MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(5/2006)

14 đối tác giúp VN về nước sạch và nông thôn  
Đã có thiết bị xử lý nước thải cho các làng nghề

Thành phố sinh thái đầu tiên trên thế giới
VN là một trong 10 nước trồng rừng nhiều nhất thế giới

Bắc Kạn: Tài nguyên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên xã Kim Hỷ đang bị xâm phạm

Cần tăng cường xử lý ô nhiễm môi trường tại làng nghề

TP.HCM: KCN-KCX không có hệ thống xử lý nước thải  có thể bị đóng cửa
Đông Nam Á, TQ có mức độ ô nhiễm cao nhất thế giới 
Nguy cơ thiếu nước và nước ô nhiễm: Ngày càng trầm trọng 

14 đối tác giúp VN về nước sạch và nông thôn

 

(VietNamNet) - Bộ NN-PTNT, các nhà tài trợ và các tổ chức phi chính phủ hôm 15/5 đã cùng ký kết Bản ghi nhớ thành lập Quan hệ Đối tác Cấp nước và Vệ sinh Nông thôn. Đồng thời, thành lập Văn phòng điều phối trực thuộc Bộ NN-PTNT.

Soạn: AM 777791 gửi đến 996 để nhận ảnh này

14 đối tác là các tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đã tham gia lễ ký kết. Ảnh H.Y.

Bộ trưởng NN-PTNT Cao Đức Phát và các đại sứ, trưởng đại diện của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Ngân hàng Thế giới (WB), Chương trình Nước sạch và Vệ sinh Khu vực Đông Á Thái Bình Dương, UNICEF Việt Nam, Ngân hàng Phát triển châu Á, đại sứ quán các nước Australia, Đan Mạch, Thụy Điển, Hà Lan... đã tham gia ký kết bản ghi nhớ này.

Quan hệ Đối tác Cấp nước và Vệ sinh Nông thôn sẽ đi vào hoạt động từ 5/2006, tập trung vào hỗ trợ hoạt động đối thoại chính sách, chia sẻ thông tin, nghiên cứu ở các cấp địa phương, quốc gia và vùng. Đồng thời, quan hệ đối tác cũng hỗ trợ thực hiện các sáng kiến ngành đã được thống nhất trong Khung chương trình đối tác cũng như thúc đẩy quá trình tiếp cận ngành thông qua quỹ ủy thác chung.

Ông Klaus Rohland, Giám đốc WB tại Việt Nam, nói rằng, mục tiêu của Quan hệ đối tác là góp phần xóa đói nghèo, tăng thu nhập cho người dân nông thôn và bảo vệ môi trường thông qua việc triển khai hiệu quả hơn Chiến lược Quốc gia về Cấp nước và Vệ sinh nông thôn, cũng như các chiến lược và chính sách liên quan khác của Chính phủ.

Quan hệ đối tác ra đời góp phần tăng cường hiệu quả sử dụng nguồn lực trong ngành cấp nước và vệ sinh nông thôn thông qua việc xây dựng một cơ chế phối hợpp để điều phối và hài hòa hỗ trợ cho các chính sách chương trình môi trường quốc gia về cấp nước, vệ sinh nông thôn và các chương trình khác.

Theo bà Jesper Morch, Trưởng đại diện UNICEF tại Việt Nam, hiện thế giới có trên 1 tỷ người không có nước sạch để dùng và 2,6 tỷ người không được sử dụng các chương trình vệ sinh.

Còn tại Việt Nam, tài nguyên nước chỉ có hạn và hiện đang chịu một sức ép nghiêm trọng trước tình trạng ô nhiễm và sử dụng nước quá mức cho phép diễn ra tràn lan.

Đây là hậu quả tổng hợp của các yếu tố như sự bùng phát về dân số, các hoạt động kinh tế gia tăng và công tác quản lý chưa thoả đáng. Ngoài ra, mức chênh lệch về khả năng tiếp cận với nước giữa các tỉnh/thành đã trở nên rõ rệt hơn. Tỷ lệ hộ được tiếp cận với nước sạch ở khu vực thành thị là 78%, trong khi đó tỷ lệ này ở khu vực nông thôn chỉ có 44%.

