MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(9/2006)

Vĩnh Phúc: HTX dịch vụ môi trường của xã - Kinh nghiệm cần nhân rộng
HĐND thành phố giám sát việc thực hiện dự án thoát nước Hà Nội
Hải Phòng: Sống chung với... khói độc
Không bản sắc
Mua bán khí thải- thị trường mới hấp dẫn
Top 10 công nghệ môi trường mới

Ô nhiễm giao thông

An toàn thực phẩm tại VN ở mức báo động
3.000 tỷ đồng điều tra tài nguyên - môi trường biển
Phát triển đô thị bền vững

Hồ thủy điện Tuyên Quang - Điểm du lịch sinh thái hấp dẫn
Xả nước thải ra môi trường có thể bị phạt tới 70 triệu đồng

Thủ tướng phê duyệt đề án bảo vệ môi trường sinh thái lưu vực sông Cầu

“Cứu sống” sông Cầu
Đề án thành lập lực lượng Cảnh sát Môi trường

VĨNH PHÚC: HTX DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG CỦA Xà - KINH NGHIỆM CẦN NHÂN RỘNG

Xã Thanh Lãng, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc vừa thành lập HTX dịch vụ môi trường chuyên thu gom và xử lý các loại chất thải. Mặc dù mới đi vào hoạt động nhưng HTX dịch vụ môi trường Thanh Lãng thu hút được 12 thành viên tham gia góp vốn đầu tư dụng cụ, thiết bị và 20 lao động hợp đồng đảm nhận việc thu góp rác thải trong địa bàn toàn xã. Mỗi thôn thành lập một tổ công tác có nhiệm vụ đi thu gom toàn bộ rác ở mọi ngõ gạch, từng hộ gia đình đều đặn vào các buổi sáng trong ngày. Lượng rác thải được tập kết tại bãi rác cách xã khu dân cư chờ xử lý phân loại. Trung bình mỗi ngày HTX thu gom được từ 15-20 tấn rác, đối với các loại rác nông nghiệp, rác sinh hoạt không độc hại tiến hành xử lý đốt, các loại rác làng nghề có tính chất độc hại được chôn lấp. Rác thu gom đến đâu được xử lý ngay đến đó tránh để lâu làm ảnh hưởng đến môi trường xung quanh.

Xã Thanh Lãng cũng đã mạnh dạn quy hoạch dành riêng 3 ha đất hoang hoá làm bãi xử lý và chôn lấp rác thải; đồng thời đầu tư hàng trăm triệu đồng đào hố, xây dựng hố chôn lấp và mở rộng tuyến đường phục vụ các phương tiện đi lại đổ rác. Để có kinh phí hoạt động, UBND xã cho phép HTX dịch vụ môi trường của xã thu phí vệ sinh trong dân 1.000 đồng/người/tháng, bằng với mức quy định của UBND tỉnh.

Thanh Lãng là một trong những xã đi đầu trong việc phát triển các ngành nghề. Hiện nay, toàn xã có 9 doanh nghiệp, 6 HTX, 3 làng nghề mộc truyền thống và mứoi đây phát triển thêm nghề làm nấm, mây tre đan, ươm tơ. Chỉ tính riêng lượng rác thải của các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, làng nghề, mỗi ngày toàn xã có tới hàng chục tấn rác thải, nước thải được thải trực tiếp ra môi trường xung quanh. Trước kia các lề đường, cống rãnh biến thành bãi chứa rác thải cộng thêm nước thải, gây ô nhiễm môi trường cho cả vùng, ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe của người dân. Nay HTX dịch vụ môi trường của xã ra đời, rác thải được thu gom và xử lý kịp thời bằng phương pháp thủ công tại nơi quy định, đảm bảo đường làng ngõ xóm sạch đẹp, môi trường không bị ô nhiễm như trước. 

Trở lại xã Thanh Lãng những ngày đầu tháng 9 này, môi trường nông thôn đã được cải thiện đáng kể, không còn tình trạng đổ rác bừa bãi lề đường. Người dân đã có ý thức hơn trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường chung. Mô hình HTX Dịch vụ Môi trường Thanh Lãng là cách làm hay lần đầu tiên được thành lập ở tỉnh Vĩnh Phúc, đã thực sự phát huy được hiệu quả, cần được nhân rộng.

Đào An (Theo  MONRE Net)

HĐND THÀNH PHỐ GIÁM SÁT VIỆC THỰC HIỆN DỰ ÁN THOÁT NƯỚC HÀ NỘI

Sáng 7/9, Đoàn giám sát của HĐND TP do ông chí Ngô thị Doãn Thanh - Phó Bí thư Thành ủy, Phó Chủ tịch HĐND TP làm trưởng đoàn đã làm việc với các Sở, ngành, quận, huyện về kết quả thực hiện dự án thoát nước giai đoạn 1 và kế hoạch triển khai giai đoạn 2 của dự án, nhằm cải thiện môi trường Thủ đô

Theo báo cáo của Sở GTCC, quy hoạch tổng thể thoát nước và xử lý nước thải TP do Jica (Nhật Bản) thiết lập đã được Thủ tướng chính phủ phê duyệt, phạm vi cho toàn bộ lưu vực sông Tô Lịch và sông Nhuệ (135m2) với tổng mức đầu tư ước tính khoảng 1162 triệu USD trong đó giai đoạn 1 có tổng mức đầu tư 200 triệu USD (tương đương 3100 tỷ đồng), tiến độ thực hiện từ 1997 - 2005. Đến nay, các hạng mục sau khi hoàn thành và đưa vào sử dụng đã hạn chế được tình trạng úng ngập cho Thủ đô. Các trận mưa lớn, đặc biệt là cuối tháng 8 và đầu tháng 9 vừa qua tuy vẫn còn một số điểm úng ngập trong nội thành, nhưng thời gian úng ngập đã giảm hẳn so với trước đây, nhất là những khu vực có tác động trực tiếp của trạm bơm Yên Sở. Các trạm xử lý nước thải thí điểm như: Kim Liên, Trúc Bạch đều đang vận hành ổn định, bảo đảm an toàn vệ sinh môi trường. Chất lượng nước thải sau khi xử lý đạt tiêu chuẩn...

Giai đoạn 2 của dự án được triển khai từ năm 2006 - 2010 với tổng vốn đầu tư trên 5000 tỷ đồng. Các hạng mục chủ yếu của giai đoạn này là: nâng công suất trạm bơm Yên Sở từ 45m3/s lên 90m3/s; cải tạo 32,2km kênh thoát nước; cải tạo 9 hồ và 2 hồ điều hòa; xây dựng trạm xử lý nước thải tập trung tại hồ Bảy Mẫu, công suất 13.300m3/ngày

(Theo HNM)

 

HẢI PHÒNG: SỐNG CHUNG VỚI ... KHÓI ĐỘC

Vừa đặt chân đến Quán Trữ tôi đã choáng bởi một thứ mùi khét nồng, hăng hắc xộc thẳng vào mũi, xông thẳng lên não, choáng váng đầu óc. Không thể ngờ giữa thành phố Hải Phòng mà có tới cả ngàn hộ dân phải sống triền miên trong ô nhiễm bởi khói độc của rất nhiều nhà máy trong khu dân cư thải ra...

Quanh năm bịt khẩu trang

Từ xa đã thấy những cụm khói do hàng chục cơ sở sản xuất gần đó thải ra, âm ỉ vần vũ khiến cả khu vực phường Quán Trữ (quận Kiến An) và thôn Trang Quan, xã An Đồng (huyện An Dương) bảng lảng như được bao phủ bởi một làn sương mù.

