




 |
MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(01/2006)
Lễ
trao giải cuộc thi viết “Cộng đồng và môi trường”
Giảm
căn bản tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng
85%
ngân sách bảo vệ môi trường sẽ được đưa về các
địa phương
Quảng
Ninh: Bảo vệ môi trường TP Hạ Long
Sóc
Trăng: Rừng ngập mặn đang hồi sinh
Môi
trường nuôi tôm sẽ không còn bị ô nhiễm
Việt
Nam đặt mục tiêu quản lý được 70% các nguồn
thải
Cấp
bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông
Đáy
Luật
Bảo vệ môi trường 2005: Nhiều chế tài mạnh hơn
|
Lễ
trao giải cuộc thi viết “Cộng đồng và môi trường”
|
|
Chiều
13/01/2005, báo Khoa học và Đời sống tổ chức trao
giải cuộc thi viết “Cộng đồng và môi trường”.
Sau 6 tháng phát động, đã có hơn 90 bài viết của
các cây bút chuyên và không chuyên trên cả nước
tham dự cuộc thi, trong số đó 17 bài viết được
trao giải. Giải Nhất thuộc về GS Lê Viết Ly với
bài viết “Hà Nội chưa đủ ô nhiễm hay sao mà còn
“ôm” thêm trại lợn nái?”.
Được
phát động từ cuối tháng 5 năm 2005, sau 6 tháng
cuộc thi đã nhận được hơn 90 bài viết
của các cây bút chuyên và không chuyên trên cả nước.
Các bài viết gửi tới cuộc thi đã đề cập khá
toàn diện tới những vấn đề nổi cộm về môi
trường mà cộng đồng đang phải đối mặt, từ
sự bất cập trong quy hoạch phát triển đô thị và
môi trường đến sự suy kiệt tài nguyên thiên nhiên...
Bên cạnh đó, nhiều bài giới thiệu các sáng
kiến, kinh nghiệm ứng dụng vào sản xuất và bảo
vệ môi trường, những tấm gương bảo vệ môi trường
và cả một lâm tặc hoàn lương trở thành “Người
đi trả nợ rừng” (tác giả Quốc Hội).
Phát biểu tại lễ trao giải, GS. TSKH Nguyễn
Hữu Tăng cho rằng, cuộc thi là một hoạt động
tuyên tryền nhận thức về môi trường rất tốt
không chỉ cho người dân mà cả những nhà quản lý.
Tác giả đoạt giải nhất cuộc thi, GS Lê Viết Ly
đã trích 2 triệu đồng từ giải thưởng để
tặng lại cho Câu lạc bộ sinh viên của báo KH&ĐS
với mong muốn hỗ trợ các bạn trẻ có điều
kiện đi thực tế để có những bài báo hay viết
về môi trường. Việc tổ chức cuộc
thi viết là một hình thức sinh động để tuyên
truyền, phổ biến những kiến thức về bảo vệ môi
trường trong cộng đồng.
(Theo báo KH&ĐS) |
|
Giảm
căn bản tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ và Phát
triển rừng
|
|
|
|
Cục Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn) đã đề ra 3 mục tiêu bảo vệ rừng
trọng tâm trong năm 2006. Theo đó, Cục chỉ đạo
ngành Kiểm lâm các địa phương tăng cường bảo
vệ rừng, phòng cháy chữa cháy rừng đối với
diện tích các rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
đầu nguồn tiến tới chấm dứt tình trạng khai
thác trái phép rừng; lập danh sách các tụ điểm
kinh doanh buôn bán lâm sản trái phép để áp
dụng nghiêm khắc các biện pháp chống người thi
hành công vụ; nhất là huy động lực lượng
xuống cơ sở bảo vệ rừng tận gốc, nhằm
giảm căn bản tình trạng vi phạm Luật Bảo vệ
và Phát triển rừng.
Trong năm 2005, lực lượng kiểm lâm cả nước
đã phát hiện, xử lý 28.480/36.500 vụ vi phạm
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, thu nộp ngân
sách Nhà nước trên 100 tỷ đồng tiền phạt.
