




 |
MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(5/2006)
14
đối tác giúp VN về nước sạch và nông thôn
Đã có thiết bị xử lý nước thải cho các làng nghề
Thành
phố sinh thái đầu tiên trên thế giới
VN
là một trong 10 nước trồng rừng nhiều nhất thế
giới
Bắc Kạn: Tài nguyên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên xã
Kim Hỷ đang bị xâm phạm
Cần tăng cường xử lý ô nhiễm môi trường tại làng
nghề
TP.HCM:
KCN-KCX không có hệ thống xử lý nước thải có
thể bị đóng cửa
Đông
Nam Á, TQ có mức độ ô nhiễm cao nhất thế giới
Nguy cơ thiếu nước và nước
ô nhiễm: Ngày càng trầm trọng
|
14 đối
tác giúp VN về nước sạch và nông thôn
|
|
|
|
(VietNamNet)
- Bộ NN-PTNT, các nhà tài trợ và các tổ chức phi
chính phủ hôm 15/5 đã cùng ký kết Bản ghi nhớ thành
lập Quan hệ Đối tác Cấp nước và Vệ sinh Nông
thôn. Đồng thời, thành lập Văn phòng điều phối
trực thuộc Bộ NN-PTNT.
|
|
|
14
đối tác là các tổ chức quốc tế, tổ
chức phi chính phủ đã tham gia lễ ký kết.
Ảnh H.Y.
|
Bộ trưởng NN-PTNT Cao Đức Phát và các đại sứ,
trưởng đại diện của các tổ chức quốc tế
tại Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Chương
trình Nước sạch và Vệ sinh Khu vực Đông Á Thái
Bình Dương, UNICEF Việt Nam, Ngân hàng Phát triển châu
Á, đại sứ quán các nước Australia, Đan Mạch,
Thụy Điển, Hà Lan... đã tham gia ký kết bản ghi
nhớ này.
Quan hệ Đối tác Cấp nước và Vệ sinh Nông thôn
sẽ đi vào hoạt động từ 5/2006, tập trung vào
hỗ trợ hoạt động đối thoại chính sách, chia
sẻ thông tin, nghiên cứu ở các cấp địa phương,
quốc gia và vùng. Đồng thời, quan hệ đối tác cũng
hỗ trợ thực hiện các sáng kiến ngành đã được
thống nhất trong Khung chương trình đối tác cũng
như thúc đẩy quá trình tiếp cận ngành thông qua
quỹ ủy thác chung.
Ông Klaus Rohland, Giám đốc WB tại Việt Nam, nói
rằng, mục tiêu của Quan hệ đối tác là góp
phần xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho người dân nông
thôn và bảo vệ môi trường thông qua việc triển
khai hiệu quả hơn Chiến lược Quốc gia về Cấp nước
và Vệ sinh nông thôn, cũng như các chiến lược và
chính sách liên quan khác của Chính phủ.
Quan hệ đối tác ra đời góp phần tăng cường
hiệu quả sử dụng nguồn lực trong ngành cấp nước
và vệ sinh nông thôn thông qua việc xây dựng một
cơ chế phối hợpp để điều phối và hài hòa
hỗ trợ cho các chính sách chương trình môi trường
quốc gia về cấp nước, vệ sinh nông thôn và các
chương trình khác.
Theo bà Jesper Morch, Trưởng đại diện UNICEF tại
Việt Nam, hiện thế giới có trên 1 tỷ người không
có nước sạch để dùng và 2,6 tỷ người không
được sử dụng các chương trình vệ sinh.
Còn tại Việt Nam, tài nguyên nước chỉ có hạn và
hiện đang chịu một sức ép nghiêm trọng trước tình
trạng ô nhiễm và sử dụng nước quá mức cho phép
diễn ra tràn lan.
Đây là hậu quả tổng hợp của các yếu tố như
sự bùng phát về dân số, các hoạt động kinh tế
gia tăng và công tác quản lý chưa thoả đáng. Ngoài
ra, mức chênh lệch về khả năng tiếp cận với nước
giữa các tỉnh/thành đã trở nên rõ rệt hơn. Tỷ
lệ hộ được tiếp cận với nước sạch ở khu
vực thành thị là 78%, trong khi đó tỷ lệ này ở
khu vực nông thôn chỉ có 44%.
