MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(9/2006)
Vĩnh
Phúc: HTX dịch vụ môi trường của xã - Kinh nghiệm
cần nhân rộng
HĐND
thành phố giám sát việc thực hiện dự án thoát nước
Hà Nội
Hải
Phòng: Sống chung với... khói độc
Không
bản sắc
Mua
bán khí thải- thị trường mới hấp dẫn
Top 10 công nghệ môi trường
mới
Ô nhiễm giao thông
An
toàn thực phẩm tại VN ở mức báo động
3.000
tỷ đồng điều tra tài nguyên - môi trường biển
Phát triển đô thị bền
vững
Hồ
thủy điện Tuyên Quang - Điểm du lịch sinh thái hấp
dẫn
Xả nước
thải ra môi trường có thể bị phạt tới 70 triệu đồng
Thủ tướng phê duyệt đề án bảo vệ môi trường sinh
thái lưu vực sông Cầu
“Cứu sống” sông Cầu
Đề
án thành lập lực lượng Cảnh sát Môi trường
|
VĨNH
PHÚC: HTX DỊCH
VỤ MÔI TRƯỜNG CỦA XÃ - KINH
NGHIỆM CẦN
NHÂN RỘNG
|
|
Xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc vừa
thành lập HTX dịch vụ môi trường chuyên thu gom
và xử lý các loại chất thải. Mặc dù mới đi
vào hoạt động nhưng HTX dịch vụ môi trường
Thanh Lãng thu hút được 12 thành viên tham gia góp
vốn đầu tư dụng cụ, thiết bị và 20 lao động
hợp đồng đảm nhận việc thu góp rác thải
trong địa bàn toàn xã. Mỗi thôn thành lập một
tổ công tác có nhiệm vụ đi thu gom toàn bộ rác
ở mọi ngõ gạch, từng hộ gia đình đều đặn
vào các buổi sáng trong ngày. Lượng rác thải
được tập kết tại bãi rác cách xã khu dân cư
chờ xử lý phân loại. Trung bình mỗi ngày HTX thu
gom được từ 15-20 tấn rác, đối với các loại
rác nông nghiệp, rác sinh hoạt không độc hại
tiến hành xử lý đốt, các loại rác làng nghề
có tính chất độc hại được chôn lấp. Rác thu
gom đến đâu được xử lý ngay đến đó tránh
để lâu làm ảnh hưởng đến môi trường xung
quanh.
Xã Thanh Lãng cũng đã mạnh dạn quy hoạch dành riêng
3 ha đất hoang hoá làm bãi xử lý và chôn lấp rác
thải; đồng thời đầu tư hàng trăm triệu đồng
đào hố, xây dựng hố chôn lấp và mở rộng
tuyến đường phục vụ các phương tiện đi lại
đổ rác. Để có kinh phí hoạt động, UBND xã cho
phép HTX dịch vụ môi trường của xã thu phí vệ
sinh trong dân 1.000 đồng/người/tháng, bằng với
mức quy định của UBND tỉnh.
Thanh Lãng là một trong những xã đi đầu trong việc
phát triển các ngành nghề. Hiện nay, toàn xã có
9 doanh nghiệp, 6 HTX, 3 làng nghề mộc truyền
thống và mứoi đây phát triển thêm nghề làm
nấm, mây tre đan, ươm tơ. Chỉ tính riêng lượng
rác thải của các doanh nghiệp, cơ sở sản
xuất, làng nghề, mỗi ngày toàn xã có tới hàng
chục tấn rác thải, nước thải được thải
trực tiếp ra môi trường xung quanh. Trước kia các
lề đường, cống rãnh biến thành bãi chứa rác
thải cộng thêm nước thải, gây ô nhiễm môi trường
cho cả vùng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức
khỏe của người dân. Nay HTX dịch vụ môi trường
của xã ra đời, rác thải được thu gom và xử lý
kịp thời bằng phương pháp thủ công tại nơi
quy định, đảm bảo đường làng ngõ xóm sạch
đẹp, môi trường không bị ô nhiễm như trước.
Trở lại xã Thanh Lãng những ngày đầu tháng 9 này,
môi trường nông thôn đã được cải thiện đáng
kể, không còn tình trạng đổ rác bừa bãi lề
đường. Người dân đã có ý thức hơn trong
việc giữ gìn vệ sinh môi trường chung. Mô hình
HTX Dịch vụ Môi trường Thanh Lãng là cách làm
hay lần đầu tiên được thành lập ở tỉnh Vĩnh
Phúc, đã thực sự phát huy được hiệu quả,
cần được nhân rộng.
Đào An
(Theo MONRE
Net)
|
|
HĐND THÀNH
PHỐ GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN DỰ
ÁN THOÁT NƯỚC HÀ NỘI
|
|
Sáng 7/9, Đoàn giám sát của HĐND TP
do ông chí Ngô thị Doãn Thanh - Phó Bí thư Thành
ủy, Phó Chủ tịch HĐND TP làm trưởng đoàn đã
làm việc với các Sở, ngành, quận, huyện về
kết quả thực hiện dự án thoát nước giai đoạn
1 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2 của dự án,
nhằm cải thiện môi trường Thủ đô
Theo
báo cáo của Sở GTCC, quy hoạch tổng thể thoát nước
và xử lý nước thải TP do Jica (Nhật Bản)
thiết lập đã được Thủ tướng chính phủ phê
duyệt, phạm vi cho toàn bộ lưu vực sông Tô
Lịch và sông Nhuệ (135m2) với tổng mức đầu tư
ước tính khoảng 1162 triệu USD trong đó giai đoạn
1 có tổng mức đầu tư 200 triệu USD (tương
đương 3100 tỷ đồng), tiến độ thực hiện từ
1997 - 2005. Đến nay, các hạng mục sau khi hoàn thành
và đưa vào sử dụng đã hạn chế được tình
trạng úng ngập cho Thủ đô. Các trận mưa lớn,
đặc biệt là cuối tháng 8 và đầu tháng 9 vừa
qua tuy vẫn còn một số điểm úng ngập trong
nội thành, nhưng thời gian úng ngập đã giảm
hẳn so với trước đây, nhất là những khu vực
có tác động trực tiếp của trạm bơm Yên Sở.
Các trạm xử lý nước thải thí điểm như: Kim
Liên, Trúc Bạch đều đang vận hành ổn định,
bảo đảm an toàn vệ sinh môi trường. Chất lượng
nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn...
Giai
đoạn 2 của dự án được triển khai từ năm
2006 - 2010 với tổng vốn đầu tư trên 5000 tỷ đồng.
Các hạng mục chủ yếu của giai đoạn này là: nâng
công suất trạm bơm Yên Sở từ 45m3/s lên 90m3/s;
cải tạo 32,2km kênh thoát nước; cải tạo 9 hồ
và 2 hồ điều hòa; xây dựng trạm xử lý nước
thải tập trung tại hồ Bảy Mẫu, công suất
13.300m3/ngày
(Theo HNM)
|
HẢI
PHÒNG: SỐNG CHUNG VỚI
... KHÓI ĐỘC
Vừa đặt chân đến Quán Trữ tôi
đã choáng bởi một thứ mùi khét nồng, hăng hắc xộc
thẳng vào mũi, xông thẳng lên não, choáng váng đầu óc.
Không thể ngờ giữa thành phố Hải Phòng mà có tới
cả ngàn hộ dân phải sống triền miên trong ô nhiễm
bởi khói độc của rất nhiều nhà máy trong khu dân cư
thải ra...
Quanh
năm bịt khẩu trang
Từ xa đã thấy những cụm khói
do hàng chục cơ sở sản xuất gần đó thải ra, âm ỉ
vần vũ khiến cả khu vực phường Quán Trữ (quận
Kiến An) và thôn Trang Quan, xã An Đồng (huyện An Dương)
bảng lảng như được bao phủ bởi một làn sương mù.