Cái vẻ “lãng mạn” đó mất hẳn đi khi đi sâu vào “nội địa”: những căn nhà cửa đóng then cài im ỉm, thi thoảng mới có người ra đường vì sợ khói. Cảnh tượng khiến người ta liên tưởng đang đi giữa một vùng bệnh dịch. Lần ra mép sông Lạch Tray - nơi Công ty TNHH An Sinh xử lý và tái chế dầu cặn - mới càng kinh khủng: mặt hồ nhỏ đằng sau xưởng sản xuất váng nổi lều bều kinh khủng, nước lên đến đâu dầu dềnh đến đó. Cả một vùng cây cối xung quanh cháy vàng vì dầu, nền đất quanh đó cũng biến thành màu nâu sậm vì ngấm dầu.

Chị Huệ, chủ quán nước, cách xưởng dầu khoảng 200m, lúc nào cũng bịt khẩu trang kín mít, nhăn mặt: “Cái lò tái chế dầu đó mà hoạt động thì chỉ có đóng cửa quán, mùi kinh khủng. Đợt này nó hoạt động về đêm nên ban ngày còn đỡ mùi đó. Quanh đây có đến chục cái nhà máy, xưởng sản xuất quanh năm tỏa đủ thứ mùi: mùi khét, mùi nhựa, mùi khí gas... Nhà tôi làm giải khát gió hắt mùi vào không chịu nổi. Có nhà phải nhốt con cái trong nhà suốt ngày. Trẻ con mới được mấy tháng tuổi mà cứ phải ngửi những thứ mùi độc hại này thì nguy hiểm quá!”.

Thôn Trang Quan, An Đồng, An Dương - giáp với Khu công nghiệp Quán Trữ - cũng chịu ảnh hưởng nghiêm trọng. Ông Vũ Nhật Vịnh, trưởng thôn Trang Quan, bức xúc: “Mấy cái xưởng xử lý dầu thải đó hoạt động cứ chiều chiều là xả khói bụi đen mịt mù, mùi hắc kinh khủng. Con cái đi học về không dám cho chơi ở ngoài, bắt vào nhà đóng cửa kín mít. Thôn có một trường mầm non khoảng 200 cháu, cũng phải đóng cửa bật điện suốt ngày vì mùi...”.

Không chỉ các hộ dân, ngay cả các cơ quan đóng gần đấy cũng chịu chung số phận bị hít khói. Ông Nguyễn Thành Lập, giám đốc Công ty Đảm bảo giao thông đường thủy Hải Phòng, cho biết: “Ngay cạnh công ty tôi là xưởng tái chế nhựa, bao bì của Công ty TNHH Hồng Thái. Mỗi lần họ đốt nhựa là khói mù mịt. Nhân viên văn phòng ngồi làm việc mà phải đeo khẩu trang, lấy khăn bịt mặt. Khói xộc vào mắt cay xè thì cứ phải chịu trận. Nhiều hôm phải cho anh em nghỉ sớm”.

Cơ quan chức năng thờ ơ

Ông Lê Sơn, trưởng Phòng quản lý môi trường thành phố Hải Phòng, xác nhận: “Qua kiểm tra, chúng tôi thấy rằng Công ty TNHH Hồng Thái có công nghệ không đảm bảo điều kiện về môi trường. Hiện công ty này đã có cam kết dừng sản xuất từ ngày 1-6-2006”.

Tuy nhiên, theo ghi nhận của Tuổi Trẻ, cho đến hôm nay Công ty Hồng Thái vẫn tiến hành sản xuất bình thường và thải ra khu vực xung quanh khói bụi với mùi cay, hắc khẳn rất khó chịu. Tương tự vậy, sau khi nhiều người dân tại thôn Trang Quan, xã An Đồng (An Dương) gửi đơn kêu cứu tập thể vì môi trường sống của họ đang bị đe dọa, Sở Tài nguyên - môi trường (TN-MT) đã tiến hành kiểm tra thực địa cơ sở sản xuất dầu cặn An Sinh và kết luận nơi đây sản xuất gây ô nhiễm. Tuy nhiên, việc xử lý cũng chỉ mới dừng lại ở mức... cam kết.

Sở TN-MT Hải Phòng cũng cam kết với người dân: sẽ tiến hành quan trắc tức thời khi các hộ dân thôn Trang Quan phát hiện thấy có ô nhiễm để kiểm tra, giám định mức độ ô nhiễm để có biện pháp xử lý kịp thời. Tuy nhiên theo ông Sơn, cho đến nay sở vẫn chưa nhận được thông báo nào của các hộ dân phát hiện có dấu hiệu ô nhiễm, bởi vậy nên sở chưa tiến hành quan trắc để xử lý.

Song theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, đã nhiều lần người dân thôn Trang Quan thông báo tới Sở TN-MT hiện tượng xả khói trở lại của Công ty An Sinh nhưng không có hồi âm. Ông Vũ Nhật Vịnh, trưởng thôn Trang Quan, cho hay chính ông đã gọi điện đến Sở TN-MT báo ô nhiễm nhưng được một cán bộ của sở trả lời: UBND xã An Đồng điện hoặc thông báo thì sở mới cử cán bộ sang quan trắc, xử lý việc gây ô nhiễm (!).

Ông Vịnh bức xúc: “Họ xả khói ban đêm, khi đó UBND xã còn làm việc đâu mà chúng tôi thông báo tới sở được”. Trong lúc chờ các cơ quan chức năng xử lý, hàng ngàn người dân quanh Khu công nghiệp Lãm Hà chỉ còn cách tự bảo vệ mình bằng cái khẩu trang thô sơ và vẫn phải ngày đêm chung sống với khói độc...                     

TRỌNG PHÚ (Theo MONRE Net)

KHÔNG BẢN SẮC

Có những con đường ngập bụi, trơ trọi không một bóng cây. Lại có đường toàn cây đắt tiền mà thoạt nhìn cứ tưởng đang đi trên châu Phi.

Đó là cảm nhận chung của nhiều đại biểu tham dự một hội nghị lần đầu tiên bàn về việc chọn cây gì, trồng như thế nào cho phù hợp với mỗi con đường, khu dân cư, khu du lịch tổ chức vào một ngày cuối tháng Sáu ở Hà Nội.

TS Nguyễn Hồng Tiến, Vụ Hạ tầng Kỹ thuật Đô thị (Bộ Xây dựng), cho biết: “Hệ thống cây xanh mới chỉ hình thành và tập trung ở các đô thị lớn và trung bình. Ở các đô thị nhỏ, diện tích cây xanh không đáng kể. So với các tiêu chuẩn, quy chuẩn, tỷ lệ diện tích đất cây xanh ở Việt Nam còn quá thấp so với yêu cầu”.

Các đô thị đô thị loại đặc biệt như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, tỷ lệ diện tích đất cây xanh chiếm khoảng 1,5 - 2m2/người. Đối với đô thị loại I, tỷ lệ này rất khác nhau: TP Đà Nằng chỉ có 0,5m2/người; Huế 10,2m2/người. Các đô thị loại IV, V, tỷ lệ còn thấp nữa.

“Còn rất nhiều khu dân cư, con đường không một bóng cây. Vào ngày hè oi bức, không khí vừa bụi bặm, vừa ngột ngạt, ảnh hưởng rất lớn tới sức khoẻ dân cư.” – TS Tiến nói.

 GS. TS Nguyễn Hữu Dũng, Vụ trưởng Vụ KHCN, Bộ Xây bổ sung với chi tiết: bình quân đất cây xanh công viên ở Hà Nội chỉ chiếm hơn 10% quy chuẩn xây dựng ban hành, thấp hơn hàng chục lần so với tiêu chuẩn các thành phố trong khu vực và trên thế giới. 