Thách thức hiện nay là hết sức to lớn khi Việt
Nam đặt ra mục tiêu cung cấp 85% nhu cầu tổng
thể về nước sạch vào năm 2010 và 100% vào năm
2020.
(Theo
Vietnamnet)
|
|
|
Đã
có thiết bị xử lý nước thải cho các làng nghề
|
|
|
|
|
|
|
|
Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên -
Hà Nội vừa chế tạo thành công thiết bị
xử lý nước thải đa năng chuyên dùng cho các làng
nghề...
Làng
nghề nước ta bao gồm năm loại hình chính là dệt
- nhuộm - giấy, chế biến thực phẩm, kim loại,
hỗn hợp, hầu hết đều đang rơi vào tình trạng
ô nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng.
Ô nhiễm đã ở mức "đỏ"
|
|
|
Nước thải xả ra một con đập ở Hà Nội
(Ảnh: CAND)
|
Theo thống kê, hiện cả nước có 1.450 làng nghề,
trong đó có hơn 300 làng nghề truyền thống. Trên thực
tế hầu hết các cơ sở sản xuất nhỏ của làng
nghề vẫn nằm xen lẫn khu dân cư hoặc tập trung
thành cụm, nhưng không có ranh giới rõ rệt giữa
khu sản xuất và khu sinh hoạt tại cơ sở, công
nghệ thì lạc hậu, thủ công, thiết bị cũ chắp
vá, thiếu đồng bộ. Từ các tồn tại trên dẫn
đến năng suất, chất lượng sản phẩm rất yếu
kém, đặc biệt do các cơ sở sản xuất còn hoạt
động theo hướng phân tán, tự phát, quy mô nhỏ đã
dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức quản lý
chất thải (xử lý thu gom) để giảm thiểu ô
nhiễm môi trường...
Hiện trạng môi trường chủ yếu đang diễn ra dưới
dạng ô nhiễm tập trung trên phạm vi một khu vực
(thôn, xã). Khu vực này tập hợp nhiều hình thái
ô nhiễm dạng điểm (cơ sở sản xuất nhỏ) ảnh
hưởng trực tiếp không gian liền kề là khu sinh
hoạt dân cư.
Theo kết quả điều tra, khảo sát mới đây nhất mà
Bộ Khoa học - Công nghệ công bố cho thấy 100%
mẫu nước thải, thậm chí cả nước mặt, nước
ngầm ở các làng nghề đều vượt các tiêu chuẩn
cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính
cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là
ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép và ô
nhiễm do sử dụng nhiên liệu là than, củi. Hầu
hết điều kiện lao động ở các làng nghề đều
không đạt tiêu chuẩn như độ ồn, ánh sáng, độ
rung, độ ẩm, nhiệt độ cao. Tỷ lệ người dân làng
nghề mắc bệnh cao hơn ở các làng thuần nông, thường
gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt,
bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Tại một số làng
nghề đặc thù, xuất hiện các bệnh nguy hiểm như
ung thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng.
Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang
bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa cây trồng bị
giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng
nghề.
Thiết bị xử lý hữu hiệu
Trước thực trạng này, các nhà khoa học thuộc Bộ
môn Công nghệ hóa học, Khoa Hóa học (Trường Đại
học Khoa học Tự nhiên) đã nghiên cứu ra một hệ
thống xử lý nước thải đa năng có tính đồng
bộ.
PGS-TS. Trần Hồng Côn - Chủ nhiệm đề tài cho
biết: "Trước mắt, hầu hết các làng nghề đều
chưa có hệ thống xử lý nước thải, điều này
ảnh hưởng rất lớn đến các nguồn nước khác,
tạo ra các chất độc mới có trong nước".