Cái vẻ “lãng mạn” đó mất
hẳn đi khi đi sâu vào “nội địa”: những căn nhà
cửa đóng then cài im ỉm, thi thoảng mới có người ra
đường vì sợ khói. Cảnh tượng khiến người ta liên
tưởng đang đi giữa một vùng bệnh dịch. Lần ra mép sông
Lạch Tray - nơi Công ty TNHH An Sinh xử lý và tái chế
dầu cặn - mới càng kinh khủng: mặt hồ nhỏ đằng sau
xưởng sản xuất váng nổi lều bều kinh khủng, nước
lên đến đâu dầu dềnh đến đó. Cả một vùng cây
cối xung quanh cháy vàng vì dầu, nền đất quanh đó cũng
biến thành màu nâu sậm vì ngấm dầu.
Chị Huệ, chủ quán nước, cách
xưởng dầu khoảng 200m, lúc nào cũng bịt khẩu trang kín
mít, nhăn mặt: “Cái lò tái chế dầu đó mà hoạt động
thì chỉ có đóng cửa quán, mùi kinh khủng. Đợt này nó
hoạt động về đêm nên ban ngày còn đỡ mùi đó. Quanh
đây có đến chục cái nhà máy, xưởng sản xuất quanh
năm tỏa đủ thứ mùi: mùi khét, mùi nhựa, mùi khí
gas... Nhà tôi làm giải khát gió hắt mùi vào không
chịu nổi. Có nhà phải nhốt con cái trong nhà suốt ngày.
Trẻ con mới được mấy tháng tuổi mà cứ phải ngửi
những thứ mùi độc hại này thì nguy hiểm quá!”.
Thôn Trang Quan, An Đồng, An Dương
- giáp với Khu công nghiệp Quán Trữ - cũng chịu ảnh hưởng
nghiêm trọng. Ông Vũ Nhật Vịnh, trưởng thôn Trang Quan,
bức xúc: “Mấy cái xưởng xử lý dầu thải đó hoạt
động cứ chiều chiều là xả khói bụi đen mịt mù, mùi
hắc kinh khủng. Con cái đi học về không dám cho chơi
ở ngoài, bắt vào nhà đóng cửa kín mít. Thôn có một
trường mầm non khoảng 200 cháu, cũng phải đóng cửa
bật điện suốt ngày vì mùi...”.
Không chỉ các hộ dân, ngay cả
các cơ quan đóng gần đấy cũng chịu chung số phận
bị hít khói. Ông Nguyễn Thành Lập, giám đốc Công ty
Đảm bảo giao thông đường thủy Hải Phòng, cho biết:
“Ngay cạnh công ty tôi là xưởng tái chế nhựa, bao bì
của Công ty TNHH Hồng Thái. Mỗi lần họ đốt nhựa là
khói mù mịt. Nhân viên văn phòng ngồi làm việc mà
phải đeo khẩu trang, lấy khăn bịt mặt. Khói xộc vào
mắt cay xè thì cứ phải chịu trận. Nhiều hôm phải
cho anh em nghỉ sớm”.
Cơ
quan chức năng thờ ơ
Ông Lê Sơn, trưởng Phòng quản
lý môi trường thành phố Hải Phòng, xác nhận: “Qua
kiểm tra, chúng tôi thấy rằng Công ty TNHH Hồng Thái có
công nghệ không đảm bảo điều kiện về môi trường.
Hiện công ty này đã có cam kết dừng sản xuất từ ngày
1-6-2006”.
Tuy nhiên, theo ghi nhận của
Tuổi Trẻ, cho đến hôm nay Công ty Hồng Thái vẫn
tiến hành sản xuất bình thường và thải ra khu vực
xung quanh khói bụi với mùi cay, hắc khẳn rất khó
chịu. Tương tự vậy, sau khi nhiều người dân tại thôn
Trang Quan, xã An Đồng (An Dương) gửi đơn kêu cứu tập
thể vì môi trường sống của họ đang bị đe dọa,
Sở Tài nguyên - môi trường (TN-MT) đã tiến hành kiểm
tra thực địa cơ sở sản xuất dầu cặn An Sinh và
kết luận nơi đây sản xuất gây ô nhiễm. Tuy nhiên,
việc xử lý cũng chỉ mới dừng lại ở mức... cam
kết.
Sở TN-MT Hải Phòng cũng cam kết
với người dân: sẽ tiến hành quan trắc tức thời khi
các hộ dân thôn Trang Quan phát hiện thấy có ô nhiễm
để kiểm tra, giám định mức độ ô nhiễm để có
biện pháp xử lý kịp thời. Tuy nhiên theo ông Sơn, cho
đến nay sở vẫn chưa nhận được thông báo nào của các
hộ dân phát hiện có dấu hiệu ô nhiễm, bởi vậy nên
sở chưa tiến hành quan trắc để xử lý.
Song theo tìm hiểu của Tuổi
Trẻ, đã nhiều lần người dân thôn Trang Quan thông báo
tới Sở TN-MT hiện tượng xả khói trở lại của Công
ty An Sinh nhưng không có hồi âm. Ông Vũ Nhật Vịnh, trưởng
thôn Trang Quan, cho hay chính ông đã gọi điện đến Sở
TN-MT báo ô nhiễm nhưng được một cán bộ của sở
trả lời: UBND xã An Đồng điện hoặc thông báo thì
sở mới cử cán bộ sang quan trắc, xử lý việc gây ô
nhiễm (!).
Ông Vịnh bức xúc: “Họ xả khói
ban đêm, khi đó UBND xã còn làm việc đâu mà chúng tôi
thông báo tới sở được”. Trong lúc chờ các cơ quan
chức năng xử lý, hàng ngàn người dân quanh Khu công
nghiệp Lãm Hà chỉ còn cách tự bảo vệ mình bằng cái
khẩu trang thô sơ và vẫn phải ngày đêm chung sống
với khói độc...
TRỌNG PHÚ (Theo MONRE Net)
KHÔNG
BẢN SẮC
Có những con đường
ngập bụi, trơ trọi không một bóng cây. Lại có đường
toàn cây đắt tiền mà thoạt nhìn cứ tưởng đang đi
trên châu Phi.
Đó là cảm nhận chung của
nhiều đại biểu tham dự một hội nghị lần đầu tiên
bàn về việc chọn cây gì, trồng như thế nào cho phù
hợp với mỗi con đường, khu dân cư, khu du lịch tổ
chức vào một ngày cuối tháng Sáu ở Hà Nội.
TS Nguyễn Hồng Tiến, Vụ Hạ
tầng Kỹ thuật Đô thị (Bộ Xây dựng), cho biết:
“Hệ thống cây xanh mới chỉ hình thành và tập trung
ở các đô thị lớn và trung bình. Ở các đô thị
nhỏ, diện tích cây xanh không đáng kể. So với các tiêu
chuẩn, quy chuẩn, tỷ lệ diện tích đất cây xanh ở
Việt Nam còn quá thấp so với yêu cầu”.
Các đô thị đô thị loại đặc
biệt như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỷ lệ diện tích đất
cây xanh chiếm khoảng 1,5 - 2m2/người. Đối với đô
thị loại I, tỷ lệ này rất khác nhau: TP Đà Nằng
chỉ có 0,5m2/người; Huế 10,2m2/người. Các đô thị
loại IV, V, tỷ lệ còn thấp nữa.
“Còn rất nhiều khu dân cư, con
đường không một bóng cây. Vào ngày hè oi bức, không
khí vừa bụi bặm, vừa ngột ngạt, ảnh hưởng rất
lớn tới sức khoẻ dân cư.” – TS Tiến nói.
