MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(01/2006)


Lễ trao giải cuộc thi viết “Cộng đồng và môi trường” 
Giảm căn bản tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

85% ngân sách bảo vệ môi trường sẽ được đưa về các địa phương
Quảng Ninh: Bảo vệ môi trường TP Hạ Long  
Sóc Trăng: Rừng ngập mặn đang hồi sinh
Môi trường nuôi tôm sẽ không còn bị ô nhiễm

Việt Nam đặt mục tiêu quản lý được 70% các nguồn thải
Cấp bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông Đáy  
Luật Bảo vệ môi trường 2005: Nhiều chế tài mạnh hơn  

Lễ trao giải cuộc thi viết “Cộng đồng và môi trường”

Chiều 13/01/2005, báo Khoa học và Đời sống tổ chức trao giải cuộc thi viết “Cộng đồng và môi trường”. Sau 6 tháng phát động, đã có hơn 90 bài viết của các cây bút chuyên và không chuyên trên cả nước tham dự cuộc thi, trong số đó 17 bài viết được trao giải. Giải Nhất thuộc về GS Lê Viết Ly với bài viết “Hà Nội chưa đủ ô nhiễm hay sao mà còn “ôm” thêm trại lợn nái?”.

Được phát động từ cuối tháng 5 năm 2005, sau 6 tháng  cuộc thi đã nhận được hơn 90 bài viết của các cây bút chuyên và không chuyên trên cả nước. Các bài viết gửi tới cuộc thi đã đề cập khá toàn diện tới những vấn đề nổi cộm về môi trường mà cộng đồng đang phải đối mặt, từ sự bất cập trong quy hoạch phát triển đô thị và môi trường đến sự suy kiệt tài nguyên thiên nhiên... Bên cạnh đó, nhiều bài giới thiệu các sáng kiến, kinh nghiệm ứng dụng vào sản xuất và bảo vệ môi trường, những tấm gương bảo vệ môi trường và cả một lâm tặc hoàn lương trở thành “Người đi trả nợ rừng” (tác giả Quốc Hội).

Phát biểu tại lễ trao giải, GS. TSKH Nguyễn Hữu Tăng cho rằng, cuộc thi là một hoạt động tuyên tryền nhận thức về môi trường rất tốt không chỉ cho người dân mà cả những nhà quản lý. Tác giả đoạt giải nhất cuộc thi, GS Lê Viết Ly đã trích 2 triệu đồng từ giải thưởng để tặng lại cho Câu lạc bộ sinh viên của báo KH&ĐS với mong muốn hỗ trợ các bạn trẻ có điều kiện đi thực tế để có những bài báo hay viết về môi trường. Việc tổ chức cuộc thi viết là một hình thức sinh động để tuyên truyền, phổ biến những kiến thức về bảo vệ môi trường trong cộng đồng.

(Theo báo KH&ĐS)

 

Giảm căn bản tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng

 

Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn) đã đề ra 3 mục tiêu bảo vệ rừng trọng tâm trong năm 2006. Theo đó, Cục chỉ đạo ngành Kiểm lâm các địa phương tăng cường bảo vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đối với diện tích các rừng đặc dụng, rừng phòng hộ đầu nguồn tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác trái phép rừng; lập danh sách các tụ điểm kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép để áp dụng nghiêm khắc các biện pháp chống người thi hành công vụ; nhất là huy động lực lượng xuống cơ sở bảo vệ rừng tận gốc, nhằm giảm căn bản tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng.

Trong năm 2005, lực lượng kiểm lâm cả nước đã phát hiện, xử lý 28.480/36.500 vụ vi phạm Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, thu nộp ngân sách Nhà nước trên 100 tỷ đồng tiền phạt. Tổng số vụ vi phạm Luật giảm gần 19% so với năm 2004. Đặc biệt, ngành Kiểm lâm đã xác định được các điểm nóng phá rừng, khai thác gỗ trái phép tại các tỉnh Bình Phước, Đắk Nông, Bình Thuận, Quang Nam, Quảng Ngãi, Cà Mau... để thực hiện đồng bộ các biện pháp trấn áp. Lực lượng kiểm lâm ở cơ sở đã phối hợp chặt chẽ với nhân dân triệt phá các băng nhóm phá hoại rừng có tổ chức, được được đông đảo dư luận quan tâm, ủng hộ. Tuy nhiên, tình hình chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra phức tạp, với những hành vi quyết liệt, coi thường pháp luật của bọn "lâm tặc".  Bên cạnh đó, tình hình cháy rừng cũng có chiều hướng gia tăng, với gần 1.200 vụ cháy rừng, tăng gần 400 vụ so với cùng kỳ năm trước.