Thách thức hiện nay là hết sức to lớn khi Việt Nam đặt ra mục tiêu cung cấp 85% nhu cầu tổng thể về nước sạch vào năm 2010 và 100% vào năm 2020.

(Theo Vietnamnet)

 

Đã có thiết bị xử lý nước thải cho các làng nghề

 

 

 

 

 

 

Khoa Hóa học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Hà Nội vừa chế tạo thành công thiết bị xử lý nước thải đa năng chuyên dùng cho các làng nghề...

Làng nghề nước ta bao gồm năm loại hình chính là dệt - nhuộm - giấy, chế biến thực phẩm, kim loại, hỗn hợp, hầu hết đều đang rơi vào tình trạng ô nhiễm môi trường hết sức nghiêm trọng.

Ô nhiễm đã ở mức "đỏ"

Nước thải xả ra một con đập ở Hà Nội (Ảnh: CAND)

Theo thống kê, hiện cả nước có 1.450 làng nghề, trong đó có hơn 300 làng nghề truyền thống. Trên thực tế hầu hết các cơ sở sản xuất nhỏ của làng nghề vẫn nằm xen lẫn khu dân cư hoặc tập trung thành cụm, nhưng không có ranh giới rõ rệt giữa khu sản xuất và khu sinh hoạt tại cơ sở, công nghệ thì lạc hậu, thủ công, thiết bị cũ chắp vá, thiếu đồng bộ. Từ các tồn tại trên dẫn đến năng suất, chất lượng sản phẩm rất yếu kém, đặc biệt do các cơ sở sản xuất còn hoạt động theo hướng phân tán, tự phát, quy mô nhỏ đã dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức quản lý chất thải (xử lý thu gom) để giảm thiểu ô nhiễm môi trường...

Hiện trạng môi trường chủ yếu đang diễn ra dưới dạng ô nhiễm tập trung trên phạm vi một khu vực (thôn, xã). Khu vực này tập hợp nhiều hình thái ô nhiễm dạng điểm (cơ sở sản xuất nhỏ) ảnh hưởng trực tiếp không gian liền kề là khu sinh hoạt dân cư.

Theo kết quả điều tra, khảo sát mới đây nhất mà Bộ Khoa học - Công nghệ công bố cho thấy 100% mẫu nước thải, thậm chí cả nước mặt, nước ngầm ở các làng nghề đều vượt các tiêu chuẩn cho phép. Môi trường không khí bị ô nhiễm có tính cục bộ tại nơi trực tiếp sản xuất, nhất là ô nhiễm bụi vượt tiêu chuẩn cho phép và ô nhiễm do sử dụng nhiên liệu là than, củi. Hầu hết điều kiện lao động ở các làng nghề đều không đạt tiêu chuẩn như độ ồn, ánh sáng, độ rung, độ ẩm, nhiệt độ cao. Tỷ lệ người dân làng nghề mắc bệnh cao hơn ở các làng thuần nông, thường gặp ở các bệnh về đường hô hấp, đau mắt, bệnh đường ruột, bệnh ngoài da. Tại một số làng nghề đặc thù, xuất hiện các bệnh nguy hiểm như ung thư, quái thai, nhiễm độc kim loại nặng. Nhiều dòng sông chảy qua các làng nghề hiện nay đang bị ô nhiễm nặng; nhiều ruộng lúa cây trồng bị giảm năng suất do ô nhiễm không khí từ làng nghề.

Thiết bị xử lý hữu hiệu

Trước thực trạng này, các nhà khoa học thuộc Bộ môn Công nghệ hóa học, Khoa Hóa học (Trường Đại học Khoa học Tự nhiên) đã nghiên cứu ra một hệ thống xử lý nước thải đa năng có tính đồng bộ.

