




 |
THÔNG TIN-HOẠT ĐỘNG
Môi
trường Việt Nam đang tiến đến mức không kiểm
soát nổi!
Tình
nguyện Môi trường-Cộng hưởng để hiệu quả hơn
Hoa
Kỳ thúc đẩy hợp tác với VN nghiên cứu các vấn đề
về môi trường
Hà
Nội khởi công dự án thoát nước 370 triệu USD
Mức
tiêu dùng của thế giới vẫn không ngừng gia tăng
Biến
đổi khí hậu: “Hung thần” lộ diện
Mất
rừng và nỗi đau lũ lụt
Ứng
dụng Công nghệ sinh học: Tác dụng kép
Nhà
máy điện hạt nhân tương lai
Việt
Nam đang theo sát các nền kinh tế hàng đầu châu Á
Kinh
tế suy yếu và cam kết về môi trường
Cuộc
chiến bảo vệ môi trường
Môi
trường Việt Nam đang tiến đến mức không kiểm
soát nổi!
(Lao
Động, 26/11/2008)
|
 |
|
Giáo
sư Võ Quý
|
(LĐ)
- Giáo sư Võ Quý, người từng nhận giải thưởng
"Hành tinh xanh" năm 2003, vừa được
tạp chí Time bình chọn là "Anh hùng môi trường"
năm 2008 cùng 34 nhân vật là các chính khách,
nghệ sĩ, nhà khoa học khắp thế giới.
Trong ngôi nhà
giản dị ở một hẻm nhỏ ven đô, thay vì kể
về những thành tích và giải thưởng đầy vinh
quang, vị anh hùng môi trường ngồi điểm lại
những... thất bại của mình!
Trong suốt
gần 60 năm đấu tranh không mệt mỏi cho cuộc
sống trong lành hơn của con người, ông cho
rằng những thất bại ấy ai cũng có thể rút
ra từ đó những bài học để hành xử với thiên
nhiên, con người và cộng đồng.
Ông nói: "Tôi
nghiên cứu sinh vật. Công việc chính của tôi là
phát hiện và bảo tồn những giống chim quý. Nhưng
chim chóc phải gắn với thiên nhiên, và càng ngày
tôi càng hiểu rằng muốn phát triển được công
việc nghiên cứu khoa học chuyên ngành của mình
thì càng cần có môi trường thiên nhiên tốt.
Lần đầu tiên
tôi ý thức được sự khủng khiếp của việc
tàn phá môi trường là vào năm 1971. Tôi vào Tây
nguyên bằng cách vượt Trường Sơn, đi qua hàng
chục cây số những cánh rừng chết khô, đen ngòm,
không một tiếng chim hót, không một dấu chân
thú.
Trước đó
chỉ nghe nói Mỹ thả chất độc hóa học, nhưng
đọc tài liệu Mỹ thấy khẳng định chỉ làm
rụng lá, không làm chết cây. Đứng dưới
những cánh rừng đó, từ hôm ấy tôi đã tự
nhủ với mình là sau này hòa bình nhất định
phải làm mọi cách để trả lại màu xanh cho
những cánh rừng này.
Nhưng hòa bình
rồi, thống nhất rồi mà rừng vẫn tiếp tục
bị chặt phá. Vì mưu sinh người ta phải phá
rừng. Và phá rừng thì lũ lụt, hạn hán đổ
xuống, mất mùa, đói kém, lại càng phá rừng,
ăn vào rừng như ăn vào chính da thịt mình, ăn
vào tương lai của con cháu mình.
Ngay sau đó, tôi
cũng đã tổng kết những nghiên cứu, giải pháp
về môi trường VN của mình và viết thành
cuốn sách VN - những vấn đề về môi trường
- chiến lược phát triển của đất nước. Sách
được đánh giá rất cao tại Hiệp hội Quốc
tế về bảo vệ thiên nhiên (IUCN), và tôi được
bầu làm chủ tịch tiểu ban phát triển chiến lược
cho các nước đang phát triển.
Nhưng đó là
đánh giá của bên ngoài. Còn trong nước, tôi
thấy những cố gắng của mình đôi lúc lạc lõng,
thậm chí còn bị coi là "cản trở phát
triển". Những năm 1980-1990, tôi làm nhiều
dự án môi trường ở miền núi, trung du, bị
nhiều sự phản đối, nhất là ở Tây nguyên. Tôi
và đồng sự thất bại cũng nhiều".
* Thưa
GS, thất bại lớn nhất mà GS gặp phải có
phải từ sự không đồng thuận trong nhận
thức của chính quyền địa phương?
- Chính quyền
không có cái nhìn đúng về môi trường là một
thách thức. Nhưng thách thức lớn nhất là không
nhận được sự ủng hộ của người dân.
Đã có những
dự án tôi phải làm mất mười năm, qua ba lần
thất bại, lần thứ tư mới thành công. Đó là
một dự án khôi phục đất bị suy thoái ở Vĩnh
Phú. Lần thứ nhất chúng tôi chọn một quả đồi
làm mẫu cho dân đến xem. Trên đồi trồng
rừng, dưới là những ruộng đồng mức, dưới
nữa đắp đập thả cá, trông đẹp lắm.
Sau đó quay
lại, tất cả cây trồng mất sạch, dân bê về
nhà họ từ bao giờ. Lần thứ hai làm lại, thuê
công an về trông, lại còn mất nhanh hơn. Trẻ
con thả trâu bò lên đồi, công an đuổi, chúng
đợi công an ngủ, lùa cả đàn trâu bò lên
quần nát. Lần thứ ba chuyển địa điểm sang xã
khác, không thuê công an mà nhờ các cụ phụ lão
trông nom. Được vài hôm đã thấy các cụ
nhắn tin kêu trả lại. Thì ra trẻ con tức tối
vẽ bậy khắp các bức tường trong xóm: chúng
vẽ những con chó giữ nhà. Các cụ giận dữ
bảo: không làm chó giữ nhà cho các ông!
Lần thứ tư
chúng tôi biết phải làm gì: mời người dân đến,
thuyết trình dự án, hỏi ý kiến họ xem ai
muốn tham gia, dự định trồng cây gì, bao nhiêu
lâu, ký hợp đồng cụ thể, ai chịu trách
nhiệm và quyền lợi đến đâu. Cuối cùng thì
ổn. Và đó chính là mô hình vườn rừng đầu
tiên thành công ở miền Bắc. Bây giờ nhiều người
làm và làm tốt lắm rồi, nhưng để có mô hình
đó chúng tôi mất đúng mười năm.
* Thưa
GS, nhưng thực tế thiên tai lũ lụt đã và đang
ngày càng nhiều, đó là hệ quả tất yếu của
việc tàn phá môi trường. Có vẻ như các "sách
lược môi trường" của GS chỉ được
cộng đồng quốc tế nhìn nhận và đánh giá
cao, còn trong nước thì...
- Xin được nói
ngay là những thiên tai liên tiếp vừa qua như lũ
quét, trận ngập lụt lịch sử ở Hà Nội... không
thể gọi là thiên tai mà chính là nhân tai. Lấp
hết hồ ao, lấn sông lấn ngòi thì nước thoát
vào đâu mà không ngập úng. Chặt hết rừng thì
lấy gì giữ nước mà không lũ quét.
Theo tôi, tình
hình môi trường ở VN đang tiến đến chỗ không
kiểm soát nổi. Hơn 20 năm trước, chúng tôi đã
cảnh báo về ô nhiễm môi trường ở Khu công
nghiệp Vĩnh Phú, đêm ngủ ở nhà ông bí thư
tỉnh ủy mà mùi hóa chất cay nồng từ nhà máy
super phôtphat xộc vào mũi. Tôi bảo ông bí thư:
"Chúng ta và con cháu sẽ ung thư hết vì
thứ này". Nhưng ông bí thư bảo: "Đồng
ruộng cần phân bón hơn, năng suất lúa thấp
lắm, dân sợ đói hơn sợ ung thư".
Hồi đó mới
có khoảng vài chục nhà máy như super phôtphat, bây
giờ đã hàng ngàn cái như Vedan. Luật thì có nhưng
lờ mờ, dân không biết mình có quyền đòi
hỏi pháp luật bảo vệ khi bị ô nhiễm môi trường,
người thực thi pháp luật thì không biết hay
cố tình thực hiện sai, người làm đúng thì
bị uy hiếp. Thực trạng đó không đổ lỗi cho
dân, cũng không đổ lỗi cho nhà khoa học được,
rõ ràng là do bộ máy và do những người lãnh
đạo.