Tổng số vụ vi phạm Luật giảm gần 19% so với
năm 2004. Đặc biệt, ngành Kiểm lâm đã xác định
được các điểm nóng phá rừng, khai thác gỗ trái
phép tại các tỉnh Bình Phước, Đắk Nông, Bình
Thuận, Quang Nam, Quảng Ngãi, Cà Mau... để thực
hiện đồng bộ các biện pháp trấn áp. Lực lượng
kiểm lâm ở cơ sở đã phối hợp chặt chẽ
với nhân dân triệt phá các băng nhóm phá hoại
rừng có tổ chức, được được đông đảo dư
luận quan tâm, ủng hộ. Tuy nhiên, tình hình
chống người thi hành công vụ vẫn diễn ra phức
tạp, với những hành vi quyết liệt, coi thường
pháp luật của bọn "lâm tặc".
Bên cạnh đó, tình hình cháy rừng cũng có
chiều hướng gia tăng, với gần 1.200 vụ cháy
rừng, tăng gần 400 vụ so với cùng kỳ năm trước.
Để
thực hiện hiệu quả các mục tiêu đề ra, ngành
Kiểm lâm đang tập trung phối hợp với các địa
phương quy hoạch và xác định lâm phận các
loại rừng ổn định; hoàn thiện các chính sách,
văn bản pháp luật đảm bảo lợi ích cho người
dân làm nghề rừng, tăng cường trách nhiệm của
các cấp chính quyền và chủ rừng ở cơ sở,
từ cấp huyện đến thôn bản; tích cực hỗ
trợ bà con, nhất là đồng bào thiểu số miền núi,
Tây Nguyên ổn định đất ở, đất sản xuất.
Hiếu Tiến
|
|
|
|
85%
ngân sách bảo vệ môi trường sẽ được đưa về
các địa phương
|
|
|
|
|
|
|
Sếu đầu
đỏ
|
|
Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tập trung xây
dựng 2 Nghị định-văn bản dưới Luật: Hướng
dẫn chi tiết một số điều của Luật Bảo
vệ môi trường; xử phạt hành chính trong lĩnh
vực bảo vệ môi trường, nhằm sớm triển
khai Luật Bảo vệ môi trường hiệu quả trong
năm 2006, nhất là sau khi Chính phủ quyết định
dành 1% tổng ngân sách Nhà nước chi cho các
hoạt động bảo vệ môi trường và lần đầu
tiên sự nghiệp môi trường được ghi trong
Luật Ngân sách Nhà nước.
|
Theo đó, 1% ngân
sách Nhà nước tương đương khoảng 2.900 tỷ đồng
sẽ được sử dụng đầu tư cho các hoạt động
bảo vệ môi trường từ Trung ương đến cơ sở.
Vụ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho
biết, 85% số ngân sách sẽ được đưa về các địa
phương (2.690 tỷ đồng); 15% cho các Bộ, ngành Trung
ương để thực hiên các chương trình, dự án
thuộc lĩnh vực môi trường. Vụ Môi trường đang
khẩn trương hoàn thiện các tiêu chuẩn môi trường
chi tiết như: Tiêu chuẩn chất thải, rác thải, nước
thải... để tiến tới xã hội hoá công tác
bảo vệ môi trường và chuẩn bị các điều kiện
đưa Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực từ
1/7/2006 vào cuộc sống.
Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, để
sử dụng hợp lý nguồn vốn ngân sách dành cho các
hoạt động bảo vệ môi trường ngay từ năm 2006 và
giai đoạn 2006-2010, Bộ đã xây dựng kế hoạch
thực hiện 36 chương trình ưu tiên trong Chiến lược
Bảo vệ môi trường quốc gia; tiếp tục đưa
Nghị quyết 41 của Bộ Chính trị về "Bảo
vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước" tới sâu
rộng các địa phương cơ sở; đồng thời thường
xuyên kiểm tra, quản lý chặt chẽ việc sử dụng
vốn ngân sách chi cho các hoạt động bảo vệ môi
trường của các đơn vị trực thuộc, theo hướng
gắn liền với Luật Chống tham nhũng và Luật
Tiết kiệm chống lãng phí.