PGS-TS. Trần Hồng Côn - Chủ nhiệm đề tài cho biết: "Trước mắt, hầu hết các làng nghề đều chưa có hệ thống xử lý nước thải, điều này ảnh hưởng rất lớn đến các nguồn nước khác, tạo ra các  chất độc mới có trong nước".

Thiết bị xử lý này thực chất là việc sử dụng các chất keo tụ, trợ keo tụ, các chất hấp thụ (tự chế tạo) để tiến hành xử lý sơ cấp nhằm loại bỏ tất cả các chất lơ lửng, cặn, bụi... xuống còn dưới 50%. Sau đó, hệ thống tiếp tục hoạt động để xử lý thứ cấp bằng bùn hoạt tính hoặc lọc sinh học kết hợp các chất phụ gia, bước này có thể xử lý được 30% lượng chất độc hại có trong nước. Bước tiếp theo, nước thải sẽ được xử lý bằng AOB (ô xy hóa tăng cường), biện pháp này cho phép xử lý tới 90% các hợp chất độc hại. Nếu muốn xử lý tái sinh, có thể xử lý thêm khâu hấp phụ nước để loại bỏ hoàn toàn các chất thải, nước sẽ đạt tiêu chuẩn loại A.

Thiết bị xử lý nước thải đa năng ở làng nghề nói trên có thể áp dụng cho nhiều loại đối tượng như nước thải dệt, nhuộm, làm giấy, công nghiệp thực phẩm, nước thải sinh hoạt với quy mô xử lý từ 5 đến 1.500m3/ngày đêm; giá thành xử lý rẻ (1.200 - 3.500 đồng/m3 nước thải).

PGS-TS. Trần Hồng Côn cho biết: "Hiện hệ thống trên đã được lắp đặt và vận hành tại làng nghề dệt - nhuộm Vạn Phúc - Hà Đông, Hà Tây) từ tháng 4 năm nay và cho kết quả khá tốt. Trên thực tế, các bể xử lý này có thể xây bằng gạch cũng được. Với quy mô và kiểu xây dựng này, chúng tôi có thể tiến hành xây cho cả quy mô gia đình hoặc một cụm sản xuất nhỏ cũng được".

Tuy nhiên hiện có một khó khăn trong việc áp dụng  thiết bị này cho các làng nghề là do các cơ sở còn nằm rải rác, không tập trung, nên phạm vi xử lý chưa rộng.

Theo khẳng định của PGS-TS. Trần Hồng Côn, theo kế hoạch ngay sau khi kết  thúc việc xử lý nước thải ở Vạn Phúc, thiết bị trên sẽ được đưa tới chạy thử nghiệm ở làng nghề sản xuất giấy Phong Khê (Bắc Ninh). Và đến năm 2010, hệ thống thiết bị trên sẽ được đưa vào sử dụng cho tất cả các làng nghề trong cả nước, hướng tới một môi trường làng nghệ trong sạch, bền vững.

(Theo Nông thôn Ngày nay)

 

 

Thành phố sinh thái đầu tiên trên thế giới

Mô hình ảo thành phố DongTan. (SGGP)

Từ nay đến năm 2020, Trung Quốc sẽ xây dựng thêm 400 thành phố mới, trong số đó có đô thị thử nghiệm DongTan - “thành phố sinh thái” đầu tiên trên thế giới.

DongTan sẽ mọc lên từ vùng đầm lầy hoang vu, nằm ở cực Bắc Chongming, hòn đảo lớn thứ 3 của Trung Quốc, phía cửa sông Dương Tử. Tại đây, không một tòa nhà nào cao quá 8 tầng, các mái nhà đều phủ cỏ và cây xanh để cách nhiệt và tái tạo nước.

Thành phố dành cho mỗi người đi bộ không gian lớn gấp sáu lần ở Copenhagen (Đan Mạch) - một trong những thành phố thoáng khí nhất châu Âu. Các xe buýt sạch chạy bằng pin nhiên liệu nối liền các khu phố.

