MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY

Mỹ: Xu hướng dùng “hàng xanh”  
Bảo vệ môi trường để tăng sức cạnh tranh của sản phẩm
TP.HCM: Sẽ công bố “danh sách đen” KCX-KCN không có hệ thống xử lý nước thải
3.500 tỷ đồng cho công tác bảo vệ môi trường
Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định): Tiềm năng biển và những thách thức
Hết năm 2007, xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng
Sau 30/11, buộc tái xuất đối với các tàu biển đã qua sử dụng nhập về để phá dỡ
Du lịch biển – Khắp nơi ô nhiễm

LHQ cảnh báo: Môi trường biển Đông Nam Á bị ô nhiễm
Rác thải bệnh viện đe dọa môi trường sống
“Rác thải ở Việt Nam sẽ được xử lý  bằng công nghệ tiên tiến nhất”
Nhật Bản sẽ giúp Hà Nội tái chế toàn bộ rác

Hà Nội: Đầu tư 3 triệu USD để phân loại rác tại nguồn
Hà Nội: Mỗi ngày thiệt hại 1 tỷ đồng  vì ô nhiễm môi trường
Sông Nhuệ và sông Đáy phải hứng 321.000 m3 nước thải/ngày

 

MỸ: XU HƯỚNG DÙNG "HÀNG XANH"

 

Ngày càng nhiều người Mỹ đang theo đuổi lối sống “xanh”. Họ ăn thực phẩm hữu cơ, dùng những nguồn năng lượng thay thế và mua xe ô tô tiết kiệm nhiên liệu... 

Hiện thực phẩm hữu cơ đang chiếm tỷ lệ lớn nhất trên “thị trường xanh” của Mỹ. Ngành công nghiệp này đạt 13,8 tỷ USD doanh thu năm 2005, so với cách đó 8  năm, con số này chỉ là 3,59 tỷ USD. Vì có ích hơn cho sức khỏe và môi trường, người Mỹ chấp nhận mua thực phẩm hữu cơ với giá đắt hơn. Ngược lại họ lại  đang tìm kiếm những dòng nhiên liệu thay thế rẻ tiền hơn vào có góp phần bảo vệ môi trường. Tại nhiều bang của nước Mỹ, người tiêu dùng chọn lựa mua nguồn nhiên liệu sạch (từ sức gió và năng lượng mặt trời) với giá vài USD mỗi tháng. Còn theo mạng Hybridcars.com, doanh số xe hơi tiết kiệm nhiên liệu đã tăng vọt từ 9.000 trong năm 2002 đến 200.000 trong năm 2005.

Khái niệm xanh còn được áp dụng cả trong lĩnh vực xây dựng. Các nghiên cứu cho thấy các tòa nhà xanh có thể tiết kiệm được nhiều tiện ích mà lại phát huy được năng suất lao động của con người rất cao, trong khi giảm được tác động xấu lên môi trường xung quanh. Ngân hàng Mỹ, IBM và Toyota đã chuyển trụ sở của họ vào các tòa nhà xanh này bất chấp giá cả mua hoặc thuê cao hơn nhiều. Doanh thu của sản phẩm này đã tăng gấp đôi, từ 5,8 tỷ USD trong năm 2003 đến 10 tỷ USD trong năm 2005…

Theo SGG

Về giải thưởng “Doanh nghiệp xanh” do Báo SGGP và Sở TN-MT TPHCM tổ chức:
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG ĐỂ TĂNG SỨC CẠNH TRANH CỦA SẢN PHẨM
(SGGP) 

Việt Nam đã trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Việc xóa bỏ hàng rào thuế quan trong tất cả các nước thành viên đã tạo ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp xâm nhập thị trường mới này.

Tuy nhiên, để chống lại hàng hóa nhập khẩu từ các nước thành viên khác, nhiều nước khu vực châu Mỹ, châu Âu và châu Á lại tăng cường sử dụng hàng rào phi thuế quan. Điển hình nhất là rào cản “xanh”, rào cản về an toàn thực phẩm cho sức khỏe người tiêu dùng. Để hiểu rõ thêm về vấn đề này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực.

° Phóng viên: Xin bộ trưởng cho biết khi Việt Nam gia nhập WTO thì doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với những rào cản gì về môi trường (đối với thị trường xuất khẩu và nội địa)?

° Bộ trưởng MAI ÁI TRỰC: Rào cản thuế quan là một trong những trở ngại lớn nhất của quá trình tự do hóa thương mại.

Do điều kiện cụ thể của mỗi nước, chủ yếu là trình độ phát triển và khả năng tiếp cận với nền kinh tế thị trường mà lộ trình cắt giảm rào cản thuế quan đối với mỗi loại hàng hóa, dịch vụ của từng nước khi gia nhập WTO có khác nhau, nhưng cuối cùng cũng phải đạt đến sự xóa bỏ hoàn toàn và công bằng về rào cản này.

Quan sát tình hình thực tế cho thấy, rào cản thuế quan càng giảm thì rào cản phi thuế quan càng tăng lên.

Một trong những rào cản phi thuế quan là rào cản về môi trường, hay còn gọi là rào cản xanh, mà nội dung chủ yếu là các tiêu chuẩn khắt khe về an toàn đối với thực phẩm và các sản phẩm trực tiếp phục vụ cuộc sống của con người như đồ dùng gia đình, sản phẩm dệt may, giày dép, đồ nhựa…

Các nước phát triển thường áp dụng rào cản môi trường trong nhập khẩu hàng hóa với lý do bảo đảm an toàn sức khỏe cho người tiêu dùng trong nước và góp phần bảo vệ môi trường, một vấn đề mang tính toàn cầu. Nhưng đằng sau đó, không ít trường hợp là để bảo vệ sản xuất trong nước.

° Để hạn chế những ảnh hưởng của các rào cản về môi trường thì doanh nghiệp cần phải làm gì?

° Phải làm tốt cả 3 khâu sau đây: Một là, bảo đảm nguyên liệu sản xuất ra hàng hóa phải là nguyên liệu sạch. Điều này liên quan đến phương thức tạo ra nguyên liệu. Nói một cách cụ thể, việc canh tác, nuôi trồng, bảo quản các loại lương thực, nông sản, sản phẩm chăn nuôi, thủy hải sản để chế biến phải chú ý đến tính an toàn, đặc biệt là việc sử dụng các loại phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc phòng trừ sâu, dịch bệnh, diệt cỏ không để lại trong sản phẩm thu hoạch dư lượng hóa chất vượt ngưỡng cho phép.