    Để thực hiện hiệu quả các mục tiêu đề ra, ngành Kiểm lâm đang tập trung phối hợp với các địa phương quy hoạch và xác định lâm phận các loại rừng ổn định; hoàn thiện các chính sách, văn bản pháp luật đảm bảo lợi ích cho người dân làm nghề rừng, tăng cường trách nhiệm của các cấp chính quyền và chủ rừng ở cơ sở, từ cấp huyện đến thôn bản; tích cực hỗ trợ bà con, nhất là đồng bào thiểu số miền núi, Tây Nguyên ổn định đất ở, đất sản xuất.

Hiếu Tiến

 

 

85% ngân sách bảo vệ môi trường sẽ được đưa về các địa phương

 

 

Sếu đầu đỏ

Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tập trung xây dựng 2 Nghị định-văn bản dưới Luật: Hướng dẫn chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, nhằm sớm triển khai Luật Bảo vệ môi trường hiệu quả trong năm 2006, nhất là sau khi Chính phủ quyết định dành 1% tổng ngân sách Nhà nước chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường và lần đầu tiên sự nghiệp môi trường được ghi trong Luật Ngân sách Nhà nước.

Theo đó, 1% ngân sách Nhà nước tương đương khoảng 2.900 tỷ đồng sẽ được sử dụng đầu tư cho các hoạt động bảo vệ môi trường từ Trung ương đến cơ sở. Vụ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, 85% số ngân sách sẽ được đưa về các địa phương (2.690 tỷ đồng); 15% cho các Bộ, ngành Trung ương để thực hiên các chương trình, dự án thuộc lĩnh vực môi trường. Vụ Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện các tiêu chuẩn môi trường chi tiết như: Tiêu chuẩn chất thải, rác thải, nước thải...  để tiến tới xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường và chuẩn bị các điều kiện đưa Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ 1/7/2006 vào cuộc sống.

 

Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, để sử dụng hợp lý nguồn vốn ngân sách dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường ngay từ năm 2006 và giai đoạn 2006-2010, Bộ đã xây dựng kế hoạch thực hiện 36 chương trình ưu tiên trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia; tiếp tục đưa Nghị quyết 41 của Bộ Chính trị về "Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" tới sâu rộng các địa phương cơ sở; đồng thời thường xuyên kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc sử dụng vốn ngân sách chi cho các hoạt động bảo vệ môi trường của các đơn vị trực thuộc, theo hướng gắn liền với Luật Chống tham nhũng và Luật Tiết kiệm chống lãng phí.

Tiến Hiếu (www.monre.gov.vn)

Quảng Ninh: Bảo vệ môi trường TP Hạ Long

Vịnh Hạ Long (Quảng Ninh)

Với 8 mỏ than, 6 cảng bến bốc rót và nhà sàng tuyển, mỗi năm cung cấp ra thị trường trong nước và quốc tế hơn 6 triệu tấn than. Nếu tính trung bình để có 1 tấn than phải bốc xúc từ 6-8m3 đất đá và thải ra từ 1-3m3 nước thải. Như vậy mỗi năm hoạt động khai thác than ở đây đã thải ra hàng chục triệu m3 đất đá thải và nước thải. Theo đánh giá của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố, hầu như tất cả các thông số về môi trường như tiếng ồn, bụi trong không khí đều vượt quá mức độ cho phép. Riêng tại các khu vực sản xuất, nồng độ bụi và các khí độc hại vượt mức cho phép rất cao từ 4-5 lần. Bên cạnh đó công tác quy hoạch đô thị của thành phố còn nhiều bất cập, yếu kém, áp lực của việc gia tăng dân số nhanh kéo theo vấn đề tăng nguồn nước thải, chất thải. Vấn đề xử lý chất thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp, xây dựng, y tế cũng đang gây sức ép về ô nhiễm môi trường.