GS. TS Nguyễn Hữu Dũng, Vụ
trưởng Vụ KHCN, Bộ Xây bổ sung với chi tiết: bình quân
đất cây xanh công viên ở Hà Nội chỉ chiếm hơn 10%
quy chuẩn xây dựng ban hành, thấp hơn hàng chục lần so
với tiêu chuẩn các thành phố trong khu vực và trên
thế giới.
Số công viên không những ít mà
còn nhỏ về quy mô, phân bố không đều. Nhiều khu vực
trong thành phố gần như không có công viên.
TS thực vật học Nguyễn Đăng Khôi “Suốt dọc đường Lê
Đức Thọ và xung quanh khu liên hợp thể thao quốc gia
Mỹ Đình (Hà Nội) đều trồng cau bụng khiến người
đi đường có cảm giác đang ở một nước châu Phi nào
đó chứ không phải Việt Nam!”
“Thật là
một đại dịch cau bụng, cọ dầu đang diễn ra ở các
đô thị miền Bắc. Cứ đà này thì cảnh quan của Thủ
đô ngàn năm văn hiến và nhiều nơi khác sẽ biến thành
cảnh quan của các đô thị khô hạn ở châu Phi” – TS
Khôi cảnh báo
Cũng lại
cọ dầu được đem trồng suốt dọc con đường bao
quanh khu tưởng niệm đại thi hào Nguyễn Du ở quê hương
Hà Tĩnh. Rồi hai cây bạch đàn trắng xuất xứ Australia
được trồng ở hai bên mặt trước của hội trường
Ba Đình lịch sử.
Loài cây làm
nên bản sắc đất nước và mỗi địa phương ở Việt
Nam là những cây nào? Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn
Hồng Quân trăn trở: “Cây của chúng ta vốn chỉ
được trồng để lấy bóng mát chứ ít quan tâm đến
bản sắc. Làm thế nào để chúng ta có nhiều hơn
những thành phố (TP) Hoa Phượng Đỏ như TP Hải Phòng”
Manh
mún, tự phát
Bộ trưởng
Nguyễn Hồng Quân minh hoạ vấn đề này bằng chuyện
một lãnh đạo địa phương tới thăm Hà Nội, thấy cây
bằng lăng đẹp quá liền quyết định mua cả vạn cây
về trồng ở địa phương mình dù chưa nghiên cứu
thấu đáo xem nó có phù hợp hay không.
Cây hoa
sữa – một loại cây có hoa thơm ngọt ngào, quyến rũ
từng gắn liền với nhiều con đường Hà Nội và xuất
hiện trong nhiều bài thơ, bài hát trữ tình.
Nhưng khi
được trồng với mật độ dầy đặc trên đường
phố các đô thị miền Trung như Đồng Hới (Quảng Bình),
TP Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam); TP Quảng Ngãi
(Quảng Ngãi), TP Nha Trang (Khánh Hoà), mùi hương nồng đặc
biệt vào cuối mùa hè của hoa làm người đi đường
“chịu hết nổi”!
Một số địa phương như TP Hồ
Chí Minh, do chưa có quy hoạch rõ ràng, nhiều người bổ
sung mảng đường phố bằng cách trồng loại cây mà mình
yêu thích, miễn đáp ứng yêu cầu cây nhanh lớn, cho bóng
mát.
TP hiện đang tồn tại trên 5000
cây được liệt vào danh sách nguy hiểm vì ảnh hưởng
không tốt đến sức khoẻ và môi trường sống như cây
sao, cây dầu. Với đặc tính nhánh giòn, dễ gãy, sao và
dầu đóng góp gần 50% số vụ tai nạn chết người do cây
xanh.
Vừa qua ở
Hải Phòng, chính quyền TP quyết định loại bỏ cây vông
gai vì quả của nó đã gây ngộ độc cho rất nhiều
trẻ em.
Ngoài ra,
nhiều đoạn đường, vỉa hè đang trở thành nạn nhân
khi bị loại cây xanh có hệ thống rễ ăn ngang, lồi lõm
phá nát như Hà Nội với cả ngàn cây xà cừ cổ thụ.
“Chi phí đầu tư cho công
tác sản xuất và duy trì cây xanh chủ yếu dựa vào ngân
sách Nhà nước. Những năm gần đây, một số đô thị
cũng chú trọng đầu tư cho cây xanh như TP Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Nha Trang, Cần Thơ” – TS Nguyễn Hồng Tiến
cho biết.
Mỗi năm, các đô thị này đầu
tư từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng. Nhưng nếu
không kêu gọi được các nguồn đầu tư khác, ngân sách
địa phương sẽ không thể gánh nổi.
Đối với các đô thị khác, chi
phí đầu tư cho phát triển cây xanh hầu như không đáng
kể hoặc rất thấp. Có nơi chỉ vài triệu đồng một
năm như Vĩnh Yên, Quảng Trị, Đông Hà
Ông Nguyễn Văn Bảo, Vụ Kết
cấu Hạ tầng&Đô thị, Bộ KH& ĐT, nêu thực
trạng chưa có một diện tích đất cây xanh nào được
cắm mốc giới để quản lý quy hoạch và kêu gọi đầu
tư.
Tại đại hội thành lập Hiệp
hội Cây xanh Đô thị tổ chức ở Hà Nội mới đây, để
tiến đến những đô thị được làm nên bản sắc từ
cây xanh, các đại biểu thaừ nhận còn quá nhiều việc
phải làm.
Còn hiện giờ là tình trạng
manh mún, tự phát, tình trạng phá cây, tỉa cành, mé nhánh,
khai thác tuỳ tiện, xây dựng, đào bới các công trình
ngầm làm ảnh hưởng tới tuổi thọ cây xanh.
Nhờ tán lá ngăn cách ánh sáng,
bức xạ mặt trời, cây xanh tạo ra những vùng râm mát
dưới tán lá, nhiệt độ có thể giảm đi 1 - 30 C, độ
ẩm tăng từ 10 – 14%, tốc độ gió của những vùng này
có thể giảm 20 – 60% tuỳ theo bề rộng, độ lớn và
mật độ cây xanh tại đây.
Cây xanh còn hấp thụ làm giảm
bớt khói bụi, khí độc, cung cấp một lượng ôxy
lớn, quang hợp cacbonic, làm cho bầu không khí đô thị
thêm trong lành.
(Theo
ThoibaoViet.com -04.09.2006)
MUA
BÁN
KHÍ THẢI - THỊ TRƯỜNG MỚI HẤP DẪN
Kinh doanh khí thải, nhằm giải
quyết vấn đề khí hậu toàn cầu ấm dần lên do hiệu
ứng nhà kính, là thị trường mới phát triển mạnh vài
năm gần đây và được giới ủng hộ xem là “giải pháp
lưỡng lợi” khi vừa bảo vệ môi trường vừa phát
triển kinh tế. Tuy nhiên, phía phản đối cho rằng giải
pháp này không tập trung vào các nguyên nhân làm khí
hậu ấm lên...
· Thị
trường tấp nập
Nghị định thư Kyoto quy định
từ năm 2008 đến năm 2012, các nước công nghiệp đã phê
chuẩn phải cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính
(chủ yếu là CO2 chiếm hơn 70%) trung bình 5,2%
so với mức 1990. Tuy nhiên, theo Hội đồng liên chính
phủ về thay đổi khí hậu (IPCC), thì 5,2% là quá nhẹ,
vì để tránh thảm họa toàn cầu do khí hậu ấm lên,
mức cắt giảm phải đến 60% trên mọi lĩnh vực liên
quan.
Việc kinh doanh khí thải CO2
(carbon trade) được cho là có từ năm 1989 và càng “ăn
nên làm ra” khi Nghị định thư Kyoto có hiệu lực từ
tháng 2-2005. Theo quan điểm của thị trường này, tổng
lượng khí CO2 trong khí quyển quan trọng hơn
nguồn gốc của nó. Từ đó, tạo cơ chế lựa chọn:
hoặc tự lo cắt giảm khí thải hoặc cứ gây ô nhiễm
rồi trả phí cho nơi khác cắt giảm giùm.