Nhưng tôi không
nản đâu, sức mình làm được đến đâu thì
cứ tiếp tục làm, rồi con cháu, học trò, người
dân ở những nơi mình đã đến... Mỗi người
cùng góp một chút nhận thức, một chút kiến
thức, một chút hành động thì cả cộng đồng
sẽ khác. Vì vấn đề môi trường, suy cho cùng,
là của cộng đồng, của cả nhân loại cơ mà.
(Theo
Tuổi Trẻ)
|
Báo
Tin tức, 20/11/2008:

y
hợp tác với VN nghiên cứu các vấn đề về môi
trường
(Lao
Động, 20/11/2008)
|
(LĐ)
- Trong khuôn khổ chuyến thăm Việt Nam từ
18-22.11, sáng 19.11, bà Claudia A.McMurray - Trợ lý
Ngoại trưởng Hoa Kỳ về các vấn đề của đại
dương, khoa học, môi trường quốc tế - đã có
cuộc gặp với đại diện một số cơ quan thông
tấn báo chí Việt Nam.
Bà Claudia cho
biết, chuyến thăm VN của bà có hai mục đích:
Khẳng định tầm quan trọng của hợp tác Hoa
Kỳ - Việt Nam về nghiên cứu vấn đề biến đổi
khí hậu và khuyến khích các nỗ lực giúp bảo
tồn động vật hoang dã (BTĐVHD), cũng như
chống buôn bán động vật hoang dã trái phép (BBĐVHDTP).
Theo bà Claudia, trong lĩnh vực BTĐVHD, chống BBĐVHDTP,
Hoa Kỳ có thể hỗ trợ Việt Nam nâng cao các
khoá huấn luyện kỹ thuật, tăng cường trao đổi
thông tin...
Sáng 20.11, tại TP.Cần Thơ, bà Claudia, Đại sứ
Hoa Kỳ tại VN M.Michalak, Tổng lãnh sự Hoa Kỳ
tại TPHCM K.Fairfax dự lễ khánh thành Viện Nghiên
cứu biến đổi khí hậu ĐBSCL trực thuộc ĐH
Cần Thơ (Dragon).
Trong ngày 21.11, bà Claudia sẽ thăm Rừng quốc
gia Nam Cát Tiên và huyện Đạ Tẻh (Lâm Đồng),
nơi hiện có hai dự án bảo tồn môi trường do
Tổ chức Winrock International (Hoa Kỳ) tài trợ.
L.Tuyền
|
Hà
Nội khởi công dự án thoát nước 370 triệu USD
(VnExpress,
13/11/2008)
 |
|
Ông Phạm Văn Cường. Ảnh: Nguyễn
Hưng.
|
"Với điều kiện
kinh tế của Hà Nội hiện nay, nếu đầu tư quá nhiều
tiền để làm một trạm bơm hay hệ thống tiêu thoát 50
năm mới dùng đến một lần thì quá lãng phí" Giám
đốc ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội Phạm Văn
Cường đánh giá.
> Có
tiêu hết 550 triệu USD, Hà Nội vẫn ngập/ Ngập
nặng vì đô thị hóa không đúng quy hoạch
Sáng nay, giai đoạn 2
dự án thoát nước Hà Nội khởi công với gói thầu nâng
gấp đôi công suất trạm bơm Yên Sở lên 90 m3 một giây.
Tổng số vốn đầu tư cho giai đoạn này là 370 triệu
USD.
Ông Phạm Văn Cường,
Giám đốc ban quản lý dự án thoát nước Hà Nội cho
biết, sau khi hoàn thành giai đoạn 2 (dự kiến cuối
2011), hệ thống tiêu thoát của thủ đô chống chịu
được với trận mưa 310 mm trong hai ngày, tần suất 10 năm
lặp lại một lần.
Tuy nhiên, diện tích bao
phủ của giai đoạn này chỉ mới dừng lại ở khu vực
4 quận nội thành, giới hạn bởi sông Tô Lịch và sông
Hồng (77,5 km2). Chỉ đến khi hoàn tất toàn bộ dự án
thoát nước, khu vực tiêu thoát mới mở rộng ra cả lưu
vực sông Nhuệ (135,4 km2). Sau mốc này, hai quận Cầu
Giấy và Thanh Xuân mới nằm trong hệ thống thoát nước
chung của thành phố.
Về khả năng nâng
công suất trạm bơm Yên Sở cũng như năng lực tiêu thoát
của Hà Nội hơn nữa để đối phó với các
trận mưa lớn như vừa qua, ông Cường cho rằng, thiết
kế hiện tại là phù hợp. Việc nâng thêm công suất là
có thể được nhưng cần thời gian nghiên cứu.
 |
| 5 năm tới, khi
hoàn tất dự án thoát nước, Hà Nội sẽ vẫn
ngập nếu mưa trên 300 mm. Ảnh: Nguyễn Hưng. |
Ồng Cường khẳng định,
các yếu tố như năng lực tiêu thoát, chu kỳ bảo vệ
đều được xác định sau khi khảo sát số liệu thủy
văn hàng chục năm qua. Các thành phố ở Đông Nam Á,
thậm chí của Nhật Bản cũng chỉ xây dựng hệ thống
tiêu thoát cho trận mưa 5-10 năm lặp lại một lần. Khi
điều kiện kinh tế cho phép, họ mới tính toán nâng chu
kỳ bảo vệ lên 20-50 năm.
"Theo tôi, với điều
kiện kinh tế của Hà Nội hiện nay chỉ làm được
thế. Nếu đầu tư quá nhiều tiền để làm một trạm
bơm hay hệ thống tiêu thoát 50 năm mới dùng đến một
lần thì quá lãng phí", ông Cường nói.
Dự án thoát nước Hà
Nội có tổng số vốn đầu tư khoảng 1,2 tỷ USD với
diện tích hơn 240 ha trải dài trên địa bàn 9 quận,
huyện.
Giai đoạn 1 hoàn thành
năm 2005 (180 triệu USD), giai đoạn 2 đang tiến hành. Sau
khi giải quyết được trận mưa 310 mm/2 ngày cho 77,5 km2
nội thành, dự án tiếp tục mở rộng ra lưu vực sông
Nhuệ và xây dựng các nhà máy xử lý nước thải. Dự
kiến đến cuối 2013, toàn bộ dự án hoàn tất.
Nguyễn
Hưng
Mức
tiêu dùng của thế giới vẫn không ngừng gia tăng
(ThienNhien.Net, 13/11/2008)
Gần 1/8 dân số thế giới, hiện
sinh sống tại khu vực Bắc Mỹ và Tây
Âu, chiếm đến 60% mức tiêu dùng cá
nhân, trong khi 1/3 dân số thế giới
sống tại khu vực Nam Á và phía Nam sa
mạc Sahara chỉ chiếm 3,2%. (Ảnh:
Insanesociety.net)
|
|
ThienNhien.Net - Trong khoảng 1,7 tỉ người
tiêu dùng hiện nay, có gần một nửa là cư dân các
nước đang phát triển. Lối sống và văn hóa hiện đại
vốn chỉ phổ biến tại khu vực châu Âu, Bắc Mỹ,
Nhật Bản và một vài nước khác trong thế kỷ 20, nay
đã lan rộng khắp toàn cầu. Dân số gia tăng cộng
với những thay đổ̉i về lối sống khiến nhu cầu
tiêu dùng của thế giới ngày càng trở nên khó
kiểm soát.
Trên
thế giới, sự tiêu dùng cá nhân – có thể hiểu như
lượng tiền chi cho hàng hóa và dịch vụ gia đình –
đạt mức 20 nghìn tỉ USD vào năm 2000, tăng gấp 4
lần so với năm 1960.
Tính đến năm 2002, thế giới có khoảng 1,2
tỉ hộ gia đình (tương đương 3/4 dân số toàn
cầu) đã được sở hữu ít nhất là
một chiếc tivi, đồng thời trên toàn thế giới
có khoảng 1,1 tỉ thuê bao điện thoại cố định
và 1,1 tỉ thuê bao di động. Hiện nay, mạng Internet đã
giúp kết nối hơn 600 triệu người sử dụng. Nguyên
nhân gia tăng mức tiêu dùng toàn cầu chủ
yếu là do sự gia tăng dân số.
Theo dự báo của tổ chức Liên hiệp quốc (LHQ), dân
số thế giới sẽ tăng thêm 41% vào năm 2050, đạt 8,9
tỉ người. Trong đó, số dân gia tăng phần lớn là
tại các nước đang phát triển. Sự gia tăng dân số
quá nhanh đang đe dọa nguồn dự trữ tài nguyên và gây
nguy cơ khó kiềm chế tổng mức tiêu dùng.
