




 |
MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(11/2005)
Công
bố báo cáo đa dạng sinh học ở Việt Nam (11/2005)
Hà
Nội - Ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng (11/2005)
Diện
tích các khu bảo tồn thiên nhiên tăng 28% (11/2005)
Bỉ hỗ trợ Phú Yên cải
thiện môi trường (11/2005)
TPHCM
di dời gần 1.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
(11/2005)
Hội
thảo Việt-Mỹ về công nghệ chống ô nhiễm nước
(11/2005)
Thuế
bảo vệ môi trường – công cụ "xanh" trong
bảo vệ môi trường (11/2005)
Có
nên tiêu diệt hàng loạt chim di cư ít có khả năng phát
tán cúm gia cầm? (11/2005)
Rừng
ngập mặn - bức tường xanh trước biển (11/2005)
Phú
Thọ: Công ty Hóa chất Lâm Thao đánh giá lại tác động
môi trường (11/2005)
Khu
Bàu Sấu được công nhận là vùng đất ngập nước (11/2005)
Sử
dụng vệ tinh theo dõi ven biển Nam Bộ (11/2005)
Chuyện
sản xuất nước sinh hoạt từ sông Hồng (11/2005)
Bắc
Ninh: Công ty Đạm và Hoá chất Hà Bắc nỗ lực giảm
thiểu ô nhiễm môi trường (11/2005)
Quảng
Nam: Hội An hướng tới xây dựng một môi trường đô
thị bền vững (11/2005)
Lò
đốt chất thải rắn công nghiệp hiệu suất cao (11/2005)
VN triển khai thực hiện Nghị
định thư Kyoto (11/2005)
Tuyên
Quang: Nâng độ che phủ rừng lên hơn 63% nhờ Chương trình
trồng mới 5 triệu ha rừng (11/2005)
Hà Giang: Sau thảm
họa lũ quét, người dân đã biết yêu quý rừng
(11/2005)
TP HCM: Thử nghiệm
nhà vệ sinh thông minh (10/2005)
Đà Nẵng: Ô nhiễm ánh
sáng đô thị ? (10/2005)
Biến
rác thành dầu (10/2005)
Từ 2007, xe cơ
giới phải đạt tiêu chuẩn khí thải EU (10/2005)
Việt
Nam: Độ che phủ rừng đạt 36,7% (10/2005)
Bán điện từ rác: Thu 13 tỷ đồng/năm
(10/2005)
Đức
tài trợ hai dự án cải thiện môi trường và nâng cao
chất lượng y tế cho Việt Nam
(10/2005)
Bến
Tre: không cấp phép những nghề gây ô nhiễm trong nội
thị (10/2005)
10 loài hải sâm ở
Vịnh Nha Trang có nguy cơ cạn kiệt (10/2005)
Bảo vệ loài nhuyễn thể
2 mảnh vỏ ở Bình Thuận: SOS! (10/2005)
Lễ ký kết “Dự án lồng ghép
xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường” (10/2005)
Người
tái tạo “quả cầu xanh” từ rác (10/2005)
Khu
xử lý chất thải công nghiệp đầu tiên của Việt Nam
(10/2005)
Lễ
ký kết “Dự án lồng ghép xóa đói giảm nghèo và
bảo vệ môi trường” (10/2005)
|
Công
bố báo cáo đa dạng sinh học ở Việt Nam
(11/2005)
Việt
Nam là một trong những quốc gia có tính đa
dạng sinh học cao nhất trên thế giới, vì
vậy cần phải có những cách tiếp cận và
đầu tư sáng tạo để bảo vệ và sử
dụng một cách bền vững những tài sản
tự nhiên quý giá, đó là kết luận của Báo
cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam 2005 về
đa dạng sinh học được công bố tại Hà
Nội chiều 24/11.
Đây
là báo cáo thứ tư trong loạt báo cáo hàng năm
do Ngân hàng Thế giới phối hợp với Bộ Tài
nguyên Môi trường thực hiện, đánh giá về
các xu hướng biến đổi, thách thức và
mục tiêu ưu tiên mà Việt Nam đang đối
mặt trong lĩnh vực quản lý môi trường.
Báo
cáo năm nay đánh giá trung thực hiện trạng
và xu hướng của đa dạng sinh học, làm
nổi bật những vấn đề quan trọng, xác định
những kinh nghiệm và bài học giúp các nhà
hoạch định chính sách đưa ra các hành động
ưu tiên trong thời gian tới nhằm cải thiện
công tác quản lý các hệ sinh thái, các loài
và các nguồn gien của Việt Nam. Các báo cáo
trước tập trung phân tích các điều kiện môi
trường nói chung (2002), tài nguyên nước
(2003) và chất thải rắn (2004).
Báo
cáo nêu rõ để giải quyết những thách
thức đang gặp phải trong bảo tồn đa dạng
sinh học, Việt Nam cần thực hiện đồng
bộ những giải pháp như cải thiện hệ
thống khu bảo tồn và hiệu quả quản lý
của hệ thống này; tăng cường quyền và năng
lực của các cộng đồng để quản lý tài
nguyên thiên nhiên, cải thiện việc lồng ghép
các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học vào
khu vực phát triển kinh tế; nâng cao hiệu
quả thực thi pháp luật, đặc biệt trong
kiểm soát buôn bán phi pháp động vật hoang
dã; và tăng cường quản lý hiệu quả việc
cung cấp tài chính cho việc bảo tồn.
Hệ
động thực vật của Việt Nam không những
giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét
độc đáo đặc trưng cho vùng Đông Nam Á
với 11.373 loài thực vật bậc cao có
mạch, khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo,
826 loài nấm, và 21.000 loài động vật, trong
đó có 310 loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò
sát, 3.170 loài cá, 7.500 loài côn trùng và các
động vật xương sống khác./.