Số công viên không những ít mà còn nhỏ về quy mô, phân bố không đều. Nhiều khu vực trong thành phố gần như không có công viên.

 TS thực vật học Nguyễn Đăng Khôi “Suốt dọc đường Lê Đức Thọ và xung quanh khu liên hợp thể thao quốc gia Mỹ Đình (Hà Nội) đều trồng cau bụng khiến người đi đường có cảm giác đang ở một nước châu Phi nào đó chứ không phải Việt Nam!”

“Thật là một đại dịch cau bụng, cọ dầu đang diễn ra ở các đô thị miền Bắc. Cứ đà này thì cảnh quan của Thủ đô ngàn năm văn hiến và nhiều nơi khác sẽ biến thành cảnh quan của các đô thị khô hạn ở châu Phi” – TS Khôi cảnh báo

Cũng lại cọ dầu được đem trồng suốt dọc con đường bao quanh khu tưởng niệm đại thi hào Nguyễn Du ở quê hương Hà Tĩnh. Rồi hai cây bạch đàn trắng xuất xứ Australia được trồng ở hai bên mặt trước của hội trường Ba Đình lịch sử.

Loài cây làm nên bản sắc đất nước và mỗi địa phương ở Việt Nam là những cây nào? Bộ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Hồng Quân trăn trở: “Cây của chúng ta vốn chỉ được trồng để lấy bóng mát chứ ít quan tâm đến bản sắc. Làm thế nào để chúng ta có nhiều hơn những thành phố (TP) Hoa Phượng Đỏ như TP Hải Phòng”

Manh mún, tự phát

Bộ trưởng Nguyễn Hồng Quân minh hoạ vấn đề này bằng chuyện một lãnh đạo địa phương tới thăm Hà Nội, thấy cây bằng lăng đẹp quá liền quyết định mua cả vạn cây về trồng ở địa phương mình dù chưa nghiên cứu thấu đáo xem nó có phù hợp hay không.

Cây hoa sữa – một loại cây có hoa thơm ngọt ngào, quyến rũ từng gắn liền với nhiều con đường Hà Nội và xuất hiện trong nhiều bài thơ, bài hát trữ tình.

Nhưng khi được trồng với mật độ dầy đặc trên đường phố các đô thị miền Trung như Đồng Hới (Quảng Bình), TP Đà Nẵng, thị xã Tam Kỳ (Quảng Nam); TP Quảng Ngãi (Quảng Ngãi), TP Nha Trang (Khánh Hoà), mùi hương nồng đặc biệt vào cuối mùa hè của hoa làm người đi đường “chịu hết nổi”!

Một số địa phương như TP Hồ Chí Minh, do chưa có quy hoạch rõ ràng, nhiều người bổ sung mảng đường phố bằng cách trồng loại cây mà mình yêu thích, miễn đáp ứng yêu cầu cây nhanh lớn, cho bóng mát.

TP hiện đang tồn tại trên 5000 cây được liệt vào danh sách nguy hiểm vì ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và môi trường sống như cây sao, cây dầu. Với đặc tính nhánh giòn, dễ gãy, sao và dầu đóng góp gần 50% số vụ tai nạn chết người do cây xanh.

Vừa qua ở Hải Phòng, chính quyền TP quyết định loại bỏ cây vông gai vì quả của nó đã gây ngộ độc cho rất nhiều trẻ em.

Ngoài ra, nhiều đoạn đường, vỉa hè đang trở thành nạn nhân khi bị loại cây xanh có hệ thống rễ ăn ngang, lồi lõm phá nát như Hà Nội với cả ngàn cây xà cừ cổ thụ.

 “Chi phí đầu tư cho công tác sản xuất và duy trì cây xanh chủ yếu dựa vào ngân sách Nhà nước. Những năm gần đây, một số đô thị cũng chú trọng đầu tư cho cây xanh như TP Hồ Chí Minh, Hà Nội, Nha Trang, Cần Thơ” – TS Nguyễn Hồng Tiến cho biết.

 

Mỗi năm, các đô thị này đầu tư từ vài trăm triệu đến cả tỷ đồng. Nhưng nếu không kêu gọi được các nguồn đầu tư khác, ngân sách địa phương sẽ không thể gánh nổi.

Đối với các đô thị khác, chi phí đầu tư cho phát triển cây xanh hầu như không đáng kể hoặc rất thấp. Có nơi chỉ vài triệu đồng một năm như Vĩnh Yên, Quảng Trị, Đông Hà

Ông Nguyễn Văn Bảo, Vụ Kết cấu Hạ tầng&Đô thị, Bộ KH& ĐT, nêu thực trạng chưa có một diện tích đất cây xanh nào được cắm mốc giới để quản lý quy hoạch và kêu gọi đầu tư.

Tại đại hội thành lập Hiệp hội Cây xanh Đô thị tổ chức ở Hà Nội mới đây, để tiến đến những đô thị được làm nên bản sắc từ cây xanh, các đại biểu thaừ nhận còn quá nhiều việc phải làm.

Còn hiện giờ là tình trạng manh mún, tự phát, tình trạng phá cây, tỉa cành, mé nhánh, khai thác tuỳ tiện, xây dựng, đào bới các công trình ngầm làm ảnh hưởng tới tuổi thọ cây xanh.

Nhờ tán lá ngăn cách ánh sáng, bức xạ mặt trời, cây xanh tạo ra những vùng râm mát dưới tán lá, nhiệt độ có thể giảm đi 1 - 30 C, độ ẩm tăng từ 10 – 14%, tốc độ gió của những vùng này có thể giảm 20 – 60% tuỳ theo bề rộng, độ lớn và mật độ cây xanh tại đây.

Cây xanh còn hấp thụ làm giảm bớt khói bụi, khí độc, cung cấp một lượng ôxy lớn, quang hợp cacbonic, làm cho bầu không khí đô thị thêm trong lành.

(Theo ThoibaoViet.com -04.09.2006)

 

MUA BÁN KHÍ THẢI - THỊ TRƯỜNG MỚI HẤP DẪN

Kinh doanh khí thải, nhằm giải quyết vấn đề khí hậu toàn cầu ấm dần lên do hiệu ứng nhà kính, là thị trường mới phát triển mạnh vài năm gần đây và được giới ủng hộ xem là “giải pháp lưỡng lợi” khi vừa bảo vệ môi trường vừa phát triển kinh tế. Tuy nhiên, phía phản đối cho rằng giải pháp này không tập trung vào các nguyên nhân làm khí hậu ấm lên...

· Thị trường tấp nập

Nghị định thư Kyoto quy định từ năm 2008 đến năm 2012, các nước công nghiệp đã phê chuẩn phải cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính (chủ yếu là CO2 chiếm hơn 70%) trung bình 5,2% so với mức 1990. Tuy nhiên, theo Hội đồng liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC), thì 5,2% là quá nhẹ, vì để tránh thảm họa toàn cầu do khí hậu ấm lên, mức cắt giảm phải đến 60% trên mọi lĩnh vực liên quan.

Việc kinh doanh khí thải CO2 (carbon trade) được cho là có từ năm 1989 và càng “ăn nên làm ra” khi Nghị định thư Kyoto có hiệu lực từ tháng 2-2005. Theo quan điểm của thị trường này, tổng lượng khí CO2 trong khí quyển quan trọng hơn nguồn gốc của nó. Từ đó, tạo cơ chế lựa chọn: hoặc tự lo cắt giảm khí thải hoặc cứ gây ô nhiễm rồi trả phí cho nơi khác cắt giảm giùm.