Người
tiêu dùng trong tương lai
Một tỉ
lệ lớn người tiêu dùng hiện sinh sống tại các
nước đang phát triển. Số lượng người tiêu dùng tính
riêng tại hai nước Trung Quốc và Ấn Độ hiện
đã vượt quá khu vực Tây Âu mặc dù tính
trung bình đầu người mức tiêu thụ của Tây
Âu cao hơn.
Các nước đang phát triển cũng đồng thời là những
nước có tiềm năng nhất trong việc mở rộng tầng
lớp tiêu dùng (có thu nhập tương đối). Tầng lớp
tiêu dùng đến nay chiếm chưa đầy một nửa dân số
của các nước này nhưng sẽ không ngừng gia
tăng.
Vào năm 2003, mỗi ngày Trung Quốc có thêm 11.000
xe ôtô lưu thông trên đường phố. Con số bổ sung
cho mỗi năm là khoảng 4 triệu chiếc. Nếu tiếp
tục duy trì mức tăng trưởng này, vào năm 2015 các
tuyến đường tại Trung Quốc sẽ bị tắc nghẽn vì
số lượng xe ôtô lên đến 150 triệu chiếc, hơn
tổng số xe ôtô lưu thông tại Mỹ năm 1999 18 triệu
chiếc.
Nghịch lý toàn cầu
Bênh cạnh sự gia tăng mức tiêu dùng của thế
giới còn tồn tại nhiều nghịch lý. Chẳng hạn như
12% dân số thế giới sinh sống tại khu vực Bắc Mỹ
và Tây Âu chiếm đến 60% mức tiêu dùng cá nhân, trong
khi 1/3 dân số thế giới sống tại khu vực Nam Á và
phía Nam sa mạc Sahara chỉ chiếm 3,2% mức tiêu dùng cá
nhân. 2,8 tỉ người trên trái đất đang cố gắng
tồn tại với mức thu nhập dưới 2 USD/ngày, và
khoảng 1 tỉ người không được tiếp cận với nước
sạch.
Mặc dù mức tiêu dùng đang gia tăng tại các nước
đang phát triển song điều đó không có nghĩa các nước
công nghiệp phát triển có thể né tránh hoặc
phủi bớt trách nhiệm trước sự suy giảm nguồn
tài nguyên thiên nhiên và chất lượng môi trường.
Mỹ
chiếm gần 5% dân số thế giới nhưng lại là nơi
tiêu thụ 1/4 lượng nhiên liệu hóa thạch toàn cầu. Số
liệu năm 2003 cho biết lượng xe ôtô tại Mỹ nhiều
hơn số người có bằng lái và các loại xe tiêu hao
nhiều xăng lại nằm trong số các phương tiện giao thông
được tiêu thụ nhiều nhất. Diện tích nhà ở trung bình
tại Mỹ năm 2002 lớn hơn 38% so với năm 1975, mặc dù
số nhân khẩu mỗi hộ gia đình lại ít hơn.
Vấn
đề phát sinh
Cùng
với dự báo dân số thế giới sẽ đạt mức gần 9
tỉ vào năm 2050, nếu như mức tiêu dùng vẫn tiếp
tục gia tăng thì những tác động đến nguồn nước,
chất lượng không khí, rừng, khí hậu, đa dạng sinh
học và sức khỏa con người sẽ trở nên rất khốc
liệt.
Vấn đề hiện nay của con người chính là
những phát sinh trong quá trình sản xuất và tiêu dùng.
Trong số đó, vấn đề mà chúng ta có thể dễ dàng
nhận thấy chính là sự ô nhiễm không khí và nước,
cảnh quan môi trường bị suy thoái. Diện tích hầu
hết các hệ sinh thái trên trái đất đang bị thu hẹp
do các hoạt động của con người như xây dựng nhà
cửa, nông trại, khu công nghiệp...
Theo số liệu thống kê của Quỹ Quốc tế về Bảo
vệ Thiên nhiên, chất lượng các hệ sinh thái đã suy
giảm hơn 35% tính từ năm 1970. Theo tính toán, trên
thế giới mỗi người có 1,9 hecta để khai thác các tài
nguyên và nước sạch. Nhưng hiện nay, con người đang
tăng mức sử dụng lên 2,3 hecta. Và người Mỹ đang
mở rộng khu vực khai thác lên đến 9,7 hecta mỗi người,
trong khi mỗi người Mozambic chỉ khai thác khoảng 0,47
hecta.
Các hoạt động mua sắm và tiêu dùng tràn lan
trong xã hội cũng có liên quan đến sự suy giảm sức
khỏe người dân tại nhiều quốc gia, Các bệnh
béo phì, thừa năng lượng có xu hướng gia tăng.
Theo ước tính của năm 1999, 65% người dân Mỹ đang
thừa cân hoặc béo phì, khiến cho hàng năm có khoảng
300 ngàn người chết và tốn khoảng 117 tỉ USD cho chi
phí chăm sóc sức khỏe.
Đó là chưa kể đến việc nhiều người tiêu dùng không
những tốn hàng đống tiền mà còn tốn rất nhiều
thời gian cho việc mua sắm - điều đó thực sự có đáng
không? Người ta có thể bớt chút thời gian mua sắm đó
ra để làm các công việc gia đình, dành thời gian bên
cạnh người thân, làm việc hoặc làm các công tác xã
hội, từ thiện…
Những điều có thể làm
Các nhà nghiên cứu tiêu dùng, nhà kinh tế học, nhà
xây dựng chiến lược và hàng loạt chuyên gia môi trường
đã xây dựng nhiều giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu
tiêu dùng của con người mà không gây ảnh hưởng đến
môi trường. Thêm vào đó, nhằm cân bằng mức tiêu dùng
quá ít và quá nhiều, họ cũng đang tập trung vào các
loại hình dịch vụ và hàng hóa, lấy dịch vụ thay
thế hàng hóa, đẩy mạnh việc tiêu thụ hàng hóa có
thể tái sử dụng và nâng cao nhận thức cho người tiêu
dùng.
Chính phủ các nước cũng có thể định hướng các chính
sách khuyến khích và điều hòa thị trường tiêu dùng
nhằm đảm bảo các mặt hàng có giá cả hợp lý mà
vẫn đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng. Hơn
thế nữa, chính phủ cũng nên khẳng định vai trò
của mình trong việc kiềm chế tiêu dùng quá mức bằng
cách xóa bỏ những công cụ khuyến khích tiêu dùng.
Các nước công nghiệp phát triển có thể giúp các nước
đang phát triển giảm thiểu những tác động tiêu
cực của tiêu dùng bằng cách hỗ trợ các công nghệ
có hiệu quả cao hơn và thân thiện với môi trường hơn.
Trần Nguyên Hương (Theo
Worldwatch)
Biến
đổi khí hậu: “Hung thần” lộ diện
(Hà
Nội mới, ngày 13/11/2008)
Trận
mưa lụt lịch sử tại Hà Nội và một số tỉnh phía
Bắc đầu tháng 11-2008 là một sự bất bình thường
của thời tiết vào lúc mà theo thông lệ thì bão
lụt đã phải chuyển vào miền Trung. Điều này cảnh báo
hiện tượng biến đổi khí hậu (BĐKH) đã gây tác động
xấu đến nước ta, nhất là đối với ngành nông
nghiệp, đã trở thành mối lo thật gần...
Hạn hán, lũ lụt sẽ tăng
TS Trần Đăng Hồng, cố vấn nghiên cứu nông nghiệp
nhiệt đới tại ĐH Reading (Anh), trong bản báo cáo
“Ảnh hưởng của hiện tượng hâm nóng toàn cầu lên
nông nghiệp Việt Nam” cho biết: Cộng hưởng với
hiện tượng hâm nóng toàn cầu, hiện tượng El-Nino gây
khô hạn, nạn cháy rừng trầm trọng, La-Nina gây bão
tố lũ lụt, sự biến đổi thủy tính và lưu lượng các
dòng sông Cửu Long, sông Hồng... đang và có thể sẽ
đưa đến nhiều hậu quả tai hại hơn đối với nền
kinh tế Việt Nam.
Theo TS Hồng thì liên tục từ năm 1998, nước ta, nhiệt
độ mùa hè cao hơn bình thường và những cơn lạnh
bất thường xảy ra ở miền Nam vào mùa đông. Mưa xảy
ra bất thường, khô hạn chưa từng có, đến sớm hơn và
kéo dài ở cao nguyên, miền Trung, Đồng bằng Nam bộ,
Bắc bộ. Lũ lụt liên tục xảy ra; bão cũng bất thường
và mãnh liệt hơn trước.
