THÔNG TIN-HOẠT ĐỘNG

Môi trường Việt Nam đang tiến đến mức không kiểm soát nổi!

Tình nguyện Môi trường-Cộng hưởng để hiệu quả hơn

Hoa Kỳ thúc đẩy hợp tác với VN nghiên cứu các vấn đề về môi trường

Hà Nội khởi công dự án thoát nước 370 triệu USD

Mức tiêu dùng của thế giới vẫn không ngừng gia tăng

Biến đổi khí hậu: “Hung thần” lộ diện

Mất rừng và nỗi đau lũ lụt

Ứng dụng Công nghệ sinh học: Tác dụng kép

Nhà máy điện hạt nhân tương lai

Việt Nam đang theo sát các nền kinh tế hàng đầu châu Á

Kinh tế suy yếu và cam kết về môi trường

Cuộc chiến bảo vệ môi trường

 

Môi trường Việt Nam đang tiến đến mức không kiểm soát nổi!
(Lao Động, 26/11/2008)

Giáo sư Võ Quý

(LĐ) - Giáo sư Võ Quý, người từng nhận giải thưởng "Hành tinh xanh" năm 2003, vừa được tạp chí Time bình chọn là "Anh hùng môi trường" năm 2008 cùng 34 nhân vật là các chính khách, nghệ sĩ, nhà khoa học khắp thế giới.

Trong ngôi nhà giản dị ở một hẻm nhỏ ven đô, thay vì kể về những thành tích và giải thưởng đầy vinh quang, vị anh hùng môi trường ngồi điểm lại những... thất bại của mình!

Trong suốt gần 60 năm đấu tranh không mệt mỏi cho cuộc sống trong lành hơn của con người, ông cho rằng những thất bại ấy ai cũng có thể rút ra từ đó những bài học để hành xử với thiên nhiên, con người và cộng đồng.

Ông nói: "Tôi nghiên cứu sinh vật. Công việc chính của tôi là phát hiện và bảo tồn những giống chim quý. Nhưng chim chóc phải gắn với thiên nhiên, và càng ngày tôi càng hiểu rằng muốn phát triển được công việc nghiên cứu khoa học chuyên ngành của mình thì càng cần có môi trường thiên nhiên tốt.

Lần đầu tiên tôi ý thức được sự khủng khiếp của việc tàn phá môi trường là vào năm 1971. Tôi vào Tây nguyên bằng cách vượt Trường Sơn, đi qua hàng chục cây số những cánh rừng chết khô, đen ngòm, không một tiếng chim hót, không một dấu chân thú.

Trước đó chỉ nghe nói Mỹ thả chất độc hóa học, nhưng đọc tài liệu Mỹ thấy khẳng định chỉ làm rụng lá, không làm chết cây. Đứng dưới những cánh rừng đó, từ hôm ấy tôi đã tự nhủ với mình là sau này hòa bình nhất định phải làm mọi cách để trả lại màu xanh cho những cánh rừng này.

Nhưng hòa bình rồi, thống nhất rồi mà rừng vẫn tiếp tục bị chặt phá. Vì mưu sinh người ta phải phá rừng. Và phá rừng thì lũ lụt, hạn hán đổ xuống, mất mùa, đói kém, lại càng phá rừng, ăn vào rừng như ăn vào chính da thịt mình, ăn vào tương lai của con cháu mình.

Ngay sau đó, tôi cũng đã tổng kết những nghiên cứu, giải pháp về môi trường VN của mình và viết thành cuốn sách VN - những vấn đề về môi trường - chiến lược phát triển của đất nước. Sách được đánh giá rất cao tại Hiệp hội Quốc tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN), và tôi được bầu làm chủ tịch tiểu ban phát triển chiến lược cho các nước đang phát triển.

Nhưng đó là đánh giá của bên ngoài. Còn trong nước, tôi thấy những cố gắng của mình đôi lúc lạc lõng, thậm chí còn bị coi là "cản trở phát triển". Những năm 1980-1990, tôi làm nhiều dự án môi trường ở miền núi, trung du, bị nhiều sự phản đối, nhất là ở Tây nguyên. Tôi và đồng sự thất bại cũng nhiều".

* Thưa GS, thất bại lớn nhất mà GS gặp phải có phải từ sự không đồng thuận trong nhận thức của chính quyền địa phương?

- Chính quyền không có cái nhìn đúng về môi trường là một thách thức. Nhưng thách thức lớn nhất là không nhận được sự ủng hộ của người dân.

Đã có những dự án tôi phải làm mất mười năm, qua ba lần thất bại, lần thứ tư mới thành công. Đó là một dự án khôi phục đất bị suy thoái ở Vĩnh Phú. Lần thứ nhất chúng tôi chọn một quả đồi làm mẫu cho dân đến xem. Trên đồi trồng rừng, dưới là những ruộng đồng mức, dưới nữa đắp đập thả cá, trông đẹp lắm.

Sau đó quay lại, tất cả cây trồng mất sạch, dân bê về nhà họ từ bao giờ. Lần thứ hai làm lại, thuê công an về trông, lại còn mất nhanh hơn. Trẻ con thả trâu bò lên đồi, công an đuổi, chúng đợi công an ngủ, lùa cả đàn trâu bò lên quần nát. Lần thứ ba chuyển địa điểm sang xã khác, không thuê công an mà nhờ các cụ phụ lão trông nom. Được vài hôm đã thấy các cụ nhắn tin kêu trả lại. Thì ra trẻ con tức tối vẽ bậy khắp các bức tường trong xóm: chúng vẽ những con chó giữ nhà. Các cụ giận dữ bảo: không làm chó giữ nhà cho các ông!

Lần thứ tư chúng tôi biết phải làm gì: mời người dân đến, thuyết trình dự án, hỏi ý kiến họ xem ai muốn tham gia, dự định trồng cây gì, bao nhiêu lâu, ký hợp đồng cụ thể, ai chịu trách nhiệm và quyền lợi đến đâu. Cuối cùng thì ổn. Và đó chính là mô hình vườn rừng đầu tiên thành công ở miền Bắc. Bây giờ nhiều người làm và làm tốt lắm rồi, nhưng để có mô hình đó chúng tôi mất đúng mười năm.

* Thưa GS, nhưng thực tế thiên tai lũ lụt đã và đang ngày càng nhiều, đó là hệ quả tất yếu của việc tàn phá môi trường. Có vẻ như các "sách lược môi trường" của GS chỉ được cộng đồng quốc tế nhìn nhận và đánh giá cao, còn trong nước thì...

- Xin được nói ngay là những thiên tai liên tiếp vừa qua như lũ quét, trận ngập lụt lịch sử ở Hà Nội... không thể gọi là thiên tai mà chính là nhân tai. Lấp hết hồ ao, lấn sông lấn ngòi thì nước thoát vào đâu mà không ngập úng. Chặt hết rừng thì lấy gì giữ nước mà không lũ quét.

Theo tôi, tình hình môi trường ở VN đang tiến đến chỗ không kiểm soát nổi. Hơn 20 năm trước, chúng tôi đã cảnh báo về ô nhiễm môi trường ở Khu công nghiệp Vĩnh Phú, đêm ngủ ở nhà ông bí thư tỉnh ủy mà mùi hóa chất cay nồng từ nhà máy super phôtphat xộc vào mũi. Tôi bảo ông bí thư: "Chúng ta và con cháu sẽ ung thư hết vì thứ này". Nhưng ông bí thư bảo: "Đồng ruộng cần phân bón hơn, năng suất lúa thấp lắm, dân sợ đói hơn sợ ung thư".

Hồi đó mới có khoảng vài chục nhà máy như super phôtphat, bây giờ đã hàng ngàn cái như Vedan. Luật thì có nhưng lờ mờ, dân không biết mình có quyền đòi hỏi pháp luật bảo vệ khi bị ô nhiễm môi trường, người thực thi pháp luật thì không biết hay cố tình thực hiện sai, người làm đúng thì bị uy hiếp. Thực trạng đó không đổ lỗi cho dân, cũng không đổ lỗi cho nhà khoa học được, rõ ràng là do bộ máy và do những người lãnh đạo.