Xe môtô truyền thống bị cấm, người dân đi lại bằng xe đạp và xe tay ga chạy điện. Các con đường đã được vạch ra theo cách khiến người ta đến nơi làm việc bằng xe đạp và đi bộ còn nhanh hơn đi ô tô.

Đến 80% rác thải rắn được tái tạo. Được đốt cháy trong một nhà máy nhiệt điện, các chất thải hữu cơ sẽ sản sinh một phần điện cho thành phố. Trấu, nguồn nhiên liệu sinh nhiệt cao, luôn sẵn có ở Trung Quốc, cũng được đốt ở đấy. Xa hơn, các động cơ gió khổng lồ với sức đẩy của gió biển cũng sản xuất ra điện. Mỗi tòa nhà đều có động cơ gió, cỡ nhỏ và các panô pin quang điện riêng.

Dự án đã được giao từ 7 năm nay cho Tổng công ty Đầu tư Công nghiệp Thượng Hải (SIIC). Về thiết kế thành phố DongTan, SIIC đã nhờ một đại gia về tư vấn kỹ thuật của Anh là Arup, công ty đã làm việc 20 năm nay ở Trung Quốc, từng tham gia vào dự án kiến trúc của Thế Vận hội Bắc Kinh 2008. Bằng chứng về tầm quan trọng chính trị của dự án DongTan là bản hợp đồng đã được ký kết với sự hiện diện của Thủ tướng Anh Tony Blair và Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào.

Dự kiến DongTan sẽ được xây dựng trong vòng 4 năm.

(Theo SGGP)

VN là một trong 10 nước trồng rừng nhiều nhất thế giới

 

Hà Nội (TTXVN) - Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc (FAO), Việt Nam là một trong số 10 nước có diện tích trồng rừng lớn nhất trên thế giới.

Số liệu thống kê của Bộ nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết Việt Nam hiện có khoảng 12,3 triệu hécta rừng, trong đó có 10 triệu hécta rừng tự nhiên. Với dự án trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 1998-2005, Việt Nam đã nâng độ che phủ rừng lên 36,7%, tăng 3,5 % so với năm 1999.

Trong nhóm 10 quốc gia nói trên, ngoài Việt Nam còn có 5 nước châu Á khác là Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêxia và Trung Quốc.

Báo cáo của FAO cũng cho biết khu vực châu Á-Thái Bình Dương đang dẫn đầu thế giới về tốc độ trồng cây gây rừng. Những thành quả trồng rừng trong 5 năm qua của khu vực này đã làm tăng diện tích che phủ rừng và đang dần bù lại một phần diện tích rừng tự nhiên bị tàn phá cuối thế kỷ 20.

Từ năm 2000 đến 2005, châu Á-Thái Bình Dương đã trồng lại được 0,56 triệu hécta rừng mỗi năm, góp phần bù lại 0,92 triệu hécta rừng tự nhiên bị mất mỗi năm hồi cuối thế kỷ trước.

FAO cũng đánh giá cao nỗ lực của các nước châu Á-Thái Bình Dương trong việc cải cách các điều luật liên quan tới rừng, đặc biệt là chính sách giao đất rừng và rừng cho các hộ gia đình và các tổ chức xã hội. Những nỗ lực này đã khẳng định những cam kết chính trị của các nước trong khu vực đối với quá trình bảo vệ và phát triển rừng bền vững.

Tuy nhiên, FAO cũng cảnh báo diện tích rừng tính trên đầu người của khu vực châu Á-Thái Bình Dương vẫn tiếp tục giảm và cho đến năm 2005 chỉ còn chưa đầy 0,2 hécta rừng trên một đầu người, chủ yếu do nạn phá rừng lấy đất phát triển nông nghiệp, đặc biệt ở các nước Đông Á.

Tốc độ phá rừng tự nhiên lên tới 0,8 triệu hécta/năm đã khiến số lượng nhiều loài động, thực vật giảm mạnh, làm gia tăng số lượng các loài động thực vật có hại cho rừng và nông nghiệp, đồng thời gây bệnh cho con người. Thiệt hại này ước tính lên tới hàng trăm tỷ USD đối với toàn khu vực trong 5 năm qua./.