Tiến
Hiếu (www.monre.gov.vn)
|
|
Quảng
Ninh: Bảo vệ môi trường TP Hạ Long
|
|
|
|
Vịnh
Hạ Long (Quảng Ninh)
|
|
Với 8 mỏ than, 6 cảng bến bốc rót và nhà sàng
tuyển, mỗi năm cung cấp ra thị trường
trong nước và quốc tế hơn 6 triệu tấn
than. Nếu tính trung bình để có 1 tấn than
phải bốc xúc từ 6-8m3 đất đá và thải
ra từ 1-3m3 nước thải. Như vậy mỗi năm
hoạt động khai thác than ở đây đã thải
ra hàng chục triệu m3 đất đá thải và nước
thải. Theo đánh giá của Phòng Tài nguyên và
Môi trường thành phố, hầu như tất cả các
thông số về môi trường như tiếng ồn,
bụi trong không khí đều vượt quá mức độ
cho phép. Riêng tại các khu vực sản xuất,
nồng độ bụi và các khí độc hại vượt
mức cho phép rất cao từ 4-5 lần. Bên
cạnh đó công tác quy hoạch đô thị của
thành phố còn nhiều bất cập, yếu kém,
áp lực của việc gia tăng dân số nhanh kéo
theo vấn đề tăng nguồn nước thải,
chất thải. Vấn đề xử lý chất thải
sinh hoạt và chất thải công nghiệp, xây
dựng, y tế cũng đang gây sức ép về ô
nhiễm môi trường.
|
Hiện,
ước tính tổng lượng rác thải sinh hoạt thu gom
của thành phố khoảng 50.000 tấn/năm. Trong khi đó
năng lực thu gom, xử lý, chôn lấp rác thải chỉ
đạt khoảng 70% lượng rác phát sinh. Ngoài ra,
việc đổ đất lấn biển của các cơ quan doanh
nghiệp trong hoạt động vận tải thủy, cảng
biển và nuôi trồng thủy sản cũng gây ô nhiễm
nguồn nước. Đáng buồn là hầu hết những
hoạt đông gây ô nhiễm môi trường này đều do
sự quản lý yếu, thiếu quy hoạch và thậm chí
cả sự cố tình của các cấp chính quyền và các
cơ quan chức năng của địa phương.
Do
quản lý thiếu chặt chẽ và còn nhiều bất cập
trong việc cấp phép, thiếu bản đồ hiện trạng
khu đổ chất thải nên nhiều dự án đổ chất
thải khai thác mỏ chồng lấn lên nhau dẫn tới tình
trạng bồi lắng trầm
tích ra biển,
gây ô nhiễm nghiêm trọng cho vịnh Hạ Long và khu
vực Cửa Lục. Hiện chỉ có khu du lịch Bãi Cháy
có một trạm xử lý nước thải với công suất
2.500m3/ngày, đêm. Do vậy khu vực Di sản thiên nhiên
thế giới Vịnh Hạ Long như một cái túi khổng
lồ chứa đựng phần lớn các chất thải từ các
hoạt động sản xuất và sinh hoạt ven bờ.
Để
giải quyết những bất cập giữa phát triển kinh
tế và bảo vệ môi trường, Thành ủy, HĐND TP.
Hạ Long đã có “chủ trương tăng cường công tác
quản lý bảo vệ môi trường đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2020”. Tập đoàn than Việt
Nam cũng đã xác định chiến lược chủ động
bảo vệ môi trường, đặc biệt là khu vực
nhạy cảm là TP. Hạ Long. Tập đoàn than còn đề
nghị Chính phủ cho phép hàng năm dành 1% tổng chi
phí giá thành sản xuất để xây dựng quỹ bảo
vệ môi trường. Ngoài ra, từ năm 2006, Than Việt
Nam còn thu phí 6000đồng/tấn để đưa vào ngân sách
địa phương dùng vào mục đích phục hồi môi trường.
Xây dựng, hoàn thành các công trình xử lý chất
thải, nước thải ở các đơn vị đang gây ô
nhiễm cao, xây dựng hệ thống thu gom, xử lý rác
thải và tăng cường giáo dục nâng cao ý thức
bảo vệ môi trường trong dân... Tuy nhiên, nhìn
một cách tổng thể thì chỉ như muối bỏ bể
khi thực sự môi trường ở thành phố đang đến
hồi báo động. Đừng để các biện pháp nằm im
trên giấy.