Nhưng tôi không nản đâu, sức mình làm được đến đâu thì cứ tiếp tục làm, rồi con cháu, học trò, người dân ở những nơi mình đã đến... Mỗi người cùng góp một chút nhận thức, một chút kiến thức, một chút hành động thì cả cộng đồng sẽ khác. Vì vấn đề môi trường, suy cho cùng, là của cộng đồng, của cả nhân loại cơ mà.

(Theo Tuổi Trẻ)

 

Báo Tin tức, 20/11/2008:

 

y hợp tác với VN nghiên cứu các vấn đề về môi trường
(Lao Động, 20/11/2008)
(LĐ) - Trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam từ 18-22.11, sáng 19.11, bà Claudia A.McMurray - Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ về các vấn đề của đại dương, khoa học, môi trường quốc tế - đã có cuộc gặp với đại diện một số cơ quan thông tấn báo chí Việt Nam.

Bà Claudia cho biết, chuyến thăm VN của bà có hai mục đích: Khẳng định tầm quan trọng của hợp tác Hoa Kỳ - Việt Nam về nghiên cứu vấn đề biến đổi khí hậu và khuyến khích các nỗ lực giúp bảo tồn động vật hoang dã (BTĐVHD), cũng như chống buôn bán động vật hoang dã trái phép (BBĐVHDTP).

Theo bà Claudia, trong lĩnh vực BTĐVHD, chống BBĐVHDTP, Hoa Kỳ có thể hỗ trợ Việt Nam nâng cao các khoá huấn luyện kỹ thuật, tăng cường trao đổi thông tin...

Sáng 20.11, tại TP.Cần Thơ, bà Claudia, Đại sứ Hoa Kỳ tại VN M.Michalak, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ tại TPHCM K.Fairfax dự lễ khánh thành Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu ĐBSCL trực thuộc ĐH Cần Thơ (Dragon).

Trong ngày 21.11, bà Claudia sẽ thăm Rừng quốc gia Nam Cát Tiên và huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng), nơi hiện có hai dự án bảo tồn môi trường do Tổ chức Winrock International (Hoa Kỳ) tài trợ.

L.Tuyền

 

Hà Nội khởi công dự án thoát nước 370 triệu USD

(VnExpress, 13/11/2008)

Ông Phạm Văn Cường. Ảnh: Nguyễn Hưng.

"Với điều kiện kinh tế của Hà Nội hiện nay, nếu đầu tư quá nhiều tiền để làm một trạm bơm hay hệ thống tiêu thoát 50 năm mới dùng đến một lần thì quá lãng phí" Giám đốc ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội Phạm Văn Cường đánh giá.
> Có tiêu hết 550 triệu USD, Hà Nội vẫn ngập/ Ngập nặng vì đô thị hóa không đúng quy hoạch

Sáng nay, giai đoạn 2 dự án thoát nước Hà Nội khởi công với gói thầu nâng gấp đôi công suất trạm bơm Yên Sở lên 90 m3 một giây. Tổng số vốn đầu tư cho giai đoạn này là 370 triệu USD.

Ông Phạm Văn Cường, Giám đốc ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội cho biết, sau khi hoàn thành giai đoạn 2 (dự kiến cuối 2011), hệ thống tiêu thoát của thủ đô chống chịu được với trận mưa 310 mm trong hai ngày, tần suất 10 năm lặp lại một lần.

Tuy nhiên, diện tích bao phủ của giai đoạn này chỉ mới dừng lại ở khu vực 4 quận nội thành, giới hạn bởi sông Tô Lịch và sông Hồng (77,5 km2). Chỉ đến khi hoàn tất toàn bộ dự án thoát nước, khu vực tiêu thoát mới mở rộng ra cả lưu vực sông Nhuệ (135,4 km2). Sau mốc này, hai quận Cầu Giấy và Thanh Xuân mới nằm trong hệ thống thoát nước chung của thành phố.

Về khả năng nâng công suất trạm bơm Yên Sở cũng như năng lực tiêu thoát của Hà Nội hơn nữa để đối phó với các trận mưa lớn như vừa qua, ông Cường cho rằng, thiết kế hiện tại là phù hợp. Việc nâng thêm công suất là có thể được nhưng cần thời gian nghiên cứu.

5 năm tới, khi hoàn tất dự án thoát nước, Hà Nội sẽ vẫn ngập nếu mưa trên 300 mm. Ảnh: Nguyễn Hưng.

Ồng Cường khẳng định, các yếu tố như năng lực tiêu thoát, chu kỳ bảo vệ đều được xác định sau khi khảo sát số liệu thủy văn hàng chục năm qua. Các thành phố ở Đông Nam Á, thậm chí của Nhật Bản cũng chỉ xây dựng hệ thống tiêu thoát cho trận mưa 5-10 năm lặp lại một lần. Khi điều kiện kinh tế cho phép, họ mới tính toán nâng chu kỳ bảo vệ lên 20-50 năm.

"Theo tôi, với điều kiện kinh tế của Hà Nội hiện nay chỉ làm được thế. Nếu đầu tư quá nhiều tiền để làm một trạm bơm hay hệ thống tiêu thoát 50 năm mới dùng đến một lần thì quá lãng phí", ông Cường nói.

Dự án thoát nước Hà Nội có tổng số vốn đầu tư khoảng 1,2 tỷ USD với diện tích hơn 240 ha trải dài trên địa bàn 9 quận, huyện.

Giai đoạn 1 hoàn thành năm 2005 (180 triệu USD), giai đoạn 2 đang tiến hành. Sau khi giải quyết được trận mưa 310 mm/2 ngày cho 77,5 km2 nội thành, dự án tiếp tục mở rộng ra lưu vực sông Nhuệ và xây dựng các nhà máy xử lý nước thải. Dự kiến đến cuối 2013, toàn bộ dự án hoàn tất.

Nguyễn Hưng

Mức tiêu dùng của thế giới vẫn không ngừng gia tăng

(ThienNhien.Net, 13/11/2008)

Gần 1/8 dân số thế giới, hiện sinh sống tại khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu, chiếm đến 60% mức tiêu dùng cá nhân, trong khi 1/3 dân số thế giới sống tại khu vực Nam Á và phía Nam sa mạc Sahara chỉ chiếm 3,2%. (Ảnh: Insanesociety.net)
ThienNhien.Net - Trong khoảng 1,7 tỉ người tiêu dùng hiện nay, có gần một nửa là cư dân các nước đang phát triển. Lối sống và văn hóa hiện đại vốn chỉ phổ biến tại khu vực châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật Bản và một vài nước khác trong thế kỷ 20, nay đã lan rộng khắp toàn cầu. Dân số gia tăng cộng với những thay đổ̉i về lối sống khiến nhu cầu tiêu dùng của thế giới ngày càng trở nên khó kiểm soát.

 

Trên thế giới, sự tiêu dùng cá nhân – có thể hiểu như lượng tiền chi cho hàng hóa và dịch vụ gia đình – đạt mức 20 nghìn tỉ USD vào năm 2000, tăng gấp 4 lần so với năm 1960.

Tính đến năm 2002, thế giới có khoảng 1,2 tỉ hộ gia đình (tương đương 3/4 dân số toàn cầu) đã được sở hữu ít nhất là một chiếc tivi, đồng thời trên toàn thế giới có khoảng 1,1 tỉ thuê bao điện thoại cố định và 1,1 tỉ thuê bao di động. Hiện nay, mạng Internet đã giúp kết nối hơn 600 triệu người sử dụng. Nguyên nhân gia tăng mức tiêu dùng toàn cầu chủ  yếu là do sự gia tăng dân số.