 (TTX Việt Nam)

 

Bắc Kạn: Tài nguyên tại Khu Bảo tồn thiên nhiên xã Kim Hỷ đang bị xâm phạm

 

 

Hơn 1 tháng qua, trong Khu Bảo tồn thiên nhiên xã Kim Hỷ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn đã xuất hiện trên 50 người với 10 chiếc máy nổ để bơm nước phục vụ khai thác vàng và khai thác gỗ trong lòng khu bảo tồn, nơi giáp ranh với thôn Kim Vân.

Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ rộng hơn 18.000 ha, được Nhà nước công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên từ năm 1998. Kể từ khi được công nhận là khu bảo tồn thiên nhiên đã hơn 7 năm, nhưng núi rừng Kim Hỷ do địa hình đi lại kho khăn, khu bảo tồn lại trải rộng trên địa bàn nhiều xã, núi cao và nhiều hang động, trong lòng núi có các mạch vàng sa khoáng, các hang động khai thác vàng từ xa xưa còn để lại khá nhiều và trong rừng có nhiều hang động tự nhiên, đã biến nơi đây luôn hấp dẫn đối với những tên "vàng tặc", nên mỗi khi các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, khu bảo tồn chỉ yên vắng được ít ngày, sau dó chúng lại kéo đến lén lút khai thác vàng.

Điều đáng ngại hơn cả là ngoài khai thác vàng trái phép, đầu năm 2006, những cây gỗ quí như đinh, nghiến, lát trong khu bảo tồn đang là mục tiêu của những tên "vàng tặc". Chúng khai thác gỗ rồi lén lút vận chuyển từng thanh gỗ nhỏ, hoặc tấm thớt nghiến sau đó đưa ra quốc lộ 3 theo tuyến đường liên xã bằng xe gắn máy. Vừa qua, các ngành chức năng đã thu giữ 10 m3 gỗ nghiến khi số gỗ này đang vận chuyển ra khỏi khu vực bảo tồn.

Âu Vượng

 

Cần tăng cường xử lý ô nhiễm môi trường tại làng nghề

 

 

Theo PGS-TS Đặng Kim Chi, Viện Khoa học Công nghệ Môi trường, Đại học Bách khoa Hà Nội, hiện nay các nhà khoa học đã tìm ra một số giài pháp công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường các làng nghề như: xử lý nước thải làng nghề chế biến nông sản, thực phẩm; xử lý nước thải làng nghề dệt nhuộm, xử lý nước thải làng nghề thủ công mỹ nghệ; xử lý nước thải làng nghề tái chế giấy; xử lý ô nhiễm tại làng nghề tái chế kim loại. Theo đó, trước tiên là cần xử lý nước thải chế biến nông sản, thực phẩm kết hợp với nước thải chăn nuôi bằng hầm Biogas tại các hộ gia đình

. Nước thải từ các hộ sản xuất sau khi xử lý sơ bộ tách các tạp chất thô và nước thải sau khi xử lý bằng hầm Biogas sẽ đi ra cống thải chung. Trên hệ thống cống chung có bố trí các hố gas để tiếp tục lắng, tách tạp chất sau đó nước thải được đưa vào hệ thống xử lý nước thải chung cho cả làng.

Tại các làng nghề dệt nhuộm, nước thải sau nấu tẩy và nhuộm là nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm môi trường, do đó cần phải xử lý sơ bộ nước thải từng cơ sở trước khi đưa vào mương thải của làng nghề đưa đến nơi xử lý sau cùng. Có ba phương án để áp dụng cho từng hộ gia đình quy mô nhỏ và áp dụng cho hộ gia đình quy mô lớn hay áp dụng hệ thống xử lý nước thải dệt nhuộm có độ màu lớn.