(TTXVN)
Hà
Nội - Ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng
(11/2005)
|
Ngày
28/11, tại Hà Nội, Ban quản lý Dự án
SEA-UEMA (Dự án ứng dụng Quản lý Môi
trường đô thị ở Đông Nam Á) và
Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn
Việt Nam, tổ chức “Hội thảo chính sách
về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm
không khí từ các nguồn điểm ở các
huyện ngoại thành Hà Nội”. Hội
thảo nhìn nhận và đánh giá mức độ
nghiệm của tình trạng ô nhiễm không
khí ở Hà Nội đang ngày càng tăng. Đồng
thời, thảo lụân các nội dụng như:
chính sách quốc gia về chất lượng không
khí và khí thải ở Việt Nam. Chiến lược
để giảm ô nhiễm trong khu vực và áp
dụng các chính sách điển hình về
giảm ô nhiễm không khí…Hội thảo này
là một trong những hoạt động thuộc
Dự án SEA-UEMA, nhằm tìm ra các chính sách,
chia xẻ kinh nghiệm giữa các nước
trong khu vực, để cải thiện môi trường
ở khu vực thông qua dự án thực tế.
Theo đánh giá của giới chuyên môn,
hiện nay, không chỉ có lượng khí
thải lớn từ các phương tiện giao thông
đang xâm hại nghiêm trọng đến không
khí Hà Nội, mà còn có cả bụi. Ô
nhiễm bụi tại Hà Nội đã gấp ba
lần tiêu chuẩn cho phép. Thống kê chưa
đầy đủ của Sở TN&MT Hà Nội cho
biết, mỗi năm, thành phố tiếp nhận
khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn
khí SO2, 46.000 tấn khí CO từ hơn 400
cơ sở công nghiệp. Đó là chưa kể khói
của hơn 100 ngàn ôtô và trên 1 triệu
xe máy. Tình trạng ô nhiễm không khí ngày
càng nặng, đã khiến người dân sinh
sống ở Hà Nội ngày càng có nhiều người
bị bệnh về đường hô hấp. Theo kết
quả khảo sát, chỉ riêng ở khu vực
nội thành, với dân số khoảng 1,4
triệu người, nhưng mỗi năm có 626 người
chết và 1547 người bị bệnh hô hấp
do nồng độ TSP trong không khí ngoài
trời vượt quá TCVN 159,4mg/m3. Mặc dù,
Hà Nội đã nổ lực đưa ra một số
gải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm không
khí trong thời gian qua, nhưng tình hình
vẫn chưa có chuyển biến rõ nét./.
(www.monre.gov.vn)
|
|
|
|
Diện
tích các khu bảo tồn thiên nhiên tăng 28% (11/2005)
|
|
|
|
Sau hơn 10 năm thực hiện Công ước quốc tế
về đa dạng sinh học, Việt Nam hiện có 126 khu
bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích trên
2,5 triệu hécta, tăng 28% so với trước khi tham gia
công ước.
Tại cuộc hội thảo đánh giá việc thực
hiện Công ước đa dạng sinh học do Bộ Tài nguyên
và Môi trường phối hợp với Chương trình Phát
triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức tại Hà
Nội ngày 23/11, Cục Bảo vệ môi trường cho
biết tỷ lệ đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh
học hiện chiếm từ 20%-30% tổng đầu tư cho lĩnh
vực môi trường.
Tuy nhiên, chất lượng đầu tư bảo tồn
chưa cao. Hiện Việt Nam chưa có khu bảo tồn
biển nào và mới có chỉ có 2 khu bảo tồn sinh
thái đất ngập nước. Các hệ sinh thái bị suy
thoái cũng chưa được phục hồi một cách hiệu
quả.
TTXVN
|
|
Bỉ
hỗ trợ Phú Yên cải thiện môi trường (11/2005)
|
|
|
|
Ngày
24/11, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên Đào
Tấn Lộc và Đại sứ Vương quốc Bỉ tại Việt
Nam Ph.Giôtát đã ký Hiệp định về Dự án cải
thiện điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường
thành phố Tuy Hòa, do Chính phủ Bỉ tài trợ. Theo
hiệp định, dự án được triển khai thực hiện
trong 3 năm (2006-2008), giúp thành phố Tuy Hòa xây
dựng một khu xử lý rác thải hợp vệ sinh nhằm
cải thiện điều kiện môi trường, điều kiện
sức khoẻ cho người dân thành phố Tuy Hòa.
Dự
án cũng góp phần nâng cao năng lực quản lý cho Công
ty quản lý rác thải rắn của địa phương trong
việc thu gom và xử lý rác thải; đồng thời nâng
cao nhận thức của cộng đồng và tăng cường
sự tham gia của người dân vào hoạt động cải
thiện điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường.
Tổng
kinh phí của dự án là 3,3 triệu euro, trong đó Chính
phủ Bỉ viện trợ 60%; 20% kinh phí từ Quỹ đối
ứng được thành lập trên cơ sở xóa nợ của
Chính phủ Bỉ cho Việt Nam năm 2000, phần còn
lại 20% do phía Việt Nam đóng góp
(www.monre.gov.vn)
|
|
TPHCM
di dời gần 1.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm
(11/2005)
|
|
|
Đến
thời điểm này, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực
hiện di dời và sắp xếp lại được gần 1.000 cơ
sở sản xuất gây ô nhiễm từ các quận nội thành
vào các khu sản xuất tập trung, đạt 71% kế
hoạch đề ra.
Theo
Ban chỉ đạo công tác di dời các cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm Thành phố Hồ Chí Minh, có 188
doanh nghiệp đăng ký di dời vào các khu công
nghiệp và cụm công nghiệp với diện tích
254,52ha. Hiện các khu công nghiệp Lê Minh Xuân, khu
công nghiệp Tân Phú Trung là những nơi có khả năng
tiếp nhận các doanh nghiệp di dời.
Thành phố đã phê duyệt danh sách 1.394 cơ sở sản
xuất gây ô nhiễm buộc phải di dời. Theo kế
hoạch, việc di dời các cơ sở sản xuất này
sẽ kết thúc chận nhất vào ngày 31/12/2006./.
(TTXVN)
|
|
Thuế bảo vệ môi trường –
công cụ "xanh" trong bảo vệ môi trường (11/2005)
|
|
|
|
|
|
Người
gây ô nhiễm phải đóng thuế môi trường
|
|
Trong
thực tiễn, các nước phải sử dụng một
hệ thống tổng thể các chính sách, biện
pháp và các công cụ rất đa dạng để
thực hiện quản lý và bảo vệ môi trường,
nhưng nhìn chung được phân thành các nhóm:
Nhóm các biện pháp hành chính kết hợp
với giáo dục và truyền thông môi trường;
Nhóm
các biện pháp kinh tế - tài chính.