Thiết bị xử lý này thực chất là việc sử dụng
các chất keo tụ, trợ keo tụ, các chất hấp thụ
(tự chế tạo) để tiến hành xử lý sơ cấp
nhằm loại bỏ tất cả các chất lơ lửng, cặn,
bụi... xuống còn dưới 50%. Sau đó, hệ thống
tiếp tục hoạt động để xử lý thứ cấp bằng
bùn hoạt tính hoặc lọc sinh học kết hợp các
chất phụ gia, bước này có thể xử lý được 30%
lượng chất độc hại có trong nước. Bước tiếp
theo, nước thải sẽ được xử lý bằng AOB (ô xy
hóa tăng cường), biện pháp này cho phép xử lý
tới 90% các hợp chất độc hại. Nếu muốn xử lý
tái sinh, có thể xử lý thêm khâu hấp phụ nước
để loại bỏ hoàn toàn các chất thải, nước sẽ
đạt tiêu chuẩn loại A.
Thiết bị xử lý nước thải đa năng ở làng nghề
nói trên có thể áp dụng cho nhiều loại đối tượng
như nước thải dệt, nhuộm, làm giấy, công
nghiệp thực phẩm, nước thải sinh hoạt với quy mô
xử lý từ 5 đến 1.500m3/ngày đêm; giá thành xử lý
rẻ (1.200 - 3.500 đồng/m3 nước thải).
PGS-TS. Trần Hồng Côn cho biết: "Hiện hệ
thống trên đã được lắp đặt và vận hành tại
làng nghề dệt - nhuộm Vạn Phúc - Hà Đông, Hà Tây)
từ tháng 4 năm nay và cho kết quả khá tốt. Trên
thực tế, các bể xử lý này có thể xây bằng
gạch cũng được. Với quy mô và kiểu xây dựng này,
chúng tôi có thể tiến hành xây cho cả quy mô gia
đình hoặc một cụm sản xuất nhỏ cũng được".
Tuy nhiên hiện có một khó khăn trong việc áp dụng
thiết bị này cho các làng nghề là do các cơ
sở còn nằm rải rác, không tập trung, nên phạm vi
xử lý chưa rộng.
Theo khẳng định của PGS-TS. Trần Hồng Côn, theo
kế hoạch ngay sau khi kết thúc việc xử lý nước
thải ở Vạn Phúc, thiết bị trên sẽ được đưa
tới chạy thử nghiệm ở làng nghề sản xuất
giấy Phong Khê (Bắc Ninh). Và đến năm 2010, hệ
thống thiết bị trên sẽ được đưa vào sử
dụng cho tất cả các làng nghề trong cả nước, hướng
tới một môi trường làng nghệ trong sạch, bền
vững.
(Theo Nông thôn Ngày nay)
|
|
|
Thành
phố sinh thái đầu tiên trên thế giới
|
|
|
Mô
hình ảo thành phố DongTan. (SGGP)
|
Từ
nay đến năm 2020, Trung Quốc sẽ xây dựng thêm 400
thành phố mới, trong số đó có đô thị thử
nghiệm DongTan - “thành phố sinh thái” đầu tiên
trên thế giới.
DongTan
sẽ mọc lên từ vùng đầm lầy hoang vu, nằm ở
cực Bắc Chongming, hòn đảo lớn thứ 3 của Trung
Quốc, phía cửa sông Dương Tử. Tại đây, không
một tòa nhà nào cao quá 8 tầng, các mái nhà đều
phủ cỏ và cây xanh để cách nhiệt và tái tạo nước.
Thành phố dành cho mỗi người đi bộ không gian
lớn gấp sáu lần ở Copenhagen (Đan Mạch) - một
trong những thành phố thoáng khí nhất châu Âu. Các
xe buýt sạch chạy bằng pin nhiên liệu nối liền các
khu phố.
Xe môtô truyền thống bị cấm, người dân đi lại
bằng xe đạp và xe tay ga chạy điện. Các con đường
đã được vạch ra theo cách khiến người ta đến
nơi làm việc bằng xe đạp và đi bộ còn nhanh hơn
đi ô tô.