Theo dự báo của tổ chức Liên hiệp quốc (LHQ), dân số thế giới sẽ tăng thêm 41% vào năm 2050, đạt 8,9 tỉ người. Trong đó, số dân gia tăng phần lớn là tại các nước đang phát triển. Sự gia tăng dân số quá nhanh đang đe dọa nguồn dự trữ tài nguyên và gây nguy cơ khó kiềm chế tổng mức tiêu dùng.

Người tiêu dùng trong tương lai

Một tỉ lệ lớn người tiêu dùng hiện sinh sống tại các nước đang phát triển. Số lượng người tiêu dùng tính riêng tại hai nước Trung Quốc và Ấn Độ hiện đã vượt quá khu vực Tây Âu mặc dù tính trung bình đầu người mức tiêu thụ của Tây Âu cao hơn.

Các nước đang phát triển cũng đồng thời là những nước có tiềm năng nhất trong việc mở rộng tầng lớp tiêu dùng (có thu nhập tương đối). Tầng lớp tiêu dùng đến nay chiếm chưa đầy một nửa dân số của các nước này nhưng sẽ không ngừng gia tăng.

Vào năm 2003, mỗi ngày Trung Quốc có thêm 11.000 xe ôtô lưu thông trên đường phố. Con số bổ sung cho mỗi năm là khoảng 4 triệu chiếc. Nếu tiếp tục duy trì mức tăng trưởng này, vào năm 2015 các tuyến đường tại Trung Quốc sẽ bị tắc nghẽn vì số lượng xe ôtô lên đến 150 triệu chiếc, hơn tổng số xe ôtô lưu thông tại Mỹ năm 1999 18 triệu chiếc.

Nghịch lý toàn cầu

Bênh cạnh sự gia tăng mức tiêu dùng của thế giới còn tồn tại nhiều nghịch lý. Chẳng hạn như 12% dân số thế giới sinh sống tại khu vực Bắc Mỹ và Tây Âu chiếm đến 60% mức tiêu dùng cá nhân, trong khi 1/3 dân số thế giới sống tại khu vực Nam Á và phía Nam sa mạc Sahara chỉ chiếm 3,2% mức tiêu dùng cá nhân. 2,8 tỉ người trên trái đất đang cố gắng tồn tại với mức thu nhập dưới 2 USD/ngày, và khoảng 1 tỉ người không được tiếp cận với nước sạch.

Mặc dù mức tiêu dùng đang gia tăng tại các nước đang phát triển song điều đó không có nghĩa các nước công nghiệp phát triển có thể né tránh hoặc phủi bớt trách nhiệm trước sự suy giảm nguồn tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường.

 

Mỹ chiếm gần 5% dân số thế giới nhưng lại là nơi tiêu thụ 1/4 lượng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu. Số liệu năm 2003 cho biết lượng xe ôtô tại Mỹ nhiều hơn số người có bằng lái và các loại xe tiêu hao nhiều xăng lại nằm trong số các phương tiện giao thông được tiêu thụ nhiều nhất. Diện tích nhà ở trung bình tại Mỹ năm 2002 lớn hơn 38% so với năm 1975, mặc dù số nhân khẩu mỗi hộ gia đình lại ít hơn.

Vấn đề phát sinh

Cùng với dự báo dân số thế giới sẽ đạt mức gần 9 tỉ vào năm 2050, nếu như mức tiêu dùng vẫn tiếp tục gia tăng thì những tác động đến nguồn nước, chất lượng không khí, rừng, khí hậu, đa dạng sinh học và sức khỏa con người sẽ trở nên rất khốc liệt.

Vấn đề hiện nay của con người chính là những phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng. Trong số đó, vấn đề mà chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chính là sự ô nhiễm không khí và nước, cảnh quan môi trường bị suy thoái. Diện tích hầu hết các hệ sinh thái trên trái đất đang bị thu hẹp do các hoạt động của con người như xây dựng nhà cửa, nông trại, khu công nghiệp...

Theo số liệu thống kê của Quỹ Quốc tế về Bảo vệ Thiên nhiên, chất lượng các hệ sinh thái đã suy giảm hơn 35% tính từ năm 1970. Theo tính toán, trên thế giới mỗi người có 1,9 hecta để khai thác các tài nguyên và nước sạch. Nhưng hiện nay, con người đang tăng mức sử dụng lên 2,3 hecta. Và người Mỹ đang mở rộng khu vực khai thác lên đến 9,7 hecta mỗi người, trong khi mỗi người Mozambic chỉ khai thác khoảng 0,47 hecta.

Các hoạt động mua sắm và tiêu dùng tràn lan trong xã hội cũng có liên quan đến sự suy giảm sức khỏe người dân tại nhiều quốc gia, Các bệnh béo phì, thừa năng lượng có xu hướng gia tăng. Theo ước tính của năm 1999, 65% người dân Mỹ đang thừa cân hoặc béo phì, khiến cho hàng năm có khoảng 300 ngàn người chết và tốn khoảng 117 tỉ USD cho chi phí chăm sóc sức khỏe. 

Đó là chưa kể đến việc nhiều người tiêu dùng không những tốn hàng đống tiền mà còn tốn rất nhiều thời gian cho việc mua sắm - điều đó thực sự có đáng không? Người ta có thể bớt chút thời gian mua sắm đó ra để làm các công việc gia đình, dành thời gian bên cạnh người thân, làm việc hoặc làm các công tác xã hội, từ thiện…

Những điều có thể làm

Các nhà nghiên cứu tiêu dùng, nhà kinh tế học, nhà xây dựng chiến lược và hàng loạt chuyên gia môi trường đã xây dựng nhiều giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của con người mà không gây ảnh hưởng đến môi trường. Thêm vào đó, nhằm cân bằng mức tiêu dùng quá ít và quá nhiều, họ cũng đang tập trung vào các loại hình dịch vụ và hàng hóa, lấy dịch vụ thay thế hàng hóa, đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa có thể tái sử dụng và nâng cao nhận thức cho người tiêu dùng.

Chính phủ các nước cũng có thể định hướng các chính sách khuyến khích và điều hòa thị trường tiêu dùng nhằm đảm bảo các mặt hàng có giá cả hợp lý mà vẫn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Hơn thế nữa, chính phủ cũng nên khẳng định vai trò của mình trong việc kiềm chế tiêu dùng quá mức bằng cách xóa bỏ những công cụ khuyến khích tiêu dùng. Các nước công nghiệp phát triển có thể giúp các nước đang phát triển giảm thiểu những tác động tiêu cực của tiêu dùng bằng cách hỗ trợ các công nghệ có hiệu quả cao hơn và thân thiện với môi trường hơn.

 

 

Trần Nguyên Hương (Theo Worldwatch)

Biến đổi khí hậu: “Hung thần” lộ diện

(Hà Nội mới, ngày 13/11/2008)

Trận mưa lụt lịch sử tại Hà Nội và một số tỉnh phía Bắc đầu tháng 11-2008 là một sự bất bình thường của thời tiết vào lúc mà  theo thông lệ thì bão lụt đã phải chuyển vào miền Trung. Điều này cảnh báo hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây tác động xấu đến nước ta,  nhất là đối với ngành nông nghiệp, đã trở thành mối lo thật gần...

          Hạn hán, lũ lụt sẽ tăng

          TS Trần Đăng Hồng, cố vấn nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới tại ĐH Reading (Anh), trong bản báo cáo “Ảnh hưởng của hiện tượng hâm nóng toàn cầu lên nông nghiệp Việt Nam” cho biết: Cộng hưởng với hiện tượng hâm nóng toàn cầu, hiện tượng El-Nino gây khô hạn, nạn cháy rừng trầm trọng, La-Nina gây bão tố lũ lụt, sự biến đổi thủy tính và lưu lượng các dòng sông Cửu Long, sông Hồng... đang và có thể sẽ đưa đến nhiều hậu quả tai hại hơn đối với nền kinh tế Việt Nam.