Hai là, bảo đảm vệ sinh an toàn trong quá trình sản xuất, chế biến, đóng gói, bảo quản, lưu trữ, vận chuyển sản phẩm để không gây hại cho người sử dụng sản phẩm đó. Đây là một yêu cầu rất cao, đòi hỏi nhà sản xuất phải có dây chuyền, phương tiện sản xuất hiện đại, đạt tiêu chuẩn môi trường và phải có sự kiểm soát chặt chẽ trong tất cả khâu của quy trình làm ra và đưa sản phẩm đến người tiêu dùng.

Ba là, bảo đảm xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường đối với chất thải phát sinh trong quá trình sản xuất, chế biến. Điều này có vẻ không liên quan trực tiếp đến sự an toàn của sản phẩm nhưng nhiều nước vẫn đặt ra. Trong thực tế, đã có nhiều nhà nhập khẩu hàng hóa từ nước ta đã đến tận cơ sở sản xuất, chế biến để kiểm tra việc xử lý chất thải và coi đó là một điều kiện để ký hợp đồng nhập hàng.

Điều quan trọng để vượt qua rào cản môi trường là phải khắc phục thói quen coi thường công tác bảo vệ môi trường trong sản xuất; phải coi đầu tư cho bảo vệ môi trường là đầu tư để nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, không chỉ nhằm đạt mục tiêu tăng khối lượng hàng xuất khẩu mà còn nhằm phục vụ tốt người tiêu dùng trong nước.

° Bộ trưởng đánh giá như thế nào về giải thưởng “Doanh nghiệp xanh”. Giải thưởng “Doanh nghiệp xanh” có đặc điểm gì khác so với nhiều giải thưởng khác đang được tổ chức trong những năm gần đây?

° Tôi đánh giá cao sáng kiến của Báo Sài Gòn Giải Phóng và Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM về giải thưởng này. Đây không chỉ là một hoạt động thiết thực góp phần bảo vệ môi trường mà còn là một đóng góp để tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, đặc biệt khi nước ta gia nhập WTO.

Các giải thưởng dành cho doanh nghiệp và doanh nhân đã và đang thực hiện chú trọng về chất lượng sản phẩm, về việc mở rộng thị trường hoặc mặt hàng xuất khẩu, về sự thành đạt của doanh nhân. Giải thưởng “Doanh nghiệp xanh” tập trung vào khía cạnh môi trường, là sự bổ sung, hoàn thiện hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. 

° Theo bộ trưởng, doanh nghiệp sẽ có lợi gì nếu đoạt giải thưởng “Doanh nghiệp xanh”?

° Sẽ làm cho người tiêu dùng trong nước và ngoài nước an tâm khi sử dụng sản phẩm do doanh nghiệp làm ra. Nếu giữ ổn định và ngày càng làm tốt hơn để xứng đáng với giải thưởng đó thì uy tín của doanh nghiệp sẽ nâng cao. Mà trong kinh doanh, tạo ra và giữ được uy tín là yếu tố quan trọng nhất.

Trong xu thế hiện nay, bên cạnh các yếu tố về chất lượng, giá cả hàng hóa, khả năng đáp ứng nhu cầu đặt và giao hàng, các nhà buôn và khách hàng sẽ ngày càng chú ý đến mức độ sạch của sản phẩm, trong đó có sạch về môi trường.

° Về lâu dài giải thưởng “Doanh nghiệp xanh” sẽ mở rộng ra toàn quốc. Bộ trưởng có ý kiến gì về vấn đề này?

° Rất hoan nghênh nếu làm được. Tôi tin là với khả năng tổ chức, phát động của Báo Sài Gòn Giải Phóng, Sở Tài nguyên và Môi trường TPHCM, sự hỗ trợ tích cực từ phía UBND TPHCM và sự hưởng ứng bước đầu của nhiều doanh nghiệp, có nhiều khả năng để thực hiện việc đó. Nhưng trước hết hãy làm tốt đợt xét chọn và trao giải như đã công bố. “Đầu xuôi thì đuôi lọt mà”!

° Xin cảm ơn bộ trưởng! 

(ÁI VÂN thực hiện)

 

TP. HCM: SẼ CÔNG BỐ "DANH SÁCH ĐEN'  KCX-KCN KHÔNG CÓ HỆ THỞNG LÝ NƯỚC THẢI

Sở TN&MT TP. Hồ Chí Minh và Ban Quản lý các Khu Chế xuất – Khu Công nghiệp ( KCX – KCN) Thành phố đã có cuộc họp về tình hình xử lý nước thải tại các KCX - KCN trên địa bàn. TP. Hồ Chí Minh là địa phương dẫn đầu cả nước về số lượng các KCX – KCN, tuy nhiên đến nay mới chỉ có 9/15 đơn vị có hệ thống xử lý nước thải tập trung. Sở TN&MT và Ban Quản lý KCX-KCN TP yêu cầu những đơn vị này phải xây dựng hệ thống xử lý nước thải trước năm 2007. Nếu cố tình không xây dựng sẽ bị công bố “danh sách đen” trên phương tiện thông tin đại chúng. 

(L.Tâm)

 

 

3.500 TỶ ĐỒNG CHO CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
(TTXVN)

 

Ông Phạm Khôi Nguyên, Thứ trưởng thường trực Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, năm 2007, Việt Nam sẽ dành khoảng 3.500 tỷ đồng từ ngân sách cho công tác bảo vệ môi trường, chưa kể nguồn ngân sách từ Quỹ Bảo vệ môi trường. 

Bộ cũng sẽ tiếp tục tìm kiếm nhiều nguồn từ các nhà tài trợ quốc tế. Hiện có nhiều nhà tài trợ đã sẵn sàng dành 15 - 20% tổng vốn ODA cho công tác này ở Việt Nam.

Ngoài ra, các quy định về thuế và phí bảo vệ môi trường sẽ tiếp tục được xây dựng và sớm đưa vào áp dụng tạo nguồn thu lớn trong thời gian tới.

Bộ đang xây dựng Kế hoạch hành động cụ thể về bảo vệ môi trường sau khi Việt Nam gia nhập WTO và công tác này được phát triển theo hướng xã hội hóa nhằm giảm gánh nặng cho ngân sách và tăng hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ môi trường. 

Phạm vi hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường sẽ được mở rộng tới các loại hình kinh tế tư nhân, cổ phần, hợp tác xã môi trường; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp nước ngoài đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng xử lý môi trường trong một số phân ngành đã cam kết khi Việt Nam gia nhập WTO.

Quản lý tốt môi trường là một trong những yêu cầu khi Việt Nam gia nhập WTO, tuy nhiên hiện nhiều doanh nghiệp Việt Nam ít chú ý đầu tư để áp dụng tiêu chuẩn ISO 1400, lý do chủ yếu là các doanh nghiệp của Việt Nam hầu hết là nhỏ và vừa, nên ít doanh nghiệp dám đầu tư hàng trăm triệu đồng để thực hiện tiêu chuẩn này. Điều này lý giải tại sao trong số rất ít doanh nghiệp ở Việt Nam được cấp chứng chỉ ISO 14000 có tới 2/3 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Ông Khôi cho rằng, việc Việt Nam gia nhập WTO sẽ tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh giữa các nhà cung cấp dịch vụ môi trường trong nước và nước ngoài nên chất lượng các dịch vụ này sẽ được nâng cao. /.