Trong
đó:
|
a/ Nhóm
các công cụ hành chính bao gồm rất nhiều các
nội dung gắn với công việc cụ thể liên quan đến
các nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước
chuyên ngành về môi trường thực hiện. Việc
thực hiện các công việc hành chính này cần có
nguồn tài chính rất lớn, trong khi nguồn kinh phí
ngân sách nhà nước có hạn, nên việc tăng cường
huy động các nguồn lực trong dân và xã hội hoá
công tác bảo vệ môi trường đang được chú
trọng thực hiện. Do vậy, sử dụng các công cụ
kinh tế – tài chính nhằm vừa huy động nguồn
lực tài chính, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu
bảo vệ môi trường đang được chú trong trong
hệ thống các chính sách và biện pháp để bảo
vệ môi trường.
b/ Nhóm biện pháp kinh tế - tài chính
ngày càng được mở rộng phạm vi áp dụng, bao
gồm các công cụ cơ bản sau: 1/ Quy định đặt
cọc – hoàn trả, ký quỹ bảo vệ môi trường;
2/ Quỹ môi trường; 3/ Phí bảo vệ môi trường;
4/ Thuế.
Trong đó, việc
sử dụng công cụ thuế để bảo vệ môi trường
là cách thức có nhiều ưu điểm để bảo vệ môi
trường và tăng thu cho ngân sách nhà nước, cụ
thể:
- Thuế bảo vệ môi trường
cấu thành vào giá hàng hoá, dịch vụ, nên có tác
dụng kích thích và điều chỉnh sản xuất, tiêu
dùng theo hướng bảo vệ môi trường, thúc đẩy
việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng
“sạch” nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng
của con người hoặc có thể dẫn tới việc ra đời
của các công nghệ, chu trình sản xuất và sản
phẩm mới giảm thiểu tác hại đến môi trường.
- Xét trên khía cạnh kinh
tế, thuế đánh vào các nguồn thu nhập từ lao động,
vốn và tiết kiệm thường gây các ảnh hưởng
tiêu cực hơn cho xã hội so với thuế bảo vệ môi
trường. Tăng thuế đánh vào thu nhập (thu nhập cá
nhân, thu nhập doanh nghiệp) thường là một trong
những nguyên nhân làm giảm động lực làm việc,
giảm tiết kiệm, đầu tư. Nhưng thuế bảo vệ môi
trường không gây gây tác động của thuế đối
với tăng trưởng kinh tế, hơn nữa về lâu dài còn
góp phần làm tăng sức cạnh tranh của sản
phẩm, của doanh nghiệp và nền kinh tế. Điều này
có nghĩa là nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường
có thể được sử dụng để thay thế nguồn thu
từ các loại thuế khác đối với thu nhập từ
lao động và vốn. Việc chuyển đổi đối tượng
của các loại thuế: từ việc đánh vào “những
cái tốt” của nền kinh tế (như
lao động và vốn) sang “những cái xấu” (như
ô nhiễm môi trường) sẽ phát huy được khía
cạnh sinh thái học của thuế.
Vì vậy, trong quá trình cải cách và
hoàn thiện hệ thống thuế của nhiều nước trên
thế giới, nội dung về bảo vệ môi trường ngày
càng được chú trọng để đưa vào quy định
trong các sắc thuế. Đặc biệt, hiện nay tại các
nước phát triển đang thực hiện cuộc cải cách
“thuế xanh”.
Ở nước ta, việc quản lý và bảo vệ môi trường chủ
yếu vẫn dựa vào các công cụ pháp lý và mệnh
lệnh hành chính kết hợp với giáo dục và
truyền thông về môi trường. Việc sử dụng các
công cụ thuế, phí để bảo vệ môi trường
mới đang trong quá trình hình thành và phát
triển. Các khoản phí bảo vệ môi trường đang
trong quá trình ban hành và triển khai thực hiện.
Hiện nay, trong hệ thống thuế của nước ta chưa
có riêng một loại thuế bảo vệ môi trường mà
mới chỉ có các quy định ưu đãi, miễn giảm
trong một số sắc thuế hiện hành nhằm bảo vệ
môi trường, như: thuế thu nhập doanh nghiệp,
thuế tiêu thụ đặc biệt,...
Một số kiến nghị về bảo vệ môi trường
và thuế bảo vệ môi trường:
- Cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa các nhóm công cụ hành chính,
công cụ giáo dục truyền thông môi trường, công
cụ kinh tế - tài chính nhằm nâng cao hiệu quả công
tác quản lý và bảo vệ môi trường. Trong điều
kiện của nước ta, khi mà Ngân sách Nhà nước còn
nhiều khó khăn, khả năng bố trí kinh phí cho các
mục tiêu về quản lý, giữ gìn và bảo vệ môi
trường còn hạn chế thì việc sử dụng các công
cụ kinh tế - tài chính để huy động nguồn lực
toàn xã hội tham gia bảo vệ môi trường (thông
qua các công cụ thuế, phí, các quỹ bảo vệ môi
trường,…) là hướng đi đúng, vừa giúp giảm gánh
nặng cho ngân sách nhà nước, vừa giúp đạt được
các mục tiêu về bảo vệ môi trường với hiệu
quả cao hơn.
-
So với các biện pháp khác, thuế có những ưu điểm
hướng
dẫn và khuyến khích các hoạt động ngăn ngừa và
hạn chế các chất thải gây tác hại đối với
môi trường, đồng
thời tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc áp dụng
thuế để bảo vệ môi trường cần được cân
nhắc kỹ lưỡng, vì nó có thể ảnh hưởng
trực tiếp đến thu nhập của người dân, sức
cạnh tranh của sản phẩm và sức cạnh tranh trong
thu hút đầu tư.
Do đây là lần đầu tiên xây
dựng và áp dụng riêng một loại thuế bảo vệ
môi trường ở nước ta, nên trong lần ban hành này,
thuế bảo vệ môi trường cần tập trung vào
giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường đang
có nhiều bức xúc, đồng thời phải đảm bảo tính
khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Hiện nay, các vấn đề ô nhiễm không khí đang là
vấn đề rất bức xúc của xã hội, không khí đang
trở lên ngột ngạt, ô nhiễm nặng lề ở các thành
phố, khu công nghiệp và các làng nghề đã gây lên
rất nhiều các hậu quả về môi trường sinh thái
và sức khỏe nhân dân. Vì vậy, thuế bảo vệ môi
trường nên áp dụng thu đối với đối tượng là
các sản phẩm mà việc sản xuất và sử dụng chúng
có phát thải ra các loại chất thải làm ô
nhiễm môi trường không khí (gồm khí thải,
bụi, tiếng ồn). Chẳng hạn, như thuế bảo vệ
môi trường đối với xăng dầu (gồm cả khí ga,
các sản phẩm từ xăng dầu); than và các nhiên
liệu chất đốt khác; phương tiện giao thông -
vận tải; các sản phẩm điện lạnh gồm tủ
lạnh, điều hoà nhiệt độ.../.