          Theo TS Hồng thì liên tục từ năm 1998, nước ta, nhiệt độ mùa hè cao hơn bình thường và những cơn lạnh bất thường xảy ra ở miền Nam vào mùa đông. Mưa xảy ra bất thường, khô hạn chưa từng có, đến sớm hơn và kéo dài ở cao nguyên, miền Trung, Đồng bằng Nam bộ, Bắc bộ. Lũ lụt liên tục xảy ra; bão cũng bất thường và mãnh liệt hơn trước. 

          Trong vòng 30 năm qua, nền nhiệt độ tại Việt Nam có khuynh huớng gia tăng đáng kể, các tỉnh miền Bắc tăng nhiều hơn miền Nam, đặc biệt là trong những tháng mùa hè, với biên độ lớn hơn. Ở miền Bắc, trong vòng 30 năm (1961-1990), nhiệt độ tối thiểu trung bình trong mùa đông tăng 30C ở Điện Biên, Mộc Châu; 20C ở Lai Châu, 1,80C ở Lạng Sơn, 10C ở Hà Nội và Bắc Giang.

          Dựa trên các mô hình tiên đoán khí tượng, nhiệt độ trung bình ở Hà Nội sẽ gia tăng 10C vào năm 2050, và từ khoảng 2,50C đến 4°C vào năm 2100. Các bản dự báo cho thấy lượng nước mưa ở vùng Hà Nội có chiều hướng gia tăng, có thể tăng 30% vào cuối thế kỷ này, nhưng cũng có khả năng giảm 15% so với hiện nay. Dự báo đáng tin cậy nhất là lượng mưa gia tăng 2% vào năm 2050 và tăng 5% vào năm 2100 tại vùng Hà Nội.

          Những dự báo còn cho thấy khả năng miền Bắc sẽ có mưa nhiều, do hậu quả hâm nóng toàn cầu, do đó lưu lượng các sông sẽ gia tăng trong tương lai, có nguy cơ phá hủy đê điều, gây lũ lụt. Trong khi đó, cứ bắt đầu mùa khô là nước rút cạn, như sông Hồng trong những năm gần đây có lúc mực nước chỉ còn ở mức 1,46 m (tại Hà Nội) 0,31 m (tại Phả Lại), thấp nhất trong 100 năm qua. Vào mùa hạn, Đồng bằng sông Hồng sẽ thiếu nước canh tác...

          Chủ động ứng phó

          GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học kĩ thuật nhà nước cho rằng: Việt Nam thuộc số nước bị uy hiếp nhiều nhất khi có sự BĐKH toàn cầu và mực nước biển dâng. Câu hỏi hiện nay là “ứng phó như thế nào để giảm thiểu thiệt hại, bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp tục phát triển bền vững”.

          Theo khuyến nghị của Cơ quan phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, để giảm thiểu tác động của BĐKH, Việt Nam cần giải quyết ở cả ba cấp độ: cộng đồng, chính sách và năng lực thể chế, trong đó quan trọng nhất là xây dựng năng lực thể chế. Ngoài ra, còn là các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính như hạn chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, thực hiện tiết kiệm năng lượng.

          Ngày 3-12-2007, Chính phủ đã ra Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP, giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT) chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BÐKH toàn cầu. Bộ TN-MT đã thành lập Ban chỉ đạo và Tổ soạn thảo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BÐKH và nước biển dâng. Chương trình hiện đang được đưa ra thảo luận tại nhiều cuộc hội thảo quốc gia và quốc tế để tham khảo ý kiến của các nhà khoa học.

          Trong lúc chờ một chương trình hành động thống nhất, trước mắt Việt Nam cần tăng cường hoạt động giám sát, nghiên cứu khoa học về BÐKH và những vấn đề liên quan; tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế liên quan đến BÐKH; xây dựng và triển khai các hoạt động chuyển giao công nghệ, cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách và kế hoạch hành động nhằm ứng phó với BÐKH... Nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện ngay là đánh giá diễn biến khí hậu; xây dựng kịch bản BÐKH và đánh giá tác động của BÐKH đến các lĩnh vực, các ngành và các địa phương. Từ cơ sở đó, cần tiến hành xây dựng và lựa chọn giải pháp ứng phó với BÐKH.

TS Trần Đăng Hồng nhấn mạnh, Việt Nam cần phải có những kế hoạch phát triển kinh tế, giáo dục với tầm nhìn xa, rộng. Ngay bây giờ, trẻ em phải được giáo dục về BĐKH ngay từ cấp tiểu học để có kiến thức khoa học, kỹ thuật và ý thức bảo vệ môi trường.

          Trà My

Mất rừng và nỗi đau lũ lụt
(MONRE NET, (16:51 12/11/2008)
">

 

 

Hàng năm nước ta phải thường xuyên đón nhận 7 - 10 cơn bão, kèm theo là những trận lũ lụt, lốc xoáy. Thời gian qua, lũ lụt đã gây thiệt hại nặng nề cả về người và của ở các tỉnh phía Bắc và miền Trung nước ta. Một trong những nguyên nhân chính góp phần gia tăng ảnh hưởng của thiên tai là diện tích rừng đang ngày càng suy giảm nghiêm trọng...

 

Ông Nguyễn Quang Dương, Cục phó Cục Phát triển lâm nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết:

- Với sự xuất hiện ngày càng bất thường, dồn dập của thiên tai và lặp lại trong thời gian dài nhưng chúng ta lại không có một tiến bộ nào trong việc phòng chống, ngoài phương án khắc phục và cứu trợ, thực chất đó chỉ là phương án giải quyết hậu quả bão, lũ mà thôi. Một trong những nguyên nhân chủ yếu gây ra thảm cảnh lũ lụt, "thiên nhiên nổi giận" đó là độ che phủ rừng ở nước ta đã bị suy giảm nghiêm trọng. Đây không phải là nguyên nhân mới phát sinh và càng không phải đến bây giờ chúng ta mới nhận ra.

 

Theo thống kê của các cơ quan chức năng, 30 năm trở lại đây, bình quân mỗi năm nước ta mất khoảng 100 ngàn ha rừng, mà Bình Phước đang dẫn đầu cả nước về tình trạng phá rừng. Mặc dù Nhà nước đã có chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng, với nhiều biện pháp nhằm tăng độ che phủ của rừng nhưng đến nay, mới trồng được 1,4 triệu ha, nâng độ che phủ lên 10 triệu ha. Tuy nhiên, con số này cũng chưa hoàn toàn chính xác, ông nghĩ sao về vấn đề này?

- Bình Phước là một trong những địa phương có nhiều rừng và cũng là nơi diễn ra tình trạng phá rừng, mất đất rừng phức tạp nhất. Nạn phá rừng để khai thác gỗ, lấy đất để làm rẫy, lấn chiếm đất lâm nghiệp; rồi tình trạng cháy rừng, mất đất rừng trên địa bàn tỉnh hàng năm vẫn xảy ra nghiêm trọng. Trong khi đó tiến độ trồng rừng, tăng độ che phủ của rừng chỉ đạt những con số rất khiêm tốn. Bình Phước là tỉnh ở khu vực miền Đông Nam Bộ, ít chịu ảnh hưởng của bão, lũ nhưng là địa phương có vị trí đặc biệt quan trọng về rừng đầu nguồn để góp phần giữ nguồn nước, ngăn chặn lũ lụt cho khu vực Nam bộ. Mấy năm gần đây trên địa bàn tỉnh tuy chưa có những trận lũ lớn nào xảy ra trên diện rộng, nhưng hiện tượng lốc xoáy, lũ cục bộ và tình trạng khô kiệt nguồn nước vào mùa khô đã xuất hiện. Đó là sự báo hiệu xấu của việc để mất rừng, nếu chúng ta không kịp thời nâng độ che phủ của rừng, tích cực trồng rừng thì sẽ phải gánh chịu "sự nổi giận của thiên nhiên". Trước thực trạng nguồn tài nguyên thiên nhiên rừng ở nước ta đang bị xâm hại nghiêm trọng. Và thực trạng này được chứng minh bằng sự trả giá nghiệt ngã của những trận lũ, bão liên miên đang xảy ra trên khắp cả nước, mức độ thiệt hại về người và của ngày càng trầm trọng hơn.