Đến
80% rác thải rắn được tái tạo. Được đốt cháy
trong một nhà máy nhiệt điện, các chất thải
hữu cơ sẽ sản sinh một phần điện cho thành
phố. Trấu, nguồn nhiên liệu sinh nhiệt cao, luôn
sẵn có ở Trung Quốc, cũng được đốt ở đấy.
Xa hơn, các động cơ gió khổng lồ với sức đẩy
của gió biển cũng sản xuất ra điện. Mỗi tòa nhà
đều có động cơ gió, cỡ nhỏ và các panô pin
quang điện riêng.
Dự
án đã được giao từ 7 năm nay cho Tổng công ty Đầu
tư Công nghiệp Thượng Hải (SIIC). Về thiết kế
thành phố DongTan, SIIC đã nhờ một đại gia về tư
vấn kỹ thuật của Anh là Arup, công ty đã làm
việc 20 năm nay ở Trung Quốc, từng tham gia vào dự
án kiến trúc của Thế Vận hội Bắc Kinh 2008.
Bằng chứng về tầm quan trọng chính trị của dự
án DongTan là bản hợp đồng đã được ký kết
với sự hiện diện của Thủ tướng Anh Tony Blair và
Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.
Dự
kiến DongTan sẽ được xây dựng trong vòng 4 năm.
(Theo SGGP)
|
VN
là một trong 10 nước trồng rừng nhiều nhất thế
giới
Hà
Nội (TTXVN)
- Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp
Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam là một trong số 10 nước
có diện tích trồng rừng lớn nhất trên thế giới.
Số liệu
thống kê của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
cho biết Việt Nam hiện có khoảng 12,3 triệu hécta
rừng, trong đó có 10 triệu hécta rừng tự nhiên. Với
dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2005,
Việt Nam đã nâng độ che phủ rừng lên 36,7%, tăng 3,5 %
so với năm 1999.
Trong nhóm
10 quốc gia nói trên, ngoài Việt Nam còn có 5 nước châu
Á khác là Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêxia và
Trung Quốc.
Báo cáo
của FAO cũng cho biết khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang
dẫn đầu thế giới về tốc độ trồng cây gây rừng.
Những thành quả trồng rừng trong 5 năm qua của khu vực
này đã làm tăng diện tích che phủ rừng và đang dần bù
lại một phần diện tích rừng tự nhiên bị tàn phá
cuối thế kỷ 20.
Từ năm
2000 đến 2005, châu Á-Thái Bình Dương đã trồng lại
được 0,56 triệu hécta rừng mỗi năm, góp phần bù
lại 0,92 triệu hécta rừng tự nhiên bị mất mỗi năm
hồi cuối thế kỷ trước.
FAO cũng
đánh giá cao nỗ lực của các nước châu Á-Thái Bình Dương
trong việc cải cách các điều luật liên quan tới
rừng, đặc biệt là chính sách giao đất rừng và rừng
cho các hộ gia đình và các tổ chức xã hội. Những
nỗ lực này đã khẳng định những cam kết chính trị
của các nước trong khu vực đối với quá trình bảo
vệ và phát triển rừng bền vững.
Tuy nhiên,
FAO cũng cảnh báo diện tích rừng tính trên đầu người
của khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn tiếp tục
giảm và cho đến năm 2005 chỉ còn chưa đầy 0,2 hécta
rừng trên một đầu người, chủ yếu do nạn phá rừng
lấy đất phát triển nông nghiệp, đặc biệt ở các nước
Đông Á.
Tốc độ
phá rừng tự nhiên lên tới 0,8 triệu hécta/năm đã
khiến số lượng nhiều loài động, thực vật giảm
mạnh, làm gia tăng số lượng các loài động thực vật
có hại cho rừng và nông nghiệp, đồng thời gây bệnh
cho con người. Thiệt hại này ước tính lên tới hàng
trăm tỷ USD đối với toàn khu vực trong 5 năm qua./.
(TTX
Việt Nam)
|
Bắc
Kạn: Tài nguyên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên xã
Kim Hỷ đang bị xâm phạm
|
|
|
|
|
Hơn
1 tháng qua, trong Khu Bảo tồn thiên nhiên xã
Kim Hỷ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã
xuất hiện trên 50 người với 10 chiếc máy
nổ để bơm nước phục vụ khai thác vàng
và khai thác gỗ trong lòng khu bảo tồn, nơi
giáp ranh với thôn Kim Vân.