Trong vòng 30 năm qua, nền nhiệt độ tại Việt Nam có
khuynh huớng gia tăng đáng kể, các tỉnh miền Bắc tăng
nhiều hơn miền Nam, đặc biệt là trong những tháng mùa
hè, với biên độ lớn hơn. Ở miền Bắc, trong vòng 30
năm (1961-1990), nhiệt độ tối thiểu trung bình trong mùa
đông tăng 30C ở Điện Biên, Mộc Châu; 20C ở Lai Châu,
1,80C ở Lạng Sơn, 10C ở Hà Nội và Bắc Giang.
Dựa trên các mô hình tiên đoán khí tượng, nhiệt độ
trung bình ở Hà Nội sẽ gia tăng 10C vào năm 2050, và
từ khoảng 2,50C đến 4°C vào năm 2100. Các bản dự báo
cho thấy lượng nước mưa ở vùng Hà Nội có chiều hướng
gia tăng, có thể tăng 30% vào cuối thế kỷ này, nhưng cũng
có khả năng giảm 15% so với hiện nay. Dự báo đáng tin
cậy nhất là lượng mưa gia tăng 2% vào năm 2050 và tăng
5% vào năm 2100 tại vùng Hà Nội.
Những dự báo còn cho thấy khả năng miền Bắc sẽ có
mưa nhiều, do hậu quả hâm nóng toàn cầu, do đó lưu lượng
các sông sẽ gia tăng trong tương lai, có nguy cơ phá hủy
đê điều, gây lũ lụt. Trong khi đó, cứ bắt đầu mùa
khô là nước rút cạn, như sông Hồng trong những năm
gần đây có lúc mực nước chỉ còn ở mức 1,46 m (tại
Hà Nội) 0,31 m (tại Phả Lại), thấp nhất trong 100 năm
qua. Vào mùa hạn, Đồng bằng sông Hồng sẽ thiếu nước
canh tác...
Chủ động ứng phó
GS-TSKH Nguyễn Ngọc Trân, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban
Khoa học kĩ thuật nhà nước cho rằng: Việt Nam thuộc
số nước bị uy hiếp nhiều nhất khi có sự BĐKH toàn
cầu và mực nước biển dâng. Câu hỏi hiện nay là
“ứng phó như thế nào để giảm thiểu thiệt hại,
bảo vệ tối đa thành quả lao động quá khứ và tiếp
tục phát triển bền vững”.
Theo khuyến nghị của Cơ quan phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) tại Việt Nam, để giảm thiểu tác động của BĐKH,
Việt Nam cần giải quyết ở cả ba cấp độ: cộng đồng,
chính sách và năng lực thể chế, trong đó quan trọng
nhất là xây dựng năng lực thể chế. Ngoài ra, còn là
các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính như hạn
chế sử dụng nhiên liệu hóa thạch, đẩy mạnh sử
dụng năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, thực
hiện tiết kiệm năng lượng.
Ngày 3-12-2007, Chính phủ đã ra Nghị quyết số
60/2007/NQ-CP, giao cho Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT)
chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây
dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với BÐKH
toàn cầu. Bộ TN-MT đã thành lập Ban chỉ đạo và Tổ
soạn thảo Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó
với BÐKH và nước biển dâng. Chương trình hiện đang
được đưa ra thảo luận tại nhiều cuộc hội thảo
quốc gia và quốc tế để tham khảo ý kiến của các nhà
khoa học.
Trong lúc chờ một chương trình hành động thống nhất,
trước mắt Việt Nam cần tăng cường hoạt động giám
sát, nghiên cứu khoa học về BÐKH và những vấn đề liên
quan; tham gia các hoạt động hợp tác quốc tế liên quan
đến BÐKH; xây dựng và triển khai các hoạt động
chuyển giao công nghệ, cung cấp cơ sở khoa học cho
việc xây dựng chính sách và kế hoạch hành động
nhằm ứng phó với BÐKH... Nhiệm vụ trọng tâm cần
thực hiện ngay là đánh giá diễn biến khí hậu; xây
dựng kịch bản BÐKH và đánh giá tác động của BÐKH
đến các lĩnh vực, các ngành và các địa phương. Từ
cơ sở đó, cần tiến hành xây dựng và lựa chọn
giải pháp ứng phó với BÐKH.
TS
Trần Đăng Hồng nhấn mạnh, Việt Nam cần phải có
những kế hoạch phát triển kinh tế, giáo dục với
tầm nhìn xa, rộng. Ngay bây giờ, trẻ em phải được giáo
dục về BĐKH ngay từ cấp tiểu học để có kiến
thức khoa học, kỹ thuật và ý thức bảo vệ môi trường.
Trà My
Mất
rừng và nỗi đau lũ lụt
|
| (MONRE NET, (16:51
12/11/2008) |
| ">
Hàng
năm nước ta phải thường xuyên đón nhận 7 - 10 cơn
bão, kèm theo là những trận lũ lụt, lốc xoáy.
Thời gian qua, lũ lụt đã gây thiệt hại nặng nề
cả về người và của ở các tỉnh phía Bắc và
miền Trung nước ta. Một trong những nguyên nhân chính
góp phần gia tăng ảnh hưởng của thiên tai là
diện tích rừng đang ngày càng suy giảm nghiêm
trọng...
Ông
Nguyễn Quang Dương, Cục phó Cục Phát triển lâm
nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
cho biết:
-
Với sự xuất hiện ngày càng bất thường, dồn
dập của thiên tai và lặp lại trong thời gian dài
nhưng chúng ta lại không có một tiến bộ nào trong
việc phòng chống, ngoài phương án khắc phục và
cứu trợ, thực chất đó chỉ là phương án giải
quyết hậu quả bão, lũ mà thôi. Một trong những
nguyên nhân chủ yếu gây ra thảm cảnh lũ lụt,
"thiên nhiên nổi giận" đó là độ che
phủ rừng ở nước ta đã bị suy giảm nghiêm
trọng. Đây không phải là nguyên nhân mới phát
sinh và càng không phải đến bây giờ chúng ta mới
nhận ra.
Theo
thống kê của các cơ quan chức năng, 30 năm trở
lại đây, bình quân mỗi năm nước ta mất khoảng
100 ngàn ha rừng, mà Bình Phước đang dẫn đầu
cả nước về tình trạng phá rừng. Mặc dù Nhà nước
đã có chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng,
với nhiều biện pháp nhằm tăng độ che phủ của
rừng nhưng đến nay, mới trồng được 1,4 triệu
ha, nâng độ che phủ lên 10 triệu ha. Tuy nhiên, con
số này cũng chưa hoàn toàn chính xác, ông nghĩ sao
về vấn đề này?
-
Bình Phước là một trong những địa phương có
nhiều rừng và cũng là nơi diễn ra tình trạng phá
rừng, mất đất rừng phức tạp nhất. Nạn phá
rừng để khai thác gỗ, lấy đất để làm rẫy,
lấn chiếm đất lâm nghiệp; rồi tình trạng cháy
rừng, mất đất rừng trên địa bàn tỉnh hàng năm
vẫn xảy ra nghiêm trọng. Trong khi đó tiến độ
trồng rừng, tăng độ che phủ của rừng chỉ đạt
những con số rất khiêm tốn. Bình Phước là tỉnh
ở khu vực miền Đông Nam Bộ, ít chịu ảnh hưởng
của bão, lũ nhưng là địa phương có vị trí đặc
biệt quan trọng về rừng đầu nguồn để góp
phần giữ nguồn nước, ngăn chặn lũ lụt cho khu
vực Nam bộ. Mấy năm gần đây trên địa bàn
tỉnh tuy chưa có những trận lũ lớn nào xảy ra trên
diện rộng, nhưng hiện tượng lốc xoáy, lũ cục
bộ và tình trạng khô kiệt nguồn nước vào mùa
khô đã xuất hiện. Đó là sự báo hiệu xấu của
việc để mất rừng, nếu chúng ta không kịp thời
nâng độ che phủ của rừng, tích cực trồng rừng
thì sẽ phải gánh chịu "sự nổi giận của
thiên nhiên". Trước thực trạng nguồn tài nguyên
thiên nhiên rừng ở nước ta đang bị xâm hại nghiêm
trọng. Và thực trạng này được chứng minh bằng
sự trả giá nghiệt ngã của những trận lũ, bão
liên miên đang xảy ra trên khắp cả nước, mức độ
thiệt hại về người và của ngày càng trầm
trọng hơn.