Nguyễn Thanh Hải (Bộ Tài chính)
|
Hội
thảo Việt-Mỹ về công nghệ chống ô
nhiễm nước
(11/2005)
|
|
|
|
(VietNamNet)-Từ
ngày 15 tới 18/11 tại Hà Nội sẽ diễn ra Hội
thảo Việt-Mỹ về công nghệ chống ô
nhiễm nước do Quỹ Giáo dục Việt Nam
(VEF) và Trung tâm Nghiên cứu công nghệ cao và
Y học từ xa đồng tài trợ.
Các
chủ đề sẽ được thảo luận tại hội
thảo là quản lý và sử dụng nước, kiểm
soát ô nhiễm nước, các công nghệ xử lý nước
thải và các chiến lược tăng cường hợp tác
trong lĩnh vực này giữa Mỹ và Việt Nam..
Mục
đích của hội thảo là tăng cường hợp tác
khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môi trường,
đặc biệt là chống ô nhiễm nước giữa
Mỹ và Việt Nam. Các nhà đồng tài trợ hy
vọng hội thảo sẽ là nền tảng cho sự
hợp tác lâu dài giữa cộng đồng khoa học
của hai quốc gia trong lĩnh vực môi trường
nước.
Đến
tham dự hội thảo sẽ có hơn 100 đại
biểu, trong đó có các nhà hoạch định chính
sách, các nhà khoa học trong và người nước,
cùng đại diện của các cơ quan, tổ chức
của Việt Nam. Sáu nhà khoa học tới từ các
ĐH hàng đầu của Mỹ sẽ tham dự và
thuyết trình tại hội thảo.
|
|
Có
nên tiêu diệt hàng loạt chim di cư ít có
khả năng phát tán cúm gia cầm? (11/2005)
Trong
khi chim di cư được coi là một trong những
nguồn phát tán mạnh virút cúm gia cầm, thì
các chuyên gia điểu học ở Việt Nam lại
khẳng định với VnExpress rằng nguy cơ này là
thấp, và chúng chỉ làm phát tán bệnh khi
bị bắt nuôi nhốt với các loài khác.
Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn
nhiều lần nhấn mạnh, chim di cư là một
trong những yếu tố khiến dịch cúm gia cầm
lây lan trên toàn cầu. Sự di chuyển của các
loài chim đã góp phần quan trọng khiến virút
H5N1 được mang từ châu lục này sang châu
lục khác. Vì thế, chỉ trong vòng 2 tháng
gần đây, virút này đã có mặt ở hầu
khắp các châu lục. Tuy nhiên, theo ông Huấn,
việc ngăn chặn nguy cơ dịch cúm từ chim di
cư là một "nhiệm vụ bất khả
thi". Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và
Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) cũng
nhận định việc kiểm soát cúm gia cầm ở
chim hoang dã bằng cách tiêu diệt hàng loạt
là không khả thi và không nên thực hiện.
Còn theo đánh giá của ông Nguyễn Đức Tú,
chuyên viên tổ chức Birdlife tại Việt Nam,
nguy cơ lây nhiễm virút cúm gia cầm từ chim
di cư là có, nhưng không cao. Bản thân các loài
chim nước thường xuyên mang trong mình các
chủng cúm khác, nhưng sinh bệnh học của chúng
không cao. Theo các nghiên cứu khoa học thì
hiện trên thế giới có rất ít mẫu bệnh
H5N1 được phát hiện ở chim di cư. Ngoài ra
các loài chim hoang dã luôn có cơ chế tự
bảo vệ. Khi một con bị bệnh cả đàn sẽ
tách ra để tránh lây nhiễm. Vì vậy, theo ông
Tú, nguyên nhân phát bệnh giữa các loài chim
chính là ở việc nuôi tập trung và nuôi
thả, khiến chim không có khả năng tránh
bệnh và bị nhiễm từ con khác. Bên cạnh đó,
việc kiểm soát chim di cư là không thể, nên
biện pháp khả thi phải là quản lý chặt
chẽ các loài chim nuôi, chim bắt và dập
tắt nguồn bệnh từ đó.
Tổ chức BirdLife quốc tế cũng cảnh báo
những biện pháp vội vàng nhằm ngăn chặn cúm
gia cầm dựa trên những dữ liệu chưa hoàn
chỉnh có thể gây nguy hại nghiêm trọng cho
các loài chim và sự đa dạng sinh học. Đặc
biệt, BirdLife kịch liệt phản đối việc tiêu
diệt các loài chim hoang nhằm ngăn chặn sự
phát tán bệnh. Cách đó chỉ làm virút phát
tán rộng hơn khi những con chim sống sót sẽ
chuyển tới nơi mới, và những con chim khoẻ
mạnh sẽ bị stress và dễ nhiễm bệnh hơn.
Mặc dù chưa có hiện tượng chim di cư mang cúm
gia cầm đến các vườn chim ở Việt Nam,
song các Vườn Quốc gia, khu bảo tồn cũng đã
chuẩn bị tinh thần nếu có dịch xảy ra. Vườn
Quốc gia Xuân Thuỷ, huyện Giao Thuỷ, Nam Định,
nơi có khu hệ chim trọng tâm ở miền Bắc,
từ nhiều tháng nay đã tuyên truyền cho người
dân xung quanh về việc tránh tiếp xúc với các
loài chim. Tháng 10-11 là thời điểm mà Vườn
đón các loài chim di cư từ phương Bắc tới
như các loài chim nước, dẽ, choi choi, cò,
vịt trời, ngỗng... Chúng xuất phát từ Nga,
Xibêri, Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật
Bản, đến trú đông ở Xuân Thuỷ cho đến
hết mùa rét rồi lại quay về. Ông Nguyễn
Viết Cách, giám đốc Vườn cho biết ông đã
theo dõi tin tức về cúm gà từ vài năm gần
đây, và nếu có dịch sẽ báo ngay cho cơ
quan chức năng. Song ông cũng cho rằng nếu đẩy
vấn đề lên mức cực đoan quá (tức là tiêu
diệt hết chim) thì nguy hiểm. Đến nay Vườn
cũng chưa có động thái chuẩn bị cơ sở
vật chất nào trước nguy cơ này.
Tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, Tam Nông, Đồng
Tháp - khu hệ chim điển hình của đồng
bằng sông Cửu Long - các cán bộ ở đây đang
theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch cúm gia
cầm. Trong đợt dịch năm trước, tỉnh đã
yêu cầu Vườn đóng cửa với khách du
lịch. Năm nay tuy hoạt động du lịch vẫn
diễn ra bình thường, nhưng Vườn đã phải
từ chối khéo một số đoàn khách để tránh
nguy cơ lây bệnh. Ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng
phòng nghiên cứu khoa học và môi trường
của Vườn cho biết, các cán bộ của Vườn
Quốc gia Tràm Chim luôn ở trong tư thế
chuẩn bị, cảnh báo sớm, nếu có hiện tượng
lạ sẽ báo ngay cho các cơ quan chức năng đến
lấy mẫu, kiểm tra. Mới gần đây, có vài
con chim ốm yếu và chết, Vườn đã nhờ cán
bộ thú y đến xét nghiệm, nhưng kết quả bình
thường.
Việt Nam là một trong những nước có khu
hệ chim giàu nhất Đông Nam Á với hơn 800 loài,
trong đó có hơn 200 loài chim nước là chim di
cư, do sự đa dạng trong kiểu sinh cảnh đất
ngập nước. Đây cũng là nơi kiếm ăn quan
trọng của các loài chim ven biển, các loài mòng
biển và nhạn, trong đó có một số loài
bị đe doạ toàn cầu như rẽ mỏ thìa,
choắt lớn mỏ vàng, mòng biển mỏ ngắn và
cò mỏ thìa.
Chim di cư ở Việt Nam được chia thành 2 nhóm.
Một nhóm di cư nội địa theo đường thức
ăn, như sếu đầu đỏ. Những con này chỉ
bay từ nơi này sang nơi khác, theo nguồn
thức ăn hay mùa làm tổ. Kiểu di cư thứ hai
"xuyên quốc gia" là của các con chim
biển như mòng, giẽ, vịt trời, ngỗng
trời. Hằng năm, chúng vượt khoảng 30.000
kilômét để đi trú đông. Việt Nam nằm trên
tuyến đường bay Đông Á - Ốt-xtrây-li-a
của nhóm chim này. Vào mùa hè, chúng làm tổ
ở các vùng lãnh nguyên gần cực Bắc. Khi mùa
đông đến, chúng di chuyển xuống phía nam
tới Ốt-xtrây-li-a. Một số loài sẽ dừng
lại ở Việt Nam trong 1-2 tuần, trong khi một
số khác như cò thìa sẽ ở lại cả mùa đông.
Chúng thường phân bố ở các cửa sông lớn
thuộc đồng bằng Bắc bộ, ven biển Trung
bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian
di cư của chúng kéo dài từ tháng 9 đến tháng
3 năm sau. Tại Việt Nam, chúng thường ghé
qua vào tháng 9-10 trên đường đi và tháng
3-4 khi trở về.
|
|
Anh
Thi - VnExpress
|
|
|
Rừng
ngập mặn - bức tường xanh trước biển (11/2005)
|
|
Rừng ngập mặn (RNM), các vỉa san hô và cỏ biển còn
nguyên vẹn có thể làm giảm nhẹ hoặc tiêu tan các
đợt sóng thần cao 15 m. Một nghiên cứu của
Nhật Bản cho thấy, một RNM có chiều rộng 100 m
có thể làm giảm 50% chiều cao của sóng triều và
giảm 50% năng lượng của sóng. Trong đợt động
đất và sóng thần ngày 26 tháng 12 năm 2004, tại
đảo pulau Sêmplu của Indonesia nằm gần tâm ngoài
của trận động đất, chỉ có 100 người bị
chết vì những người dân trên đảo đã học
được kinh nghiệm chạy trốn lên vùng đất cao và
những vùng có RNM bao quanh...
Việt Nam với bờ biển dài 3260km, nằm trong vùng
nhiệt đới gió mùa, hàng năm thường xuyên phải
hứng chịu những cơn bão và triều cường gây
thiệt hại lớn. Trước đây, nhờ có các dải
RNM tự nhiên và những dải rừng được trồng
ở các vùng cửa sông, ven biển nên đê điều ít
khi bị vỡ. Nhưng gần đây do việc phá rừng ngày
càng tăng nạn lở đất, lũ lụt xảy ra nhiều nên
cuộc sống của cộng đồng dân cư ven biển ngày
càng bị đe doạ. Ngay trong năm 2005 này, Việt Nam
đã phải gánh chịu những thiệt hại to lớn về
người, tài sản và cơ sở hạ tầng. Nhiều đoạn
đê biển bị vỡ hoặc sạt lở nghiêm trọng. Nhưng
sau những thiệt hại mà bão số 2, bão số 6 và bão
số 7 gây ra, nhiều người dân ở vùng biển đều
có nhận xét rằng, ở những khu vực có RNM, đê
biển không hề sạt lở.
Ông Phạm Minh Trung, một người dân huyện đảo Cát
Hải cho biết: "Tôi đã ngoài 70 tuổi,
từng chứng kiến 4 trận bão lớn. Bão năm 1955, Cát
Hải chưa có đê, ngập tràn hết, rất nguy hiểm
và bởi lúc đó do điều kiện chưa có chủ trương
phòng ngừa tốt. Bão năm 68, đê chưa tốt nên gây
lụt…; Bão số 2 năm nay do chủ quan, nhiều người
khi thấy nước sóng còn ra xem! Bão số 7, người
dân có ý thức và được sự quan tâm chỉ đạo
của cấp trên báo tin thường xuyên nên phòng
chống tốt hơn. Ngoài ra, chỗ này tổ chức
trồng rừng ngăn sóng rất tốt, phi lao, sú vẹt
ở rìa đê hoặc tre đảm bảo cho việc ngăn sóng,
chắn gió rất quý báu. Điều này cho thấy cái
lợi của công tác trồng rừng".