Kinh doanh khí thải có 2 hình
thức chính là mua bán hạn mức thải khí giữa các nước
phát triển, nước gây ô nhiễm nhiều có thể mua mức
thải khí chưa dùng hết của nước khác để được
quyền thải vượt hạn mức; hoặc mua quyền thải khí
qua việc đầu tư vào những dự án môi trường ở các
nước đang phát triển, như trồng rừng, bảo tồn đất,
bảo vệ đời sống hoang dã, tăng hiệu suất năng lượng,
sử dụng năng lượng tái tạo được... Các doanh
nghiệp gây ô nhiễm nhiều cũng có thể mua hạn mức
hoặc mua quyền thải khí để được chứng nhận là
“không gây ô nhiễm”.
Thị trường khí thải ngày càng
chứng tỏ tiềm năng, thu hút nhiều thành phần tham gia:
các hãng tư vấn và môi giới chuyên xác định mức khí
thải rồi đề xuất giải pháp cắt giảm như
EcoSecurities, Climate Change Capital…, các công ty chuyên
chứng thực quyền thải khí như Det Norske Veritas, Societe
General de Surveillance..., các tổ chức môi trường như
World Resources Institute, Environmental Defense..., tổ chức tài
chính đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB)... Dù chính
phủ Mỹ đã rút khỏi Nghị định thư Kyoto nhưng kinh
doanh khí thải cũng đang được quan tâm nhiều ở Mỹ, nơi
có CCX (Chicago Climate Exchange) là một thị trường tự
nguyện.
WB là nhà trung gian lớn của
thị trường kinh doanh khí thải, chuyên tài trợ cho
nhiều dự án môi trường ở các nước đang phát
triển. Năm 2005, quỹ Prototype Carbon Fund do WB sở hữu đã
đạt 915 triệu USD, hơn gấp đôi so với 415 triệu USD năm
2004. Thị trường kinh doanh khí thải còn khá mới, nhưng
theo ước tính của WB, năm 2005 đã đạt khoảng 10 tỷ
USD và dự báo sẽ trên 25 tỷ USD.
· Hệ
thống ETS của EU
Sự hợp tác quốc tế đầu tiên
nhằm đối phó khí thải gây hiệu ứng nhà kính là Hệ
thống kinh doanh khí thải châu âu (ETS), áp dụng từ
1-1-2005 ở 25 nước EU - khối tạo khí thải nhiều thứ
nhì thế giới, chỉ sau Mỹ. Hạn mức thải CO2
- do mỗi chính phủ xác định và EU phê chuẩn - được
cấp cho khoảng 12.000 nhà máy điện và công nghiệp
nặng ở 25 nước EU, cả của các công ty không thuộc châu
Âu. Số nhà máy này tạo ra gần 1/2 lượng khí thải CO2
ở EU.
Thành viên ETS chỉ được thải
khí trong hạn mức, muốn thải nhiều hơn phải mua. Lúc
ETS bắt đầu hoạt động, phí mua quyền thải một tấn
CO2 là 7 euro, đến 7-2005 lên đến 29 euro và nay
ổn định ở mức 20-25 euro. Mỗi tấn khí thải vượt
mức bị phạt 40 euro. Hạn mức thải khí nhằm buộc các
doanh nghiệp đầu tư kỹ thuật sạch hơn và giảm khí
thải, nhưng theo Ủy ban châu Âu (EC), các chính phủ đã
cấp quá nhiều giấy phép thải khí, làm chúng trở thành
hàng hóa mua bán.
· Lợi
bất cập hại
Kinh doanh khí thải được Chương
trình môi trường LHQ, Hội đồng liên chính phủ về
thay đổi khí hậu (IPCC), Quốc hội châu âu, nhiều tổ
chức phi chính phủ và các doanh nghiệp “xanh”... ủng
hộ, xem là “giải pháp lưỡng lợi” bởi vừa bảo
vệ môi trường vừa phát triển kinh tế. Nghị định thư
Kyoto cũng có Cơ chế phát triển sạch (CDM) cho phép các
nước phát triển đạt chứng nhận khí thải bằng cách
tài trợ các dự án môi trường ở các nước đang phát
triển.
Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học và
các tổ chức môi trường như Carbon Trade Watch, Oilwatch,
World Rainforest Movement... tuyên bố đó không phải cách
giải quyết các vấn đề môi trường, không chú trọng
các nguyên nhân làm khí hậu toàn cầu ấm lên.
Việc mua bán khí thải không hướng
đến giải pháp gốc rễ chống lại khí hậu ấm lên là
giảm dần đến ngưng hẳn dùng năng lượng hóa thạch.
Các nước công nghiệp phải có trách nhiệm chính với
thảm họa khí hậu, sử dụng tài nguyên hợp lý hơn,
bảo tồn năng lượng, cắt giảm khí thải và chuyển
sang dùng các năng lượng hiệu quả hơn, sạch và tái
chế được. Cứ thải khí gây ô nhiễm rồi trồng cây
để hấp thụ CO2 là sai lầm, càng làm con người
tăng cường khai thác than đá, dầu mỏ thay vì chuyển
sang các năng lượng sạch. Trồng cây sẽ hấp thụ bao
nhiêu CO2 và trong bao lâu vẫn còn chưa được xác
định thống nhất. Trồng cây để cải thiện khí hậu
hoàn toàn khác với trồng cây để được quyền đốt
thêm năng lượng hóa thạch...
Việc kinh doanh khí thải chỉ có
hiệu quả khi góp phần cắt giảm được lượng khí
thải gây hiệu ứng nhà kính, còn bản thân việc hình
thành thị trường này không làm giảm khí thải. Ngoài
ra, hiệu quả còn bị hạn chế nhiều vì không thể bao
gồm toàn bộ, như Mỹ đứng đầu với 25% lượng khí
thải toàn cầu, lại đã rút khỏi Nghị định thư
Kyoto.
Một số nước đang phát triển
xem kinh doanh khí thải là nguồn thu tiềm năng. Từ năm
2005, nhiều nước Mỹ La tinh, đi đầu là Brazil rồi
Mexico, Chile, Costa Rica, Honduras, Bolivia... đã có nhiều
dự án tập trung vào tái tạo và hiệu quả năng lượng,
trồng rừng, thủy điện nhỏ... để phục vụ cho thị
trường khí thải.
Khi các nước giàu xem mua quyền
thải khí là giải pháp thực hiện cam kết Nghị định
thư Kyoto, còn các nước nghèo lại xem đó là cơ hội để
nhận tài trợ các dự án môi trường, thì liệu có
phải là giải pháp hiệu quả để bảo vệ trái đất
khỏi ấm lên?
Bầu khí quyển là chung của trái
đất nên ô nhiễm không khí tồn tại và đe dọa sự
sống ở mọi nơi. Theo WHO, mỗi năm thế giới có 3
triệu người chết vì ô nhiễm không khí ngoài trời do
khí thải từ công nghiệp và giao thông, 1,6 triệu người
chết vì ô nhiễm không khí trong nhà do dùng năng lượng
hóa thạch, phần lớn là ở các nước nghèo. Các nước
đang phát triển tạo ra khí thải ít nhất nhưng phải
chịu ảnh hưởng nhiều nhất của sự thay đổi khí
hậu với những hậu quả như nạn đói, mất mùa, hạn
hán, bệnh tật.... nghiêm trọng nhất là ở châu Phi.
Theo WB, ô nhiễm không khí làm kinh tế Trung Quốc tổn phí
25 tỷ USD/năm cho y tế và giảm năng suất lao động.