 

VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THUỶ (NAM ĐỊNH): TIỀM NĂNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC

(QĐND)

Vườn quốc gia Xuân Thủy (Nam Định) là rừng ngập mặn duy nhất ở Việt Nam, được quốc tế công nhận là rừng ngập mặn thứ 50 của Công ước Ramsar về các vùng đất ngập nước trên thế giới.

Khu vực rừng ngập mặn ven cửa Ba Lạt này có diện tích hơn 7.100 ha, là điểm dừng chân của các loài chim di trú quốc tế. Ước tính có tới 215 loài chim nước hiện đang sinh sống tại đây, trong đó có những loài gần như tuyệt chủng nằm trong sách đỏ quốc tế như: cò thìa, bồ nông, mòng biển, choi choi, mỏ thìa, diệc đầu đỏ… Với những ưu đãi mà thiên nhiên đã ban tặng, Vườn quốc gia Xuân Thuỷ là rừng ngập mặn độc đáo, là tài nguyên thiên nhiên quý báu của quốc gia, nơi đây đang chứa đựng những tiềm năng biển vô cùng quý giá về sinh thái biển, du lịch biển. Tuy nhiên vườn đang gặp rất nhiều thách thức do mất cân bằng sinh thái, mà nguyên nhân chủ yếu là sự tác động của con người.

Sự xuất hiện của loại cò thìa ở Vườn quốc gia Xuân Thủy là điểm khác biệt so với các khu vực rừng ngập nước trên thế giới. Theo các nhân viên của rừng quốc gia Xuân Thủy, có tới 65 con cò thìa và hơn 20 con choi choi mỏ thìa thường xuyên di trú tại vườn. Thế nhưng đó là con số thống kê cách đây hơn 10 năm, còn hiện nay con số này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Ông Nguyễn Viết Cách, Giám đốc Vườn quốc gia Xuân Thủy cho biết: Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc mất cân bằng sinh thái của khu vực rừng quốc gia. Việc thay đổi khí hậu toàn cầu, ô nhiễm môi trường đã hạn chế sự sinh trưởng và thay đổi môi sinh, nguồn thức ăn cho các loài chim, thú. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là những hoạt động của con người đã ảnh hưởng trực tiếp tới các môi trường sống của các loài chim có nguy cơ tuyệt chủng như hoạt động đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, hoạt động sản xuất- kinh doanh của các hộ nuôi tôm vạng, việc đào đắp các đầm nuôi tôm, sản xuất thức ăn cho tôm, nước thải, đánh bắt hải sản tự do, săn bẫy chim…

Khi còn là vùng đất ngập mặn được dân quanh vùng gọi là “Cồn Lu, Cồn Ngạn”, các xã trong khu vực đã cho các hộ gia đình đấu thầu đất nuôi trồng thuỷ sản trong vùng lõm của rừng ngập mặn. Sau khi được quốc tế công nhận và Vườn quốc gia Xuân Thủy đi vào hoạt động thì việc giải quyết cân đối giữa vấn đề gìn giữ môi trường sống cho các loài sinh vật và quyền lợi của các hộ nuôi trồng thủy sản hết sức nan giải. Ban quản lý vườn kết hợp với chính quyền 5 xã khu vực vùng đệm gồm: Giao Thiện, Giao Lạc, Giao Xuân, Giao An và Giao Hải đã quy hoạch lại các hộ sản xuất ngay trong khu vực thuộc quyền quản lý của vườn.

Nhằm hạn chế sự khai thác quá mức nguồn thuỷ sản ở vườn, UBND huyện Giao Thủy và Ban quản lý vườn cấp vốn từ dự án “Nâng cao và đẩy mạnh việc quản lý rừng đất ngập nước thuộc Công ước Ramsar” do Đại sứ quán Hà Lan tại Việt Nam cho các hộ gia đình phát triển chăn nuôi gia súc và trồng cây ăn quả. Chính quyền của 5 xã cũng kết hợp với các doanh nghiệp tư nhân triển khai các lớp dạy nghề tại chỗ như làm mây tre đan xuất khẩu nhằm nâng cao thu nhập và giải quyết thời gian nông nhàn cho nhân dân. Đã có hơn 400 người theo học nghề và làm gia công sản phẩm mây tre đan, thu nhập từ 250.000-300.000 đồng/ tháng. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều người theo tập tục truyền thống, hàng ngày khai thác bừa bãi thuỷ hải sản ở những bãi tự nhiên. Lực lượng Ban quản lý vườn thì mỏng, sự phối hợp với chính quyền địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả và đặc biệt nhận thức của nhân dân địa phương về giá trị của vườn chưa được đầy đủ là những nguyên nhân chính gây mất cân bằng sinh thái. Các hoạt động du lịch còn nhỏ lẻ, tự phát đã phá vỡ cảnh quan về thiên nhiên và làm xáo trộn nền văn hoá trù phú của cư dân ven biển.

Để giữ gìn Vườn quốc gia Xuân Thủy đi đôi với phát triển kinh tế biển gắn với quốc phòng-an ninh, các cấp, các ngành, các nhà khoa học cần có các biện pháp đồng bộ, hiệu quả từ công tác quy hoạch đến các tiến trình thực hiện theo từng giai đoạn. Tiềm năng to lớn của vườn đang được đánh thức, vì vậy cần tuyên truyền sâu rộng cho nhân dân cả nước, du khách quốc tế biết đến một địa điểm du lịch sinh thái, một khu bảo tồn thiên nhiên độc đáo, hấp dẫn. Tuyên truyền trong nhân dân các xã trong vùng đệm nâng cao ý thức bảo vệ vườn. Nhà nước cần có chính sách hợp lý, ưu đãi tạo điều kiện cho các hộ gia đình ở các xã ven biển của huyện Giao Thuỷ đẩy mạnh phát triển các ngành nghề truyền thống nhằm hạn chế tối đa sự khai thác bừa bãi tài nguyên thiên nhiên.

(Công Luật)

 

 

HẾT NĂM 2007, XỬ LÝ TRIỆT ĐỂ CÁC CƠ SỞ GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG NGHIÊM TRỌNG

(Hanoinet)

 

Đó là một trong những mục tiêu đặt ra tại bản kế hoạch số 63/KH - UBND triển khai thực hiện chương trình hành động của Thành phố về tăng cường công tác bảo vệ môi trường Thủ đô trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước năm 2006- 2007 của UBND TP.