Khu
Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ rộng hơn
18.000 ha, được Nhà nước công nhận là
khu bảo tồn thiên nhiên từ năm 1998. Kể
từ khi được công nhận là khu bảo tồn
thiên nhiên đã hơn 7 năm, nhưng núi rừng
Kim Hỷ do địa hình đi lại kho khăn, khu
bảo tồn lại trải rộng trên địa bàn
nhiều xã, núi cao và nhiều hang động,
trong lòng núi có các mạch vàng sa khoáng, các
hang động khai thác vàng từ xa xưa còn để
lại khá nhiều và trong rừng có nhiều hang
động tự nhiên, đã biến nơi đây luôn
hấp dẫn đối với những tên "vàng
tặc", nên mỗi khi các cơ quan chức năng
tiến hành kiểm tra, khu bảo tồn chỉ yên
vắng được ít ngày, sau dó chúng lại kéo
đến lén lút khai thác vàng.
|
Điều
đáng ngại hơn cả là ngoài khai thác vàng trái phép,
đầu năm 2006, những cây gỗ quí như đinh,
nghiến, lát trong khu bảo tồn đang là mục tiêu
của những tên "vàng tặc". Chúng khai thác
gỗ rồi lén lút vận chuyển từng thanh gỗ nhỏ,
hoặc tấm thớt nghiến sau đó đưa ra quốc lộ 3
theo tuyến đường liên xã bằng xe gắn máy. Vừa
qua, các ngành chức năng đã thu giữ 10 m3 gỗ
nghiến khi số gỗ này đang vận chuyển ra khỏi
khu vực bảo tồn.
Âu
Vượng
|
|
|
|
Cần
tăng cường xử lý ô nhiễm môi trường tại làng
nghề
|
|
|
|
|
Theo
PGS-TS Đặng Kim Chi, Viện Khoa học Công
nghệ Môi trường, Đại học Bách khoa Hà
Nội, hiện nay các nhà khoa học đã tìm ra
một số giài pháp công nghệ xử lý ô
nhiễm môi trường các làng nghề như: xử
lý nước thải làng nghề chế biến nông
sản, thực phẩm; xử lý nước thải làng
nghề dệt nhuộm, xử lý nước thải làng
nghề thủ công mỹ nghệ; xử lý nước
thải làng nghề tái chế giấy; xử lý ô
nhiễm tại làng nghề tái chế kim loại.
Theo đó, trước tiên là cần xử lý nước
thải chế biến nông sản, thực phẩm kết
hợp với nước thải chăn nuôi bằng hầm
Biogas tại các hộ gia đình
|
. Nước thải từ các hộ sản xuất sau khi
xử lý sơ bộ tách các tạp chất thô và nước
thải sau khi xử lý bằng hầm Biogas sẽ đi ra
cống thải chung. Trên hệ thống cống chung có
bố trí các hố gas để tiếp tục lắng, tách
tạp chất sau đó nước thải được đưa vào
hệ thống xử lý nước thải chung cho cả làng.
Tại các làng nghề dệt nhuộm, nước thải
sau nấu tẩy và nhuộm là nguyên nhân chủ yếu gây
ô nhiễm môi trường, do đó cần phải xử lý sơ
bộ nước thải từng cơ sở trước khi đưa vào
mương thải của làng nghề đưa đến nơi xử lý
sau cùng. Có ba phương án để áp dụng cho từng
hộ gia đình quy mô nhỏ và áp dụng cho hộ gia đình
quy mô lớn hay áp dụng hệ thống xử lý nước
thải dệt nhuộm có độ màu lớn.
Với những làng nghề chế biến gỗ, thủ công
mỹ nghệ, hệ thống tách bụi bằng xycol (ở máy
cưa) và lọc kết hợp bụi túi vải (ở máy chà
gỗ) là mô hình hợp lý đem lại hiệu quả cao
trong sản xuất và không làm ảnh hưởng tới
sức khỏe của người lao động. Đối với các
mặt hàng sơn mài, do quá trình sản xuất khâu
phun sơn là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí nên
cần phải chọn hệ thống xử lý hơi dung môi
hữu cơ bằng hấp phụ than họat tính.