Hiện, ước tính tổng lượng rác thải sinh hoạt thu gom của thành phố khoảng 50.000 tấn/năm. Trong khi đó năng lực thu gom, xử lý, chôn lấp rác thải chỉ đạt khoảng 70% lượng rác phát sinh. Ngoài ra, việc đổ đất lấn biển của các cơ quan doanh nghiệp trong hoạt động vận tải thủy, cảng biển và nuôi trồng thủy sản cũng gây ô nhiễm nguồn nước. Đáng buồn là hầu hết những hoạt đông gây ô nhiễm môi trường này đều do sự quản lý yếu, thiếu quy hoạch và thậm chí cả sự cố tình của các cấp chính quyền và các cơ quan chức năng của địa phương.

Do quản lý thiếu chặt chẽ và còn nhiều bất cập trong việc cấp phép, thiếu bản đồ hiện trạng khu đổ chất thải nên nhiều dự án đổ chất thải khai thác mỏ chồng lấn lên nhau dẫn tới tình trạng bồi lắng  trầm tích  ra biển, gây ô nhiễm nghiêm trọng cho vịnh Hạ Long và khu vực Cửa Lục. Hiện chỉ có khu du lịch Bãi Cháy có một trạm xử lý nước thải với công suất 2.500m3/ngày, đêm. Do vậy khu vực Di sản thiên nhiên thế giới Vịnh Hạ Long như một cái túi khổng lồ chứa đựng phần lớn các chất thải từ các hoạt động sản xuất và sinh hoạt ven bờ.

Để giải quyết những bất cập giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, Thành ủy, HĐND TP. Hạ Long đã có “chủ trương tăng cường công tác quản lý bảo vệ môi trường đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020”. Tập đoàn than Việt Nam cũng đã xác định chiến lược chủ động bảo vệ môi trường, đặc biệt là khu vực nhạy cảm là TP. Hạ Long. Tập đoàn than còn đề nghị Chính phủ cho phép hàng năm dành 1% tổng chi phí giá thành sản xuất để xây dựng quỹ bảo vệ môi trường. Ngoài ra, từ năm 2006, Than Việt Nam còn thu phí 6000đồng/tấn để đưa vào ngân sách địa phương dùng vào mục đích phục hồi môi trường. Xây dựng, hoàn thành các công trình xử lý chất thải, nước thải ở các đơn vị đang gây ô nhiễm cao, xây dựng hệ thống thu gom, xử lý rác thải và tăng cường giáo dục nâng cao ý thức bảo vệ môi trường trong dân... Tuy nhiên, nhìn một cách tổng thể thì chỉ như muối bỏ bể khi thực sự môi trường ở thành phố đang đến hồi báo động. Đừng để các biện pháp nằm im trên giấy.

Công Lý (Theo MonreNet)

 

Sóc Trăng: Rừng ngập mặn đang hồi sinh

 

Rừng ngập mặn

Sóc Trăng ở hạ lưu sông Hậu, có ba nhánh sông lớn đổ ra biển đông: Định An, Trần Đề, Mỹ Thanh, có 72 km bờ biển. Mỗi năm lượng phù sa từ các nhánh sông đổ ra biển rất lớn, bồi đắp các bãi bồi ven biển, tạo điều kiện thuận lợi môi trường lý tưởng cho các loài thủy sản đặc hữu cư trú, sinh sôi nảy nở và cây rừng ngập mặn ven biển phát triển mạnh.

Rừng ngập mặn ven biển ở Sóc Trăng, tập trung nhiều ở ba huyện: Cù Lao Dung, Long Phú, Vĩnh Châu, có tác dụng điều hòa khí hậu, chống sói mòn, hạn chế thiên tai, lũ lụt, bảo vệ bờ biển, mở rộng diện tích đất liền, hạn chế sự xâm nhập của nước mặn, bảo vệ đê điều trước sự tàn phá của gió mùa, triều cường, sóng thần... với cây đặc thù chủ yếu là bần, mắm, sú vẹt, đước. Quả thật, thiên nhiên thật hào phóng, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven biển dâng tặng cho con người biết bao tài nguyên quý, gắn liền với môi sinh cho mọi động vật, tạo điều kiện cho các loài thủy sản ven bờ phát triển, xuất hiện hai bãi sò huyết và nghêu ở nông trường 30/4 (Cù Lao Dung), Bãi Giá (xã trung Bình, huyện Long Phú), cua biển giống ở Vĩnh Hải (huyện Vĩnh Châu) với mật độ khá dầy. Ngoài ra, tại rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng còn có nhiều loại động vật đặc hữu của rừng ngập mặn như dơi, quạ, khỉ, chim cú mèo...

Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20, tỉnh Sóc Trăng có hơn 10.000 ha rừng ngập mặn, do phong trào nuôi tôm sú, nhiều tổ chức, các nhân trong và ngoài tỉnh đã khai phá ồ ạt, mở rộng diện tích nuôi tôm, nuôi cua... cung với diễn biến khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, gây bất lợi cho sản xuất ảnh hưởng đến cuộc sống của người dân sống ven rừng, nên tình trạng phá rừng lấy cây, gỗ, làm than diễn ra thường xuyên, làm biến đổi hoàn toàn môi trường sinh thái, cảnh quan thiên nhiên rừng ngập mặn ven biển đã bị biến dạng hoàn toàn, chỉ còn hơn 50% diện tích trong một thời gian ngắn. Năm 2000, ủy ban nhân dân tỉnh Sóc Trăng có chủ trương giao đất rừng ngập mặn ven biển cho các cá nhân, tổ chức để phát triển và đi vào sản xuất. Sau gần năm năm diện tích trồng lại trên 4.000 ha, số cây con đạt tỷ lệ sống khá cao, bảo đảm thành rừng phát triển tốt đã phát huy tác dụng cố định và mở rộng diện tích bãi bồi. Tại cửa biển Định An (Cù Lao Dung), Trần Đề (Long Phú), rừng bần, rừng mắm, càng thêm dầy đặc, do nhiều cây bần, mắm được tái sinh tự nhiên và bộ đội biên phòng, kiểm lâm, nhân dân trồng lại, tương tự như trên rừng cây sú vẹt đang sinh sôi, phát triển mạnh ở Vĩnh Hải, Mỏ ó (Vĩnh Châu) đang chen nhau phát triển xanh tốt lấn áp cả cây đước.

Đáng mừng hơn cả, không những rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng đang phát triển, mà hệ sinh thái ngập mặn đang khôi phục dần. Hiện tại xuất hiện nhiều động vật, thủy sản đặc hữu rừng ngập mặn ven biển như ở dưới bãi bồi có rất nhiều tôm, cua, cá chẻm, cá ngát, cá bống sao, cá kèo giống, đặc biệt có nhiều bào nghêu, sò huyết giống đã hình thành tập trung. Còn trên cây có nhiều đàn dơi quạ với số lượng hàng chục nghìn con, ong mật, đang hình thành bốn vườn chim với mật độ cả vạn con/ đàn... Việc Sóc Trăng có chính sách hỗ trợ cho những hộ nhận đất, khoán rừng đã làm cho người dân thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của rừng ngập mặn ven biển, tạo điều kiện thuận lợi cho rừng phát triển, tăng diện tích.

Phương Nghi – báo GD&TĐ

 

Môi trường nuôi tôm sẽ không còn bị ô nhiễm

 

Do hậu quả của việc phát triển nuôi tôm tự phát và ảnh hưởng đợt mưa lũ, môi trường nuôi tôm trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận bị ô nhiễm nghiêm trọng. Tuy nhiên “cái khó ló cái khôn”, một số xã trong tỉnh như Phước Dinh, Phước Diêm, Nhơn Hải, Đầm Nại đã triển khai nuôi tôm hùm, vẹm xanh... trên diện tích hiện có và chuyển đổi một phần diện tích nuôi tôm bị ô nhiễm sang nuôi trồng rong sụn, nghề trồng rong sụn còn tạo thêm việc làm cho 900 gia đình.

 Những cơ sở có điều kiện về vốn, kỹ thuật sẽ tiếp tục được sản xuất để tránh thiệt hại về kinh tế gia đình và ảnh hưởng xấu cho môi trường sản xuất tôm sú giống của tỉnh. Tỉnh cũng thực hiện chính sách thu hút các thành phần kinh tế đầu tư cơ sở nuôi trồng thủy sản, nuôi tôm thâm canh tại các vùng dự án An Hải, Sơn Hải; xây dựng các trạm quan trắc môi trường cảnh báo nguồn nước tại các vùng nuôi tôm tập trung.