Để thực hiện, UBND TP đề nghị Bộ Công nghiệp chỉ đạo và ưu tiên bố trí kinh phí hỗ trợ 2 Công ty Dệt 8/3, Công ty Dệt may Hà Nội thực hiện di chuyển; Bộ Y tế phê duyệt kế hoạch đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải của 3 bệnh viện Việt - Đức, K và Phụ sản Trung ương.

Ngoài ra, UBND TP phê duyệt dự án và thực hiện đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước thải cho 2 bệnh viện Đống Đa và Phụ sản Hà Nội, đồng thời phối hợp với các bộ, ngành Trung ương xây dựng kế hoạch xử lý, chống ô nhiễm và di dời 3 bệnh viện của Trung ương đóng trên địa bàn; Tiếp tục rà soát, lập danh sách các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm môi trường hoặc không phù hợp với quy hoạch trên địa bàn để lập phương án và xây dựng cơ chế, biện pháp triển khai...

Nguyên Đào

 

SAU 30/11, BUỐC TÁI XUẤT ĐỐI VỚI CÁC TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG NHẬP VỀ ĐỂ PHÁ DỠ 

(Thanh niên)

 

Xét đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến trong CV số 1844/TTg-KG về việc xử lý nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ.

Theo đó, Thủ tướng Chính phủ giao Tổng cục Hải quan xử phạt vi phạm hành chính các trường hợp nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ kể từ ngày Luật Bảo vệ môi trường có hiệu lực thi hành và làm thủ tục thông quan đối với các trường hợp tàu đã về cảng trước ngày 30/11/2006. Sau thời điểm này, các trường hợp nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ đều buộc phải tái xuất và thực hiện các hình thức xử lý theo quy định của pháp luật.

Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có liên quan kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng của các doanh nghiệp.

(Theo TTXVN)

 

DU LỊCH BIỂN - KHẮP NƠI Ô NHIỄM

 

Nhiều bãi biển du lịch ở các tỉnh, thành trong nước như Hạ Long (Quảng Ninh), Sầm Sơn (Thanh Hóa), Cửa Lò (Nghệ An), Nha Trang, Khánh Hòa đang ở tình trạng ô nhiễm.

Khi thủy triều lên, các loại rác thải như vỏ bia, hộp nhựa, túi nilon bồng bềnh trôi theo sóng nước. Khi thủy triểu rút, nằm lại trên bãi biển là vỏ cua ghẹ, vỏ lạc, vỏ dừa, dưa hấu, túi nilon, lon bia, v.v...

Trong các bãi biển ô nhiễm ở Việt Nam đáng nói trước hết là Hạ Long. Ngoài chuyện dân phải sống chung với bụi than, ở địa phận Hòn Gai, phía ngoài công viên Lán Bè, nơi có nhiều tàu đánh cá, chở than neo đậu, cùng với sóng biển là đủ các loại rác.

Khi thủy triều rút, nơi đây như một bãi chiến trường ngổn ngang các loại rác như củi khô, quần áo, vỏ hải sản, vỏ hộp xốp, giầy dép, túi nilon, vỏ hộp bánh.

Khi thủy triều rút cũng dễ dàng nhận ra cống nước thải Bệnh viện Đa khoa Quảng Ninh, cống ngầm nước thải của thành phố, nước thải của nhà vệ sinh công cộng (tất cả đều chưa hợp lý) có màu đen ngòm, chảy ngoằn ngoèo ra biển cùng với thứ mùi bay lên.

Ngược lại, phía bờ biển của chợ Hạ Long 1, cũng thấy đủ các loại rác thải như vỏ hộp, vỏ hải sản, nước thải ở chợ đổ ra nhưng chẳng thấy ai dọn dẹp.

Cũng như bờ biển Hạ Long, đi dọc bờ biển từ huyện Bình Sơn đến huyện Đức Phổ (Quảng Ngãi) là khối rác khổng lồ nằm rải rác ở các khu vực gần nơi cư dân sinh sống cùng với nạn ô nhiễm môi trường do việc nuôi tôm gây ra.

Còn các bãi biển ở các xã Bình Hải, Bình Thạnh, Bình Đông, Bình Thuận (huyện Bình Sơn) ngày ngày vẫn có hàng tấn rác thải được tống ra, rồi dân tha hồ phóng uế ra đây. Dân ở đây cho rằng sóng biển cuốn tất cả rác rưởi ra khơi, không có gì sạch bằng nước biển.

Du khách khi đến Nha Trang không thể bỏ qua các tour đi biển, đi đảo. Du khách được đến thăm các hoàn đảo bằng tàu du lịch và trên đường đi tàu dừng gần giữa biển cho du khách thỏa thích bơi lội, ngắm san hô.

Điều đáng buồn là nhà vệ sinh trên những con tài du lịch này thải chất thải thẳng xuống biển. Vì thế hướng dẫn viên du lịch luôn dặn các du khách chỉ nên dùng nhà vệ sinh trong khi tàu chạy. Còn khi tàu dừng cố nhịn. Nghe thế khách Việt phì cười. Còn khách Tây nhăn mặt, trầm ngâm.

(Theo Du Lịch)

 

 

LHQ CẢNH BÁO: MÔI TRƯỜNG BIỂN ĐÔNG NAM Á BỊ Ô NHIỄM

(SGGP  ngày 17/10/2006)

Theo kết luận vừa được thông báo của Chương trình Phát triển LHQ, hiện tượng dân số tăng vọt và các nền kinh tế bùng nổ đang đe dọa những khu vực bờ biển của Đông Nam Á.

Sinh viên Ấn Độ hưởng ứng “Ngày Quốc tế làm sạch bờ biển”.

Mặc dù hàng triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo khổ nhờ bùng nổ kinh tế trong vòng 15 năm qua, nhưng tác động tiêu cực của sự phát triển thần tốc về kinh tế lên môi trường cũng nghiêm trọng không kém.

Sự phát triển kinh tế năng động dẫn đến sự bùng nổ dân số (qua các đợt di dân đến khu vực bờ biển), cộng với nhu cầu toàn cầu về cá và các loại hải sản tăng mạnh đã tạo ra áp lực khủng khiếp lên môi trường biển của khu vực này.

Các loài cá, đầm đước, san hô, rặng cỏ dưới đáy biển… đang bị đe dọa nghiêm trọng. Các đầm đước bị con người phá hủy để nuôi tôm hoặc biến thành đất nông nghiệp. Còn môi trường biển bị ô nhiễm từ rác, hóa chất và những chất thải.

Chương trình Phát triển LHQ cảnh báo, với đà ô nhiễm như hiện nay, những quặng san hô trong vùng có nguy cơ sẽ sụp đổ hoàn toàn trong vòng 20 năm tới và các đầm đước sẽ biến mất trong vòng 30 năm nữa. 