Đối với các làng nghề tái chế giấy, ô
nhiễm chủ yếu là nước thải, chứa xơ sợi,
bột giấy trong nước thải. Do đó xử lý thu
hồi xơ sợi bằng bể lắng kết hợp lọc túi
hoặc kết hợp tuyển nổi và lắng. Xơ sợi và
bột giấy thu được có thể sử dụng để sản
xuất giấy chất lượng thấp (giấy báo giòn, bìa
carton...). Nước thải quá trình sản xuất giấy còn
có thể xử lý bằng hồ sinh học hiếu khí kết
hợp làm thoáng khí nhân tạo, phương pháp hấp
thụ bằng bentonite; phương pháp xử lý hiếu khí
bằng bể Acroten.
Nguồn phát thải tại làng nghề tái chế kim
loại chủ yếu bao gồm khí thải của các lò
nấu luyện kim loại. Xyclo khử mùi có thể áp
dụng ở làng nghề tái chế sắt thép, đối với
các làng nghề đúc nhôm cần kết hợp thêm với
tháp hấp phụ bằng nước vôi xử lý khí thải.
Thành phần ô nhiễm nhất của nước thải tại các
làng nghề tái chế kim loại là nước thải mạ
điện chứa Zn2+ và có độ pH thấp với lượng
không lớn, không tập trung và thải gián đoạn.
Cần tách dòng thải cơ sở mạ điện để đưa
đi xử lý riêng, phương án xử lý thích hợp là
trung hòa kết tủa bằng sữa vôi...
Các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường
tại các làng nghề không những đảm bảo hiệu
quả sau xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường mà còn
cần đơn giản, dễ vận hành, dễ chuyển giao, phù
hợp với điều kiện kinh tế và sản xuất tại
các làng nghề. Vì vậy, các cấp chính quyền địa
phương nên tuyên truyền, hướng dẫn các làng
nghề nên sớm đưa vào áp dụng, đảm bảo môi
trường sinh thái bền vững ở khu vực này.
Theo
Trang tin Chính phủ
|
|
|
TP.HCM:
KCN-KCX không có hệ thống xử lý nước thải
tập trung có thể bị đóng cửa
|
|
|
|
Trong năm 2006 tất cả các khu công nghiệp, khu
chế xuất (KCN-KCX) phải có hệ thống xử lý nước
thải tập trung là yêu cầu mà UBND TP.HCM đặt ra.
Thế nhưng, có đến 9/14 khu công nghiệp chưa có
hệ thống xử lý nước thải tập trung, 5 khu công
nghiệp, khu chế xuất đã đầu tư hệ thống xử
lý nước thải thì hoạt động kém hiệu quả, không
đáp ứng yêu cầu thực tế.
Lý giải thực trạng trên, nhiều Cty cho biết
họ chưa có vốn đầu tư. Tuy nhiên, một cán bộ
Ban quản lý KCX-KCN cho biết, đối với những
KCN-KCX đã đi vào hoạt động thì đơn vị đầu
tư cơ sở hạ tầng đã tính tiền đầu tư hệ
thống xử lý nước thải vào trong giá đất cho
doanh nghiệp thuê xây dựng nhà xưởng. Vì vậy, lý
do trên là hoàn toàn không hợp lý. Đối với
những KCN chưa đi vào hoạt động, chưa có doanh
nghiệp vào thuê đất thì việc chưa đầu tư hệ
thống xử lý nước thải cũng không ổn; bởi
lẽ Quyết định 62 mà Bộ Khoa học và Công nghệ
mới ban hành đã quy định các KCN phải đầu tư
hệ thống xử lý nước thải tập trung trước
khi đi vào hoạt động. Hơn thế, UBND TPHCM đã thành
lập Quỹ kích cầu nhằm hỗ trợ vốn cho những
đơn vị cần đầu tư hệ thống xử lý nước
thải tập trung nhưng hiện vẫn chưa có đơn vị
nào lập phương án vay. Điều này cho thấy các
đơn vị đầu tư cơ sở hạ tầng KCX-KCN cố tình
chây ì, không chấp hành chủ trương của thành
phố.