Với những làng nghề chế biến gỗ, thủ công mỹ nghệ, hệ thống tách bụi bằng xycol (ở máy cưa) và lọc kết hợp bụi túi vải (ở máy chà gỗ) là mô hình hợp lý đem lại hiệu quả cao trong sản xuất và không làm ảnh hưởng tới sức khỏe của người lao động. Đối với các mặt hàng sơn mài, do quá trình sản xuất khâu phun sơn là nguyên nhân gây ô nhiễm không khí nên cần phải chọn hệ thống xử lý hơi dung môi hữu cơ bằng hấp phụ than họat tính.

Đối với các làng nghề tái chế giấy, ô nhiễm chủ yếu là nước thải, chứa xơ sợi, bột giấy trong nước thải. Do đó xử lý thu hồi xơ sợi bằng bể lắng kết hợp lọc túi hoặc kết hợp tuyển nổi và lắng. Xơ sợi và bột giấy thu được có thể sử dụng để sản xuất giấy chất lượng thấp (giấy báo giòn, bìa carton...). Nước thải quá trình sản xuất giấy còn có thể xử lý bằng hồ sinh học hiếu khí kết hợp làm thoáng khí nhân tạo, phương pháp hấp thụ bằng bentonite; phương pháp xử lý hiếu khí bằng bể Acroten.

Nguồn phát thải tại làng nghề tái chế kim loại chủ yếu bao gồm khí thải của các lò nấu luyện kim loại. Xyclo khử mùi có thể áp dụng ở làng nghề tái chế sắt thép, đối với các làng nghề đúc nhôm cần kết hợp thêm với tháp hấp phụ bằng nước vôi xử lý khí thải. Thành phần ô nhiễm nhất của nước thải tại các làng nghề tái chế kim loại là nước thải mạ điện chứa Zn2+ và có độ pH thấp với lượng không lớn, không tập trung và thải gián đoạn. Cần tách dòng thải cơ sở mạ điện để đưa đi xử lý riêng, phương án xử lý thích hợp là trung hòa kết tủa bằng sữa vôi...

Các công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường tại các làng nghề không những đảm bảo hiệu quả sau xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường mà còn cần đơn giản, dễ vận hành, dễ chuyển giao, phù hợp với điều kiện kinh tế và sản xuất tại các làng nghề. Vì vậy, các cấp chính quyền địa phương nên tuyên truyền, hướng dẫn các làng nghề nên sớm đưa vào áp dụng, đảm bảo môi trường sinh thái bền vững ở khu vực này.

Theo Trang tin Chính phủ

 

TP.HCM: KCN-KCX không có hệ thống xử lý nước thải tập trung có thể bị đóng cửa

 

Trong năm 2006 tất cả các khu công nghiệp, khu chế xuất (KCN-KCX) phải có hệ thống xử lý nước thải tập trung là yêu cầu mà UBND TP.HCM đặt ra. Thế nhưng, có đến 9/14 khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý nước thải tập trung, 5 khu công nghiệp, khu chế xuất đã đầu tư hệ thống xử lý nước thải thì hoạt động kém hiệu quả, không đáp ứng yêu cầu thực tế.

Lý giải thực trạng trên, nhiều Cty cho biết họ chưa có vốn đầu tư. Tuy nhiên, một cán bộ Ban quản lý KCX-KCN cho biết, đối với những KCN-KCX đã đi vào hoạt động thì đơn vị đầu tư cơ sở hạ tầng đã tính tiền đầu tư hệ thống xử lý nước thải vào trong giá đất cho doanh nghiệp thuê xây dựng nhà xưởng. Vì vậy, lý do trên là hoàn toàn không hợp lý. Đối với những KCN chưa đi vào hoạt động, chưa có doanh nghiệp vào thuê đất thì việc chưa đầu tư hệ thống xử lý nước thải cũng không ổn; bởi lẽ Quyết định 62 mà Bộ Khoa học và Công nghệ mới ban hành đã quy định các KCN phải đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung trước khi đi vào hoạt động. Hơn thế, UBND TPHCM đã thành lập Quỹ kích cầu nhằm hỗ trợ vốn cho những đơn vị cần đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung nhưng hiện vẫn chưa có đơn vị nào lập phương án vay. Điều này cho thấy các đơn vị đầu tư cơ sở hạ tầng KCX-KCN cố tình chây ì, không chấp hành chủ trương của thành phố.