X.H. (Theo AP, Reuters)

 

RÁC THẢI BỆNH VIỆN ĐE DOẠ MÔI TRƯỜNG SỐNG

(Mạng VNExpress, ngày 13/10/2006)

Việt Nam chưa có nhiều lò đốt rác y tế hiện đại.
Ảnh: Vneconomy
.

Trung tâm Y tế Đông Anh (Hà Nội) mỗi ngày thải ra 200 m3 nước bẩn. Số nước thải của quá trình khám, điều trị bệnh chảy trực tiếp vào môi trường, chung với nước thải sinh hoạt khác. Đây là chuyện bình thường đối với các bệnh viện tuyến huyện.

Việt Nam hiện có xấp xỉ 1.050 bệnh viện, hơn 10.000 trạm y tế xã. Cùng với các viện nghiên cứu y sinh, trung tâm y tế dự phòng, cơ sở sản xuất dược phẩm, chúng thải ra lượng rác thải y tế khổng lồ, riêng chất thải rắn đã hơn 400 tấn mỗi năm, trong đó gần 1/10 thuộc loại nguy hiểm.

Bộ Y tế cho biết, chỉ 1/3 lượng rác thải rắn y tế được đốt bằng lò hiện đại. Số còn lại được thiêu ngoài trời, đốt bằng lò thủ công, chôn trong khuôn viên bệnh viện hoặc thải ra bãi rác chung.

Ông Nguyễn Khắc Hải, Viện trưởng Viện Y học lao động và vệ sinh môi trường nhận xét, hầu hết các cách xử lý chất thải rắn y tế đều chưa hoàn toàn hiệu quả. Với những cơ sở vận chuyển rác ra ngoài bệnh viện đến nơi khác để đốt, nguy cơ lây lan mầm bệnh trong quá trình vận chuyển là rất cao vì không nhiều cơ sở có phương tiện vận chuyển chuyên dụng.

Còn cách chôn lấp (thường được áp dụng ở những đơn vị không có lò đốt và lượng rác thải không lớn) cũng có nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước, dẫn đến dịch bệnh. Mặt khác, qua thời gian, diện tích đất dùng cho việc này cũng sẽ hết dần.

Đốt bằng lò không phải là giải pháp hoàn hảo. Các chất độc hại sẽ giảm nhiều trong quá trình đốt nhưng chỉ với điều kiện lò có hệ thống xử lý khí thải, mà thực tế rất ít lò đốt rác y tế ở Việt Nam có hệ thống này. Thế nên việc xử lý chất độc này lại làm phát sinh các chất độc khác, làm ô nhiễm môi trường.

Bác sĩ Hoàng Đức Tế, Phó phòng nghiệp vụ kế hoạch Trung tâm Y tế huyện Đông Anh cho biết, do không đủ kinh phí nên việc xử lý chất thải ở cơ sở y tế có 200 giường bệnh này được làm rất sơ sài. Với chất thải rắn, loại rác sinh hoạt được công ty thu gom hằng ngày, nhưng loại rác nguy hại thì mỗi tuần mới được thu gom một lần. Lý do là mỗi ngày chỉ có 10-20 kg rác loại này, không đủ cho một chuyến ôtô. Các loại rác thải là mô, bộ phận cơ thể thì được chôn lấp.

Còn chất thải lỏng ở Trung tâm y tế Đông Anh thì được xả ra môi trường không hề qua xử lý. Hiện trạng ở cơ sở này cũng là chuyện thường với nhiều nơi khác, bởi trong số 1/3 số bệnh viện có hệ thống xử lý nước thải ở Việt Nam, phần lớn là đơn vị tuyến trung ương, tỉnh và ngành, chỉ có rất ít bệnh viện tuyến huyện. Ngay cả ở những cơ sở có hệ thống xử lý nước thải, hiệu quả cũng không cao do không có kinh phí vận hành thường xuyên, hoặc vận hành không đúng.

Bệnh viện Đa khoa tỉnh Ninh Bình là một ví dụ. Hệ thống xử lý nước thải của cơ sở này có hai bể chứa để lắng lọc. Phó giám đốc Lê Hữu Quý cho biết, do không đủ kinh phí hoạt động thường xuyên nên bể hay bị tắc.

Ông Quý cũng cho biết, bệnh viện có đơn vị phụ trách xử lý rác thải chỉ mới cách đây 3 tháng, đó là khoa Chống nhiễm khuẩn. Trước đây, bệnh viện không hề có biên chế cho vấn đề rác, cũng chẳng ai có chuyên môn về lĩnh vực này. Công việc lúc được giao cho phòng vật tư, khi thì chuyển sang phòng hành chính.

Cũng như các cơ sở y tế khác, Bệnh viện Đa khoa Ninh Bình không thể dành nhiều kinh phí cho việc xử lý chất thải. Tình trạng quá tải đã làm cho chuyện tiền nong căng thẳng thêm. Theo ông Quý, để đảm bảo xử lý rác an toàn, bệnh viện cần được chi thêm 150-200 triệu đồng mỗi năm cho việc này.

Bộ Y tế đang xây dựng chương trình quản lý xử lý chất thải bệnh viện. Mục tiêu của chương trình này là đến năm 2010 sẽ hoàn thành hệ thống văn bản pháp lý và hướng dẫn thực hiện liên quan đến lĩnh vực này. Sau 4 năm nữa, tất cả các bệnh viện ở Việt Nam sẽ có hệ thống xử lý chất thải rắn và lỏng với công nghệ phù hợp.

(Bộ Y tế)

Hải Hà

  "RÁC THẢI Ở VIỆT NAM SẼ ĐƯỢC XỬ LÝ BẰNG CÔNG NGHỆ TIÊN TIẾN NHẤT" 

(Quân đội nhân dân, 11-10-2006)

 

Lần đầu từ Mỹ trở về nước vào năm 1989, David Dương – “ông vua” chế biến rác trong cộng đồng người Việt tại Mỹ - canh cánh một niềm: làm gì để góp sức xây dựng quê hương? Bạn bè ông, tùy theo nghề nghiệp, hoàn cảnh, đã làm được nhiều việc có ích. Còn ông, làm gì với cái "nghiệp rác" "cha truyền con nối"?

Sau đây là cuộc phỏng vấn ông David Dương, Tổng Giám đốc, Chủ tịch HĐQT Công ty California Waste Solutions: 

Một điển hình về tinh thần đoàn kết

- Theo tôi được biết, vừa qua, thay vì phải đóng cửa nhà máy tại thành phố San Jose, Công ty California Waste Solutions (CWS) của ông đã lật ngược ván cờ, thoát khỏi tình thế hiểm nghèo bằng việc trúng thầu hợp đồng chế biến rác lớn ở thành phố này. Nhưng dường như, chiến thắng đó có ý nghĩa lớn hơn cả lợi ích về kinh tế?