Kinh doanh khí thải có 2 hình thức chính là mua bán hạn mức thải khí giữa các nước phát triển, nước gây ô nhiễm nhiều có thể mua mức thải khí chưa dùng hết của nước khác để được quyền thải vượt hạn mức; hoặc mua quyền thải khí qua việc đầu tư vào những dự án môi trường ở các nước đang phát triển, như trồng rừng, bảo tồn đất, bảo vệ đời sống hoang dã, tăng hiệu suất năng lượng, sử dụng năng lượng tái tạo được... Các doanh nghiệp gây ô nhiễm nhiều cũng có thể mua hạn mức hoặc mua quyền thải khí để được chứng nhận là “không gây ô nhiễm”.

Thị trường khí thải ngày càng chứng tỏ tiềm năng, thu hút nhiều thành phần tham gia: các hãng tư vấn và môi giới chuyên xác định mức khí thải rồi đề xuất giải pháp cắt giảm như EcoSecurities, Climate Change Capital…, các công ty chuyên chứng thực quyền thải khí như Det Norske Veritas, Societe General de Surveillance..., các tổ chức môi trường như World Resources Institute, Environmental Defense..., tổ chức tài chính đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB)... Dù chính phủ Mỹ đã rút khỏi Nghị định thư Kyoto nhưng kinh doanh khí thải cũng đang được quan tâm nhiều ở Mỹ, nơi có CCX (Chicago Climate Exchange) là một thị trường tự nguyện.

WB là nhà trung gian lớn của thị trường kinh doanh khí thải, chuyên tài trợ cho nhiều dự án môi trường ở các nước đang phát triển. Năm 2005, quỹ Prototype Carbon Fund do WB sở hữu đã đạt 915 triệu USD, hơn gấp đôi so với 415 triệu USD năm 2004. Thị trường kinh doanh khí thải còn khá mới, nhưng theo ước tính của WB, năm 2005 đã đạt khoảng 10 tỷ USD và dự báo sẽ trên 25 tỷ USD.

· Hệ thống ETS của EU

Sự hợp tác quốc tế đầu tiên nhằm đối phó khí thải gây hiệu ứng nhà kính là Hệ thống kinh doanh khí thải châu âu (ETS), áp dụng từ 1-1-2005 ở 25 nước EU - khối tạo khí thải nhiều thứ nhì thế giới, chỉ sau Mỹ. Hạn mức thải CO2 - do mỗi chính phủ xác định và EU phê chuẩn - được cấp cho khoảng 12.000 nhà máy điện và công nghiệp nặng ở 25 nước EU, cả của các công ty không thuộc châu Âu. Số nhà máy này tạo ra gần 1/2 lượng khí thải CO2 ở EU.

Thành viên ETS chỉ được thải khí trong hạn mức, muốn thải nhiều hơn phải mua. Lúc ETS bắt đầu hoạt động, phí mua quyền thải một tấn CO2 là 7 euro, đến 7-2005 lên đến 29 euro và nay ổn định ở mức 20-25 euro. Mỗi tấn khí thải vượt mức bị phạt 40 euro. Hạn mức thải khí nhằm buộc các doanh nghiệp đầu tư kỹ thuật sạch hơn và giảm khí thải, nhưng theo Ủy ban châu Âu (EC), các chính phủ đã cấp quá nhiều giấy phép thải khí, làm chúng trở thành hàng hóa mua bán.

· Lợi bất cập hại

Kinh doanh khí thải được Chương trình môi trường LHQ, Hội đồng liên chính phủ về thay đổi khí hậu (IPCC), Quốc hội châu âu, nhiều tổ chức phi chính phủ và các doanh nghiệp “xanh”... ủng hộ, xem là “giải pháp lưỡng lợi” bởi vừa bảo vệ môi trường vừa phát triển kinh tế. Nghị định thư Kyoto cũng có Cơ chế phát triển sạch (CDM) cho phép các nước phát triển đạt chứng nhận khí thải bằng cách tài trợ các dự án môi trường ở các nước đang phát triển.

Tuy nhiên, nhiều nhà khoa học và các tổ chức môi trường như Carbon Trade Watch, Oilwatch, World Rainforest Movement... tuyên bố đó không phải cách giải quyết các vấn đề môi trường, không chú trọng các nguyên nhân làm khí hậu toàn cầu ấm lên.

Việc mua bán khí thải không hướng đến giải pháp gốc rễ chống lại khí hậu ấm lên là giảm dần đến ngưng hẳn dùng năng lượng hóa thạch. Các nước công nghiệp phải có trách nhiệm chính với thảm họa khí hậu, sử dụng tài nguyên hợp lý hơn, bảo tồn năng lượng, cắt giảm khí thải và chuyển sang dùng các năng lượng hiệu quả hơn, sạch và tái chế được. Cứ thải khí gây ô nhiễm rồi trồng cây để hấp thụ CO2 là sai lầm, càng làm con người tăng cường khai thác than đá, dầu mỏ thay vì chuyển sang các năng lượng sạch. Trồng cây sẽ hấp thụ bao nhiêu CO2 và trong bao lâu vẫn còn chưa được xác định thống nhất. Trồng cây để cải thiện khí hậu hoàn toàn khác với trồng cây để được quyền đốt thêm năng lượng hóa thạch...

Việc kinh doanh khí thải chỉ có hiệu quả khi góp phần cắt giảm được lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, còn bản thân việc hình thành thị trường này không làm giảm khí thải. Ngoài ra, hiệu quả còn bị hạn chế nhiều vì không thể bao gồm toàn bộ, như Mỹ đứng đầu với 25% lượng khí thải toàn cầu, lại đã rút khỏi Nghị định thư Kyoto.

Một số nước đang phát triển xem kinh doanh khí thải là nguồn thu tiềm năng. Từ năm 2005, nhiều nước Mỹ La tinh, đi đầu là Brazil rồi Mexico, Chile, Costa Rica, Honduras, Bolivia... đã có nhiều dự án tập trung vào tái tạo và hiệu quả năng lượng, trồng rừng, thủy điện nhỏ... để phục vụ cho thị trường khí thải.

Khi các nước giàu xem mua quyền thải khí là giải pháp thực hiện cam kết Nghị định thư Kyoto, còn các nước nghèo lại xem đó là cơ hội để nhận tài trợ các dự án môi trường, thì liệu có phải là giải pháp hiệu quả để bảo vệ trái đất khỏi ấm lên?

Bầu khí quyển là chung của trái đất nên ô nhiễm không khí tồn tại và đe dọa sự sống ở mọi nơi. Theo WHO, mỗi năm thế giới có 3 triệu người chết vì ô nhiễm không khí ngoài trời do khí thải từ công nghiệp và giao thông, 1,6 triệu người chết vì ô nhiễm không khí trong nhà do dùng năng lượng hóa thạch, phần lớn là ở các nước nghèo. Các nước đang phát triển tạo ra khí thải ít nhất nhưng phải chịu ảnh hưởng nhiều nhất của sự thay đổi khí hậu với những hậu quả như nạn đói, mất mùa, hạn hán, bệnh tật.... nghiêm trọng nhất là ở châu Phi. Theo WB, ô nhiễm không khí làm kinh tế Trung Quốc tổn phí 25 tỷ USD/năm cho y tế và giảm năng suất lao động.