Công
Lý
(Theo MonreNet)
|
|
Sóc
Trăng: Rừng ngập mặn đang hồi sinh
|
|
|
|
|
|
Rừng
ngập mặn
|
|
Sóc Trăng ở hạ lưu sông Hậu, có ba nhánh sông
lớn đổ ra biển đông: Định An, Trần Đề,
Mỹ Thanh, có 72 km bờ biển. Mỗi năm lượng
phù sa từ các nhánh sông đổ ra biển rất
lớn, bồi đắp các bãi bồi ven biển,
tạo điều kiện thuận lợi môi trường lý
tưởng cho các loài thủy sản đặc hữu cư
trú, sinh sôi nảy nở và cây rừng ngập
mặn ven biển phát triển mạnh.
|
Rừng ngập mặn ven biển ở Sóc Trăng, tập
trung nhiều ở ba huyện: Cù Lao Dung, Long Phú, Vĩnh
Châu, có tác dụng điều hòa khí hậu, chống sói
mòn, hạn chế thiên tai, lũ lụt, bảo vệ bờ
biển, mở rộng diện tích đất liền, hạn chế
sự xâm nhập của nước mặn, bảo vệ đê điều
trước sự tàn phá của gió mùa, triều cường, sóng
thần... với cây đặc thù chủ yếu là bần,
mắm, sú vẹt, đước. Quả thật, thiên nhiên
thật hào phóng, hệ sinh thái rừng ngập mặn ven
biển dâng tặng cho con người biết bao tài nguyên
quý, gắn liền với môi sinh cho mọi động vật,
tạo điều kiện cho các loài thủy sản ven bờ phát
triển, xuất hiện hai bãi sò huyết và nghêu ở nông
trường 30/4 (Cù Lao Dung), Bãi Giá (xã trung Bình,
huyện Long Phú), cua biển giống ở Vĩnh Hải (huyện
Vĩnh Châu) với mật độ khá dầy. Ngoài ra, tại
rừng ngập mặn ven biển Sóc Trăng còn có nhiều
loại động vật đặc hữu của rừng ngập mặn
như dơi, quạ, khỉ, chim cú mèo...
Những năm đầu thập niên 90 của thế kỷ 20,
tỉnh Sóc Trăng có hơn 10.000 ha rừng ngập mặn,
do phong trào nuôi tôm sú, nhiều tổ chức, các nhân
trong và ngoài tỉnh đã khai phá ồ ạt, mở rộng
diện tích nuôi tôm, nuôi cua... cung với diễn
biến khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, gây bất
lợi cho sản xuất ảnh hưởng đến cuộc sống
của người dân sống ven rừng, nên tình trạng phá
rừng lấy cây, gỗ, làm than diễn ra thường xuyên,
làm biến đổi hoàn toàn môi trường sinh thái,
cảnh quan thiên nhiên rừng ngập mặn ven biển đã
bị biến dạng hoàn toàn, chỉ còn hơn 50% diện tích
trong một thời gian ngắn. Năm 2000, ủy ban nhân dân
tỉnh Sóc Trăng có chủ trương giao đất rừng
ngập mặn ven biển cho các cá nhân, tổ chức để
phát triển và đi vào sản xuất. Sau gần năm năm
diện tích trồng lại trên 4.000 ha, số cây con đạt
tỷ lệ sống khá cao, bảo đảm thành rừng phát
triển tốt đã phát huy tác dụng cố định và
mở rộng diện tích bãi bồi. Tại cửa biển Định
An (Cù Lao Dung), Trần Đề (Long Phú), rừng bần,
rừng mắm, càng thêm dầy đặc, do nhiều cây
bần, mắm được tái sinh tự nhiên và bộ đội
biên phòng, kiểm lâm, nhân dân trồng lại, tương
tự như trên rừng cây sú vẹt đang sinh sôi, phát
triển mạnh ở Vĩnh Hải, Mỏ ó (Vĩnh Châu) đang
chen nhau phát triển xanh tốt lấn áp cả cây đước.
Đáng mừng hơn cả, không những rừng ngập
mặn ven biển Sóc Trăng đang phát triển, mà hệ
sinh thái ngập mặn đang khôi phục dần. Hiện
tại xuất hiện nhiều động vật, thủy sản đặc
hữu rừng ngập mặn ven biển như ở dưới bãi
bồi có rất nhiều tôm, cua, cá chẻm, cá ngát, cá
bống sao, cá kèo giống, đặc biệt có nhiều bào
nghêu, sò huyết giống đã hình thành tập trung. Còn
trên cây có nhiều đàn dơi quạ với số lượng
hàng chục nghìn con, ong mật, đang hình thành bốn
vườn chim với mật độ cả vạn con/ đàn...
Việc Sóc Trăng có chính sách hỗ trợ cho những
hộ nhận đất, khoán rừng đã làm cho người dân
thấy rõ tầm quan trọng đặc biệt của rừng
ngập mặn ven biển, tạo điều kiện thuận lợi
cho rừng phát triển, tăng diện tích.