M.Đ

 

Cấp bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông Đáy

 

Trước tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sông Nhuệ, sông Đáy tại tỉnh Hà Nam, sáng 23/12 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực và Thứ trưởng thường trực Phạm Khôi Nguyên đã có buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh Hà Nam, Hà Tây và thành phố Hà Nội để thống nhất các biện pháp cấp bách xử lý tình hình ô nhiễm môi trường tại lưu vực 2 con sông này. Sau khi thống nhất các ý kiến với các địa phương, Bộ trưởng Mai Ái Trực yêu cầu UBND TP HN và UBND các tỉnh Hà Nam, Hà Tây khẩn trương thực hiện một số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường sông Nhuệ, sông Đáy.

Theo đó, Bộ trưởng đưa ra các biện pháp cấp bách yêu cầu UBND tỉnh Hà Tây chỉ đạo, đóng hai cống La Khê và Vân Đình không cho nước chảy vào sông Đáy đồng thời tận dụng tối đa thời gian để mở cống Liên Mạc lấy nước sông Hồng cấp cho sông Nhuệ; UBND TP HN chỉ đạo, đóng đập Thanh Liệt, vận hành trạm bơm Yên Sở để thoát nước thải ra sông Hồng; UBND TP HN chủ trì, phối hợp với UBND các tỉnh trong lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy khẩn trương hoàn thành đề án tổng thể bảo vệ môi trường sông Nhuệ, sông Đáy trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt; UBND tỉnh Hà Tây chủ trì, phối hợp với UBND tỉnh Hà Nam và UBND TP HN xây dựng quy trình vận hành hệ thông cấp nước, thoát nước, tưới tiêu sông Nhuệ, sông Đáy theo đề xuất của UBND tỉnh Hà Nam, đảm bảo yêu cầu về môi trường, hoàn thành và đưa quy trình vào vận hành trước ngày 10/1/2006; giao Cục BVMT phối hợp với các địa phương kiểm tra tiến độ thực hiện các biện pháp nêu trên.

Bộ trưởng Mai Ái Trực cũng đề cập đến một số biện pháp lâu dài như: UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà Tây và Hà Nam kiểm tra ráo riết các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, có biện pháp kiên quyết và ấn định thời gian xử lý để chấm dứt tình trạng ô nhiễm môi trường không để kéo dài; UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà Nam và Hà Tây đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và thực hiện các dự án môi trường để nhanh chóng khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy. Bộ TN&MT sẽ báo cáo Thủ tướng Chính phủ có chủ trương đầu tư dự án tổng thể bảo vệ, cải thiện môi trường sông Nhuệ, sông Đáy; giao Cục BVMT phối hợp với các tỉnh, thành phố tiến hành kiểm tra, lập danh sách các cơ sở gây ô nhiễm môi trường, có các hình thức công bố công khai thông tin, tạo áp lực của công luận đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây ô nhiễm môi trường; giao Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục BVMT đánh giá khả năng chịu tải của hệ thống sông Nhuệ, sông Đáy và nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn phát thải, dòng chảy môi trường để làm cơ sở cho công tác quản lý.

Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh kịp thời với Bộ TN&MT để phối hợp giải quyết.

P.V(Theo MonreNet)

 

Việt Nam đặt mục tiêu quản lý được 70% các nguồn thải

 

 

 

Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số 328/2005/QĐ - TTg phê duyệt Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010 với mục tiêu quản lý được 70% các nguồn thải, loại chất thải và lượng chất thải nói chung trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, Chính phủ đặt mục tiêu điều tra, thống kê, xử lý và quản lý 70% các nguồn thải, loại chất thải và lượng chất thải nói chung trên phạm vi toàn quốc.

Về xử lý chất thải, 90% tổng lượng chất thải rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp được thu gom, vận chuyển và xử lý . 10% chất thải rắn y tế nguy hại và trên 60% chất thải nguy hại công nghiệp được xử lý bằng công nghệ phù hợp. 

Kế hoạch cũng đặt ra mục tiêu kiểm soát được cơ bản tình hình ô nhiễm môi trường ở một số lĩnh vực thường xuyên xảy ra ô nhiễm trong các ngành hoá chất; dệt, nhuộm, giày da, giấy, chế biến thực phẩm; các vùng có chất độc hoá học do Mỹ sử dụng trong chiến tranh...

Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường cũng nêu rõ, sẽ thể chế hoá và thực thi có hiệu quả các điều ước quốc tế liên quan đến kiểm soát ô nhiễm môi trường mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.