Thiện Nguyễn (Theo SGGP)

TOP 10 CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG MỚI

moi.gov.vn - 01/09/2006  

Theo Liên Hợp Quốc, các chính sách năng lượng gây lãng phí, lạm dụng nguồn lực, khan hiếm nước, thay đổi khí hậu toàn cầu và phá rừng là những vấn đề mà các chuyên gia cho biét cần phải giải quyết để con người có thể có cuộc sống bền vững trên hành tinh này. Tới năm 2025, có thêm 2,9 tỷ người góp phần làm khan hiếm nguồn nước và nhu cầu về năng lượng của cả thế giới sẽ tăng 60% vào năm -2030. LiveScience hướng tới 10 công nghệ- một số công nghệ cũ, một số mới, một số công nghệ khác lạ- có thể mở ra một tương lai tươi sáng hơn.

1. Chế biến dầu từ bất cứ thứ gì

Bất kỳ rác thải có chứa cácbon nào, từ ruột gà tây tới vỏ hộp kim loại, lốp xe đã qua sử dụng dưới nhiệt độ và áp suất vừa đủ  sẽ biến thành dầu thông qua một quy trình có tên là quy trình phân hoá bằng nhiệt (thermo-depolymerization). Quy trình này rất giống với phương thức của tự nhiên sản sinh ra dầu, tuy nhiên, với công nghệ này, phải trả qua một quy trình kéo dài hàng triệu năm để có được một sản phẩm phụ tương tự. Những người đề xướng công nghệ này khẳng định rằng một tấn chất thải từ gà tây có thể sản xuất được khoảng 600 pound dầu hoả.

2. Khử muối

Theo Liên Hợp Quốc, khan hiếm nguồn nước sẽ ảnh hưởng tới hàng tỷ người vào giữa thế kỷ này. Việc khử muối, về cơ bản là tách muối và khoáng chất từ nước biển, là một phương pháp nhằm cung cấp nước uống ở nhiều nơi trên thế giới mà hiện nay nguồn cung cấp nước còn hạn chế. Vấn đề tồn tại ở công nghệ này là chi phí cao và tiêu tốn nhiều năng lượng. Các nhà khoa học đang hướng tới những quy trình tiến bộ hơn để nhiên liệu đắt đỏ này có thể đốt nóng và làm bay hơi nước trước khi lọc qua những màng lọc có lỗ cực nhỏ nhằm nâng cao hiệu quả.

3. Màng lượng "H"

Việc sử dụng pin năng lượng hyđrô được coi như một lựa chọn không gây ô nhiễm môi trường, thay vì sử dụng nhiên liêu hoá thạch. Con người tạo ra nước bằng cách kết hợp hyđrô và ôxy. Trong quy trình này, họ sản xuất ra điện. Vấn đề ở đây là pin nhiên liệu có chứa hyđrô. Các phân tử như nước và rượu phải được xử lý nhằm chiết xuất ra hyđrô cung cấp cho pin nhiên liệu. Một vài quy trình yêu cầu cần phải sử dụng các nguồn năng lượng khác, do đó phá hỏng những ưu điểm của loại nhiên liệu sạch này. Hiện nay, các nhà khoa học đang nghiên cứu các phương pháp nạp năng lượng cho máy tính xách tay và các thiết bị nhỏ bằng pin nhiên liệu, và một số công ty sản xuất ô tô hứa hẹn rằng sớm đây thôi, chúng ta sẽ được thấy những chiếc ô tô không thải ra gì ngoài nước sạch. Tuy nhiên, hứa hẹn về một " nền kinh tế hyđrô" không chỉ là vấn đề tất cả các chuyên gia đều đồng tình mà còn sẽ được thực hiện trong tương lai.

4. Ý tưởng mới về Mặt trời

Năng lượng mặt trời, chiếu tới Trái đất dưới dạng các photon ( lượng tử ánh sáng), có thể biến thành điện hoặc nhiệt. Tjiết bị thu năng lượng mặt trời có nhiều dạng khác nhau và đã được các công ty năng lượng và các hộ gia đình sử dụng thành công. Hai loại thiết bị thu năng lượng mặt trời phổ biến  nhất là pin năng lượng mặt trời và thiết bị thu nhiệt mặt trời. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đang tích cực loại bỏ các hạn chế để biến đổi nguồn năng lượng này một cách hiệu quả hơn bằng cách tập trung năng lượng mặt trời thông qua sử dụng các tấm gương và đĩa hình parabol. Thách thức tận dụng năng lượng mặt trời có liên quan tới sự thúc đẩy và khuyến khích từ phía chính phủ. Thực tế ở một số cộng đồng, vấn đề này hoàn toàn không được khuyến khích do những điều luật khắt khe về thẩm mỹ.

5. Biến đổi năng lượng nhiệt đại dương

Thiết bị thu năng lượng mặt trời lớn nhất thế giới chính là đại dương rộng lớn của chúng ta. Theo Bộ năng lượng Hoa Kỳ, mỗi ngày các đại dương hấp thu nhiệt từ mặt trời đủ để sản sinh năng lượng nhiệt bằng 250 tỷ thùng dầu. Mỹ tiêu thụ khoảng 7,5 tỷ thùng một năm. Các công nghệ của OETC biến đổi năng lượng nhiệt trong đại dương thành điện bằng cách tận dụng sự khác biệt về nhiệt độ giữa mặt nước bị đun nóng và độ lạnh dưới đáy đại dương. Sự khác biệt về nhiệt độ như vậy có thể vận hành các yua-bin và làm cho máy phát điện hoạt động. Nhược điểm lớn trong công nghệ này là vẫn chưa đủ hiệu quả để có thể được dùng làm cơ chế chính sản sinh ra năng lượng.

6. Khai thác năng lượng sóng và thuỷ triều

Các đại dương bao phủ hơn 70% bề mặt Trái đất. Sóng chứa một nguồn năng lượng dồi dào có thể làm các tuabin hoạt động, và có thể biến năng lượng cơ học này thành điện. Trở ngại khi sử dụng nguồn năng lượng này là sự khó khăn trong vấn đề khai thác. Đôi khi sóng quá nhỏ để sản xuất đủ năng lượng. Bí quyết là phải có khả năng tích luỹ nguồn năng lượng này khi có đủ năng lượng cơ học được sản sinh ra. East River thuộc thành phố New York hiện là nơi thử nghiệm cho 6 tuabin chạy bằng năng lượng thuỷ triều, và lòng tin của người Bồ Đào Nha về năng lượng sóng đựơc đặt vào một dự án mới hy vọng sản xuất đủ năng lượng cho hơn 1.500 ngôi nhà. Ở đây, một hệ thống hỗ trợ có khả năng thu năng lượng đại dương từ sóng cồn ngoài khơi được các nhà nghiên cứu trường Đại học Bang Oregon thiết kế.

7. Trồng cây trên mái nhà

Chúng ta tự hỏi rằng ý tưởng này xuất phát từ Vườn treo Babylon, một trong 7 kỳ quan của Thế giới, đã không được áp dụng sớm hơn trong thế giới hiện đại. Truyền thuyết ghi lại rằng các mái nhà, ban công và sân thượng của hoàng cung Babylon được biến thánh những khu vườn theo lệnh của Vua để làm vui lòng một trong những người vợ của mình. Vườn trên mái nhà giúp hấp thụ nhiệt, giảm tác động của cácbon điôxit vì nó thu khí CO2 và thải ra khí ôxy, ngâm nước mưa và giảm việc sử dụng điều hoà trong mùa hè. Về cơ bản, kỹ thuật này có thể làm giảm các hiệu ứng " đảo nhiệt" (heat island effects) ở các trung tâm thành phó. Bướm và loài chim hót cũng có thể bắt đầu thường xuyên bay tới những mái nhà vườn ở thành phố, và giống như vợ vua, thậm chí có thể làm những người dân sống ở những toà nhà này vui vẻ. Ở đây, một mái nhà vườn đang được thử nghiệmtại Bang Penn.