Phương Nghi – báo GD&TĐ
|
|
Môi
trường nuôi tôm sẽ không còn bị ô nhiễm
|
|
|
|
Do
hậu quả của việc phát triển nuôi tôm tự phát
và ảnh hưởng đợt mưa lũ, môi trường nuôi tôm
trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận bị ô nhiễm nghiêm
trọng. Tuy nhiên “cái khó ló cái khôn”, một
số xã trong tỉnh như Phước Dinh, Phước Diêm, Nhơn
Hải, Đầm Nại đã triển khai nuôi tôm hùm, vẹm
xanh... trên diện tích hiện có và chuyển đổi
một phần diện tích nuôi tôm bị ô nhiễm sang nuôi
trồng rong sụn, nghề trồng rong sụn còn tạo thêm
việc làm cho 900 gia đình.
Những
cơ sở có điều kiện về vốn, kỹ thuật sẽ
tiếp tục được sản xuất để tránh thiệt
hại về kinh tế gia đình và ảnh hưởng xấu cho
môi trường sản xuất tôm sú giống của tỉnh.
Tỉnh cũng thực hiện chính sách thu hút các thành
phần kinh tế đầu tư cơ sở nuôi trồng thủy
sản, nuôi tôm thâm canh tại các vùng dự án An
Hải, Sơn Hải; xây dựng các trạm quan trắc môi
trường cảnh báo nguồn nước tại các vùng nuôi
tôm tập trung.
M.Đ
|
|
Cấp
bách xử lý ô nhiễm môi trường sông Nhuệ - sông
Đáy
|
|
|
|
Trước
tình hình ô nhiễm môi trường nghiêm trọng sông
Nhuệ, sông Đáy tại tỉnh Hà Nam, sáng 23/12
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái
Trực và Thứ trưởng thường trực Phạm Khôi Nguyên đã
có buổi làm việc với lãnh đạo các tỉnh Hà Nam,
Hà Tây và thành phố Hà Nội để thống nhất
các biện pháp cấp bách xử lý tình hình ô nhiễm
môi trường tại lưu vực 2 con sông này. Sau khi
thống nhất các ý kiến với các địa phương, Bộ
trưởng Mai Ái Trực yêu cầu UBND TP HN và UBND các
tỉnh Hà Nam, Hà Tây khẩn trương thực hiện một
số biện pháp nhằm khắc phục tình trạng ô
nhiễm môi trường sông Nhuệ, sông Đáy.
Theo
đó, Bộ trưởng đưa ra các biện pháp cấp bách yêu
cầu UBND tỉnh Hà Tây chỉ đạo, đóng hai cống La
Khê và Vân Đình không cho nước chảy vào sông Đáy
đồng thời tận dụng tối đa thời gian để mở
cống Liên Mạc lấy nước sông Hồng cấp cho sông
Nhuệ; UBND TP HN chỉ đạo, đóng đập Thanh Liệt,
vận hành trạm bơm Yên Sở để thoát nước thải
ra sông Hồng; UBND TP HN chủ trì, phối hợp với
UBND các tỉnh trong lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy
khẩn trương hoàn thành đề án tổng thể bảo vệ
môi trường sông Nhuệ, sông Đáy trình Thủ tướng
Chính phủ phê duyệt; UBND tỉnh Hà Tây chủ trì,
phối hợp với UBND tỉnh Hà Nam và UBND TP HN xây
dựng quy trình vận hành hệ thông cấp nước, thoát
nước, tưới tiêu sông Nhuệ, sông Đáy theo đề
xuất của UBND tỉnh Hà Nam, đảm bảo yêu cầu về
môi trường, hoàn thành và đưa quy trình vào vận hành
trước ngày 10/1/2006; giao Cục BVMT phối hợp với các
địa phương kiểm tra tiến độ thực hiện các
biện pháp nêu trên.