 

Nếu chúng ta không nghiêm túc trong việc ứng xử với thiên nhiên thì chắc chắn sẽ còn phải gánh chịu những hậu quả nặng nề trong thời gian tới. Theo ông, biện pháp tốt nhất để bảo vệ rừng là gì?

- Không thể cứ hô hào bảo vệ rừng bằng những khẩu hiệu chung chung, trong khi đó vẫn cấp phép cho các xưởng cưa hoạt động, vẫn cho phép xuất khẩu gỗ, trụ sở cơ quan cứ mọc lên với những đồ nội thất bằng những loại gỗ quý hiếm.

 

Mục tiêu của Chính phủ đến năm 2010 là nâng độ che phủ rừng lên tỷ lệ 45% diện tích tự nhiên, tương đương với độ che phủ vào năm 1945. Theo ông, việc thực hiện mục tiêu này sẽ gặp khó khăn gì?

- Việc này rất khó bởi vào năm 1945, dân số lúc đó chỉ 20 triệu người còn tới năm 2010, có khả năng dân số Việt Nam đạt gần 100 triệu người.

Xin trân trọng cảm ơn ông.

Mạnh Đức (thực hiện)

 

Ứng dụng Công nghệ sinh học: Tác dụng kép

(Khoa học và Phát triển, 12/11/2008)

Với mục tiêu ứng dụng công nghệ sinh học (vi sinh đa chủng) để xử lý phế thải của công nghiệp chế biến đường, cồn, rượu… và rác thải hữu cơ, tận dụng các nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương làm phân bón hữu cơ vi sinh dùng cho cây trồng và bảo vệ môi trường sinh thái, Bộ KH &CN đã phê duyệt dự án: "ứng dụng công nghệ vi sinh đa chủng, sản xuất phân hữu cơ vi sinh POLYFA phục vụ sản xuất vùng duyên hải Nam Trung bộ" thuộc Chương trình Nông thôn, miền núi giai đoạn 2004-2010 và được triển khai tại Công ty cổ phần Phân Sinh hóa Sông Kôn.

POLYFA là một loại phân chứa đủ 3 yếu tố hữu cơ, khoáng (đa, trung, vi lượng) và hoạt tính sinh học, nên đáp ứng đủ mọi nhu cầu của cây trồng. Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, POLYFA còn có tác dụng cải tạo tính chất lý, hóa học, tăng độ phì và giữ ẩm cho đất. Công nghệ sản xuất phân hữu cơ đa chủng POLYFA sử dụng than bùn, bã bùn của công nghiệp mía đường và rác thải sinh hoạt. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào sẵn có tại địa phương. Công nghệ vi sinh đa chủng POLYFA được đánh giá là thân thiện với môi trường vì chất thải hữu cơ sau khi qua xử lý vi sinh đều trở thành nguồn dinh dưỡng cho đất, làm sạch mầm bệnh trong đất và giảm khả năng mắc bệnh của cây trồng.

Men vi sinh là chất xúc tác trong quá trình xử lý chất thải hữu cơ. Nguyên liệu thô được phun men vi sinh pha loãng và ủ trong một thời gian, các men vi sinh hoạt động sẽ phân hủy các chất có hại có trong chất hữu cơ. Nguyên liệu được đưa vào máy đập, nghiền thành bột được xử lý vi sinh một lần nữa. Sau đó, nguyên liệu được phối trộn với một số chất vi lượng, đa lượng khác theo tỷ lệ nhất định tạo thành phân hữu cơ vi sinh.

Tham gia triển khai dự án, cơ quan chuyển giao công nghệ là Liên hiệp khoa học sản xuất công nghệ sinh học và môi trường thuộc Viện Công nghệ môi trường đã tập huấn về công nghệ tuyển chọn vi sinh trong sản xuất phân bón, phân tích kiểm định các thành phần trong phân bón hữu cơ vi sinh; kỹ thuật sản xuất phân bón hữu cơ sinh học POLYFA… và chuyển giao công nghệ nhân giống cấp 2 bằng công nghệ lên men, công nghệ sản xuất chế phẩm phân giải xenlulô; công nghệ xử lý bã bùn mía trước khi lên men… cho các cán bộ và kỹ thuật viên của Công ty. Song song với việc chuyển giao công nghệ, đơn vị chuyển giao công nghệ cũng đã đào tạo được 6 cán bộ công nghệ, 10 công nhân kỹ thuật triển khai dự án. Theo ông Nguyễn Hiếu Phụng - Giám đốc Công ty: Sau 3 năm thực hiện dự án, đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Công ty đã được đào tạo một cách qui mô, bài bản, vận hành thuần thục chính xác và khoa học các công đoạn chính của qui trình sản xuất phân bón hữu cơ sinh học POLYFA và đủ trình độ tiếp cận, làm chủ công nghệ mới.

Sau khi tiếp thu được công nghệ và sản xuất thành công phân hữu cơ sinh học POLYFA, Công ty đã phối hợp với Trung tâm khuyến nông tỉnh, Trạm khuyến nông các huyện trong địa bàn tỉnh Bình Định triển khai mô hình trình diễn, khảo nghiệm sử dụng loại phân bón này trên các loại cây trồng như lúa (4ha), mía (10ha), rau màu và đậu đỗ các loại… Qua số liệu thu được ở các mô hình khảo nghiệm phân hữu cơ vi sinh POLYFA cho các loại cây trồng cho thấy: Cây trồng sinh trưởng, phát triển tốt, độ đồng đều cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, năng suất đạt cao, không phát hiện sâu bệnh hại nguy hiểm đối với cây trồng; thành phần cơ giới của đất canh tác và độ pH được cải thiện đáng kể; có tác dụng cải tạo đất rõ rệt, làm cho đất tơi xốp hơn, bổ sung dinh dưỡng và độ phì của đất.

ông Phạm Ngọc Liễn - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Phân Sinh hóa Sông Kôn cho biết: Hiện nay, khách hàng tiêu thụ sản phẩm phân hữu cơ POLYFA của Công ty là các Lâm trường trồng rừng trong và ngoài tỉnh; Công ty trồng rừng Việt - Nhật; vùng nguyên liệu mía của Công ty cổ phần Đường Bình Định tại các huyện phía Đông tỉnh Gia Lai và toàn bộ khu vực tỉnh Bình Định; HTX rau sạch Thuận Nghĩa, HTX nông nghiệp và các hộ dân… Ngoài ra, sản phẩm này còn được xuất khẩu qua các đơn vị đầu tư trồng cây cao su tại Lào. Hàng năm, Công ty tiêu thụ hơn 8.000 tấn sản phẩm phân bón hữu cơ, doanh thu trên 10 tỷ đồng. Đến nay, mô hình dự án đang tiếp tục được công ty đầu tư nhân rộng, công suất nhà máy đã được nâng lên 10.000 tấn /năm gấp 2 lần mục tiêu dự án đề ra, qua đó tạo việc làm cho nhiều lao động tại địa phương.

Có thể khẳng định, kết quả thu được của dự án là một điểm sáng về ứng dụng tiến bộ KH &CN vào sản xuất, không chỉ góp phần tích cực vào việc xử lý chất thải làm trong sạch môi trường mà còn cải tạo đất nâng cao năng suất chất lượng cây trồng, giảm chi phí đầu tư trên cùng diện tích canh tác, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân. Từ đó, tạo cho người dân tập quán canh tác theo hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững.