Tại tỉnh Thanh Hoá, bão số 7 đã gây những thiệt
hại nghiêm trọng, nhưng cũng qua cơn bão này, người
dân càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của
rừng ngập mặn. Bà Viên Thị Hoa - Chủ tịch
Hội Chữ thập đỏ Thanh Hoá nói: "Sau bão
số 7, chúng tôi có dịp đi một số tỉnh nằm
trong dự án trồng rừng ngập mặn do Hội Chữ
thập đỏ Đan Mạch và hội Chữ thập đỏ Nhật
Bản tài trợ. Tận mắt chứng kiến những đoạn
đê vỡ, những khu nhà ngập trong nước và có
dịp so sánh với những quãng đê lành lặn được
che chở bởi những cánh rừng ngập mặn hoặc
những khoảng tre gai... chúng tôi dễ dàng nhận
thấy một điều: ở đâu có rừng ngập mặn,
sức tàn phá của sóng biển bị suy giảm. RNM là
vành đai xanh góp phần quan trọng trong việc phòng
chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai".
GSTS Phan Nguyên Hồng - một chuyên gia trong lĩnh vực
RNM cho biết:"RNM có ý nghĩa to lớn trong việc
phòng vệ đê chống xói lở ở vùng ven biển.
Nếu chỗ nào không có RNM thì khi có bão dễ bị
phá. Ở các nước có RNM, họ rất quan tâm giúp
đỡ các nước không có RNM như Nhật Bản, Hà
Lan. Một số nước Bắc Âu muốn Việt Nam phát
triển RNM để bảo vệ dân, người ta đã đầu tư
nhiều tiền cho chúng ta phục hồi rừng, nhưng
một số địa phương lại có chủ trương phá
rừng đi để làm đầm tôm, vì lợi ích trước
mắt không tính đến hậu quả lâu dài. Hậu quả
cơn bão số 7, số 6 là những bài học rất đắt
giá cho chúng ta".
Chúng ta đều biết rằng, ngay sau trận sóng thần và
động đất xảy ra ở khu vực Nam Á cuối năm ngoái,
rất nhiều hội thảo khoa học về thảm hoạ thiên
tai đã được tổ chức và tầm quan trọng của
RNM trong việc phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai
đã được các quốc gia đặc biệt quan tâm, chú
ý. Bài học nhãn tiền từ sự thiệt hại về người,
về tài sản ở Thái Lan – đất nước quá quan tâm
đến việc phát triển kinh doanh du lịch mà chưa tính
đến sự tổn thất phải trả giá đắt vì thiên
tai dường như chưa đủ vì ở một số địa phương
vẫn còn tình trạng phá rừng làm đầm nuôi
trồng thuỷ sản. Giáo sư tiến sĩ Khoa học Trương
Quang Học – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tài
nguyên môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội
khẳng định, đó là vấn đề lợi bất cập
hại. Ông nói: "Chúng tôi rất đau xót
rằng rất nhiều diện tích RNM hiện nay ở nhiều
nơi từ Bắc vào Nam bị phá huỷ để nuôi tôm. Có
thể thấy rằng khi nuôi tôm trong những năm đầu
hiệu quả, đưa lại nguồn lợi lớn hơn nhiều
so với trồng nông nghiệp nhưng chỉ được một
vài năm. Thực tế, tất cả những diện tích ấy
rồi bị suy thoái đi nghĩa là kinh tế chúng ta cũng
không được, về mặt sinh thái mát quá lớn, có
những nơi mất hoàn toàn. Khi môi trường suy thoái,
vùng đất bị ô nhiễm, sau đó rất khó phục
hồii. Đặc biệt, khi hệ sinh thái bị phá đi,
RNM phục hồi nhanh hơn nhưng cũng phải mất hàng
chục năm. Vì vậy, chúng ta cần phải đánh giá
giá trị của các hệ sinh thái một cách toàn
diện, kể cả những giá trị vô hình. Nếu ta vì
lợi ích trước mắt, giải quyết không đúng sẽ
để lại hậu quả khôn lường và lâu dài".
Thu Lương - Đài
TNVN
|
|
|
|
Phú
Thọ: Công ty Hóa chất Lâm Thao đánh giá lại tác
động môi trường (11/2005)
|
|
Gần
đây, một số báo thông tin về” Làng ung thư”
Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, Phú Thọ, trong 10 năm có
104 người chết do ung thư. Công ty Supe Phốt phát
và Hóa chất Lâm Thao nằm trên địa phận xã
Thạch Sơn- xã có khoảng 200 hộ dân sống sát
với khu vực CTy. Trong hai ngày 2 và 3/11/2005, Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái
Trực đã về làm việc với tỉnh Phú Thọ và yêu
cầu Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao báo
cáo cụ thể về tình hình trên, đồng thời chỉ
đạo CTy phải có những biện pháp giải quyết
kịp thời tình hình ô nhiễm môi trường do bãi
thải của CTy trên địa phận xã.
Ông Quách Đình
Diệu, Giám đốc Công ty Supe Phốt phát và Hóa
chất Lâm Thao cho biết: Công ty đã thực hiện
một số giải pháp làm giảm thiểu ô nhiễm môi
trường trong và ngoài phạm vi Công ty, đã đền bù
thiệt hại cho những hộ dân bị chết cá, hỏng
lúa. Hiện Công ty đã “cứng hóa” mương và
chuẩn bị nhận mặt bằng để khoanh bao bãi xỉ
thải. Công ty rất mong được các bộ, ngành, cơ
quan khoa học tập trung nghiên cứu, điều tra làm
rõ nguyên nhân gây ung thư để đề xuất những
giải pháp xử lý triệt để. Bộ trưởng Mai Ái
Trực cũng cho rằng: Công ty Supe Phốt phát và Hóa
chất Lâm Thao đã có những đóng góp quan trọng
cho sự phát triển của ngành công nghiệp hóa
chất và nông nghiệp, đặc biệt là cho ngân sách
địa phương. Việc tìm nguyên nhân gây ung thư là
hết sức cần thiết, nhưng không thể chờ đợi
mà phải tính đến những giải pháp cấp bách. Chính
quyền cấp xã phải gióng lên hồi chuông cảnh giác
với bệnh tật, cần kết hợp với ngành y tế
tổ chức khám sức khỏe, phát hiện sớm bệnh
tật cho nhân dân; chấm dứt ngay việc sử dụng nước
giếng cho sinh hoạt. Sở Tài nguyên và Môi trường
tỉnh Phú Thọ phải theo dõi sát và thường xuyên
kiểm tra, đánh giá tiêu chuẩn môi trường khu
vực của Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm
Thao cùng Công ty Pin và Ắc quy Vĩnh Phú, Công ty
Giấy Bãi Bằng.