Để chấm dứt thực trạng này, ông Trần
Thế Ngọc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường
TP.HCM cho biết, Sở sẽ đề xuất lên UBND TP sửa
đổi Quyết định 76 (KCX – KCN lấp đầy 70% công
năng mới đầu tư hệ thống xử lý nước thải
tập trung), đồng thời ra thông báo phổ biến
quyết định 62 của Bộ Khoa học và Công nghệ
cho các đơn vị đầu tư cơ sở hạ tầng tại các
KCX-KCN. Mặt khác, Sở sẽ phối hợp với Ban
quản lý KCN-KCX, Sở Công Nghiệp, Sở Khoa học và
Công nghệ thành phố thành lập tổ công tác
xuống kiểm tra tình hình thực hiện Luật Môi trường
tại các KCN-KCX. Trên cơ sở đó, tìm ra nguyên nhân
đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những đơn vị
đang vướng mắc. Đơn vị nào thiếu vốn đầu tư
phải có phương án vay vốn vào đầu tháng 4/2006.
Ngoài nguồn Quỹ kích cầu, Sở Tài nguyên và Môi
trường sẽ sử dụng nguồn Quỹ xoay vòng để
hỗ trợ vốn đầu tư cho các đơn vị với mức
vay cao nhất là 6.000 USD/trường hợp.
Ái Vân – Sài
Gòn Giải phóng
|
| Đông
Nam Á, TQ có mức độ ô nhiễm cao nhất thế giới
|
|
Theo
các số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO),
các thành phố lớn ở Đông Nam Á và Trung Quốc có
độ nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới,
trung bình mỗi năm cướp đi sinh mạng của khoảng
500.000 người.
|
|
|
Khói
thải công nghiệp làm cho không khí ô nhiễm.
|
Các
công trình nghiên cứu của WHO ở Đông Nam Á và
Trung Quốc cho thấy, khí thải từ các phương tiện
giao thông, các cơ sở sản xuất công nghiệp, việc
sử dụng than gỗ, than đá và các nhiên liệu khác
trong sinh hoạt... đã khiến không khí ở khu vực này
thường xuyên trong tình trạng ô nhiễm ở mức độ
cao.
WHO
kêu gọi Chính phủ các quốc gia nên nhanh chóng đề
ra các biện pháp giải quyết lâu dài vấn đề này.
Chỉ
số ô nhiễm không khí tăng lên, số người chết
do các bệnh tim mạch và đường hô hấp cũng tăng
theo, đồng thời tuổi thọ của những người
sống ở các thành phố bị ô nhiễm nặng cũng
giảm đi.
(Mạng
VietnamNet, Theo Reuter)
|
| Nguy
cơ thiếu nước và nước ô nhiễm: Ngày càng trầm
trọng
|
|
|
|
|
|
Theo
chỉ tiêu của Hội Tài nguyên Nước quốc tế,
Việt Nam là một trong những nước đã, đang và
sẽ thiếu nước trong tương lai gần. Tình hình càng
nghiêm trọng do sự phân bố nước không đều theo
thời gian. Trong 6-7 tháng mùa khô, dòng chảy chỉ đạt
15%-30% tổng dòng chảy năm, nạn thiếu nước trở
nên khá trầm trọng.
|
|
|
Dùng
nước sinh hoạt xịt đường, một hình thức
gây lãng phí nước.
|
Nguy
cơ các nhà máy thủy điện không thể hoạt động
hết công suất, dẫn đến thiếu điện trên diện
rộng tại các tỉnh miền Bắc trong mùa khô năm nay
hầu như là chắc chắn.
Ngoài
ra, do có đến hai phần ba lượng nước các sông
của Việt Nam được sản sinh từ nước ngoài
chảy vào, nên việc đạt được những thỏa
thuận hợp lý với các nước bạn về sử dụng nước
cũng hết sức quan trọng.