8. Hãy để cây cối và vi khuẩn làm sạch cho chúng ta

Công nghệ "Bioremediation" sử dụng vi khuẩn vàcay cối làm sạch ô nhiễm. Chẳng hạn như việc làm sạch natrat trong nước ô nhiễm bằng vi khuẩn, và dùng cây để hút asen từ đất ô nhiễm thông qua quy trình có tên gọi phytorenediation (quá trình sinh học thực hiện xử lý ô nhiễm đất hoặc nước bằng cách tận dụng tối đa các loài thực vật có khả năng hấp thụ hay phân huỷ chất gây ô nhiễm). Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ đã sử dụng quy trình này để làm sạch ở nhiều khu vực. Thường thì các loài cây tự nhiên có thể được sử dụng để phục vụ làm sạch những khu vực xây dựng, tròng các loài cây tự nhiên có thể được sử dụng để làm sạch những khu vực xây dựng, trồng các loài cây này rất thuận lợi bởi vì hầu như trong mọi trường hợp, chúng không cần tưới nước hoặc phun thuốc trừ sâu. Trong một số trường hợp khác, các nhà khoa học đang nỗ lực biến đổi gen các loài cây này và vận chuyển chúng nuôi lá nhằm loại bỏ dễ dàng chất ô nhiễm đó.

9. Chôn lấp các chất ô nhiễm

Cácbon điôxit là khí nhà kính đễ thấy nhất làm cho trái đất nóng lên. Theo Cơ quan Quảng lý thông tin Năng lượng, vào năm 2030 chúng ta sẽ thải ra gần 8.000 triệu tấn CO2. Một số chuyên gia cho rằng thật khó có thể hạn chế sự phát tán khí CO2 vào khí quyển và chúng ta phải tìm ra các phương pháp loại bỏ chất khí này. Một phương pháp được đề xuất là chôn khí đó dưới lòng đất trước khi chúng kịp bay vào khí quyển. Sau khi khí CO2 được tách ra từ các loại khí phát tán khác, khí này có thể được chôn trong các giếng dầu đã bị bỏ hoang, các hồ chứa nước mặn và các tảng đá. Trong khi việc này có vẻ rất hiệu quả, các nhà khoa học  vẫn không chắc chắn liệu khí này có nằm yên dưới lòng dất hay không, các tác động lâu dài là gì và chi phí tách và chôn lấp chúng vẫn còn quá cao để thể coi công nghệ này là một giải pháp thực tiễn trước mắt.

10. Loại bỏ giấy

Hãy tưởng tượng bạn đang nằm cuộn tròn trên giường với tờ báo buổi sáng và sau đó cũng đọc một cuốn tiểu thuyết mới nhất của nhà văn bạn yêu thích bằng chính tờ giấy này. Đó là khả năng của giấy điện tử, một màn hình linh hoạt trông giống như một tờ giấy thực sự nhưng lại có thể tái sử dụng hết lần này đến lần khác.Màn hình bày bao gồm các hạt nhỏ microcapsules ( vi chất capsule) chứa các hạt mang điện tích tới một lá thép. Mỗi một microcapsules có chứa các hạt trắng và đen nhiễm điện dương hoặc âm. Tuỳ thuộc vào điện cực âm hay dương mà các hạt trắng hoặc đen xuất hiện trên bề mặt hiển thị những hình mẫu khác nhau. Chỉ riêng ở Mỹ, hơn 55 triệu tờ báo được bán ra mỗi ngày.

(Theo www.moi.gov.vn )

Ô nhiễm giao thông

Ngày nay 99% ô tô trên thế giới đều sử dụng động cơ xăng. Ô tô thông qua đốt xăng hoặc dầu diezel mà nhận được động lực. Nhưng khi đốt xăng hoặc dầu diezel đều sản sinh ra những loại khí có hại. Khí thải của ô tô còn gọi là “khí đuôi xe”, nói chung có chứa các thành phần sau: Khí CO, các hợp chất của cacbua hydrro, hợp chất nitrorua, khói than, CO2, SO2.

CO là loại khí do xăng cháy chưa hoàn toàn. Sức hấp thu ôxi của nó rất mạnh. Nó kết hợp với hồng cầu của máu trong cơ thể, khiến cho một lượng lớn khí ôxi đi vào cơ thể bị chúng hấp thu, do đó rất có hại cho sức khoẻ. Nếu con người hít phải nhiều khí CO sẽ cảm thấy đau đầu, không có lực, thậmk chí hôn mê, tử vong. Ngộ độc khí than tức là do hít phải một lượng khí lớn CO mà gây nên.

Các hợp chất của khí cacbua hydrro là do nguyên liệu của ô tô bốc hơi, hoặc do nhiên liệu không cháy hoàn toàn mà sinh ra, nó chứa 200 loại chất, trong đó có nhiều loại gây nguy hiểm.

Các hợp chất của khí nitrorua là những hợp chất do nitơ và ôxi dưới điều kiện nhiệt độ cao trong xi lanh phát sinh ra các phản ứng hoá học mà thành. Các hợp chất này có độ độc rất mạnh, ảnh hưởng không tốt đến người và thực vật, nó còn gây ra mưa axít và sương mù quang hoá học làm chấn động thế giới sinh năm 1955 ở thành phố Lusanca, Mỹ chính là do các hợp chất của khí nitrorua gây nên.

Khí thải ô tô còn chứa nhiều loại vi hạt của khói than, trong đó có hạt than, các hoá chất của lưu huỳnh, hợp chất của chì, những loại này là những chất gây ra khối u. Ngoài khí sunfurơ ra, khí thải ô tô đối với hệ thống hô hấp của người gây nguy hại rất lớn, có thể dẫn đến các bệnh viêm khí quản và bệnh hen.. Trong khí thải của ô tô có các hợp chất của chì như Tetrmenthyl lead (CH3)4Pb. Đó là vì trong xăng đã pha thêm chất dầu bôi trơn Tetrmenthyl lead. Thông thường mỗi galon (bằng 3,79 lít) xăng người ta thêm vào 2-4g Tetrmenthyl lead. Khi ô tô chạy, 25-75% dầu này cháy với xăng sinh ra các hợp chất của chì thải vào không khí. Chì là kim loại nặng, rất độc, ankyl chì có độ độc của ankyl chì cao gấp 100 lần so với kim loại chì. Khi chì và các hợp chất của chì xâm nhập vào không khí ở dạng những hạt li ti, khuếch tán đi rất xa. Trong băng tuyết ở Bắc Cực, hàm lượng chì hai năm trở lại đây đã tăng lên 20 lần. Số chì này đều là từ các lục địa trôi nổi bay đến. Cùng với sự phát triển của công nghiệp hiện đại, không khí ô nhiễm chì đã lan tràn khắp thế giới, hơn nữa ngày càng nghiêm trọng. Không khí ô nhiễm chì, trên 90% là do khí thải ô tô tạo nên. Chì và các hợp chất của chúng trong không khí sau khi lắng xuống mặt đất còn tạo nên nguồn nước và đất đai bị ô nhiễm.

Chì và các hợp chất của chì rất có hại cho cơ thể người. Chúng có thể đi theo đường tiêu hoá, hoặc thông qua hô hấp đi vào phổi, chất Tetrmenthyl lead còn có thể thông qua da thẩm thấu vào cơ thể. Chì sau khi vào cơ thể, 90-95% sẽ hình thành chất lead photphat Pb3(PO4)2 trầm tích vào trong xương, chỉ một ít được bài tiết khỏi cơ thể. Khi chì tích tụ trong cơ thể đến một nồng độ nhất định sẽ gây nên ngộ độc chì. Nói chung người sau khi ngộ độc chì, mặt xanh nhợt, váng đầu, uể oải, đau khớp, ngộ độc chì nặng hơn sẽ có các chứng bệnh thiếu máu. Đó là vì chì hợp thành với các hồng cầu trong máu gây trở ngại cho khả năng hấp thu và đào thải của cơ thể.