- Norcal là công ty thu gom xử lý rác lâu đời tại thành phố San Francisco và là công ty rác lớn thứ tư tại Mỹ. Họ đã lợi dụng quyền công ty mẹ có hợp đồng trực tiếp với thành phố San Jose (CWS là công ty có hợp đồng phụ đến tháng 6-2007 sẽ hết hạn), để gây khó dễ, nhằm mục đích loại bỏ tư thế đấu thầu trực tiếp với thành phố của CWS vào tháng 8-2006 cho một hợp đồng mới. Chúng tôi đã vận động được toàn thể cộng đồng người Việt sống tại San Jose để đòi lại công bằng và giành thắng lợi. Hội đồng thành phố San Jose đã chọn chúng tôi là đơn vị thắng thầu thu gom và chế biến rác. Hợp đồng này có hiệu lực trong sáu năm, từ 2007 đến 2013 và hai năm gia hạn tiếp tục cho đến năm 2015 trên hai khu vực A và C với khoảng 80% số hộ dân của thành phố. CWS giành chiến thắng với tỷ lệ phiếu 10/10 trong cuộc bầu chọn này.

Chiến thắng này không chỉ của riêng tôi. Sâu xa hơn, đây chính là sự biểu lộ sức mạnh của cộng đồng Việt Nam ở thành phố San Jose. Sự đấu tranh công khai của tôi đã nhận được sự ủng hộ tích cực của đông đảo cộng đồng người Việt.

Hơn nữa, chúng tôi không thể thua. Vì như thế, sẽ làm mất “chỗ đứng” của cộng đồng hơn 100.000 người Việt ở San Jose.

700 thành 3 triệu

- Cái "nghiệp rác" "dính" vào ông từ khi nào?

- Năm 1979, 21 tuổi, tôi theo gia đình sang định cư tại bang California, nước Mỹ. Tiếng Anh còn bập bõm, cả gia đình 16 người chẳng biết làm gì để sống. Ba tôi đã phải rất vất vả đi tìm việc cho từng người. Rồi mỗi người tìm được một nghề:  phụ bán mì, dọn phòng... Còn ba tôi, hồi ở Sài Gòn, ông đã làm nghề thu gom, xử lý phế liệu và sản xuất giấy.

Tối tối, gia đình tôi thường vào trung tâm thành phố San Francisco. Ba tôi phát hiện ra người dân thường đổ rác ra đường. Trong đó, có rất nhiều phế liệu và giấy có thể tái chế. Ông nghĩ, Việt Nam lúc ấy còn nghèo mà đã có nghề thu gom, xử lý phế liệu, thì ở xứ Mỹ, chắc chắn cũng phải có việc đó. Thế là, cả gia đình tôi chia nhau, mỗi người lên một tuyến xe buýt đi tìm xem chỗ nào thu mua phế liệu. Hôm sau, mẹ tôi là người phát hiện ra một kho rác rất lớn. Tôi nhớ rất rõ, cả gia đình lên chiếc xe buýt số 16 đến nơi. Đó là một nhà máy chuyên thu gom và bán nguyên liệu tái chế. Về nhà, ba tôi tập trung gia đình được 700 USD và mua một chiếc xe tải nhỏ. Từ đó, ai đi học, đi làm, cứ đi. Còn ai rảnh thì luân phiên nhau lái xe tải đi thu gom những phế liệu có thể bán. Sau hai năm, gia đình chúng tôi đã phát triển lên thành chín xe tải. Ba tôi quyết định thuê một cái kho để trữ và bán sau.

Đến năm 1983, thấy số lượng phế liệu thu gom được ngày càng nhiều nên ba tôi nghĩ tới việc sang một số nước châu Á tìm nguồn có thể bán trực tiếp. Ông tìm được một số bạn hàng theo mối quan hệ từ ngày còn ở Việt Nam. Công việc tiến triển theo đà thuận lợi, chúng tôi mua được một nhà kho lớn và thành lập nhà máy xử lý phế liệu. Gia đình tôi phải phân công người đi thu gom, người làm việc tại nhà kho. Cũng lúc đó, thấy nhiều người Việt sang chưa có công ăn việc làm, ba tôi đã hướng dẫn cho họ mua xe tải, đi thu gom phế liệu và bán cho chúng tôi. Những người không có vốn được ba tôi cho mượn.

Sáu năm sau, tại khu vực vùng vịnh San Francisco đã có tới hơn 80 xe tải của người Việt chuyên đi thu gom phế liệu với số lượng khoảng 6.000 tấn/tháng.

Cũng năm đó, một bước ngoặt lớn đã đến. Một công ty chuyên thu gom, xử lý chất thải lớn thứ tư ở Mỹ là công ty Norcal đã điều đình để mua lại nhà máy của gia đình tôi. Thấy giá tốt, tới 3 triệu USD, ba tôi quyết định bán. Không còn nhà máy riêng nhưng tôi được họ mời làm tổng quản lý sáu nhà máy thu gom, xử lý, làm phân vi sinh. Tới năm 1991, nhận thấy đã học hỏi được nhiều kinh nghiệm trong nghề tôi quyết định nghỉ làm. Năm 1992, cùng với ba thành viên trong gia đình, tôi đứng ra thành lập Công ty California Waste Solutions.

Hiện nay, công ty của tôi có một đội ngũ chuyên viên kỹ thuật và kỹ sư nhiều kinh nghiệm trong lĩnh vực thiết kế và xây dựng nhà máy xử lý rác và bãi chôn lấp hợp vệ sinh cùng 320 nhân viên công đoàn (ở Mỹ, nhân viên được chia làm hai loại, nhân viên công đoàn và nhân viên thường. Đối với nhân viên công đoàn, doanh nghiệp phải trả lương gấp đôi nhân viên thường), bốn nhà máy phân loại, tái chế rác với công suất xấp xỉ 5,5 nghìn tấn/ngày. Đặc biệt, trong đó có một nhà máy phục vụ thung lũng Silicon nổi tiếng thế giới. Tổng doanh thu hằng năm của chúng tôi khoảng 36 triệu USD, trong đó, doanh thu từ rác tái chế khoảng 25 triệu USD. Ngoài dự án tại TP Hồ Chí Minh, chúng tôi còn đầu tư tại Philippines một dự án chôn lấp và xử lý rác hợp vệ sinh.

Ý tưởng từ chuyến thăm quê

- Sao ông lại nghĩ tới việc xây dựng khu liên hiệp xử lý chất thải rắn tại TP Hồ Chí Minh?