Đây
cũng là một trong những vấn đề lớn có tính toàn
cầu được đặt ra tại Diễn đàn Nước quốc
tế vừa được tổ chức tại Mehico, mà theo các
chuyên gia của Quỹ Bảo tồn quốc tế về thiên
nhiên - WWF, vẫn còn quá ít giải pháp cụ thể được
khẳng định và cam kết thực hiện.
Tuy nhiên, thiếu nước không chỉ là một khó khăn
khách quan mà còn do sử dụng nguồn nước không
hợp lý. Tài nguyên nước ngầm của Việt Nam khá
dồi dào với tổng trữ lượng có khả năng khai thác
ước khoảng 60 tỷ m3 mỗi năm. Mới chỉ 5% trữ lượng
này được khai thác, nhưng ở một số vùng, đặc
biệt là tại thành phố Hà Nội và đồng bằng sông
Cửu Long, nước ngầm lại bị khai thác quá mức và
không đúng cách, dẫn đến sụt giảm mực nước
ngầm, góp phần gây ra lún sụt đất, nhiễm mặn và
các dạng ô nhiễm khác.
“Lượng” đã vậy, chất lượng nước cũng đã
đến lúc cần cảnh báo. Nước ở hạ lưu các con
sông bị ô nhiễm khá rõ rệt, còn các hồ ao, kênh
mương trong các khu đô thị thì đang trở thành các
bể chứa nước thải. Hầu hết nước thải đô
thị đều chưa được xử lý trước khi xả ra môi
trường và cũng chỉ có 4,26% nước thải công
nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.
Lấy ví dụ hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn.
Trung bình mỗi ngày hệ thống sông này tiếp nhận
khoảng 111.600m3 nước thải từ các khu công nghiệp,
khu chế xuất của các tỉnh thuộc vùng kinh tế
trọng điểm phía Nam, trong đó chứa khoảng 15 tấn
TSS, 77 tấn COD, 20 tấn BOD5, 1,6 tấn nitơ và 500kg
phốtpho.
Tổng số dân của 11 tỉnh thành
trong lưu vực gần 17,5 triệu người, mỗi ngày
thải ra gần 100.000m3 nước thải sinh hoạt (trong đó
sông Sài Gòn tiếp nhận trên 756.000m3), “đóng góp”
trung bình 375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 456 tấn COD, 46
tấn dầu mỡ động thực vật cùng vô số loại vi
khuẩn và vi trùng gây bệnh khác.
Đó
là chưa kể việc khai thác, sử dụng nhiều cụm
cảng nước sâu phục vụ vận chuyển hàng hóa, kéo
theo hàng loạt vấn đề khác như xả dầu cặn,
chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng, chất
thải sinh hoạt và một nguy cơ rất lớn khác luôn
lơ lửng: sự cố tràn dầu.
Tuy
ở mức độ ít hơn, nhưng hoạt động nông – lâm
– ngư nghiệp cũng đặt ra rất nhiều vấn đề như
axit hóa nguồn nước (do việc khai thác cải tạo đất
phèn và sử dụng phân hóa học). Sông Sài Gòn đoạn
từ cầu Bình Long đến Bến Than và Bình Mỹ, nhất
là các điểm xung quanh ngã ba sông Sài Gòn – Rạch
Tra bị axit hóa rất nặng, nhất là vào mùa khô, có
khi độ pH lên tới 6,0...
Theo các chuyên gia Cục Quản lý Tài nguyên nước,
trong những năm tới, nếu không giải quyết được
những thách thức lớn về quản lý nguồn nước,
đa dạng hóa đầu tư cho cơ sở hạ tầng ngành nước,
tăng cường giám sát thực thi pháp luật về môi trường
và tăng cường sự tham gia của người dân vào công
cuộc bảo vệ nguồn tài nguyên thiết yếu này, thì
nguy cơ thiếu nước và nước ô nhiễm tại nước
ta sẽ trầm trọng hơn bao giờ hết.
Anh
Thư (Mạng Báo SGGP)
|
|
|
 |
 |

|
|