Để chấm dứt thực trạng này, ông Trần Thế Ngọc, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường TP.HCM cho biết, Sở sẽ đề xuất lên UBND TP sửa đổi Quyết định 76 (KCX – KCN lấp đầy 70% công năng mới đầu tư hệ thống xử lý nước thải tập trung), đồng thời ra thông báo phổ biến quyết định 62 của Bộ Khoa học và Công nghệ cho các đơn vị đầu tư cơ sở hạ tầng tại các KCX-KCN. Mặt khác, Sở sẽ phối hợp với Ban quản lý KCN-KCX, Sở Công Nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ thành phố thành lập tổ công tác xuống kiểm tra tình hình thực hiện Luật Môi trường tại các KCN-KCX. Trên cơ sở đó, tìm ra nguyên nhân đồng thời tháo gỡ khó khăn cho những đơn vị đang vướng mắc. Đơn vị nào thiếu vốn đầu tư phải có phương án vay vốn vào đầu tháng 4/2006. Ngoài nguồn Quỹ kích cầu, Sở Tài nguyên và Môi trường sẽ sử dụng nguồn Quỹ xoay vòng để hỗ trợ vốn đầu tư cho các đơn vị với mức vay cao nhất là 6.000 USD/trường hợp.

Ái Vân – Sài Gòn Giải phóng

Đông Nam Á, TQ có mức độ ô nhiễm cao nhất thế giới

Theo các số liệu của Tổ chức y tế thế giới (WHO), các thành phố lớn ở Đông Nam Á và Trung Quốc có độ nhiễm không khí nghiêm trọng nhất thế giới, trung bình mỗi năm cướp đi sinh mạng của khoảng 500.000 người.

Khói thải công nghiệp làm cho không khí ô nhiễm.

Các công trình nghiên cứu của WHO ở Đông Nam Á và Trung Quốc cho thấy, khí thải từ các phương tiện giao thông, các cơ sở sản xuất công nghiệp, việc sử dụng than gỗ, than đá và các nhiên liệu khác trong sinh hoạt... đã khiến không khí ở khu vực này thường xuyên trong tình trạng ô nhiễm ở mức độ cao.

WHO kêu gọi Chính phủ các quốc gia nên nhanh chóng đề ra các biện pháp giải quyết lâu dài vấn đề này.

Chỉ số ô nhiễm không khí tăng lên, số người chết do các bệnh tim mạch và đường hô hấp cũng tăng theo, đồng thời tuổi thọ của những người sống ở các thành phố bị ô nhiễm nặng cũng giảm đi.

(Mạng VietnamNet, Theo Reuter)

 

Nguy cơ thiếu nước và nước ô nhiễm: Ngày càng trầm trọng

 

 

Theo chỉ tiêu của Hội Tài nguyên Nước quốc tế, Việt Nam là một trong những nước đã, đang và sẽ thiếu nước trong tương lai gần. Tình hình càng nghiêm trọng do sự phân bố nước không đều theo thời gian. Trong 6-7 tháng mùa khô, dòng chảy chỉ đạt 15%-30% tổng dòng chảy năm, nạn thiếu nước trở nên khá trầm trọng.

Dùng nước sinh hoạt xịt đường, một hình thức gây lãng phí nước.

Nguy cơ các nhà máy thủy điện không thể hoạt động hết công suất, dẫn đến thiếu điện trên diện rộng tại các tỉnh miền Bắc trong mùa khô năm nay hầu như là chắc chắn.

Ngoài ra, do có đến hai phần ba lượng nước các sông của Việt Nam được sản sinh từ nước ngoài chảy vào, nên việc đạt được những thỏa thuận hợp lý với các nước bạn về sử dụng nước cũng hết sức quan trọng.