Nếu
chúng ta không nghiêm túc trong việc ứng xử với
thiên nhiên thì chắc chắn sẽ còn phải gánh chịu
những hậu quả nặng nề trong thời gian tới. Theo
ông, biện pháp tốt nhất để bảo vệ rừng là gì?
-
Không thể cứ hô hào bảo vệ rừng bằng những
khẩu hiệu chung chung, trong khi đó vẫn cấp phép
cho các xưởng cưa hoạt động, vẫn cho phép xuất
khẩu gỗ, trụ sở cơ quan cứ mọc lên với những
đồ nội thất bằng những loại gỗ quý hiếm.
Mục
tiêu của Chính phủ đến năm 2010 là nâng độ che
phủ rừng lên tỷ lệ 45% diện tích tự nhiên, tương
đương với độ che phủ vào năm 1945. Theo ông,
việc thực hiện mục tiêu này sẽ gặp khó khăn gì?
-
Việc này rất khó bởi vào năm 1945, dân số lúc đó
chỉ 20 triệu người còn tới năm 2010, có khả năng
dân số Việt Nam đạt gần 100 triệu người.
Xin
trân trọng cảm ơn ông.
Mạnh
Đức (thực hiện)
|
| Ứng
dụng Công nghệ sinh học: Tác dụng kép
(Khoa học và Phát triển,
12/11/2008)
|
|
Với mục tiêu ứng dụng công nghệ sinh học (vi
sinh đa chủng) để xử lý phế thải của công
nghiệp chế biến đường, cồn, rượu… và rác
thải hữu cơ, tận dụng các nguồn nguyên liệu
sẵn có tại địa phương làm phân bón hữu cơ vi
sinh dùng cho cây trồng và bảo vệ môi trường sinh
thái, Bộ KH &CN đã phê duyệt dự án: "ứng
dụng công nghệ vi sinh đa chủng, sản xuất phân
hữu cơ vi sinh POLYFA phục vụ sản xuất vùng duyên
hải Nam Trung bộ" thuộc Chương trình Nông thôn,
miền núi giai đoạn 2004-2010 và được triển khai
tại Công ty cổ phần Phân Sinh hóa Sông Kôn.
POLYFA
là một loại phân chứa đủ 3 yếu tố hữu cơ,
khoáng (đa, trung, vi lượng) và hoạt tính sinh học,
nên đáp ứng đủ mọi nhu cầu của cây trồng. Ngoài
việc cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng, POLYFA còn
có tác dụng cải tạo tính chất lý, hóa học, tăng
độ phì và giữ ẩm cho đất. Công nghệ sản
xuất phân hữu cơ đa chủng POLYFA sử dụng than bùn,
bã bùn của công nghiệp mía đường và rác thải
sinh hoạt. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào sẵn
có tại địa phương. Công nghệ vi sinh đa chủng
POLYFA được đánh giá là thân thiện với môi trường
vì chất thải hữu cơ sau khi qua xử lý vi sinh đều
trở thành nguồn dinh dưỡng cho đất, làm sạch
mầm bệnh trong đất và giảm khả năng mắc bệnh
của cây trồng.
Men
vi sinh là chất xúc tác trong quá trình xử lý chất
thải hữu cơ. Nguyên liệu thô được phun men vi
sinh pha loãng và ủ trong một thời gian, các men vi
sinh hoạt động sẽ phân hủy các chất có hại có
trong chất hữu cơ. Nguyên liệu được đưa vào máy
đập, nghiền thành bột được xử lý vi sinh một
lần nữa. Sau đó, nguyên liệu được phối trộn
với một số chất vi lượng, đa lượng khác theo
tỷ lệ nhất định tạo thành phân hữu cơ vi sinh.
Tham
gia triển khai dự án, cơ quan chuyển giao công nghệ
là Liên hiệp khoa học sản xuất công nghệ sinh
học và môi trường thuộc Viện Công nghệ môi trường
đã tập huấn về công nghệ tuyển chọn vi sinh
trong sản xuất phân bón, phân tích kiểm định các
thành phần trong phân bón hữu cơ vi sinh; kỹ thuật
sản xuất phân bón hữu cơ sinh học POLYFA… và
chuyển giao công nghệ nhân giống cấp 2 bằng công
nghệ lên men, công nghệ sản xuất chế phẩm phân
giải xenlulô; công nghệ xử lý bã bùn mía trước
khi lên men… cho các cán bộ và kỹ thuật viên
của Công ty. Song song với việc chuyển giao công
nghệ, đơn vị chuyển giao công nghệ cũng đã đào
tạo được 6 cán bộ công nghệ, 10 công nhân kỹ
thuật triển khai dự án. Theo ông Nguyễn Hiếu
Phụng - Giám đốc Công ty: Sau 3 năm thực hiện dự
án, đội ngũ cán bộ kỹ thuật của Công ty đã
được đào tạo một cách qui mô, bài bản, vận hành
thuần thục chính xác và khoa học các công đoạn
chính của qui trình sản xuất phân bón hữu cơ sinh
học POLYFA và đủ trình độ tiếp cận, làm chủ công
nghệ mới.
Sau
khi tiếp thu được công nghệ và sản xuất thành công
phân hữu cơ sinh học POLYFA, Công ty đã phối hợp
với Trung tâm khuyến nông tỉnh, Trạm khuyến nông
các huyện trong địa bàn tỉnh Bình Định triển
khai mô hình trình diễn, khảo nghiệm sử dụng
loại phân bón này trên các loại cây trồng như lúa
(4ha), mía (10ha), rau màu và đậu đỗ các loại…
Qua số liệu thu được ở các mô hình khảo
nghiệm phân hữu cơ vi sinh POLYFA cho các loại cây
trồng cho thấy: Cây trồng sinh trưởng, phát triển
tốt, độ đồng đều cao, tốc độ tăng trưởng
nhanh, năng suất đạt cao, không phát hiện sâu
bệnh hại nguy hiểm đối với cây trồng; thành
phần cơ giới của đất canh tác và độ pH được
cải thiện đáng kể; có tác dụng cải tạo đất
rõ rệt, làm cho đất tơi xốp hơn, bổ sung dinh dưỡng
và độ phì của đất.
ông
Phạm Ngọc Liễn - Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Phân
Sinh hóa Sông Kôn cho biết: Hiện nay, khách hàng tiêu
thụ sản phẩm phân hữu cơ POLYFA của Công ty là các
Lâm trường trồng rừng trong và ngoài tỉnh; Công
ty trồng rừng Việt - Nhật; vùng nguyên liệu mía
của Công ty cổ phần Đường Bình Định tại các
huyện phía Đông tỉnh Gia Lai và toàn bộ khu vực
tỉnh Bình Định; HTX rau sạch Thuận Nghĩa, HTX nông
nghiệp và các hộ dân… Ngoài ra, sản phẩm này còn
được xuất khẩu qua các đơn vị đầu tư trồng
cây cao su tại Lào. Hàng năm, Công ty tiêu thụ hơn
8.000 tấn sản phẩm phân bón hữu cơ, doanh thu trên
10 tỷ đồng. Đến nay, mô hình dự án đang tiếp
tục được công ty đầu tư nhân rộng, công suất
nhà máy đã được nâng lên 10.000 tấn /năm gấp 2
lần mục tiêu dự án đề ra, qua đó tạo việc làm
cho nhiều lao động tại địa phương.
Có
thể khẳng định, kết quả thu được của dự án
là một điểm sáng về ứng dụng tiến bộ KH &CN
vào sản xuất, không chỉ góp phần tích cực vào
việc xử lý chất thải làm trong sạch môi trường
mà còn cải tạo đất nâng cao năng suất chất lượng
cây trồng, giảm chi phí đầu tư trên cùng diện tích
canh tác, góp phần tăng thu nhập cho người nông dân.
Từ đó, tạo cho người dân tập quán canh tác theo
hướng phát triển nền nông nghiệp bền vững.
Anh
Vũ
|
| Nhà
máy điện hạt nhân tương lai
(Khoa học và Phát triển,
12/11/2008)
|
|
|
Bộ Công Thương đã công bố kế hoạch xây dựng
hai nhà máy điện hạt nhân tại miền Trung, tỉnh
Ninh Thuận. Dự kiến hai nhà máy điện nguyên tử này
sẽ đi vào vận hành vào năm 2020 đến 2022.
Tuyên
bố được đưa ra tại cuộc Hội thảo quốc tế
về năng lượng hạt nhân diễn ra gần đây ở Hà
Nội, do Bộ Công Thương và Hội năng lượng Việt
nam tổ chức.