Bộ trưởng Mai Ái Trực cũng đề cập đến
một số biện pháp lâu dài như: UBND TP HN, UBND các
tỉnh Hà Tây và Hà Nam kiểm tra ráo riết các cơ
sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, có
biện pháp kiên quyết và ấn định thời gian xử lý
để chấm dứt tình trạng ô nhiễm môi trường không
để kéo dài; UBND TP HN, UBND các tỉnh Hà Nam và Hà
Tây đẩy nhanh tiến độ phê duyệt và thực hiện
các dự án môi trường để nhanh chóng khắc phục
tình trạng ô nhiễm môi trường lưu vực sông
Nhuệ, sông Đáy. Bộ TN&MT sẽ báo cáo Thủ tướng
Chính phủ có chủ trương đầu tư dự án tổng
thể bảo vệ, cải thiện môi trường sông Nhuệ, sông
Đáy; giao Cục BVMT phối hợp với các tỉnh, thành
phố tiến hành kiểm tra, lập danh sách các cơ sở
gây ô nhiễm môi trường, có các hình thức công
bố công khai thông tin, tạo áp lực của công luận
đối với hành vi thiếu trách nhiệm gây ô nhiễm môi
trường; giao Cục Quản lý tài nguyên nước, Cục
BVMT đánh giá khả năng chịu tải của hệ thống sông
Nhuệ, sông Đáy và nghiên cứu xây dựng tiêu
chuẩn phát thải, dòng chảy môi trường để làm cơ
sở cho công tác quản lý.
Trong quá trình triển khai thực hiện nếu có
khó khăn, vướng mắc đề nghị phản ánh kịp
thời với Bộ TN&MT để phối hợp giải quyết.
P.V(Theo MonreNet)
|
|
Việt
Nam đặt mục tiêu quản lý được 70% các nguồn
thải
|
|
|
|
|
|
Thủ tướng Chính phủ vừa ký Quyết định số
328/2005/QĐ - TTg phê duyệt Kế hoạch quốc gia
kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2010
với mục tiêu quản lý được 70% các nguồn
thải, loại chất thải và lượng chất thải
nói chung trên phạm vi toàn quốc. Theo đó, Chính
phủ đặt mục tiêu điều tra, thống kê, xử
lý và quản lý 70% các nguồn thải, loại
chất thải và lượng chất thải nói chung trên
phạm vi toàn quốc.
|
Về
xử lý chất thải, 90% tổng lượng chất thải
rắn phát sinh tại các đô thị và khu công nghiệp
được thu gom, vận chuyển và xử lý . 10%
chất thải rắn y tế nguy hại và trên 60% chất
thải nguy hại công nghiệp được xử lý bằng công
nghệ phù hợp.
Kế hoạch cũng đặt ra mục tiêu kiểm soát được
cơ bản tình hình ô nhiễm môi trường ở một số
lĩnh vực thường xuyên xảy ra ô nhiễm trong các ngành hoá
chất; dệt, nhuộm, giày da, giấy, chế biến
thực phẩm; các vùng có chất độc hoá học do
Mỹ sử dụng trong chiến tranh...
Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường
cũng nêu rõ, sẽ thể chế hoá và thực thi có
hiệu quả các điều ước quốc tế liên quan đến
kiểm soát ô nhiễm môi trường mà Việt Nam đã ký
kết hoặc gia nhập.
(Theo
VietnamNet )
|
|
Luật
Bảo vệ môi trường 2005: Nhiều chế tài mạnh hơn
|
|
|
|
Đẩy mạnh công tác xã hội hoá hoạt động môi
trường nhưng cũng đồng thời cho phép sử
dụng nhiều biện pháp, công cụ, chế tài
mạnh hơn, có tính răn đe cao hơn là tinh
thần nổi bật của Luật Bảo vệ Môi trường
(năm 2005) vừa được Quốc Hội khoá XI,
kỳ họp thứ 8 thông qua và sẽ có hiệu
lực từ 1/7/2006.
Luật Bảo vệ Môi trường 2005 có nhiều điểm
mới. Trong Luật 2005 quy định có hệ thống
các hoạt động bảo vệ môi trường, chính
sách, biện pháp và nguồn lực cho bảo vệ môi
trường; quyền và nghĩa vụ bảo vệ môi trường
của các tổ chức, cá nhân. Luật 2005 cũng
đã giảm thiểu các quy phạm giao cho Chính
phủ quy định chi tiết hoặc hướng dẫn.
Trong Luật 2005, quyền, nghĩa vụ, trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức, DN, cộng
đồng, hộ gia đình, cá nhân cũng như trách
nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước, các
cấp chính quyền và việc phân cấp quản lý
trong lĩnh vực môi trường đã rõ ràng hơn.