Anh Vũ

Nhà máy điện hạt nhân tương lai

(Khoa học và Phát triển, 12/11/2008)

Bộ Công Thương đã công bố kế hoạch xây dựng hai nhà máy điện hạt nhân tại miền Trung, tỉnh Ninh Thuận. Dự kiến hai nhà máy điện nguyên tử này sẽ đi vào vận hành vào năm 2020 đến 2022.

Tuyên bố được đưa ra tại cuộc Hội thảo quốc tế về năng lượng hạt nhân diễn ra gần đây ở Hà Nội, do Bộ Công Thương và Hội năng lượng Việt nam tổ chức.

Ông Phan Minh Tuấn, Phụ trách Uỷy ban trù bị cho việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cho biết nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận số 1 sẽ được xây dựng trên diện tích 540ha. Hai lò phản ứng hạt nhân của nhà máy này sẽ vận hành thương mại vào năm 2020 và 2021.

Nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 sẽ được xây dựng trên diện tích  556ha. Hai lò phản ứng hạt nhân của nhà máy này sẽ bán điện thương mại vào năm 2021 đến 2022.

Trong bối cảnh khủng hoảng năng lượng ngày càng gia tăng trên thế giới, nguồn dầu lửa có hạn, và sự ấm lên toàn cầu, Việt Nam quan tâm đến điện hạt nhân, xem đây là lựa chọn phù hợp, xét trên cả khía cạnh lợi ích kinh tế so với các loại năng lượng truyền thống khác.

Vào tháng 7/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phê chuẩn một kế hoạch tổng thể mang tên: "Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì các mục đích hòa bình đến năm 2020."

Vào tháng 12/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phê chuẩn chiến lược quốc gia phát triển năng lượng ở Việt Nam tới năm 2020, tầm nhìn 2050. Chiến lược này đưa ra mục tiêu đến năm 2050, điện nguyên tử sẽ cung cấp khoảng 15-20% tổng sản lượng điện ở Việt Nam.

Để tạo khung pháp lý cho việc phát triển năng lượng nguyên tử ở Việt Nam, Quốc hội đã thông qua Luật Năng lượng Nguyên tử vào tháng 6/2008, và có hiệu lực từ tháng 1/2009. Luật Năng lượng Nguyên tử do Bộ Khoa học và Công nghệ soạn thảo, được Quốc hội nhất trí cao.

Tại Hội thảo, Thomas Mazour, viên chức của Tổ chức Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Bộ phận điện hạt nhân, cho biết Việt Nam đã có sự chuẩn bị chu đáo cho tương lai các nhà máy điện hạt nhân của mình.

Một chuyên gia hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử, Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên Chủ tịch ủy ban Năng lượng nguyên tử của Việt Nam, cho rằng tốt hơn là chỉ nên có một lò phản ứng hạt nhân trước. "Từ đây, chúng ta sẽ cố gắng phát triển một nhóm các chuyên gia, cũng như cơ sở hạ tầng, và xem Luật năng lượng nguyên tử được vận hành như thế nào".

Song Ngân

Kinh tế suy yếu và cam kết về môi trường

(Khoa học và Phát triển, 31/10/2008)

Sự suy thoái kinh tế trong những năm gần đây đã làm cho cộng đồng châu âu phải xem xét lại tham vọng của mình trong cuộc chiến chống lại sự thay đổi của khí hậu.

Mặc dù Liên minh châu Âu đã tuyên bố đến năm 2020 sẽ cắt giảm 20% khí nhà kính, nhưng những nhà lãnh đạo trong lĩnh vực kinh doanh đã phản đối việc sử dụng các hình phạt tài chính để bắt buộc họ phải cắt giảm khí thải, đặc biệt là gần đây nền kinh tế đang có dấu hiệu lâm vào một cuộc khủng hoảng.

Theo ước tính, từ năm 2013 đến năm 2020 ngành công nghiệp phải trả khoảng 44 tỷ euro mỗi năm, trong đó 1 tấn CO2 có giá khoảng 30 euro.

Các nhà lãnh đạo kinh doanh đã chỉ trích chính sách này như một cách đánh thuế nhằm buộc họ phải đầu tư vào nơi khác để đưa các hoạt động gây ô nhiễm môi trường của họ ra khỏi châu Âu. Chính phủ các nước châu Âu đã bắt đầu cảm thấy sức ép khi phải đối mặt với nguy cơ nạn thất nghiệp gia tăng.

Một quan chức cấp cao của Liên minh châu âu yêu cầu dấu tên khi trả lời phỏng vấn của phóng viên AFP cho biết: "Khi tình trạng nền kinh tế ngày càng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách thức thì việc chính phủ các nước trở nên thận trọng hơn với việc giải quyết tình trạng khí hậu thay đổi vì những biện pháp họ đưa ra sẽ dẫn đến việc phải chi trả thêm nhiều khoản chi phí lớn trong trước mắt.

Hiện nay một số chính khách của châu Âu đã nói một cách thẳng thắn về việc trì hoãn hoặc có thể là từ bỏ dự án cắt giảm khí thải nhà kính nói trên.

Vào cuối tháng Tám, ông Giuliano Amato - nguyên Phó thủ tướng Italia trong bài phát biểu của mình đã nói: "Thật là một sai lầm, về mặt chính trị, kế hoạch này có thể đúng, nhưng sẽ không thực hiện được".

Một nhà đàm phán tham gia vào cuộc thảo luận giữa ủy ban liên minh châu âu và các nước thành viên nói: "Chúng ta đang nghe thấy những lý lẽ này ngày càng nhiều, đáng chú ý là các nước như Italia, Đức, nơi mà ngành công nghiệp đang gặp nhiều khó khăn. ông cũng cho biết thêm Brussel - Bỉ cũng đang nghiêm túc xem xét đến mối đe dọa trên.

Tuy vậy, ông Stavros Dimas - ủy viên Ủy ban môi trường châu Âu cũng đã kêu gọi các chính trị gia và thương nhân không nên chống đối lại các biện pháp mà Ủy ban châu Âu đưa ra.

Chủ tịch Ủy ban châu Âu, ông Jose Manuel Barroso cho biết: "Tôi trông cậy vào chính quyền của ông Sarkozy trong việc thông qua chương trình này trong năm nay trước khi nó bị nguội dần đi".

Đây là một trong những chương trình được chính phủ Pháp ưu tiên trong nhiệm kỳ giữ chức chủ tịch Liên minh châu Âu của mình. Tuy nhiên, những khó khăn của ông Sarkozy trong việc tìm kiếm sự đồng thuận cho giải pháp tìm nguồn tài chính cho "cuộc cách mạng môi trường" này đã cho thấy mức độ lớn lao của thách thức mà EU đang phải đối mặt.

Các nhà đàm phán của Pháp vẫn còn một vài tuần, trong thời gian này diễn ra hai cuộc họp cấp thủ tướng để đi đến một quan điểm chung để đưa ra Nghi viện châu Âu vào tháng Mười này.

Một nhà đàm phán nói: "Vẫn chưa có một bước đột phá quan trọng nào, nhưng vòng đàm phán cuối cùng đã được bắt đầu và đã chứng minh được nền kinh tế đã dần ổn định, chúng tôi hy vọng sẽ tìm thấy sự nhất trí của các bên tham gia".

Nhà đàm phán trên cũng cho biết: "Chương trình đưa ra hai mục tiêu chính: Một là, sẽ đưa ra các biện pháp nhằm duy trì sức cạnh tranh của nền công nghiệp châu Âu. Hai là, giúp các nước thành viên đạt được mục tiêu của mình".

Nhưng ông cũng lưu ý: "Một số quyết định sẽ mang tính chính trị và có sự thỏa hiệp".