- Mặc dù xa quê hương, nhưng tôi vẫn đều đặn theo dõi tình hình đất nước qua báo chí. Tôi rất mừng vì từ năm 1988, Chính phủ mình đã có những động thái lớn nhằm mở cửa hội nhập với thế giới. Năm 1989, lần đầu tiên tôi về Việt Nam. Lúc ấy, tôi là đại diện của đoàn dân biểu bang California.

Đến năm 1994, tôi được cử tiếp đoàn đại biểu đầu tiên của TP Hồ Chí Minh sang Mỹ do ông Phạm Chính Trực, Phó chủ tịch UBND dẫn đầu. Từ chuyến về thăm quê hương, từ chuyến tiếp đoàn đại biểu TP Hồ Chí Minh và việc thường xuyên theo dõi tình hình đất nước, tôi nghĩ, các chính sách đã cởi mở, mình phải về góp phần xây dựng quê hương. Anh em, bạn bè bên Mỹ đã về giúp quê hương bằng nhiều ngành nghề nhưng chưa có ai tham gia vào lĩnh vực bảo vệ môi trường. Tại sao mình không đem kinh nghiệm và dàn chuyên viên của công ty về giúp TP Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề rác thải? 

Năm 1994, tôi đã đưa một đoàn chuyên viên về khảo sát Hà Nội, Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh. Tuy nhiên khi đó, vấn đề môi trường chưa được các cơ quan chức năng quan tâm nhiều. Đến năm 2003, đoàn UBND TP Hồ Chí Minh do Phó Chủ tịch Mai Quốc Bình dẫn đầu đã sang Mỹ và có chuyến thăm công ty tôi. Đoàn có nhã ý mời chúng tôi về đầu tư bảo vệ môi trường tại TP Hồ Chí Minh. Từ đó, tôi đã quyết định thực hiện một dự án lớn nhằm giải quyết vấn đề môi trường cho thành phố với hy vọng sẽ là mô hình cho quê hương mình.

- Lúc đó ông có nghiên cứu công nghệ xử lý rác ở Việt Nam?

- Theo tôi biết, thời gian đó, đã có một số ít doanh nghiệp Việt Nam phân loại rác hữu cơ để làm phân vi sinh. Tuy nhiên, phần lớn vẫn xử lý rác bằng cách đem chôn. Việc này đòi hỏi một kỹ thuật cao và tiên tiến. Nếu không thực hiện đúng tầm sẽ gây ra tốn kém và nguy cơ làm tổn hại môi trường lâu dài. Những đô thị lớn như TP Hồ Chí Minh cần phải có một khu liên hợp xử lý chất thải rắn khép kín.

- Dự án xây dựng Khu liên hợp xử lý chất thải rắn của ông trị giá tới 90 triệu USD, một số tiền rất lớn! Ông có quá "phiêu lưu”?

- Tôi đã nghiên cứu rất kỹ về môi trường đầu tư tại Việt Nam trong những năm qua. Các chính sách, luật, cơ sở hạ tầng đã thay đổi nhiều theo hướng mở cửa hòa nhập với sự phát triển kinh tế của thế giới, khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài. Đặc biệt là mối quan hệ cấp cao Việt-Mỹ đang được đẩy lên một tầm cao mới đã trở thành tín hiệu tốt đối với chúng tôi nói riêng và đối với các công ty người Mỹ nói chung.

- Khi thực hiện dự án, ông có xét tới hiệu quả kinh tế?

- Làm kinh doanh, ai chẳng nghĩ tới hiệu quả kinh tế. Nhưng tôi đã sinh ra và lớn lên ở Việt Nam, với ý định góp phần làm sạch và tốt hơn cho môi trường của đất nước nên khi thực hiện dự án, tôi đặt lợi nhuận xuống hàng thứ yếu. Tôi nói cụ thể cho anh nghe nhé. Tại Mỹ, tôi chỉ làm công việc phân loại, xử lý và bán nguyên liệu tái chế. Mà rác ở Mỹ có tới 60-70% là thành phần vô cơ. Vì thế, số lượng nguyên liệu tái chế có thể bán thu được rất lớn và thời gian quay vòng rác chỉ là hôm trước nhận, hôm sau xuất. Đó còn chưa kể, khi thu rác, tôi nhận được 120 USD/ tấn . Còn ở Việt Nam, dự kiến chúng tôi chỉ thu 16,4 USD/tấn. Trong khi đó, 60-70% rác tại đây lại là hữu cơ. Điều đó có nghĩa, số lượng nguyên liệu tái chế không có nhiều và thời gian xử lý để ra phân vi sinh lên tới 2-3 tháng, mà giá bán phân vi sinh không bằng giá bán phế liệu.

Dự án xử lý chất thải hiện đại nhất Việt Nam

- Theo ông Phan Hữu Thắng, Cục trưởng Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), trong dịp đi thăm và làm việc tại Mỹ, Dự án Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước tại huyện Bình Chánh, TP Hồ Chí Minh của ông đã được Thủ tướng Việt Nam lúc bấy giờ là ông Phan Văn Khải đặc biệt quan tâm. Với thuận lợi đó, ông sẽ triển khai dự án như thế nào?

- Theo kế hoạch, tháng 3-2007, Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước sẽ đi vào hoạt động. Khu liên hợp này sẽ gồm một nhà máy phân loại rác, tái sinh tái chế, một nhà máy sản xuất phân vi sinh compost và bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh. Các nhà máy này hoạt động đồng bộ nhằm giảm khối lượng rác thải phải chôn lấp. Có thể hình dung quy trình hoạt động của khu liên hợp này như sau: trước tiên, rác đi qua nhà máy phân loại, được tách lọc những vật liệu có thể tái chế được như nhựa, bao nylon, kim loại, giấy. Trong tương lai, những vật liệu này sẽ được tái chế thành vật liệu xây dựng. Các chất hữu cơ trong rác thải sau đó sẽ được tách ra để sản xuất phân bón. Các chất còn lại sẽ được đem chôn tại bãi chôn lấp. Khu liên hợp có khả năng xử lý 3.000 tấn rác/ngày.

Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường TP Hồ Chí Minh, như vậy, mỗi ngày, khu xử lý rác của chúng tôi sẽ "ngốn" hơn nửa lượng rác của thành phố (khoảng 5.000 tấn rác/ngày). Đặc biệt, bãi chôn lấp được thiết kế theo công nghệ tiên tiến của Hoa Kỳ, đáp ứng tối đa tiêu chuẩn về bảo vệ môi trường. Khi rác bắt đầu phân hủy, nó sẽ tạo ra hai chất phụ có hại cho sức khỏe, đó là nước thải (còn gọi là nước rỉ rác) và khí gas (metal). Bãi chôn lấp được thiết kế có hệ thống thu hồi và xử lý hai chất phụ này với hiệu quả cao nhất để không làm ảnh hưởng đến môi trường. Nước rỉ rác sẽ được xử lý theo công nghệ kết hợp giữa hóa học và sinh học. Còn khí metal sẽ được dùng để sản xuất điện cung cấp cho cả khu liên hợp.