Ông
Phan Minh Tuấn, Phụ trách Uỷy ban trù bị cho việc
xây dựng nhà máy điện hạt nhân, cho biết nhà máy
điện hạt nhân Ninh Thuận số 1 sẽ được xây
dựng trên diện tích 540ha. Hai lò phản ứng hạt nhân
của nhà máy này sẽ vận hành thương mại vào năm
2020 và 2021.
Nhà
máy điện hạt nhân Ninh Thuận 2 sẽ được xây
dựng trên diện tích 556ha. Hai lò phản ứng
hạt nhân của nhà máy này sẽ bán điện thương
mại vào năm 2021 đến 2022.
Trong
bối cảnh khủng hoảng năng lượng ngày càng gia tăng
trên thế giới, nguồn dầu lửa có hạn, và sự
ấm lên toàn cầu, Việt Nam quan tâm đến điện
hạt nhân, xem đây là lựa chọn phù hợp, xét trên
cả khía cạnh lợi ích kinh tế so với các loại năng
lượng truyền thống khác.
Vào
tháng 7/2008, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phê
chuẩn một kế hoạch tổng thể mang tên: "Chiến
lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì các
mục đích hòa bình đến năm 2020."
Vào
tháng 12/2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng phê
chuẩn chiến lược quốc gia phát triển năng lượng
ở Việt Nam tới năm 2020, tầm nhìn 2050. Chiến lược
này đưa ra mục tiêu đến năm 2050, điện nguyên
tử sẽ cung cấp khoảng 15-20% tổng sản lượng điện
ở Việt Nam.
Để
tạo khung pháp lý cho việc phát triển năng lượng
nguyên tử ở Việt Nam, Quốc hội đã thông qua
Luật Năng lượng Nguyên tử vào tháng 6/2008, và có
hiệu lực từ tháng 1/2009. Luật Năng lượng Nguyên
tử do Bộ Khoa học và Công nghệ soạn thảo, được
Quốc hội nhất trí cao.
Tại
Hội thảo, Thomas Mazour, viên chức của Tổ chức Năng
lượng nguyên tử quốc tế (IAEA), Bộ phận điện
hạt nhân, cho biết Việt Nam đã có sự chuẩn bị
chu đáo cho tương lai các nhà máy điện hạt nhân
của mình.
Một
chuyên gia hàng đầu của Việt Nam trong lĩnh vực năng
lượng nguyên tử, Giáo sư Phạm Duy Hiển, nguyên
Chủ tịch ủy ban Năng lượng nguyên tử của Việt
Nam, cho rằng tốt hơn là chỉ nên có một lò phản
ứng hạt nhân trước. "Từ đây, chúng ta sẽ
cố gắng phát triển một nhóm các chuyên gia, cũng
như cơ sở hạ tầng, và xem Luật năng lượng nguyên
tử được vận hành như thế nào".
Song
Ngân
|
| Kinh
tế suy yếu và cam kết về môi trường
(Khoa học và Phát triển,
31/10/2008)
|
|
|
Sự suy thoái kinh tế trong những năm gần đây đã
làm cho cộng đồng châu âu phải xem xét lại tham
vọng của mình trong cuộc chiến chống lại sự
thay đổi của khí hậu.
Mặc
dù Liên minh châu Âu đã tuyên bố đến năm 2020
sẽ cắt giảm 20% khí nhà kính, nhưng những nhà lãnh
đạo trong lĩnh vực kinh doanh đã phản đối việc
sử dụng các hình phạt tài chính để bắt buộc
họ phải cắt giảm khí thải, đặc biệt là gần
đây nền kinh tế đang có dấu hiệu lâm vào một
cuộc khủng hoảng.
Theo
ước tính, từ năm 2013 đến năm 2020 ngành công
nghiệp phải trả khoảng 44 tỷ euro mỗi năm, trong
đó 1 tấn CO2 có giá khoảng 30 euro.
Các
nhà lãnh đạo kinh doanh đã chỉ trích chính sách này
như một cách đánh thuế nhằm buộc họ phải đầu
tư vào nơi khác để đưa các hoạt động gây ô
nhiễm môi trường của họ ra khỏi châu Âu. Chính
phủ các nước châu Âu đã bắt đầu cảm thấy
sức ép khi phải đối mặt với nguy cơ nạn thất
nghiệp gia tăng.
Một
quan chức cấp cao của Liên minh châu âu yêu cầu
dấu tên khi trả lời phỏng vấn của phóng viên
AFP cho biết: "Khi tình trạng nền kinh tế ngày
càng phải đối mặt với nhiều nguy cơ, thách
thức thì việc chính phủ các nước trở nên thận
trọng hơn với việc giải quyết tình trạng khí
hậu thay đổi vì những biện pháp họ đưa ra sẽ
dẫn đến việc phải chi trả thêm nhiều khoản chi
phí lớn trong trước mắt.
Hiện
nay một số chính khách của châu Âu đã nói một cách
thẳng thắn về việc trì hoãn hoặc có thể là
từ bỏ dự án cắt giảm khí thải nhà kính nói trên.
Vào
cuối tháng Tám, ông Giuliano Amato - nguyên Phó thủ tướng
Italia trong bài phát biểu của mình đã nói: "Thật
là một sai lầm, về mặt chính trị, kế hoạch này
có thể đúng, nhưng sẽ không thực hiện được".
Một
nhà đàm phán tham gia vào cuộc thảo luận giữa
ủy ban liên minh châu âu và các nước thành viên nói:
"Chúng ta đang nghe thấy những lý lẽ này ngày
càng nhiều, đáng chú ý là các nước như Italia, Đức,
nơi mà ngành công nghiệp đang gặp nhiều khó khăn.
ông cũng cho biết thêm Brussel - Bỉ cũng đang nghiêm
túc xem xét đến mối đe dọa trên.
Tuy
vậy, ông Stavros Dimas - ủy viên Ủy ban môi trường
châu Âu cũng đã kêu gọi các chính trị gia và thương
nhân không nên chống đối lại các biện pháp mà
Ủy ban châu Âu đưa ra.
Chủ
tịch Ủy ban châu Âu, ông Jose Manuel Barroso cho biết:
"Tôi trông cậy vào chính quyền của ông Sarkozy
trong việc thông qua chương trình này trong năm nay trước
khi nó bị nguội dần đi".
Đây
là một trong những chương trình được chính phủ
Pháp ưu tiên trong nhiệm kỳ giữ chức chủ tịch
Liên minh châu Âu của mình. Tuy nhiên, những khó khăn
của ông Sarkozy trong việc tìm kiếm sự đồng
thuận cho giải pháp tìm nguồn tài chính cho "cuộc
cách mạng môi trường" này đã cho thấy mức
độ lớn lao của thách thức mà EU đang phải đối
mặt.
Các
nhà đàm phán của Pháp vẫn còn một vài tuần,
trong thời gian này diễn ra hai cuộc họp cấp thủ
tướng để đi đến một quan điểm chung để đưa
ra Nghi viện châu Âu vào tháng Mười này.
Một
nhà đàm phán nói: "Vẫn chưa có một bước đột
phá quan trọng nào, nhưng vòng đàm phán cuối cùng
đã được bắt đầu và đã chứng minh được
nền kinh tế đã dần ổn định, chúng tôi hy vọng
sẽ tìm thấy sự nhất trí của các bên tham gia".
Nhà
đàm phán trên cũng cho biết: "Chương trình đưa
ra hai mục tiêu chính: Một là, sẽ đưa ra các
biện pháp nhằm duy trì sức cạnh tranh của nền công
nghiệp châu Âu. Hai là, giúp các nước thành viên
đạt được mục tiêu của mình".
Nhưng
ông cũng lưu ý: "Một số quyết định sẽ mang
tính chính trị và có sự thỏa hiệp".
Tố
Uyên (Theo AFP
|
| Việt
Nam đang theo sát các nền kinh tế hàng đầu châu Á
(Khoa học và Phát triển,
8/11/2008)
|
|
|
Chuyên mục Bình luận Kinh tế của tờ "Người
Scotland" số ra ngày 2/1 nhận xét năm 2007 sẽ
thuộc về Việt Nam - một ngôi sao châu Á đang lên.
Năm 2006, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm
quốc nội (GDP) của Việt Nam đạt xấp xỉ 8,4%, đứng
thứ hai ở châu Á, sau Trung Quốc và ước tính sẽ
tăng lên 8,5% trong năm 2007.
Tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam đã đạt
kỷ lục gần 40 tỷ USD, trong khi đầu tư nước ngoài
cũng lên tới trên 10 tỷ USD.