Xã Thạch Sơn
có hơn 8.000 hộ trong đó có 200 hộ sống gần Công
ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, 200 hộ
sống ở ven đê sông Hồng cạnh đường nước
thải của Cty Giấy Bãi Bằng - 400 hộ này đều
không sử dụng được nước giếng vì nước quá
đen và hôi. Ngoài ra, khí thải và nước thải
từ bãi xỉ thải của Cty Supe Phốt phát và Hóa
chất Lâm Thao còn gây chết lúa và cá của nông dân.
Tuy nhiên, chưa có cơ sở khoa học nào kết luận
rằng tỷ lệ ung thư cao như vậy là do đâu. Công
ty thì không thể chuyển đi và hơn 8.000 hộ dân
ở Thạch Sơn cũng không dễ dàng di dời khỏi địa
bàn. UBND xã yêu cầu Công ty phải đắp khoanh, nâng
cao bờ bao bãi xỉ thải, tách những đường
thải không độc về phía Lâm Thao, tránh xả quá
nhiều ra phía cánh đồng Thạch Sơn, cứng hóa mương
xả và xử lý triệt để nước thải trước khi
xả thẳng ra cánh đồng Thạch Sơn... Gần đây,
tỉnh Phú Thọ lại cấp phép cho xây dựng Nhà máy
xi măng trên vị trí bãi xỉ thải của Công ty
Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao- theo quy
hoạch thì cự ly từ nhà máy đến trường tiểu
học và mầm non của xã chỉ cách khoảng 50 mét.
Đây là điều không thể chấp nhận!
Bộ
trưởng Mai Ái Trực nhất trí những giải pháp tình
thế của tỉnh, nhất là việc sớm di dời dân xã
Thạch Sơn ra nơi ở mới dù có khó khăn, tốn kém.
Bộ TN&MT sẽ phối hợp với các ngành chức năng
tìm ra nguyên nhân, tuyên truyền giáo dục và chăm
sóc sức khỏe cho người dân Thạch Sơn; đồng
thời tiến hành kiểm tra, đánh giá thường xuyên,
nghiêm túc tiêu chuẩn môi trường của tất cả các
nhà máy, cơ sở sản xuất trên địa bàn.
Phương Anh
|
|
Khu
Bàu Sấu được công nhận là vùng đất ngập nước
(11/2005)
|
|
Ban Thư ký Công ước Ramsar tại Thụy Sĩ đã công
nhận hệ đất ngập nước Bàu Sấu (vườn quốc
gia Cát Tiên) có tầm quan trọng quốc tế thứ 1499
của thế giới theo danh sách Ramsar đồng thời là
khu Ramsar thứ hai của Việt Nam.
|
|
|
Vùng
đất ngập nước Bàu Sấu (Vườn Quốc gia Cát
Tiên)
|
Vùng đất ngập nước Bàu Sấu và các vùng đất
ngập nước theo mùa của vườn quốc gia Cát Tiên
(gọi tắt là hệ đất ngập nước Bàu Sấu) có
diện tích 13.759ha, bao gồm 5.360ha đất ngập nước
theo mùa và 151ha đất ngập nước quanh năm. Còn
lại là các diện tích thấp hơn 115m so với mặt nước
biển. Toàn bộ hệ đất ngập nước Bàu Sấu nằm
ở vị trí trung tâm khu Nam Cát Tiên, vườn quốc
gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).
Hệ đất ngập nước Bàu Sấu được công nhận vào
danh sách Ramsar càng khẳng định giá trị và ý nghĩa
của công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt
Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn để tiếp
tục phát huy các thành quả bảo tồn tài nguyên thiên
nhiên và phát triển cộng đồng, phát huy các lợi
ích về bảo vệ môi trường, về khoa học, gắn
liền với các lợi ích về kinh tế, văn hoá và xã
hội.
Công ước Ramsar là "công ước về các vùng đất
ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc
biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước"
được ký ngày 2-2-1971 tại thành phố Ramsar của
Iran. Việt Nam đã ký gia nhập Công ước vào năm
1989, là thành viên thứ 50, đồng thời là quốc gia
đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước này.
Theo
Nhân dân
|
|
Sử
dụng vệ tinh theo dõi ven biển Nam Bộ (11/2005)
|
|
Từ 1 - 4/11/2005, nhiều cơ quan khoa học tại
TPHCM đã tham dự hội thảo về Mô hình và Hệ
Thông tin Đại dương trong khu vực châu Á - Thái Bình
Dương thứ 16 để trao đổi khả năng triển khai
dự án Ứng dụng Công nghệ Dữ liệu ảnh Vệ tinh
FORMOSAT-2 vào các vùng ven biển Nam bộ, kéo dài từ
2006 - 2008.
|
|
|
FORMOSAT - 2 đã chụp được
ảnh đảo Phuket, Thái Lan vào ngày 29/12/2004,
sau khi bị đợt sóng thần Sumatra tàn phá.
|
Dự án trên nhằm triển khai ứng dụng công
nghệ dữ liệu ảnh vệ tinh FORMOSAT-2 vào việc đánh
giá ô nhiễm ven biển do tràn dầu và nguồn thải
bẩn từ đất liền.
Đồng thời dự án còn giúp quy hoạch và quản
lý rừng ngập mặn và du lịch sinh thái, lập mô hình
sóng-dòng chảy và lan truyền ô nhiễm ven bờ
biển, quan trắc khí tượng thủy văn biển, giám sát
thiên tai ven biển, đặc biệt là vấn đề xói lở
bờ biển, góp phần nâng cao chất lượng các môn
học liên quan trong đào tạo đại học.
Địa bàn triển khai ứng dụng là vùng ven biển Nam
bộ, Cần giờ-TP Hồ Chí Minh và những vùng lân
cận mà vệ tinh FORMOSAT-2 có thể cung cấp dữ
liệu.