Với nguyện vọng và tâm huyết của một Việt kiều sống tại Mỹ, tôi rất hãnh diện và tự hào được đóng góp cho đồng bào và quê hương tôi bằng tất cả kinh nghiệm và kỹ thuật trong lĩnh vực môi trường, lĩnh vực xử lý chất thải rắn ở xứ người!

- Xin cảm ơn ông!

NHẬT BẢN SẼ GIÚP HÀ NỘI TÁI CHẾ TOÀN BỘ RÁC 

(Mạng Tienphongonline, ngày 11/10/2006)

TP - Hà Nội đang kỳ vọng thay đổi thói quen xả rác bừa bãi của người dân bằng một dự án 3 năm hợp tác với Nhật Bản.

 Người dân Việt Nam chưa có thói quen phân loại rác khiến nhân viên thu gom rác gặp nhiều khó khăn

Tiền phong phỏng vấn ông Nagakawa Hiroaki, Trưởng đại diện Cơ quan Hợp tác Kinh tế Quốc tế Nhật Bản (JICA) tại Việt Nam nhân sự kiện JICA ký kết biên bản hợp tác với UBND TP Hà Nội về việc xử lý rác.

Ba năm liệu có phải là thời gian thích hợp để thay đổi được thói quen xả rác của người dân Hà Nội, thưa ông?

Trước khi đến Việt Nam, để vứt một vỏ bao thuốc lá như thế này tôi phải tìm ba chỗ. Đó là nơi vứt vỏ bao bằng giấy, giấy bóng và giấy bạc. Tuy nhiên, tại Hà Nội, không phải khó khăn để vứt vỏ bao thuốc này ngoài đường.

Ngay từ khi còn nhỏ và ở trường học, chúng tôi đã được giáo dục về cách cư xử đối với rác. Rác không phải là thứ vứt đi hoàn toàn mà còn được dùng vào nhiều việc.

Việt Nam dù bắt đầu hơi muộn nhưng không thể không bắt đầu từ bây giờ nếu chúng ta không muốn phải chịu hậu quả nặng nề do ô nhiễm rác thải. Nó ảnh hưởng tới sức khỏe và cả sự phát triển kinh tế.

Ba năm không phải là thời gian dài nhưng không thể bắt đầu chậm hơn được nữa. Sau này, Việt Nam sẽ cần một chiến lược tổng thể, dài hơi hơn trong việc cải thiện môi trường. Dự án này chính là bước khởi đầu để giúp Hà Nội thực hiện kế hoạch trong tương lai.

Kết thúc dự án phân loại rác thải tại nguồn do Cty Môi trường Đô thị (Urenco) thí điểm tại phường Phan Chu Trinh năm 2002, người dân cho rằng: “đâu lại vào đấy”. Các ông sẽ thực hiện dự án (giảm thiểu, tái chế, tái sử dụng – dự án 3R) theo phương thức nào để thu được kết quả khả quan hơn?

Dự án 3R thực hiện dựa trên dự án do Urenco từng thí điểm tại phường Phan Chu Trinh, nhưng ở quy mô lớn hơn – trên toàn thành phố Hà Nội. Mặc dù dự án của Urenco chưa hẳn thành công nhưng qua đó hai bên đã học được nhiều điều.

Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng, phải hiểu được thói quen của người dân và hiểu họ nghĩ như thế nào về rác. Chúng tôi không hề muốn áp đặt cách xử lý của Nhật Bản mà sẽ lựa chọn phương pháp nào phù hợp với người Việt Nam. Rác sẽ được phân loại tại gia đình một cách chặt chẽ, sau đó thu gom và xử lý.

Ông Nagakawa Hiroaki

Phải có cách nào đó để người dân có thói quen và hiểu được lợi ích của công việc phân loại rác. Đây là một trong những yếu tố quan trọng nhất cho sự thành công của dự án.

Chúng tôi cũng mong muốn sẽ thay đổi được quan điểm của các nhà quản lý Việt Nam trong cách nhìn nhận về rác. Không chỉ có vài người có chức vụ được phổ biến về việc phân loại rác mà chúng tôi sẽ khuyến nghị, hướng dẫn cho mọi người dân thông qua mọi hình thức như áp phích trên các phương tiện giao thông, thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng.

Tuy nhiên, cụ thể sẽ phân loại rác tại nguồn bằng hình thức nào, chúng tôi sẽ cùng đối tác Việt Nam suy nghĩ và bàn bạc để tìm ra phương pháp thích hợp.

Ông đánh giá như thế nào về tình hình rác thải tại Hà Nội hiện nay?

Tỷ lệ thu gom rác đạt 70% là khá cao so với các vùng phụ cận. Tuy nhiên, Hà Nội mới chỉ dừng lại ở chôn lấp mà chưa tái chế. Trong khi đó, chúng ta cần phải tính đến việc không có một diện tích nào để chôn lấp rác mà mãi mãi không đầy.

Dự án 3R sẽ giúp Hà Nội tái chế rác để phục vụ các mục đích kinh tế khác như sản xuất phân com-pốt hoặc thức ăn trong chăn nuôi lợn.

Cuối cùng, cần phải nói rằng, Hà Nội có tiềm năng để trở thành một thành phố đẹp trên thế giới.

Cảm ơn ông!

- Mỗi ngày trên địa bàn Hà Nội (7 quận nội thành) có khoảng 1.200 - 1.250 tấn rác thải (không kể rác thải xây dựng), trong đó có hơn 100 tấn rác thải công nghiệp và bệnh viện.

Việc thực hiện thu gom rác của Hà Nội từ trước tới nay do Urenco đảm nhiệm. Thực tế cho thấy, Urenco chỉ thu gom được khoảng hơn 1.000 tấn/ngày đêm, bằng khoảng 75%.

Phần còn lại, một số được thu gom bởi những người thu đồng nát nhằm tái chế, còn lại nhân dân tự đổ xuống sông, mương, ao, hồ và được thu gom qua các kỳ tổng vệ sinh. Công nghệ và thiết bị còn lạc hậu, chưa tổ chức phân loại tại nguồn, mới chỉ xử lý chôn lấp là chủ yếu.

Theo tính toán, nếu chuyển từ hệ thống thu gom hiện hành của Hà Nội sang mô hình đề xuất của JICA thì sẽ tiết kiệm được 3USD/1tấn rác và đảm bảo được các tiêu chuẩn: Sản lượng thu gom; Tính bền vững; Tính công bằng.

- Dự án phân