Đây cũng là một trong những vấn đề lớn có tính toàn cầu được đặt ra tại Diễn đàn Nước quốc tế vừa được tổ chức tại Mehico, mà theo các chuyên gia của Quỹ Bảo tồn quốc tế về thiên nhiên - WWF, vẫn còn quá ít giải pháp cụ thể được khẳng định và cam kết thực hiện.

Tuy nhiên, thiếu nước không chỉ là một khó khăn khách quan mà còn do sử dụng nguồn nước không hợp lý. Tài nguyên nước ngầm của Việt Nam khá dồi dào với tổng trữ lượng có khả năng khai thác ước khoảng 60 tỷ m3 mỗi năm. Mới chỉ 5% trữ lượng này được khai thác, nhưng ở một số vùng, đặc biệt là tại thành phố Hà Nội và đồng bằng sông Cửu Long, nước ngầm lại bị khai thác quá mức và không đúng cách, dẫn đến sụt giảm mực nước ngầm, góp phần gây ra lún sụt đất, nhiễm mặn và các dạng ô nhiễm khác.

“Lượng” đã vậy, chất lượng nước cũng đã đến lúc cần cảnh báo. Nước ở hạ lưu các con sông bị ô nhiễm khá rõ rệt, còn các hồ ao, kênh mương trong các khu đô thị thì đang trở thành các bể chứa nước thải. Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả ra môi trường và cũng chỉ có 4,26% nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn môi trường.

Lấy ví dụ hệ thống sông Đồng Nai – Sài Gòn. Trung bình mỗi ngày hệ thống sông này tiếp nhận khoảng 111.600m3 nước thải từ các khu công nghiệp, khu chế xuất của các tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, trong đó chứa khoảng 15 tấn TSS, 77 tấn COD, 20 tấn BOD5, 1,6 tấn nitơ và 500kg phốtpho.

Tổng số dân của 11 tỉnh thành trong lưu vực gần 17,5 triệu người, mỗi ngày thải ra gần 100.000m3 nước thải sinh hoạt (trong đó sông Sài Gòn tiếp nhận trên 756.000m3), “đóng góp” trung bình 375 tấn TSS, 244 tấn BOD5, 456 tấn COD, 46 tấn dầu mỡ động thực vật cùng vô số loại vi khuẩn và vi trùng gây bệnh khác.

Đó là chưa kể việc khai thác, sử dụng nhiều cụm cảng nước sâu phục vụ vận chuyển hàng hóa, kéo theo hàng loạt vấn đề khác như xả dầu cặn, chất thải có nguồn gốc dầu mỡ khoáng, chất thải sinh hoạt và một nguy cơ rất lớn khác luôn lơ lửng: sự cố tràn dầu.

Tuy ở mức độ ít hơn, nhưng hoạt động nông – lâm – ngư nghiệp cũng đặt ra rất nhiều vấn đề như axit hóa nguồn nước (do việc khai thác cải tạo đất phèn và sử dụng phân hóa học). Sông Sài Gòn đoạn từ cầu Bình Long đến Bến Than và Bình Mỹ, nhất là các điểm xung quanh ngã ba sông Sài Gòn – Rạch Tra bị axit hóa rất nặng, nhất là vào mùa khô, có khi độ pH lên tới 6,0...

Theo các chuyên gia Cục Quản lý Tài nguyên nước, trong những năm tới, nếu không giải quyết được những thách thức lớn về quản lý nguồn nước, đa dạng hóa đầu tư cho cơ sở hạ tầng ngành nước, tăng cường giám sát thực thi pháp luật về môi trường và tăng cường sự tham gia của người dân vào công cuộc bảo vệ nguồn tài nguyên thiết yếu này, thì nguy cơ thiếu nước và nước ô nhiễm tại nước ta sẽ trầm trọng hơn bao giờ hết.

Anh Thư (Mạng Báo SGGP)

 


 

   

 

Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam - Vietnam Association for Conservation of Nature and Enviroment
Tel: 84.04.9420 280  
     Fax: 84.04.9420 279        Email: vacne@.fpt.vn      Website: www.vacne.org.vn