Năm 1961 ở Tokyo, Nhật Bản đã phát sịnh sự kiện ngộ độc chì mãn tính. Trên những nút giao thông ở ngoại ô Nhật Bản xe cộ qua lại tấp nập, mỗi phút khoảng 50 ô tô,các khí thải chứa chì thải vào khiến cho dân cư chung quanh phổ biến xuất hiện hiện tượng công năng máu giảm thấp. Có những người dân còn bị các bệnh về tim mạch, não ứ máu và viêm thận mãn tính. Cảnh sát giao thông đành phải đội mũ phòng độc để chỉ huy giao thông.

Trên thực tế khí thải ô tô chứa chì đã tạo nên sự ô nhiễm môi trường rất nghiêm trọng. Muốn ngăn ngừa và giảm thấp ô nhiễm chì do ô tô gây nên thì biện pháp tốt nhất là sử dụng xăng không chì. Ở Bắc Kinh, Thượng Hải và một số thành phố lớn của Trung Quốc, ngày 01 tháng 6 năm 1998 và ngày 01 tháng 10 năm 1998 đã lần lượt dùng xăng không chì thì tốc độ nhiễm chì trong không khí sẽ giảm từ 80-90%. Lúc đó không khí thành phố sẽ trang sạch trở lại.

Các ngã tư thành phố xe cộ qua lại nhộn nhịp, người thưa thớt, do đó thường hấp dẫn những người đi bộ dùng lại đây, có ngươì còn mang theo con xem cảnh đường phố. Trên thực tế ở các ngã tư giao thông nhộn nhịp đó là khu vực ô nhiễm môi trường nặng nề.

Động cơ ô tô khi đến ngã tư thường giảm tốc độ để tránh người qua lại hoặc xe qua chỗ ngoặt. Có lúc vì gặp đèn đỏ hoặc những tình huống khẩn cấp khác mà phải phanh xe, sau đó mới khởi động tăng tốc. Quá trình này tuy đơn giản, ngắn ngủi nhưng sản sinh ra nhiều chất có hại. Ví dụ khi phanh ô tô, bánh xe và mặt đường ma sát mạnh, sản sinh ra bụi đã. Thở phải bụi này lâu dài sẽ gây nên các bệnh về phổi và bệnh viêm đường hô hấp, khí quản, phế quản. Khi xe khởi động hoặc phanh vì xăng cháy không hoàn toàn nên sẽ thải ra hơn 30 loại khí aromatic hydrrocacbon, trong đó có 9 loại khí là chất gây khối u. Ngoài ra còn có những thnàh phần khí khác có hại trong khí thải ô tô, như khí sunfurơ, nitrorua, khí CO2 chì..v.v..Một khi hít vào cơ thể những khí đó sẽ xuất hiện những phản ứng không tốt. Hít phải lâu dài không khí ô nhiễm chì sẽ ngộ độc chì. Trẻ em vì nhạy cảm với khí thải ô tô cho nên càng dễ bị ngộ độc. Nếu hít phải chì của khí thải lâu dài sẽ xuất hiện các chứng bệnh như viêm thận, đau mắt, thiếu máu..v.v..Có những nước phương Tây gọi đây là loại “bệnh giao thông trẻ em”.

Ngã tư đường phố cũng là nơi tiếng ồn rất mạnh. Tiếng ồn không những có hại cho thính lực mà còn ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh và hệ tim mạch.

Môi trường ngã tư đường phố ô nhiễm nghiêm trọng, do đó không nên đứng lâu ở đấy.

Nguồn thải do phương tiện giao thông có thể chia thành nguồn thải do tàu thuỷ, tàu hoả, máy bay ô tô, trong đó ô tô là nguồn ô nhiễm lớn nhất và có tác động đối với sức khoẻ con người nhiều nhất. Ở Mỹ năm 1986 đã thống kê được 186 triệu ô tô chạy (trong đó có 135 triệu xe khách), đã tiêu thụ khoảng 1,3 tỷ gallon xăng dầu. Chúng đã sản sinh ra khoảng 58% tổng khí thải CO, 30% lượng thải chì, 34% lượng thải NO, 27% lượng thải VOC và 16% lượng bụi thải trong tổng lượng thải của nước Mỹ (theo tài liệu của Cục Bảo vệ môi trường Mỹ).

Ở nước ta lượng ô tô và xe máy ngày càng tăng, nguồn thải ô nhiễm môi trường không khí và tiếng ồn giao thông gây ra ngày càng lớn. Theo số liệu của các sở giao thông thì ở Hà nội năm 1985 có khoảng 40000 xe máy các loại, 3500 ô tô các loại, năm 1990 có 170.000 xe máy và 21.500 ô tô, năm 1996 có gần 600.000 xe máy và gần 47.300 ô tô, ở thnàh phố Hải Phòng hiện nay có khoảng 107000xe máy và 11600 ô tô các loại, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay số xe máy đã lên tới trên 800.000.

Vì vậy việc kiểm soát nguồn thải từ giao thông ngày càng quan trọng.

(Theo www.moi.gov.vn )

 

 

 


AN TOÀN THỰC PHẨM TẠI HÀ NỘI Ở MỨC BÁO ĐỘNG

81-90% mẫu sữa ở các cửa hàng bán lẻ không đạt vệ sinh. Tại các chợ Hà Nội, cứ 5 mẫu thịt thì 4 không đạt chỉ tiêu vi sinh vật. Theo Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường của Quốc hội, an toàn thực phẩm ở Việt Nam đang ở mức báo động.

Chiều 29/8, Ủy ban Khoa học công nghệ và môi trường đã báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội về vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo đó, số ca ngộ độc và tử vong ở Việt Nam hiện vẫn rất cao do chất lượng an toàn thực phẩm đang ở mức thấp.

Các thực phẩm sử dụng hằng ngày dù có nguồn gốc động vật hay thực vật đều thiếu an toàn. Kết quả kiểm tra ở một số vùng trồng rau phía Bắc cho thấy, gần 40% số mẫu rau cải, 33% đậu đỗ có lượng NO3 vượt mức cho phép. Tất cả các mẫu rau muống đều có lượng vi khuẩn Coliform vượt mức cho phép nhiều lần.

Theo khảo sát trên thị trường Hà Nội, các loại thực phẩm như lòng lợn luộc, rau sống, nem chua, nem chạo... nhiễm vi khuẩn hiếu khí ở mức cao, trong đó tỷ lệ nhiễm Coliform quá giới hạn là 80%. Các sản phẩm động vật thiếu an toàn còn vì thức ăn chăn nuôi không sạch. Nhiều sản phẩm có hàm lượng độc tố vi nấm Aflatocxin và các loại khuẩn E.coli, Salmonella... rất cao. Hàm lượng kim loại nặng như chì, asen, đồng, kẽm... trong các mẫu thức ăn chăn nuôi công nghiệp được phân tích cao hơn mức cho phép đến 4-6 lần. Nhiều mẫu có hoóc môn tăng trưởng.

