh tra không thống nhất cương quyết khiến môi trường kinh doanh của chúng ta kém. Việc thường xuyên kiểm tra khiến doanh nghiệp luôn kêu ca rằng nhà nước can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp, không làm thường xuyên nữa mà một năm chỉ một, hai lần thì có những doanh nghiệp lại không có điều kiện để kiểm tra, đối với những doanh nghiệp lớn, dường như chúng ta quá ưu ái với những doanh nghiệp này khi kiểm tra chúng ta nương tay cho họ...việc không cương quyết, còn ngại thanh tra kiểm tra các nhà đầu tư lớn đã làm cho việc giám sát của chúng ta vừa yếu vừa kém.

Tất nhiên đối với những trường hợp mà đã bị phát giác thì chúng ta vẫn phải xử lý một cách quyết liệt xong việc làm này đã là quá muộn so với những cái mà chúng ta có thể làm.

“Một vài giải pháp mang tính khắc phục”

Muốn phát triển bền vững thì chúng ta phải cân bằng mục tiêu  phát triển kinh tế và mục tiêu phát triển môi trường, chúng ta đang tập trung khai thác quá nhiều tài nguyên mà không tập trung vào giải quyết môi trường. Giải pháp có thể đưa ra là giảm bớt đầu tư vào những lĩnh vực tàn phá môi trường ví dụ như khai thác khoáng sản, khai thác than, thuộc da...Nhà nước cũng phải xây dựng quỹ bảo vệ tài nguyên môi trường, nhằm khác phục những vấn đề đã xảy ra rồi và quỹ này được lấy từ thuế môi trường hay thuế ô nhiễm của các doanh nghiệp, nhà nước cũng phải lấy trong tổng ngân sách nhà nước...Nhà nước cũng phải xác định xây dựng hệ thống hạ tầng hiện đại.

“Định giá tài nguyên môi trường rất  khó”

Không phải bất cứ tài nguyên nào cũng có thể quy ra tiền, nó liên quan tới rất nhiều vấn đề: vấn đề xã hội, tài nguyên hiện tại, tài nguyên tương lai...và chúng ta cũng chưa có một tiêu chí cụ thể nào để đánh giá và định giá. Chúng ta chỉ có thể dựa vào việc các doanh nghiệp họ đã thải ra cái gì gây ra tổn hại như thế nào ... để xác định mức giá mà họ phải chịu. Chúng ta có thể đánh giá trên cơ sở chi phí cơ hội. Như vậy kinh tế hóa là xác định sự đóng góp của các doanh nghiệp trong việc bảo vệ môi trường, nếu gây ra ô nhiễm môi trường thì DN phải có nghĩa vụ đóng thuế và khôi phục lại tất nhiên trong mức cho phép, nếu ngoài mức độ cho phép thì phải xử lý nghiêm khắc hơn bằng biện pháp hành chính. Cách này các nước trên thế giới đã áp dụng rộng rãi.

 “Quyền lợi của người dân”

Khi mà người dân bị ảnh hưởng nặng do ô nhiễm môi trường gây ra thì họ sẽ nhận được trợ cấp của chính phủ trong kế hoạch bảo vệ môi trường của chính phủ: Tiền khám chữa bệnh, khôi phục tài nguyên môi trường ở khu vực đó

Các doanh nghiệp đền bù cho người dân trên phán quyết của chính phủ, người dân phải có đơn kiện doanh nghiệp và chính phủ thay mặt người dân xác định mức độ ô nhiễm, ảnh hưởng tới sức khỏe như thế nào, xác định chi phí khôi phục sức khỏe, khôi phục môi trường...bắt buộc đền bù cho người dân. Qua đây thì có nên lập thêm tòa án môi trường trong hệ thống cơ quan xét xử của nước ta, người dân qua đây có thể trực tiếp kiện cáo và đòi quyền lợi cho mình.

“Khi tài nguyên môi trường trở thành hàng hóa”

Như đã nói, việc quy định trong luật tài nguyên là hàng hóa không phải là điều khó mà cái khó là làm sao có thể xác định giá trị hàng hóa để có thể lưu thông nó trên thị trường, làm sao có thể kiểm soát nó trên thị trường, có thể định giá được không.

“Chủ trương kinh tế hóa, tài chính hóa ngành tài nguyên là hoàn toàn đúng” song để làm được chúng ta cần khắc phục