Dự báo, kinh tế Việt Nam sẽ chứng kiến những
thay đổi sâu sắc khi chính thức trở thành thành
viên của Tổ chức Thương Mại Thế giới (WTO) vào
ngày 11/1 tới, sau 11 năm đàm phán.
Hơn 30 năm kể từ khi quân đội Mỹ rời khỏi
Việt Nam, các công ty hàng đầu của Mỹ đang xếp
hàng để quay trở lại đây. Công ty sản xuất bộ
vi xử lý điện tử hàng đầu thế giới Intel đã
chọn Việt Nam thay vì Trung Quốc, Malaysia hay
Philippines để xây dựng một nhà máy với 1.200 công
nhân, đánh dấu sự thay đổi quan trọng trong lĩnh
vực công nghệ cao của Việt Nam.
Một công ty khác của Mỹ là AES đang xây dựng nhà
máy điện công suất 1.000 MW trị giá 1 tỷ USD ở
tỉnh Quảng Ninh. Các công ty như Cisco Systems, Nortel
Networks và Motorola cũng đang triển khai các dự án
đầu tư trong lĩnh vực thiết bị viễn thông.
Tuy nhiên, theo bài báo, những mục tiêu mà Việt Nam
đề ra trong giai đoạn đầu của quá trình thu hút
đầu tư nước ngoài đã và đang bị đe dọa bởi
tình trạng tham nhũng và hạ tầng cơ sở yếu kém.
Nhưng việc trở thành thành viên WTO sẽ giúp Việt
Nam quản lý tốt hơn các vấn đề liên quan tới thương
mại và hàng tỷ USD đầu tư cho các công trình hạ
tầng giao thông vận tải. Sự phát triển vượt
bậc của Việt Nam được kỳ vọng sẽ sớm xảy
ra.
Theo TTXVN/HTV
|
Cuộc
chiến bảo vệ môi trường
(SGGP,
18-19/11/2008)
Bài
1: Vi phạm nhiều, xử lý chẳng bao nhiêu!
Theo
đánh giá, tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường xảy ra một cách
phổ biến, thường xuyên và mức độ nguy hiểm ngày càng
nghiêm trọng với nhiều thủ đoạn tinh vi.
"Ăn
hai đầu” khi nhập rác thải
Theo
Bộ Công an nhận định, hầu hết các lĩnh vực của đời
sống kinh tế, xã hội nước ta đều “có mặt” của
tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm với thủ
đoạn hết sức tinh vi.
Trong lĩnh vực kinh doanh nhập khẩu, nhiều doanh nghiệp
đã sử dụng phương thức “tạm nhập, tái xuất”, dưới
hình thức như kê khai hải quan gian dối hoặc kê khai hàng
miễn kiểm, nguyên liệu sản xuất, thiết bị do chuyển
giao công nghệ, dự án phát triển kinh tế… để nhập
khẩu máy móc, công nghệ lạc hậu, sắt thép phế liệu,
nhựa tái sinh chứa rác thải nguy hại.
 |
| Cảnh
sát môi trường TPHCM kiểm tra việc xả nước
thải của Chợ đầu mối thủy sản Bình Điền
(Quận 8) xuống sông Chợ Đệm |
Đây
là một nguồn nguyên liệu giá rẻ nên các doanh nghiệp,
bất chấp các quy định của pháp luật, liên tục vi
phạm với quy mô và số lượng lớn. Có doanh nghiệp
nhập khẩu cả ắc quy chì đã qua sử dụng.
Tại Hải Phòng và một số địa phương đã diễn ra
hoạt động nhập rồi phá dỡ tàu cũ, thải ra môi trường
các chất thải độc hại như dầu mỡ, bụi xỉ chứa
kim loại nặng… gây nguy cơ ô nhiễm môi trường trên
diện rộng. Điển hình như vụ Công ty Huyndai Vinashin (Khánh
Hòa) thải ra hàng trăm ngàn tấn hạt xỉ đồng (hạt
NIX) khiến đất và nước thải tại khu vực có xỉ đồng
có hàm lượng chì gấp 21 lần tiêu chuẩn cho phép, thành
phần các kim loại nặng khác như đồng, Cadimi… cũng vượt
tiêu chuẩn cho phép hàng chục lần.
Về phía các doanh nghiệp nhập khẩu thì đây là hoạt
động thu lợi nhuận rất cao vì được “ăn hai đầu”:
Vừa được tiền do chủ các nguồn chất thải chi trả
để thu gom, vận chuyển, lại vừa được các cơ sở
sản xuất trong nước mua lại để tái chế sử dụng.
Khi bị phát hiện, các doanh nghiệp lại giở chiêu bài
“gửi nhầm hàng” và xin chuyển trả lại!
Một lĩnh vực gây nhức nhối nữa là tình trạng hầu
hết các bệnh viện không có hệ thống xử lý nước
thải đạt tiêu chuẩn môi trường hoặc có nhưng chất
lượng nước sau khi xử lý cũng không đạt yêu cầu. Hàng
ngày, đặc biệt là các bệnh viện lớn như BV Việt Đức,
Bạch Mai, Chợ Rẫy, Chấn thương chỉnh hình TPHCM…
thải ra một lượng rác thải, nước thải rất lớn nhưng
phần lớn là chưa qua xử lý.
Nhiều
bệnh viện thậm chí còn xả nước thải chưa qua xử lý
vào… cống thoát nước chung của thành phố! Thậm chí,
Khoa phẫu thuật của Bệnh viện ĐH Y Hà Nội đưa bệnh
phẩm thải ra chung với rác thải sinh hoạt! Chính tình
trạng dễ dãi trong quản lý và xử lý chất thải y tế
khiến rác thải y tế bị tư nhân hoặc cơ sở mua phế
liệu thu gom, mua bán nhằm tái chế, sản xuất đồ dùng
sinh hoạt gây nguy cơ lây truyền dịch bệnh nguy hại cho
sức khỏe con người.
Sẵn
sàng nộp phạt để… tiếp tục vi phạm
Thời
gian qua, các vụ như Công ty Vedan Việt Nam “đầu độc”
sông Thị Vải, Công ty thuộc da Hào Dương xả nước
thải trực tiếp, không qua xử lý ra sông Đồng Điền…
đã gây nhiều bức xúc trong dư luận. Qua kiểm tra của
Cục Cảnh sát môi trường (C36 - Tổng cục Cảnh sát,
Bộ Công an), hạ lưu các sông Thị Vải, sông Đồng Nai,
sông Sài Gòn, sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy… đang
bị ô nhiễm nghiêm trọng do phải hứng chịu rất
nhiều rác thải, nước thải trực tiếp từ các nhà máy,
xí nghiệp thải ra.
Trên
địa bàn các tỉnh tập trung nhiều khu, cụm công
nghiệp như TPHCM, Đồng Nai, Bình Dương, Hưng Yên, Hải
Phòng… nguồn nước và không khí bị ô nhiễm nặng,
ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống và sức khỏe
người dân. Đại tá Nguyễn Xuân Lý, Cục trưởng C36
cho biết, nóng bỏng nhất của tình trạng vi phạm môi
trường chính là lĩnh vực hoạt động sản xuất, nhất
là các khu công nghiệp, khu chế xuất, các làng nghề
truyền thống.
Khi
lập dự án hoặc mở rộng quy mô sản xuất, các doanh
nghiệp không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường
hoặc lập dự án sản xuất, kinh doanh dưới mức phải
lập báo cáo đánh giá tác động môi trường nhưng
thực tế quy mô sản xuất, kinh doanh lớn hơn nhiều. Để
tránh bị kiểm tra, giám sát và giám định chất thải môi
trường định kỳ, nhiều doanh nghiệp không lập hồ sơ
đăng ký chủ nguồn chất thải. Thậm chí, có doanh
nghiệp như Công ty Hào Dương xây dựng hệ thống xử lý
chất thải nhưng không vận hành hoặc chỉ vận hành đối
phó khi có thanh, kiểm tra.
Thông
tin từ Bộ Tài nguyên - Môi trường cũng cho thấy, trong
số hàng chục ngàn dự án đã được phê duyệt báo cáo
đánh giá tác động môi trường, phần lớn các dự án
(kể cả dự án liên doanh trong nước và ngoài nước)
thực hiện không đầy đủ hoặc không thực hiện các yêu
cầu về môi trường. Có đến 90% cơ sở được kiểm
tra, thanh tra có vi phạm về môi trường; 70% các khu công
nghiệp không có hệ thống nước thải và cả nước có
tới 4.000 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng…
Tính
đến nay, mức xử lý hành chính cao nhất là trường
hợp sai phạm của Công ty Vedan, tuy nhiên cũng chỉ phạt
gần 130 triệu đồng. Rõ ràng, số tiền phạt này không
nhằm nhò gì với lợi nhuận từ việc xả nước thải
trực tiếp ra môi trường. Do vậy, nhiều doanh nghiệp
sẵn sàng nộp phạt để… tiếp tục vi phạm!