Hình ảnh về vùng biển Nam Bộ sẽ được FORMOSAT-2
được cung cấp hàng ngày. Những hình ảnh này sẽ
có độ phân giải cao 2m đối với ảnh đen-trắng
hoặc 8m đối với ảnh màu, với băng quét 24km. Đây
là ảnh vệ tinh thương mại, có giá 1
USD/km2.
Việc triển khai ứng dụng dữ liệu vệ tinh của
dự án trên là vấn đề cấp thiết của thực
tiễn ven biển Nam bộ, nhất là đối với TP HCM và
vùng Cần Giờ. Đây là nơi vừa là rừng sinh thái
ngập mặn quốc gia, vừa là khu du lịch sinh thái.
Ngoài ra khu vực này còn bị tác động ô nhiễm do
các quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa từ
các tỉnh thành trên lưu vực Sài gòn-Đồng nai và
bị ô nhiễm do tràn dầu loang từ thuyền bè ra vào
các bến cảng trong lưu vực. Có được dữ
liệu vệ tinh, như FORMOSAT-2, là điều kiện thuận
lợi để nghiên cứu về những vấn đề vừa nêu.
Trong mong muốn ứng dụng dữ liệu vệ tinh để
góp phần giải quyết những vấn đề cụ thể ở
ven biển Nam bộ, nhiều đơn vị nghiên
cứu ở phía Nam của Viện Khoa học và Công nghệ Việt
Nam như: Phân Viện Vật lý, Phân Viện Địa lý, Phân
Viện Công nghệ Thông tin, Viện Sinh học Nhiệt đới
đang tiến hành các thủ tục cần thiết để tham
gia trực tiếp dự án này.
Tại Hội nghị Quốc tế về “Sử dụng Công nghệ
Vũ trụ trong Giám sát Thiên tai”, do Văn phòng LHQ
về Các Vấn đề Vũ trụ (United Nations Office for
Outer Space Affairs -UNOOSA), tổ chức từ 18 đến
22/10/2004 tại Munich, với hơn 70 báo cáo của
50 nước trên thế giới, đã thừa nhận việc ứng
dụng công nghệ vệ tinh là một trong những nhu
cầu không thể thiếu trong dự báo khí tượng
thủy văn, theo dõi và phòng tránh thiên tai, giám sát
môi trường, quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên,
v.v..
Tuy nhiên, do đầu tư kinh phí cho dữ lịệu vệ tinh
có độ phân giải dưới một vài mét là rất đắt
nên tại Hội nghị Munich các nước đang phát
triển đã đề nghị được chia sẻ từ các nước
phát triển để sử dụng với chi phí chấp nhận
được. Đáp ứng nhu cầu này, Ban Thư ký APEC đã
phê duyệt dự án hỗ trợ dữ liệu ảnh vệ tinh
FORMOSAT-2 cho các nền kinh tế thành viên có nhu
cầu.
Hương Cát (Theo VietNamNet)
|
|
Chuyện
sản xuất nước sinh hoạt từ sông Hồng
(11/2005)
|
|
|
|
Hà
Nội đang định triển khai xây dựng một nhà máy
sản xuất nước sinh hoạt từ nước mặt sông
Hồng trị giá hơn 800 tỉ đồng. Nguồn nước
dồi dào hứa hẹn sẽ chấm dứt tình trạng cúp
nước ở thủ đô. Nhưng liệu ý tưởng táo bạo
đó khả thi?
Sự
phát triển kinh tế công nghiệp (CN) của lưu vực
sông Hồng mấy chục năm qua đã tác động xấu
đến chất lượng nước của con sông này. Một
con số thống kê cho thấy, trong số hơn 44.000
doanh nghiệp CN ở khu vực tây bắc và đông bắc
sông Hồng thì chỉ tính riêng tỉnh Phú Thọ đã
có tới hơn 18.000 doanh nghiệp CN và nhà máy. Đáng
kể nhất là khu CN Việt Trì, nơi có khối lượng
nước thải lớn vào sông Hồng mà hầu hết không
qua xử lý, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng
nước sông. Tại khu CN này, chỉ tính khối lượng
nước thải CN của 28 nhà máy, doanh nghiệp có
nguy cơ gây ô nhiễm đã là 102.000m3/ngày. Trong đó,
Công ty giấy Bãi Bằng 54.000m3/ngày; Công ty Supe
phốt-phát 45.000m3/ngày; Nhà máy hóa chất Việt Trì
2.980 m3/ngày; Nhà máy giấy Việt Trì 2.970 m3/ngày;
Công ty Pangrim Dye 2.500m3/ngày; Nhà máy dệt may Vĩnh
Phú 1.860m3/ngày... Ngoài ra, do sự phát triển của
ngành CN khai khoáng, nên những ảnh hưởng của nó
lên chất lượng nước sông Hồng ngày càng tăng,
trong đó phải kể đến mỏ Apatit Lào Cai. Một
nguồn ô nhiễm khác đang là mối nguy cơ đối
với các nguồn nước khi việc sử dụng phân bón
hóa chất trong nông nghiệp hiện nay tăng gấp 4
lần so với hai thập niên trước đây (hiện tại
lượng phân bón sử dụng trên 1 ha lên tới
120-180 kg/năm)...
Các
số liệu khoa học đánh giá về đặc tính lý hóa
của nước mặt sông Hồng cho thấy độ pH tương
đối cao, thậm chí vượt giá trị yêu cầu đối
với nước mặt tiêu chuẩn A; hàm lượng ô xy hòa
tan (DO) trong nước sông thấp hơn giá trị cho phép.
Hàm lượng chất hữu cơ BOD và COD trong nước sông
Hồng là tương đối cao so với tiêu chuẩn TCVN
5942-1995 áp dụng cho các nhà máy xử lý nước
cấp cho sinh hoạt. Hàm lượng chất hữu cơ cao
chủ yếu là do xói mòn đất và chất thải CN
xả xuống lưu vực sông. Tuy hàm lượng kim loại
nặng trong nước sông Hồng không đáng kể, nhưng
có một nguồn gây ô nhiễm đáng lưu ý là nhà máy
sản xuất pin (tại khu CN Việt Trì) đã thường
xuyên thải ra kẽm, chì, đồng và một số các
kim loại cực độc khác như cadmium và thủy ngân.
Riêng hàm lượng sắt trong nước sông Hồng thì
luôn vượt quá giá trị cho phép. Còn hàm lượng
khuẩn Coliform trong n | | | |