Thiện Nguyễn (Theo SGGP)
TOP
10 CÔNG
NGHỆ MÔI TRƯỜNG MỚI
moi.gov.vn
- 01/09/2006
Theo Liên Hợp Quốc, các chính sách
năng lượng gây lãng phí, lạm dụng nguồn lực, khan
hiếm nước, thay đổi khí hậu toàn cầu và phá rừng là
những vấn đề mà các chuyên gia cho biét cần phải
giải quyết để con người có thể có cuộc sống bền
vững trên hành tinh này. Tới năm 2025, có thêm 2,9 tỷ người
góp phần làm khan hiếm nguồn nước và nhu cầu về năng
lượng của cả thế giới sẽ tăng 60% vào năm -2030.
LiveScience hướng tới 10 công nghệ- một số công nghệ
cũ, một số mới, một số công nghệ khác lạ- có thể
mở ra một tương lai tươi sáng hơn.
1.
Chế biến dầu từ bất cứ thứ gì
Bất kỳ rác thải có chứa cácbon
nào, từ ruột gà tây tới vỏ hộp kim loại, lốp xe đã
qua sử dụng dưới nhiệt độ và áp suất vừa đủ
sẽ biến thành dầu thông qua một quy trình có tên là
quy trình phân hoá bằng nhiệt (thermo-depolymerization). Quy
trình này rất giống với phương thức của tự nhiên
sản sinh ra dầu, tuy nhiên, với công nghệ này, phải
trả qua một quy trình kéo dài hàng triệu năm để có
được một sản phẩm phụ tương tự. Những người đề
xướng công nghệ này khẳng định rằng một tấn chất
thải từ gà tây có thể sản xuất được khoảng 600
pound dầu hoả.
2.
Khử muối
Theo Liên Hợp Quốc, khan hiếm
nguồn nước sẽ ảnh hưởng tới hàng tỷ người vào
giữa thế kỷ này. Việc khử muối, về cơ bản là tách
muối và khoáng chất từ nước biển, là một phương pháp
nhằm cung cấp nước uống ở nhiều nơi trên thế giới
mà hiện nay nguồn cung cấp nước còn hạn chế. Vấn đề
tồn tại ở công nghệ này là chi phí cao và tiêu tốn
nhiều năng lượng. Các nhà khoa học đang hướng tới
những quy trình tiến bộ hơn để nhiên liệu đắt đỏ
này có thể đốt nóng và làm bay hơi nước trước khi
lọc qua những màng lọc có lỗ cực nhỏ nhằm nâng cao
hiệu quả.
3.
Màng lượng "H"
Việc sử dụng pin năng lượng
hyđrô được coi như một lựa chọn không gây ô nhiễm
môi trường, thay vì sử dụng nhiên liêu hoá thạch. Con
người tạo ra nước bằng cách kết hợp hyđrô và ôxy.
Trong quy trình này, họ sản xuất ra điện. Vấn đề ở
đây là pin nhiên liệu có chứa hyđrô. Các phân tử như
nước và rượu phải được xử lý nhằm chiết xuất
ra hyđrô cung cấp cho pin nhiên liệu. Một vài quy trình yêu
cầu cần phải sử dụng các nguồn năng lượng khác, do
đó phá hỏng những ưu điểm của loại nhiên liệu
sạch này. Hiện nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu các
phương pháp nạp năng lượng cho máy tính xách tay và các
thiết bị nhỏ bằng pin nhiên liệu, và một số công ty
sản xuất ô tô hứa hẹn rằng sớm đây thôi, chúng ta
sẽ được thấy những chiếc ô tô không thải ra gì ngoài
nước sạch. Tuy nhiên, hứa hẹn về một " nền kinh
tế hyđrô" không chỉ là vấn đề tất cả các chuyên
gia đều đồng tình mà còn sẽ được thực hiện trong
tương lai.
4.
Ý tưởng mới về Mặt trời
Năng lượng mặt trời, chiếu
tới Trái đất dưới dạng các photon ( lượng tử ánh sáng),
có thể biến thành điện hoặc nhiệt. Tjiết bị thu năng
lượng mặt trời có nhiều dạng khác nhau và đã được
các công ty năng lượng và các hộ gia đình sử dụng thành
công. Hai loại thiết bị thu năng lượng mặt trời phổ
biến nhất là pin năng lượng mặt trời và thiết
bị thu nhiệt mặt trời. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu
đang tích cực loại bỏ các hạn chế để biến đổi
nguồn năng lượng này một cách hiệu quả hơn bằng cách
tập trung năng lượng mặt trời thông qua sử dụng các
tấm gương và đĩa hình parabol. Thách thức tận dụng năng
lượng mặt trời có liên quan tới sự thúc đẩy và
khuyến khích từ phía chính phủ. Thực tế ở một số
cộng đồng, vấn đề này hoàn toàn không được
khuyến khích do những điều luật khắt khe về thẩm
mỹ.
5.
Biến đổi năng lượng nhiệt đại dương
Thiết bị thu năng lượng mặt
trời lớn nhất thế giới chính là đại dương rộng
lớn của chúng ta. Theo Bộ năng lượng Hoa Kỳ, mỗi ngày
các đại dương hấp thu nhiệt từ mặt trời đủ để
sản sinh năng lượng nhiệt bằng 250 tỷ thùng dầu. Mỹ
tiêu thụ khoảng 7,5 tỷ thùng một năm. Các công nghệ
của OETC biến đổi năng lượng nhiệt trong đại dương
thành điện bằng cách tận dụng sự khác biệt về
nhiệt độ giữa mặt nước bị đun nóng và độ lạnh
dưới đáy đại dương. Sự khác biệt về nhiệt độ
như vậy có thể vận hành các yua-bin và làm cho máy phát
điện hoạt động. Nhược điểm lớn trong công nghệ này
là vẫn chưa đủ hiệu quả để có thể được dùng làm
cơ chế chính sản sinh ra năng lượng.
6.
Khai thác năng lượng sóng và thuỷ triều
Các đại dương bao phủ hơn 70%
bề mặt Trái đất. Sóng chứa một nguồn năng lượng
dồi dào có thể làm các tuabin hoạt động, và có thể
biến năng lượng cơ học này thành điện. Trở ngại
khi sử dụng nguồn năng lượng này là sự khó khăn
trong vấn đề khai thác. Đôi khi sóng quá nhỏ để sản
xuất đủ năng lượng. Bí quyết là phải có khả năng
tích luỹ nguồn năng lượng này khi có đủ năng lượng
cơ học được sản sinh ra. East River thuộc thành phố
New York hiện là nơi thử nghiệm cho 6 tuabin chạy bằng năng
lượng thuỷ triều, và lòng tin của người Bồ Đào Nha
về năng lượng sóng đựơc đặt vào một dự án mới
hy vọng sản xuất đủ năng lượng cho hơn 1.500 ngôi nhà.
Ở đây, một hệ thống hỗ trợ có khả năng thu năng lượng
đại dương từ sóng cồn ngoài khơi được các nhà nghiên
cứu trường Đại học Bang Oregon thiết kế.
7.
Trồng cây trên mái nhà
Chúng ta tự hỏi rằng ý tưởng
này xuất phát từ Vườn treo Babylon, một trong 7 kỳ quan
của Thế giới, đã không được áp dụng sớm hơn trong
thế giới hiện đại. Truyền thuyết ghi lại rằng các
mái nhà, ban công và sân thượng của hoàng cung Babylon
được biến thánh những khu vườn theo lệnh của Vua để
làm vui lòng một trong những người vợ của mình. Vườn
trên mái nhà giúp hấp thụ nhiệt, giảm tác động của
cácbon điôxit vì nó thu khí CO2 và thải ra khí ôxy, ngâm
nước mưa và giảm việc sử dụng điều hoà trong mùa hè.
Về cơ bản, kỹ thuật này có thể làm giảm các hiệu
ứng " đảo nhiệt" (heat island effects) ở các
trung tâm thành phó. Bướm và loài chim hót cũng có thể
bắt đầu thường xuyên bay tới những mái nhà vườn
ở thành phố, và giống như vợ vua, thậm chí có thể làm
những người dân sống ở những toà nhà này vui vẻ.