Rất
khó xử lý hình sự
Trong
khi tội phạm môi trường và các hành vi vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường đang nở rộ thì việc áp
dụng Bộ luật Hình sự để xử lý lại rất khó khăn,
hạn chế. Đại tá Nguyễn Xuân Lý cho biết, hầu hết các
điều luật quy định hậu quả là dấu hiệu định
tội bắt buộc nhưng trên thực tế, hậu quả của tội
phạm môi trường không xảy ra ngay mà mang tính tích lũy
theo thời gian nên không có căn cứ áp dụng trong truy
tố, định tội danh và khung hình phạt.
Các
khái niệm định tính, định lượng như “gây hậu
quả nghiêm trọng”, “đặc biệt nghiêm trọng”, “ô
nhiễm nghiêm trọng” còn chung chung, chưa có hướng
dẫn tiêu chí để xem xét trách nhiệm hình sự của
chủ thể vi phạm. Đa số các điều đều quy định
dấu hiệu “đã bị xử phạt hành chính” là dấu
hiệu định tội bắt buộc nhưng nhiều trường hợp vi
phạm nghiêm trọng lại chưa bị xử lý hành chính hoặc
đã xử lý nhưng hết hạn, thời hiệu xử lý thì cũng…
không xử lý hình sự được.
Đặc
biệt, một số hành vi vi phạm pháp luật môi trường
mới xuất hiện nhưng chưa được quy định trong Bộ
luật Hình sự. Theo Đại tá Lý, trong khi chờ sửa đổi
Bộ luật Hình sự, để tạo điều kiện cho lực lượng
cảnh sát môi trường hoạt động có hiệu quả cần
sớm có thông tư liên tịch hướng dẫn thi hành đối
với các loại tội phạm môi trường của Bộ Luật Hình
sự.
Đường
Loan
Bài
2: Những lỗ hổng về pháp luật
SGGP,
ngày 19/11/2008
Lực
lượng Cảnh sát môi trường (CSMT) ra đời được gần
2 năm và đã có mặt tại nhiều “điểm đen” vi phạm
pháp luật về bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, sau khi phát
hiện, CSMT lại “tắc tị” ở khâu điều tra, xử lý
các đối tượng vi phạm bởi… chưa có thẩm quyền điều
tra theo thủ tục tố tụng.
“Tắc”
ở khâu điều tra!
Theo
quy định, lực lượng CSMT có thẩm quyền tiến hành các
biện pháp nghiệp vụ nhằm chủ động nắm tình hình,
kịp thời phát hiện, đấu tranh, ngăn chặn các hành vi
vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên tất
cả các lĩnh vực như: Khai thác khoáng sản, làng nghề,
xây dựng đô thị, y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm, công
nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, hóa chất và các
địa bàn trọng điểm; rà soát các cơ sở gây ô nhiễm
môi trường nghiêm trọng, các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất kinh doanh, nhà máy, xí nghiệp có tác động đến môi
trường; tổ chức, phối hợp với các ngành chức năng
tiến hành thanh kiểm tra công tác bảo vệ môi trường
tại các khu công nghiệp, khu chế xuất, các cơ sở sửa
chữa, đóng tàu, kinh doanh dịch vụ có phát sinh chất
thải nguy hại, nuôi nhốt động vật hoang dã, các chốt
kiểm dịch động vật, khảo sát tình hình gây ô nhiễm
môi trường lưu vực các sông Hồng, sông Lô, sông Nhuệ,
sông Đáy, sông Thị Vải, sông Đồng Nai…
Qua
gần 2 năm hoạt động, đến nay lực lượng CSMT đã
phối hợp phát hiện hơn 750 vụ vi phạm pháp luật về
bảo vệ môi trường, xử phạt vi phạm hành chính và
truy thu phí môi trường với tổng số tiền trên 130 tỷ
đồng; cảnh cáo, nhắc nhở hàng trăm doanh nghiệp, cá
nhân có hành vi vi phạm môi trường.
Tuy
nhiên, đến nay, năng lực đấu tranh chống tội phạm
về môi trường và xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật về bảo vệ môi trường vẫn còn hạn chế do CSMT
vẫn chưa có thẩm quyền điều tra. Đại tá Nguyễn Xuân
Lý, Cục trưởng C36 cho biết, theo pháp lệnh Tổ chức
điều tra hình sự năm 2004 thì CSMT chưa phải là cơ quan
điều tra (chuyên trách) và CSMT cũng chưa phải là cơ
quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động
điều tra bởi pháp lệnh chưa quy định thẩm quyền điều
tra của cục, phòng CSMT. Vì vậy, CSMT chỉ có thể tiến
hành thu thập chứng cứ bằng biện pháp trinh sát, còn
việc tiến hành tố tụng phải giao cho cơ quan cảnh sát
điều tra của Bộ Công an.
Thậm
chí, trước đây CSMT còn không được xử phạt hành chính.
Gần đây, khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính được
sửa đổi ngày 2-4-2008 có hiệu lực, lực lượng này
mới được bổ sung thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính. Tuy nhiên, CSMT vẫn không được áp dụng các
biện pháp ngăn chặn (tạm giữ người, tang vật, phương
tiện, khám xét).
Pháp
lệnh cũng chưa quy định việc CSMT được sử dụng các
phương tiện kỹ thuật trong phát hiện, truy tìm đối tượng,
thu thập chứng cứ, phân tích dấu vết vi phạm pháp
luật bảo vệ môi trường, giúp củng cố hồ sơ, phục
vụ xử lý (hành chính, hình sự). Hiện nay, lực lượng
CSMT cũng chưa được tham gia Hội đồng thẩm định đối
với các dự án có liên quan đến công tác bảo vệ môi
trường (là điều kiện bắt buộc về an ninh trật tự
trong lĩnh vực môi trường).
Phương
tiện “dùng chung”!
Theo
Thượng tá Nguyễn Văn Hoàng Hải, Trưởng phòng PC36 Công
an TPHCM, chính những “lỗ hổng” về pháp lý trên nên
trên thực tế, chúng ta thiếu căn cứ để thực hiện các
biện pháp xử lý, chưa tạo được cơ sở vững chắc
cho việc xử lý nghiêm loại tội phạm này. Trong khi đó,
lợi nhuận từ những hoạt động có liên quan đến tài
nguyên môi trường ngày càng có xu hướng gia tăng do
nguồn tài nguyên cạn kiệt. Hơn nữa, trong điều kiện
các văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường,
các quy định về tội phạm môi trường chưa đủ sức
giáo dục, phòng ngừa, răn đe nên tội phạm trong lĩnh
vực này ngày càng nảy sinh và phát triển mạnh.
Ngoài
vấn đề khó khăn về tư cách tư pháp, CSMT mới được
thành lập nên đang phải “sống chung” với tình
trạng thiếu thốn phương tiện, trang thiết bị, cơ sở
vật chất... Thượng tá Hải chia sẻ, địa bàn (TPHCM)
thì rộng và có liên quan đến nhiều tỉnh, thành phố lân
cận nhưng cả phòng PC36 chỉ được trang bị 1 xe ô tô.
Các thiết bị khoa học kỹ thuật giúp cho công tác
kiểm tra, phân tích mẫu về khí thải, nước thải, đo
độ rung, tiếng ồn… chưa có.
Ngay
cả các thiết bị văn phòng như máy vi tính, máy
photocopy… cũng chưa đáp ứng được nhu cầu. Anh em cán
bộ phải sử dụng phương tiện, thiết bị do cá nhân
tự trang bị hay dựa vào sự hỗ trợ của các đơn vị
bạn... Được biết, để khắc phục tình trạng thiếu
thốn, Bộ Công an đang đề nghị trích 30% tiền truy thu
phí bảo vệ môi trường và tiền phạt vi phạm hành chính
để đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương
tiện phục vụ công tác cũng như bồi dưỡng cho lực lượng
trực tiếp đấu tranh, phòng chống tội phạm môi trường.
Tình cảnh trên khiến nhiều người ví von lực lượng
CSMT hiện nay được trang bị “súng” nhưng lại thiếu
“đạn”!.
Đường
Loan
|
|
|
 | |