Tố Uyên (Theo AFP

Việt Nam đang theo sát các nền kinh tế hàng đầu châu Á

(Khoa học và Phát triển, 8/11/2008)

Chuyên mục Bình luận Kinh tế của tờ "Người Scotland" số ra ngày 2/1 nhận xét năm 2007 sẽ thuộc về Việt Nam - một ngôi sao châu Á đang lên.

Năm 2006, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt xấp xỉ 8,4%, đứng thứ hai ở châu Á, sau Trung Quốc và ước tính sẽ tăng lên 8,5% trong năm 2007.

Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã đạt kỷ lục gần 40 tỷ USD, trong khi đầu tư nước ngoài cũng lên tới trên 10 tỷ USD.

Dự báo, kinh tế Việt Nam sẽ chứng kiến những thay đổi sâu sắc khi chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) vào ngày 11/1 tới, sau 11 năm đàm phán.

Hơn 30 năm kể từ khi quân đội Mỹ rời khỏi Việt Nam, các công ty hàng đầu của Mỹ đang xếp hàng để quay trở lại đây. Công ty sản xuất bộ vi xử lý điện tử hàng đầu thế giới Intel đã chọn Việt Nam thay vì Trung Quốc, Malaysia hay Philippines để xây dựng một nhà máy với 1.200 công nhân, đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong lĩnh vực công nghệ cao của Việt Nam.

Một công ty khác của Mỹ là AES đang xây dựng nhà máy điện công suất 1.000 MW trị giá 1 tỷ USD ở tỉnh Quảng Ninh. Các công ty như Cisco Systems, Nortel Networks và Motorola cũng đang triển khai các dự án đầu tư trong lĩnh vực thiết bị viễn thông.

Tuy nhiên, theo bài báo, những mục tiêu mà Việt Nam đề ra trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút đầu tư nước ngoài đã và đang bị đe dọa bởi tình trạng tham nhũng và hạ tầng cơ sở yếu kém.

Nhưng việc trở thành thành viên WTO sẽ giúp Việt Nam quản lý tốt hơn các vấn đề liên quan tới thương mại và hàng tỷ USD đầu tư cho các công trình hạ tầng giao thông vận tải. Sự phát triển vượt bậc của Việt Nam được kỳ vọng sẽ sớm xảy ra.

Theo TTXVN/HTV

Cuộc chiến bảo vệ môi trường

(SGGP, 18-19/11/2008)

Bài 1: Vi phạm nhiều, xử lý chẳng bao nhiêu!

Theo đánh giá, tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra một cách phổ biến, thường xuyên và mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn tinh vi.

"Ăn hai đầu” khi nhập rác thải

Theo Bộ Công an nhận định, hầu hết các lĩnh vực của đời sống kinh tế, xã hội nước ta đều “có mặt” của tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm với thủ đoạn hết sức tinh vi.
 
Trong lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp đã sử dụng phương thức “tạm nhập, tái xuất”, dưới hình thức như kê khai hải quan gian dối hoặc kê khai hàng miễn kiểm, nguyên liệu sản xuất, thiết bị do chuyển giao công nghệ, dự án phát triển kinh tế… để nhập khẩu máy móc, công nghệ lạc hậu, sắt thép phế liệu, nhựa tái sinh chứa rác thải nguy hại. 
 
 

Cảnh sát môi trường TPHCM kiểm tra việc xả nước thải của Chợ đầu mối thủy sản Bình Điền (Quận 8) xuống sông Chợ Đệm

Đây là một nguồn nguyên liệu giá rẻ nên các doanh nghiệp, bất chấp các quy định của pháp luật, liên tục vi phạm với quy mô và số lượng lớn. Có doanh nghiệp nhập khẩu cả ắc quy chì đã qua sử dụng.
 
Tại Hải Phòng và một số địa phương đã diễn ra hoạt động nhập rồi phá dỡ tàu cũ, thải ra môi trường các chất thải độc hại như dầu mỡ, bụi xỉ chứa kim loại nặng… gây nguy cơ ô nhiễm môi trường trên diện rộng. Điển hình như vụ Công ty Huyndai Vinashin (Khánh Hòa) thải ra hàng trăm ngàn tấn hạt xỉ đồng (hạt NIX) khiến đất và nước thải tại khu vực có xỉ đồng có hàm lượng chì gấp 21 lần tiêu chuẩn cho phép, thành phần các kim loại nặng khác như đồng, Cadimi… cũng vượt tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần.
 
Về phía các doanh nghiệp nhập khẩu thì đây là hoạt động thu lợi nhuận rất cao vì được “ăn hai đầu”: Vừa được tiền do chủ các nguồn chất thải chi trả để thu gom, vận chuyển, lại vừa được các cơ sở sản xuất trong nước mua lại để tái chế sử dụng. Khi bị phát hiện, các doanh nghiệp lại giở chiêu bài “gửi nhầm hàng” và xin chuyển trả lại!
Một lĩnh vực gây nhức nhối nữa là tình trạng hầu hết các bệnh viện không có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc có nhưng chất lượng nước sau khi xử lý cũng không đạt yêu cầu. Hàng ngày, đặc biệt là các bệnh viện lớn như BV Việt Đức, Bạch Mai, Chợ Rẫy, Chấn thương chỉnh hình TPHCM… thải ra một lượng rác thải, nước thải rất lớn nhưng phần lớn là chưa qua xử lý.

Nhiều bệnh viện thậm chí còn xả nước thải chưa qua xử lý vào… cống thoát nước chung của thành phố! Thậm chí, Khoa phẫu thuật của Bệnh viện ĐH Y Hà Nội đưa bệnh phẩm thải ra chung với rác thải sinh hoạt! Chính tình trạng dễ dãi trong quản lý và xử lý chất thải y tế khiến rác thải y tế bị tư nhân hoặc cơ sở mua phế liệu thu gom, mua bán nhằm tái chế, sản xuất đồ dùng sinh hoạt gây nguy cơ lây truyền dịch bệnh nguy hại cho sức khỏe con người.

Sẵn sàng nộp phạt để… tiếp tục vi phạm

Thời gian qua, các vụ như Công ty Vedan Việt Nam “đầu độc” sông Thị Vải, Công ty thuộc da Hào Dương xả nước thải trực tiếp, không qua xử lý ra sông Đồng Điền… đã gây nhiều bức xúc trong dư luận. Qua kiểm tra của Cục Cảnh sát môi trường (C36 - Tổng cục Cảnh sát, Bộ Công an), hạ lưu các sông Thị Vải, sông Đồng Nai, sông Sài Gòn, sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy… đang bị ô nhiễm nghiêm trọng do phải hứng chịu rất nhiều rác thải, nước thải trực tiếp từ các nhà máy, xí nghiệp thải ra.

Trên địa bàn các tỉnh tập trung nhiều khu, cụm công nghiệp như TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Hưng Yên, Hải Phòng… nguồn nước và không khí bị ô nhiễm nặng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe người dân. Đại tá Nguyễn Xuân Lý, Cục trưởng C36 cho biết, nóng bỏng nhất của tình trạng vi phạm môi trường chính là lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất là các khu công nghiệp, khu chế xuất, các làng nghề truyền thống.

Khi lập dự án hoặc mở rộng quy mô sản xuất, các doanh nghiệp không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc lập dự án sản xuất, kinh doanh dưới mức phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng thực tế quy mô sản xuất, kinh doanh lớn hơn nhiều. Để tránh bị kiểm tra, giám sát và giám định chất thải môi trường định kỳ, nhiều doanh nghiệp không lập hồ sơ đăng ký chủ nguồn chất thải. Thậm chí, có doanh nghiệp như Công ty Hào Dương xây dựng hệ thống xử lý chất thải nhưng không vận hành hoặc chỉ vận hành đối phó khi có thanh, kiểm tra.