Ở đây, một mái nhà vườn đang được thử
nghiệmtại Bang Penn.
8.
Hãy để cây cối và vi khuẩn làm sạch cho chúng ta
Công nghệ "Bioremediation"
sử dụng vi khuẩn vàcay cối làm sạch ô nhiễm. Chẳng
hạn như việc làm sạch natrat trong nước ô nhiễm bằng
vi khuẩn, và dùng cây để hút asen từ đất ô nhiễm thông
qua quy trình có tên gọi phytorenediation (quá trình sinh
học thực hiện xử lý ô nhiễm đất hoặc nước bằng
cách tận dụng tối đa các loài thực vật có khả năng
hấp thụ hay phân huỷ chất gây ô nhiễm). Cơ quan Bảo
vệ Môi trường Mỹ đã sử dụng quy trình này để làm
sạch ở nhiều khu vực. Thường thì các loài cây tự
nhiên có thể được sử dụng để phục vụ làm sạch
những khu vực xây dựng, tròng các loài cây tự nhiên có
thể được sử dụng để làm sạch những khu vực xây
dựng, trồng các loài cây này rất thuận lợi bởi vì
hầu như trong mọi trường hợp, chúng không cần tưới
nước hoặc phun thuốc trừ sâu. Trong một số trường
hợp khác, các nhà khoa học đang nỗ lực biến đổi gen
các loài cây này và vận chuyển chúng nuôi lá nhằm
loại bỏ dễ dàng chất ô nhiễm đó.
9.
Chôn lấp các chất ô nhiễm
Cácbon điôxit là khí nhà kính đễ
thấy nhất làm cho trái đất nóng lên. Theo Cơ quan
Quảng lý thông tin Năng lượng, vào năm 2030 chúng ta sẽ
thải ra gần 8.000 triệu tấn CO2. Một số chuyên gia cho
rằng thật khó có thể hạn chế sự phát tán khí CO2 vào
khí quyển và chúng ta phải tìm ra các phương pháp loại
bỏ chất khí này. Một phương pháp được đề xuất là
chôn khí đó dưới lòng đất trước khi chúng kịp bay vào
khí quyển. Sau khi khí CO2 được tách ra từ các loại khí
phát tán khác, khí này có thể được chôn trong các
giếng dầu đã bị bỏ hoang, các hồ chứa nước mặn và
các tảng đá. Trong khi việc này có vẻ rất hiệu quả,
các nhà khoa học vẫn không chắc chắn liệu khí này
có nằm yên dưới lòng dất hay không, các tác động lâu
dài là gì và chi phí tách và chôn lấp chúng vẫn còn quá
cao để thể coi công nghệ này là một giải pháp thực
tiễn trước mắt.
10.
Loại bỏ giấy
Hãy tưởng tượng bạn đang
nằm cuộn tròn trên giường với tờ báo buổi sáng và
sau đó cũng đọc một cuốn tiểu thuyết mới nhất
của nhà văn bạn yêu thích bằng chính tờ giấy này. Đó
là khả năng của giấy điện tử, một màn hình linh
hoạt trông giống như một tờ giấy thực sự nhưng
lại có thể tái sử dụng hết lần này đến lần khác.Màn
hình bày bao gồm các hạt nhỏ microcapsules ( vi chất
capsule) chứa các hạt mang điện tích tới một lá thép.
Mỗi một microcapsules có chứa các hạt trắng và đen
nhiễm điện dương hoặc âm. Tuỳ thuộc vào điện cực
âm hay dương mà các hạt trắng hoặc đen xuất hiện trên
bề mặt hiển thị những hình mẫu khác nhau. Chỉ riêng
ở Mỹ, hơn 55 triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày.
(Theo www.moi.gov.vn )
Ô
nhiễm giao thông
Ngày nay 99% ô tô trên thế giới
đều sử dụng động cơ xăng. Ô tô thông qua đốt xăng
hoặc dầu diezel mà nhận được động lực. Nhưng khi đốt
xăng hoặc dầu diezel đều sản sinh ra những loại khí có
hại. Khí thải của ô tô còn gọi là “khí đuôi xe”,
nói chung có chứa các thành phần sau: Khí CO, các hợp
chất của cacbua hydrro, hợp chất nitrorua, khói than, CO2,
SO2.
CO là loại khí do xăng cháy chưa
hoàn toàn. Sức hấp thu ôxi của nó rất mạnh. Nó kết
hợp với hồng cầu của máu trong cơ thể, khiến cho
một lượng lớn khí ôxi đi vào cơ thể bị chúng hấp
thu, do đó rất có hại cho sức khoẻ. Nếu con người hít
phải nhiều khí CO sẽ cảm thấy đau đầu, không có
lực, thậmk chí hôn mê, tử vong. Ngộ độc khí than
tức là do hít phải một lượng khí lớn CO mà gây nên.
Các hợp chất của khí cacbua
hydrro là do nguyên liệu của ô tô bốc hơi, hoặc do nhiên
liệu không cháy hoàn toàn mà sinh ra, nó chứa 200 loại
chất, trong đó có nhiều loại gây nguy hiểm.
Các hợp chất của khí nitrorua là
những hợp chất do nitơ và ôxi dưới điều kiện
nhiệt độ cao trong xi lanh phát sinh ra các phản ứng hoá
học mà thành. Các hợp chất này có độ độc rất
mạnh, ảnh hưởng không tốt đến người và thực
vật, nó còn gây ra mưa axít và sương mù quang hoá học
làm chấn động thế giới sinh năm 1955 ở thành phố
Lusanca, Mỹ chính là do các hợp chất của khí nitrorua gây
nên.
Khí thải ô tô còn chứa nhiều
loại vi hạt của khói than, trong đó có hạt than, các hoá
chất của lưu huỳnh, hợp chất của chì, những loại này
là những chất gây ra khối u. Ngoài khí sunfurơ ra, khí
thải ô tô đối với hệ thống hô hấp của người gây
nguy hại rất lớn, có thể dẫn đến các bệnh viêm khí
quản và bệnh hen.. Trong khí thải của ô tô có các
hợp chất của chì như Tetrmenthyl lead (CH3)4Pb. Đó là vì
trong xăng đã pha thêm chất dầu bôi trơn Tetrmenthyl lead.
Thông thường mỗi galon (bằng 3,79 lít) xăng người ta thêm
vào 2-4g Tetrmenthyl lead. Khi ô tô chạy, 25-75% dầu này cháy
với xăng sinh ra các hợp chất của chì thải vào không
khí. Chì là kim loại nặng, rất độc, ankyl chì có độ
độc của ankyl chì cao gấp 100 lần so với kim loại chì.
Khi chì và các hợp chất của chì xâm nhập vào không khí
ở dạng những hạt li ti, khuếch tán đi rất xa. Trong băng
tuyết ở Bắc Cực, hàm lượng chì hai năm trở lại đây
đã tăng lên 20 lần. Số chì này đều là từ các lục
địa trôi nổi bay đến. Cùng với sự phát triển của
công nghiệp hiện đại, không khí ô nhiễm chì đã lan
tràn khắp thế giới, hơn nữa ngày càng nghiêm trọng.
Không khí ô nhiễm chì, trên 90% là do khí thải ô tô
tạo nên. Chì và các hợp chất của chúng trong không khí
sau khi lắng xuống mặt đất còn tạo nên nguồn nước
và đất đai bị ô nhiễm.