  (Theo VietnamNet )

 

Luật Bảo vệ môi trường 2005: Nhiều chế tài mạnh hơn

 

Đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoạt động môi trường nhưng cũng đồng thời cho phép sử dụng nhiều biện pháp, công cụ, chế tài mạnh hơn, có tính răn đe cao hơn là tinh thần nổi bật của Luật Bảo vệ Môi trường (năm 2005) vừa được Quốc Hội khoá XI, kỳ họp thứ 8 thông qua và sẽ có hiệu lực từ 1/7/2006.

Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có nhiều điểm mới. Trong Luật 2005 quy định có hệ thống các hoạt động bảo vệ môi trường, chính sách, biện pháp và nguồn lực cho bảo vệ môi trường; quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các tổ chức, cá nhân. Luật 2005 cũng đã giảm thiểu các quy phạm giao cho Chính phủ quy định chi tiết hoặc hướng dẫn. Trong Luật 2005, quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, DN, cộng đồng, hộ gia đình, cá nhân cũng như trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các cấp chính quyền và việc phân cấp quản lý trong lĩnh vực môi trường đã rõ ràng hơn. Luật 2005 cũng cho phép áp dụng nhiều công cụ, biện pháp chế tài mạnh, đồng bộ, có tính răn đe cao hơn như: áp dụng tiêu chuẩn môi trường, sử dụng các công cụ kinh tế, thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường...

Trách nhiệm DN cao hơn

Trong quá trình đầu tư, hoạt động, DN tuỳ thuộc vào quy mô và tính chất của Dự án mà phải thực hiện việc lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường hoặc chỉ cần lập bản cam kết bảo vệ môi trường. DN phải lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường là chủ các dự án (DA): DA công trình quan trọng quốc gia; DA có sử dụng một phần diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các khu di tích lịch sử - văn hoá, di sản tự nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng; DA có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng có hệ sinh thái được bảo vệ; DA xây dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất, cụm làng nghề; DA xây dựng mới khu đô thị, khu dân cư tập trung; DA khai thác, sử dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên quy mô lớn...

Đối với các cơ sở vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, các hình thức xử lý được áp dụng tuỳ theo vi phạm thực tế là: phạt tiền và buộc thực hiện biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn môi trường; Tạm thời đình chỉ hoạt động cho đến khi thực hiện xong biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết; xử lý theo các quy định về xử phạt hành chính. Trường hợp có thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ con người... do hậu quả của việc gây ô nhiễm môi trường thì phải bồi thường thiệt hại hoặc bị xử lý về hình sự. Đối với DN khi vi phạm thì ngoài việc phải chịu các hình thức xử phạt như trên còn bị xử lý bằng một trong các biện pháp sau: buộc thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi trường; buộc di dời cơ sở đến vị trí xa khu dân cư và phù hợp với mức chịu tải của môi trường; cấm mọi hoạt động của DN vi phạm.

Cụ thể và công khai

Rạch ròi trong quy định, Luật 2005 đã phân chia tương đối cụ thể các quy định về bảo vệ môi trường đối với từng ngành, từng lĩnh vực (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, NK phế liệu...); từng địa bàn cụ thể (đô thị, khu dân cư tập trung, nơi công cộng, khu sản xuất kinh doanh, dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, công trình thuỷ lợi...). Cụ thể hơn, luật quy định trách nhiệm phân loại từ nguồn của từng đối tượng trong việc thu gom chất thải rắn thông thường, chất thải nguy hại; trách nhiệm xử lý nước thải, khí thải trước khi đưa vào hệ thống thải công cộng... hoặc các quy định về xử lý tiếng ồn, độ rung...

Nhằm nâng cao tính công khai của các hoạt động bảo vệ môi trường, luật quy định quyết định xử lý đối với cơ sở gây ô nhiễm môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng phải được thông báo cho UBND cấp huyện, xã nơi có cơ sở gây ô nhiễm môi trường và công khai cho nhân dân biết để kiểm tra, giám sát.

Với các quy định chi tiết, bao quát và có tính khả thi cao, giới chuyên môn nhận định rằng Luật Bảo vệ Môi trường 2005 là cơ sở pháp lý vững vàng thúc đẩy mạnh các hoạt động bảo vệ môi trường, đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập.

Nguyễn Đào – DĐDN (Theo MonreNet)

   

 

Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam - Vietnam Association for Conservation of Nature and Enviroment
Tel: 84.04.9420 280  
     Fax: 84.04.9420 279        Email: vacne@.fpt.vn      Website: www.vacne.org.vn