Thông tin từ Bộ Tài nguyên - Môi trường cũng cho thấy, trong số hàng chục ngàn dự án đã được phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường, phần lớn các dự án (kể cả dự án liên doanh trong nước và ngoài nước) thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện các yêu cầu về môi trường. Có đến 90% cơ sở được kiểm tra, thanh tra có vi phạm về môi trường; 70% các khu công nghiệp không có hệ thống nước thải và cả nước có tới 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng…

Tính đến nay, mức xử lý hành chính cao nhất là trường hợp sai phạm của Công ty Vedan, tuy nhiên cũng chỉ phạt gần 130 triệu đồng. Rõ ràng, số tiền phạt này không nhằm nhò gì với lợi nhuận từ việc xả nước thải trực tiếp ra môi trường. Do vậy, nhiều doanh nghiệp sẵn sàng nộp phạt để… tiếp tục vi phạm!

Rất khó xử lý hình sự

Trong khi tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường đang nở rộ thì việc áp dụng Bộ luật Hình sự để xử lý lại rất khó khăn, hạn chế. Đại tá Nguyễn Xuân Lý cho biết, hầu hết các điều luật quy định hậu quả là dấu hiệu định tội bắt buộc nhưng trên thực tế, hậu quả của tội phạm môi trường không xảy ra ngay mà mang tính tích lũy theo thời gian nên không có căn cứ áp dụng trong truy tố, định tội danh và khung hình phạt.

Các khái niệm định tính, định lượng như “gây hậu quả nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng”, “ô nhiễm nghiêm trọng” còn chung chung, chưa có hướng dẫn tiêu chí để xem xét trách nhiệm hình sự của chủ thể vi phạm. Đa số các điều đều quy định dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính” là dấu hiệu định tội bắt buộc nhưng nhiều trường hợp vi phạm nghiêm trọng lại chưa bị xử lý hành chính hoặc đã xử lý nhưng hết hạn, thời hiệu xử lý thì cũng… không xử lý hình sự được.

Đặc biệt, một số hành vi vi phạm pháp luật môi trường mới xuất hiện nhưng chưa được quy định trong Bộ luật Hình sự. Theo Đại tá Lý, trong khi chờ sửa đổi Bộ luật Hình sự, để tạo điều kiện cho lực lượng cảnh sát môi trường hoạt động có hiệu quả cần sớm có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành đối với các loại tội phạm môi trường của Bộ Luật Hình sự.

Đường Loan

Bài 2: Những lỗ hổng về pháp luật

SGGP, ngày 19/11/2008

Lực lượng Cảnh sát môi trường (CSMT) ra đời được gần 2 năm và đã có mặt tại nhiều “điểm đen” vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sau khi phát hiện, CSMT lại “tắc tị” ở khâu điều tra, xử lý các đối tượng vi phạm bởi… chưa có thẩm quyền điều tra theo thủ tục tố tụng. 

“Tắc” ở khâu điều tra!

Theo quy định, lực lượng CSMT có thẩm quyền tiến hành các biện pháp nghiệp vụ nhằm chủ động nắm tình hình, kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên tất cả các lĩnh vực như: Khai thác khoáng sản, làng nghề, xây dựng đô thị, y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất và các địa bàn trọng điểm; rà soát các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, nhà máy, xí nghiệp có tác động đến môi trường; tổ chức, phối hợp với các ngành chức năng tiến hành thanh kiểm tra công tác bảo vệ môi trường tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở sửa chữa, đóng tàu, kinh doanh dịch vụ có phát sinh chất thải nguy hại, nuôi nhốt động vật hoang dã, các chốt kiểm dịch động vật, khảo sát tình hình gây ô nhiễm môi trường lưu vực các sông Hồng, sông Lô, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Thị Vải, sông Đồng Nai…

Qua gần 2 năm hoạt động, đến nay lực lượng CSMT đã phối hợp phát hiện hơn 750 vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, xử phạt vi phạm hành chính và truy thu phí môi trường với tổng số tiền trên 130 tỷ đồng; cảnh cáo, nhắc nhở hàng trăm doanh nghiệp, cá nhân có hành vi vi phạm môi trường.

Tuy nhiên, đến nay, năng lực đấu tranh chống tội phạm về môi trường và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường vẫn còn hạn chế do CSMT vẫn chưa có thẩm quyền điều tra. Đại tá Nguyễn Xuân Lý, Cục trưởng C36 cho biết, theo pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự năm 2004 thì CSMT chưa phải là cơ quan điều tra (chuyên trách) và CSMT cũng chưa phải là cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra bởi pháp lệnh chưa quy định thẩm quyền điều tra của cục, phòng CSMT. Vì vậy, CSMT chỉ có thể tiến hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp trinh sát, còn việc tiến hành tố tụng phải giao cho cơ quan cảnh sát điều tra của Bộ Công an.

Thậm chí, trước đây CSMT còn không được xử phạt hành chính. Gần đây, khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được sửa đổi ngày 2-4-2008 có hiệu lực, lực lượng này mới được bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính. Tuy nhiên, CSMT vẫn không được áp dụng các biện pháp ngăn chặn (tạm giữ người, tang vật, phương tiện, khám xét).

Pháp lệnh cũng chưa quy định việc CSMT được sử dụng các phương tiện kỹ thuật trong phát hiện, truy tìm đối tượng, thu thập chứng cứ, phân tích dấu vết vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường, giúp củng cố hồ sơ, phục vụ xử lý (hành chính, hình sự). Hiện nay, lực lượng CSMT cũng chưa được tham gia Hội đồng thẩm định đối với các dự án có liên quan đến công tác bảo vệ môi trường (là điều kiện bắt buộc về an ninh trật tự trong lĩnh vực môi trường).

Phương tiện “dùng chung”!

Theo Thượng tá Nguyễn Văn Hoàng Hải, Trưởng phòng PC36 Công an TPHCM, chính những “lỗ hổng” về pháp lý trên nên trên thực tế, chúng ta thiếu căn cứ để thực hiện các biện pháp xử lý, chưa tạo được cơ sở vững chắc cho việc xử lý nghiêm loại tội phạm này. Trong khi đó, lợi nhuận từ những hoạt động có liên quan đến tài nguyên môi trường ngày càng có xu hướng gia tăng do nguồn tài nguyên cạn kiệt. Hơn nữa, trong điều kiện các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, các quy định về tội phạm môi trường chưa đủ sức giáo dục, phòng ngừa, răn đe nên tội phạm trong lĩnh vực này ngày càng nảy sinh và phát triển mạnh.

Ngoài vấn đề khó khăn về tư cách tư pháp, CSMT mới được thành lập nên đang phải “sống chung” với tình trạng thiếu thốn phương tiện, trang thiết bị, cơ sở vật chất... Thượng tá Hải chia sẻ, địa bàn (TPHCM) thì rộng và có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố lân cận nhưng cả phòng PC36 chỉ được trang bị 1 xe ô tô. Các thiết bị khoa học kỹ thuật giúp cho công tác kiểm tra, phân tích mẫu về khí thải, nước thải, đo độ rung, tiếng ồn… chưa có.

Ngay cả các thiết bị văn phòng như máy vi tính, máy photocopy… cũng chưa đáp ứng được nhu cầu. Anh em cán bộ phải sử dụng phương tiện, thiết bị do cá nhân tự trang bị hay dựa vào sự hỗ trợ của các đơn vị bạn... Được biết, để khắc phục tình trạng thiếu thốn, Bộ Công an đang đề nghị trích 30% tiền truy thu phí bảo vệ môi trường và tiền phạt vi phạm hành chính để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ công tác cũng như bồi dưỡng cho lực lượng trực tiếp đấu tranh, phòng chống tội phạm môi trường. Tình cảnh trên khiến nhiều người ví von lực lượng CSMT hiện nay được trang bị “súng” nhưng lại thiếu “đạn”!.

Đường Loan