Chì và các hợp chất của chì
rất có hại cho cơ thể người. Chúng có thể đi theo
đường tiêu hoá, hoặc thông qua hô hấp đi vào phổi,
chất Tetrmenthyl lead còn có thể thông qua da thẩm thấu vào
cơ thể. Chì sau khi vào cơ thể, 90-95% sẽ hình thành
chất lead photphat Pb3(PO4)2
trầm tích vào trong xương, chỉ một ít được bài
tiết khỏi cơ thể. Khi chì tích tụ trong cơ thể đến
một nồng độ nhất định sẽ gây nên ngộ độc chì.
Nói chung người sau khi ngộ độc chì, mặt xanh nhợt, váng
đầu, uể oải, đau khớp, ngộ độc chì nặng hơn sẽ
có các chứng bệnh thiếu máu. Đó là vì chì hợp thành
với các hồng cầu trong máu gây trở ngại cho khả năng
hấp thu và đào thải của cơ thể.
Năm 1961 ở Tokyo, Nhật Bản đã
phát sịnh sự kiện ngộ độc chì mãn tính. Trên những
nút giao thông ở ngoại ô Nhật Bản xe cộ qua lại tấp
nập, mỗi phút khoảng 50 ô tô,các khí thải chứa chì
thải vào khiến cho dân cư chung quanh phổ biến xuất
hiện hiện tượng công năng máu giảm thấp. Có những
người dân còn bị các bệnh về tim mạch, não ứ máu và
viêm thận mãn tính. Cảnh sát giao thông đành phải đội
mũ phòng độc để chỉ huy giao thông.
Trên thực tế khí thải ô tô
chứa chì đã tạo nên sự ô nhiễm môi trường rất
nghiêm trọng. Muốn ngăn ngừa và giảm thấp ô nhiễm chì
do ô tô gây nên thì biện pháp tốt nhất là sử dụng xăng
không chì. Ở Bắc Kinh, Thượng Hải và một số thành
phố lớn của Trung Quốc, ngày 01 tháng 6 năm 1998 và ngày
01 tháng 10 năm 1998 đã lần lượt dùng xăng không chì thì
tốc độ nhiễm chì trong không khí sẽ giảm từ 80-90%.
Lúc đó không khí thành phố sẽ trang sạch trở lại.
Các ngã tư thành phố xe cộ qua
lại nhộn nhịp, người thưa thớt, do đó thường hấp
dẫn những người đi bộ dùng lại đây, có ngươì còn
mang theo con xem cảnh đường phố. Trên thực tế ở các
ngã tư giao thông nhộn nhịp đó là khu vực ô nhiễm môi
trường nặng nề.
Động cơ ô tô khi đến ngã tư
thường giảm tốc độ để tránh người qua lại hoặc
xe qua chỗ ngoặt. Có lúc vì gặp đèn đỏ hoặc những
tình huống khẩn cấp khác mà phải phanh xe, sau đó mới
khởi động tăng tốc. Quá trình này tuy đơn giản,
ngắn ngủi nhưng sản sinh ra nhiều chất có hại. Ví
dụ khi phanh ô tô, bánh xe và mặt đường ma sát mạnh,
sản sinh ra bụi đã. Thở phải bụi này lâu dài sẽ gây
nên các bệnh về phổi và bệnh viêm đường hô hấp,
khí quản, phế quản. Khi xe khởi động hoặc phanh vì xăng
cháy không hoàn toàn nên sẽ thải ra hơn 30 loại khí
aromatic hydrrocacbon, trong đó có 9 loại khí là chất gây
khối u. Ngoài ra còn có những thnàh phần khí khác có
hại trong khí thải ô tô, như khí sunfurơ, nitrorua, khí
CO2 chì..v.v..Một khi hít vào cơ thể những khí đó sẽ
xuất hiện những phản ứng không tốt. Hít phải lâu dài
không khí ô nhiễm chì sẽ ngộ độc chì. Trẻ em vì
nhạy cảm với khí thải ô tô cho nên càng dễ bị ngộ
độc. Nếu hít phải chì của khí thải lâu dài sẽ
xuất hiện các chứng bệnh như viêm thận, đau mắt,
thiếu máu..v.v..Có những nước phương Tây gọi đây là
loại “bệnh giao thông trẻ em”.
Ngã tư đường phố cũng là nơi
tiếng ồn rất mạnh. Tiếng ồn không những có hại cho
thính lực mà còn ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh
và hệ tim mạch.
Môi trường ngã tư đường phố
ô nhiễm nghiêm trọng, do đó không nên đứng lâu ở đấy.
Nguồn thải do phương tiện giao
thông có thể chia thành nguồn thải do tàu thuỷ, tàu
hoả, máy bay ô tô, trong đó ô tô là nguồn ô nhiễm
lớn nhất và có tác động đối với sức khoẻ con người
nhiều nhất. Ở Mỹ năm 1986 đã thống kê được 186
triệu ô tô chạy (trong đó có 135 triệu xe khách), đã
tiêu thụ khoảng 1,3 tỷ gallon xăng dầu. Chúng đã sản
sinh ra khoảng 58% tổng khí thải CO, 30% lượng thải chì,
34% lượng thải NO, 27% lượng thải VOC và 16% lượng
bụi thải trong tổng lượng thải của nước Mỹ (theo tài
liệu của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ).
Ở nước ta lượng ô tô và xe máy
ngày càng tăng, nguồn thải ô nhiễm môi trường không
khí và tiếng ồn giao thông gây ra ngày càng lớn. Theo
số liệu của các sở giao thông thì ở Hà nội năm 1985
có khoảng 40000 xe máy các loại, 3500 ô tô các loại, năm
1990 có 170.000 xe máy và 21.500 ô tô, năm 1996 có gần
600.000 xe máy và gần 47.300 ô tô, ở thnàh phố Hải Phòng
hiện nay có khoảng 107000xe máy và 11600 ô tô các loại,
ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay số xe máy đã lên
tới trên 800.000.
Vì vậy việc kiểm soát nguồn
thải từ giao thông ngày càng quan trọng.
(Theo www.moi.gov.vn )
|
AN
TOÀN THỰC PHẨM TẠI HÀ NỘI Ở MỨC BÁO ĐỘNG
81-90%
mẫu sữa ở các cửa hàng bán lẻ không đạt
vệ sinh. Tại các chợ Hà Nội, cứ 5 mẫu
thịt thì 4 không đạt chỉ tiêu vi sinh vật.
Theo Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường
của Quốc hội, an toàn thực phẩm ở Việt
Nam đang ở mức báo động.
Chiều 29/8, Ủy ban Khoa học công
nghệ và môi trường đã báo cáo với Ủy
ban Thường vụ Quốc hội về vệ sinh an toàn
thực phẩm. Theo đó, số ca ngộ độc và
tử vong ở Việt Nam hiện vẫn rất cao do
chất lượng an toàn thực phẩm đang ở mức
thấp.
Các thực phẩm sử dụng
hằng ngày dù có nguồn gốc động vật hay
thực vật đều thiếu an toàn. Kết quả
kiểm tra ở một số vùng trồng rau phía
Bắc cho thấy, gần 40% số mẫu rau cải, 33%
đậu đỗ có lượng NO3 vượt mức cho phép.
Tất cả các mẫu rau muống đều có lượng
vi khuẩn Coliform vượt mức cho phép nhiều
lần.
Theo khảo sát trên thị trường
Hà Nội, các loại thực phẩm như lòng lợn
luộc, rau sống, nem chua, nem chạo... nhiễm vi
khuẩn hiếu khí ở mức cao, trong đó tỷ
lệ nhiễm Coliform quá giới hạn là 80%. Các
sản phẩm động vật thiếu an toàn còn vì
thức ăn chăn nuôi không sạch. Nhiều sản
phẩm có hàm lượng độc tố vi nấm
Aflatocxin và các loại khuẩn E.coli,
Salmonella... rất cao. Hàm lượng kim loại
nặng như chì, asen, đồng, kẽm... trong các
mẫu thức ăn chăn nuôi công nghiệp được
phân tích cao hơn mức cho phép đến 4-6 lần.