Thức ăn đường phố cũng là nguyên nhân gây ra nhiều vụ ngộ độc. Thống kê của Bộ Y tế cho thấy, 4/5 số cơ sở dịch vụ thức ăn đường phố mua thực phẩm không rõ xuất xứ, 1/3 đến 2/3 sử dụng nước đá nhiễm E.coli. Số cơ sở không đảm bảo vệ sinh trong chế biến chiếm 49-92%. Rất ít cơ sở đảm bảo vệ sinh an toàn trong khâu vận chuyển, bảo quản.

Theo đánh giá của Ủy ban Khoa học công nghệ & môi trường, việc kiểm gia, giám sát về an toàn thực phẩm hiện rất yếu. Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm quy định, kinh doanh thực phẩm là loại hình kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên trên thực tế, hồ sơ đăng ký kinh doanh lại không bắt buộc có giấy chứng nhận đủ điều kiện vệ sinh an toàn thực phẩm.

Để khắc phục tình trạng trên, Ủy ban kiến nghị với Quốc hội nên xây dựng Luật về thực phẩm để thay thế Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm. Luật này cần đưa ra các quy chuẩn về chất lượng thực phẩm như mức dư lượng cho phép của hóa chất, thuốc kháng sinh, việc sử dụng phụ gia, mức độ chiếu xạ...

H.H. (Theo VNExpress)

 

3.000 TỶ ĐỒNG ĐIỀU TRA TÀI NGUYÊN - MÔI TRƯỜNG BIỂN

 Việt Nam cần trở thành một quốc gia mạnh về biển. Muốn vậy phải khắc phục tình trạng chồng chéo, dàn trải, manh mún để quản lý khai thác phát triển kinh tế biển một cách bền vững.

Đó là một trong những ý kiến chỉ đạo của Phó thủ tướng Phạm Gia Khiêm tại Hội nghị triển khai thực hiện "Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020" vừa được Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức tại Hà Nội.

Đề án điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 với tổng kinh phí 2.916 tỷ đồng đã được Chính phủ phê duyệt tháng 3/2006.

Việc xây dựng, xác định chiến lược phát triển kinh tế biển và hải đảo, phát huy thế mạnh đặc thù của hơn 1 triệu km2 thềm lục địa... để trở thành một nước mạnh về biển được coi là chiến lược quan trọng trong quá trình xây dựng, phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh đất nước.

12% GDP mỗi năm từ biển...

Hàng năm, kinh tế biển  đóng góp 12% GDP và khoảng 50% giá trị xuất khẩu của cả nước. Riêng sản lượng hải sản ven bờ biển khai thác đã chiếm tới 80% tổng sản lượng. Trữ lượng cá toàn vùng biển Việt Nam ước tính khoảng 4,2 triệu tấn, trong đó khoảng 1,7 triệu tấn ở ngoài khơi với ngưỡng khai thác bền vững từ 1,4-1,7 triệu tấn. Từ năm 2002, kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản đã đứng thứ 3 cả nước và sử dụng tới 4% lực lượng lao động...

Biển Việt Nam cũng đã cung cấp khoảng 35 loại hình khoáng sản với quy mô trữ lượng khai thác khác nhau thuộc các nhóm: nhiên liệu, kim loại, vật liệu xây dựng, đá quý, khoáng sản lỏng... Biển cũng là nơi chứa đựng những tiềm năng phát triển ngành công nghiệp dầu khí.

Các ngành khác như: vận tải biển; đóng, sửa chữa tàu biển...đã mang lại nguồn thu ngoại tệ lớn cho sự phát triển đất nước với 7,3 triệu USD từ xuất khẩu thuyền viên...

Tuy nhiên, việc khai thác quá mức đã và đang làm cạn kiệt nguồn tài nguyên biển, gây ô nhiễm trầm trọng, suy thoái hệ sinh thái và huỷ hoại môi trường biển. Trong những năm gần đây, không ít vùng biển ven bờ Việt Nam đã bị cạn kiệt nguồn hải sản, giảm mạnh về trữ lượng và sản lượng vì khai thác quá mức. Nguồn hải sản ven bờ ngày một cạn kiệt, trữ lượng hải sản xa bờ chưa được đánh giá đầy đủ và chưa có biện pháp khai thác hợp lý.

Bên cạnh đó là việc sử dụng tràn lan các phương tiện huỷ diệt như: xung điện, chất độc, thuốc nổ... trong đánh bắt thuỷ hải sản, tiêu diệt cả nguồn kế cận, huỷ hoại môi trường sinh thái biển.

Báo cáo hiện trạng môi trường Việt Nam đã chỉ rõ, chất lượng môi trường biển và vùng ven bờ Việt Nam đang tiếp tục suy giảm theo chiều hướng xấu đi. Môi trường biển vùng nước ven bờ đã bị ô nhiễm dầu, kẽm và các chất thải sinh hoạt, các chất rắn lơ lửng, Si, NO3, NH4 và PO4...

Đặc biệt, hàm lượng hoá chất bảo vệ thực vật loại andrin  ở các vùng cửa sông ven biển đã ngày một tăng lên cao hơn mức giới hạn tiêu chuẩn cho phép.Với sức ép của sự phát triển và thiên tai hoành hành, các hệ sinh thái và nơi cư trú đang bị phá huỷ nghiêm trọng, nhất là rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, rặn san hô, đầm phá, cửa sông vùng châu thổ sông Hồng và sông Cửu Long.

Hiện tại, Việt Nam đã có hơn 85 loài hải sản đang ở mức độ nguy cấp, có nhiều loài đang là đối tượng tập trung khai thác trong đó đã có tới hơn 70 loài nằm trong Sách đỏ.Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, nguyên nhân chính dẫn đến suy thoái tài nguyên biển và ven bờ chính là do hiện tượng chặt phá rừng đầu nguồn quá lớn, gây xói lở bờ biển, sa bồi và nghẽn bùn.

Cùng với đó là việc sử dụng đất đến nghèo kiệt, khai thác khoáng ven biển tràn lan, lạm dụng phân bón và thuốc trừ sâu, xây dựng cảng biển, xả nước thải không qua xử lý, phát triển du lịch biển thiếu bền vững...

Quản lý biển cần một bộ riêng?

Bao trùm lên tất cả những tồn tại đó, theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, chính là do Việt Nam chưa có một tổ chức thống nhất và hệ thống trong điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên môi trường biển để làm căn cứ khoa học cho việc hoạch định chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế biển. Điều này đã dẫn đến tình trạng khai thác phát triển tự phát, thiếu bền vững.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai ái Trực thừa nhận, công tác điều tra cơ bản và quản lý vùng biển còn chồng chéo, phân tán, manh mún, lãng phí và chưa có cơ chế cho việc chia sẻ và sử dụng dữ liệu. Chính điều này đã làm nảy sinh phức tạp trong quản lý, khai thác và bảo vệ biển theo kiểu "miếng bánh". Biển do nhiều Bộ ngành quản lý nhưng cuối cùng chẳng có bộ nào là "nhạc trưởng" để có một đầu mối thống nhất.

Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao quản lý các loại tài nguyên đất, nước, khoáng sản, môi trường, khí tượng thuỷ văn...tất cả đều liên quan đến biển, đảo.

Tuy nhiên, vấn đề thuỷ lợi, diêm nghiệp, lâm nghiệp trong đó có trồng và bảo vệ rừng ven biển lại do Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn; còn việc khai thác nguồn lợi thuỷ sản, bảo tồn đa dạng sinh học lại do Bộ thuỷ sản và việc khai thác dầu khí, khoáng sản biển lại do Bộ công nghiệp. Cùng với đó là một loạt các bộ, ngành khác có liên quan như: Công an, Quốc phòng, Giao thông vận tải, Uỷ ban quốc gia tìm kiếm cứu nạn, Tổng cục du lịch...