Luật 2005 cũng cho phép áp dụng nhiều công
cụ, biện pháp chế tài mạnh, đồng bộ, có
tính răn đe cao hơn như: áp dụng tiêu chuẩn
môi trường, sử dụng các công cụ kinh tế,
thanh tra, kiểm tra bảo vệ môi trường...
Trách nhiệm DN cao hơn
Trong quá trình đầu tư, hoạt động, DN tuỳ
thuộc vào quy mô và tính chất của Dự án mà
phải thực hiện việc lập Báo cáo đánh giá
tác động môi trường hoặc chỉ cần lập
bản cam kết bảo vệ môi trường. DN phải
lập Báo cáo đánh giá tác động môi trường
là chủ các dự án (DA): DA công trình quan
trọng quốc gia; DA có sử dụng một phần
diện tích đất hoặc có ảnh hưởng xấu đến
khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia, các
khu di tích lịch sử - văn hoá, di sản tự
nhiên, danh lam thắng cảnh đã được xếp
hạng; DA có nguy cơ ảnh hưởng xấu đến
nguồn nước lưu vực sông, vùng ven biển, vùng
có hệ sinh thái được bảo vệ; DA xây
dựng kết cấu hạ tầng khu kinh tế, khu công
nghiệp, khu công nghệ cao, khu chế xuất,
cụm làng nghề; DA xây dựng mới khu đô
thị, khu dân cư tập trung; DA khai thác, sử
dụng nước dưới đất, tài nguyên thiên nhiên
quy mô lớn...
Đối với các cơ sở vi phạm các quy định về
bảo vệ môi trường, các hình thức xử lý
được áp dụng tuỳ theo vi phạm thực tế là:
phạt tiền và buộc thực hiện biện pháp
giảm thiểu, xử lý chất thải đạt tiêu
chuẩn môi trường; Tạm thời đình chỉ
hoạt động cho đến khi thực hiện xong
biện pháp bảo vệ môi trường cần thiết;
xử lý theo các quy định về xử phạt hành
chính. Trường hợp có thiệt hại về tính
mạng, sức khoẻ con người... do hậu quả
của việc gây ô nhiễm môi trường thì
phải bồi thường thiệt hại hoặc bị xử
lý về hình sự. Đối với DN khi vi phạm thì
ngoài việc phải chịu các hình thức xử
phạt như trên còn bị xử lý bằng một
trong các biện pháp sau: buộc thực hiện các
biện pháp khắc phục ô nhiễm, phục hồi môi
trường; buộc di dời cơ sở đến vị trí
xa khu dân cư và phù hợp với mức chịu
tải của môi trường; cấm mọi hoạt động
của DN vi phạm.
Cụ thể và công khai
Rạch ròi trong quy định, Luật 2005 đã phân chia tương
đối cụ thể các quy định về bảo vệ môi
trường đối với từng ngành, từng lĩnh
vực (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông
vận tải, xây dựng, NK phế liệu...); từng
địa bàn cụ thể (đô thị, khu dân cư tập
trung, nơi công cộng, khu sản xuất kinh doanh,
dịch vụ tập trung, cơ sở sản xuất, kinh
doanh, dịch vụ, công trình thuỷ lợi...).
Cụ thể hơn, luật quy định trách nhiệm phân
loại từ nguồn của từng đối tượng trong
việc thu gom chất thải rắn thông thường,
chất thải nguy hại; trách nhiệm xử lý nước
thải, khí thải trước khi đưa vào hệ
thống thải công cộng... hoặc các quy định
về xử lý tiếng ồn, độ rung...
Nhằm nâng cao tính công khai của các hoạt động
bảo vệ môi trường, luật quy định quyết
định xử lý đối với cơ sở gây ô nhiễm
môi trường, gây ô nhiễm môi trường nghiêm
trọng phải được thông báo cho UBND cấp
huyện, xã nơi có cơ sở gây ô nhiễm môi trường
và công khai cho nhân dân biết để kiểm tra,
giám sát.
Với các quy định chi tiết, bao quát và có tính
khả thi cao, giới chuyên môn nhận định
rằng Luật Bảo vệ Môi trường 2005 là cơ
sở pháp lý vững vàng thúc đẩy mạnh các
hoạt động bảo vệ môi trường, đáp ứng
yêu cầu phát triển và hội nhập.
|
|
Nguyễn Đào
– DĐDN (Theo MonreNet)
|
|
|
|
 |
 |

|
|