Nhiều mẫu có hoóc môn tăng trưởng.
Thức ăn đường phố cũng là
nguyên nhân gây ra nhiều vụ ngộ độc.
Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, 4/5 số cơ
sở dịch vụ thức ăn đường phố mua thực
phẩm không rõ xuất xứ, 1/3 đến 2/3 sử
dụng nước đá nhiễm E.coli. Số cơ sở không
đảm bảo vệ sinh trong chế biến chiếm
49-92%. Rất ít cơ sở đảm bảo vệ sinh an
toàn trong khâu vận chuyển, bảo quản.
Theo đánh giá của Ủy ban
Khoa học công nghệ & môi trường, việc
kiểm gia, giám sát về an toàn thực phẩm
hiện rất yếu. Pháp lệnh Vệ sinh an toàn
thực phẩm quy định, kinh doanh thực phẩm là
loại hình kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên
trên thực tế, hồ sơ đăng ký kinh doanh
lại không bắt buộc có giấy chứng nhận đủ
điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.
Để khắc phục tình trạng
trên, Ủy ban kiến nghị với Quốc hội nên
xây dựng Luật về thực phẩm để thay thế
Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm. Luật
này cần đưa ra các quy chuẩn về chất lượng
thực phẩm như mức dư lượng cho phép của
hóa chất, thuốc kháng sinh, việc sử dụng
phụ gia, mức độ chiếu xạ...
H.H. (Theo VNExpress)
|
|
3.000 TỶ
ĐỒNG ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG BIỂN
Việt Nam cần trở thành một
quốc gia mạnh về biển. Muốn vậy phải khắc phục tình
trạng chồng chéo, dàn trải, manh mún để quản lý khai
thác phát triển kinh tế biển một cách bền vững.
Đó là một trong những ý kiến
chỉ đạo của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm tại Hội
nghị triển khai thực hiện "Đề án tổng thể về
điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường
biển đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020" vừa
được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại Hà
Nội.
Đề án điều tra cơ bản và
quản lý tài nguyên môi trường biển đến năm 2010 và
tầm nhìn đến năm 2020 với tổng kinh phí 2.916 tỷ đồng
đã được Chính phủ phê duyệt tháng 3/2006.
Việc xây dựng, xác định
chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát
huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục
địa... để trở thành một nước mạnh về biển được
coi là chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng,
phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh đất nước.
12%
GDP mỗi năm từ biển...
Hàng năm, kinh tế biển đóng
góp 12% GDP và khoảng 50% giá trị xuất khẩu của cả nước.
Riêng sản lượng hải sản ven bờ biển khai thác đã
chiếm tới 80% tổng sản lượng. Trữ lượng cá toàn vùng
biển Việt Nam ước tính khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó
khoảng 1,7 triệu tấn ở ngoài khơi với ngưỡng khai thác
bền vững từ 1,4-1,7 triệu tấn. Từ năm 2002, kim ngạch
xuất khẩu thuỷ sản đã đứng thứ 3 cả nước và
sử dụng tới 4% lực lượng lao động...
Biển Việt Nam cũng đã cung cấp
khoảng 35 loại hình khoáng sản với quy mô trữ lượng
khai thác khác nhau thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại,
vật liệu xây dựng, đá quý, khoáng sản lỏng... Biển
cũng là nơi chứa đựng những tiềm năng phát triển ngành
công nghiệp dầu khí.
Các ngành khác như: vận tải
biển; đóng, sửa chữa tàu biển...đã mang lại nguồn
thu ngoại tệ lớn cho sự phát triển đất nước với
7,3 triệu USD từ xuất khẩu thuyền viên...
Tuy nhiên, việc khai thác quá
mức đã và đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển,
gây ô nhiễm trầm trọng, suy thoái hệ sinh thái và huỷ
hoại môi trường biển. Trong những năm gần đây, không
ít vùng biển ven bờ Việt Nam đã bị cạn kiệt nguồn
hải sản, giảm mạnh về trữ lượng và sản lượng vì
khai thác quá mức. Nguồn hải sản ven bờ ngày một
cạn kiệt, trữ lượng hải sản xa bờ chưa được đánh
giá đầy đủ và chưa có biện pháp khai thác hợp lý.
Bên cạnh đó là việc sử dụng
tràn lan các phương tiện huỷ diệt như: xung điện,
chất độc, thuốc nổ... trong đánh bắt thuỷ hải
sản, tiêu diệt cả nguồn kế cận, huỷ hoại môi trường
sinh thái biển.
Báo cáo hiện trạng môi trường
Việt Nam đã chỉ rõ, chất lượng môi trường biển và
vùng ven bờ Việt Nam đang tiếp tục suy giảm theo chiều
hướng xấu đi. Môi trường biển vùng nước ven bờ đã
bị ô nhiễm dầu, kẽm và các chất thải sinh hoạt, các
chất rắn lơ lửng, Si, NO3, NH4 và PO4...
Đặc biệt, hàm lượng hoá
chất bảo vệ thực vật loại andrin ở các vùng
cửa sông ven biển đã ngày một tăng lên cao hơn mức
giới hạn tiêu chuẩn cho phép.Với sức ép của sự phát
triển và thiên tai hoành hành, các hệ sinh thái và nơi cư
trú đang bị phá huỷ nghiêm trọng, nhất là rừng ngập
mặn, thảm cỏ biển, rặn san hô, đầm phá, cửa sông vùng
châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long.
Hiện tại, Việt Nam đã có hơn
85 loài hải sản đang ở mức độ nguy cấp, có nhiều
loài đang là đối tượng tập trung khai thác trong đó đã
có tới hơn 70 loài nằm trong Sách đỏ.Theo Bộ Tài nguyên
và Môi trường, nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái tài
nguyên biển và ven bờ chính là do hiện tượng chặt phá
rừng đầu nguồn quá lớn, gây xói lở bờ biển, sa
bồi và nghẽn bùn.
Cùng với đó là việc sử dụng
đất đến nghèo kiệt, khai thác khoáng ven biển tràn
lan, lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, xây dựng
cảng biển, xả nước thải không qua xử lý, phát
triển du lịch biển thiếu bền vững...
Quản
lý biển cần một bộ riêng?
Bao trùm lên tất cả những tồn
tại đó, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính là do
Việt Nam chưa có một tổ chức thống nhất và hệ
thống trong điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi
trường biển để làm căn cứ khoa học cho việc hoạch
định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển
kinh tế biển. Điều này đã dẫn đến tình trạng khai
thác phát triển tự phát, thiếu bền vững.
Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi
trường Mai ái Trực thừa nhận, công tác điều tra cơ
bản và quản lý vùng biển còn chồng chéo, phân tán,
manh mún, lãng phí và chưa có cơ chế cho việc chia sẻ và
sử dụng dữ liệu. Chính điều này đã làm nảy sinh
phức tạp trong quản lý, khai thác và bảo vệ biển theo
kiểu "miếng bánh". Biển do nhiều Bộ ngành
quản lý nhưng cuối cùng chẳng có bộ nào là
"nhạc trưởng" để có một đầu mối thống
nhất.
Bộ Tài nguyên và Môi trường
được giao quản lý các loại tài nguyên đất, nước,
khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn...tất
cả đều liên quan đến biển, đảo.
Tuy nhiên, vấn đề thuỷ lợi,
diêm nghiệp, lâm nghiệp trong đó có trồng và bảo vệ
rừng ven biển lại do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông
thôn; còn việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản, bảo
tồn đa dạng sinh học lại do Bộ thuỷ sản và việc
khai thác dầu khí, khoáng sản biển lại do Bộ công
nghiệp. Cùng với đó là một loạt các bộ, ngành khác
có liên quan như: Công an, Quốc phòng, Giao thông vận
tải, Uỷ ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Tổng cục du
lịch...