MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(11/2005)

 

Công bố báo cáo đa dạng sinh học ở Việt Nam (11/2005)
Hà Nội - Ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng (11/2005)
Diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên tăng 28% (11/2005)
Bỉ hỗ trợ Phú Yên cải thiện môi trường (11/2005)
TPHCM di dời gần 1.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm (11/2005)

Hội thảo Việt-Mỹ về công nghệ chống ô nhiễm nước (11/2005)
Thuế bảo vệ môi trường – công cụ "xanh" trong bảo vệ môi trường (11/2005)
Có nên tiêu diệt hàng loạt chim di cư ít có khả năng phát tán cúm gia cầm? (11/2005)
Rừng ngập mặn - bức tường xanh trước biển (11/2005)
Phú Thọ: Công ty Hóa chất Lâm Thao đánh giá lại tác động môi trường (11/2005)
Khu Bàu Sấu được công nhận là vùng đất ngập nước (11/2005)
Sử dụng vệ tinh theo dõi ven biển Nam Bộ (11/2005)
Chuyện sản xuất nước sinh hoạt từ sông Hồng (11/2005)
Bắc Ninh: Công ty Đạm và Hoá chất Hà Bắc nỗ lực giảm thiểu ô nhiễm môi trường (11/2005)
Quảng Nam: Hội An hướng tới xây dựng một môi trường đô thị bền vững (11/2005)
Lò đốt chất thải rắn công nghiệp hiệu suất cao (11/2005)
VN triển khai thực hiện Nghị định thư Kyoto (11/2005)
Tuyên Quang: Nâng độ che phủ rừng lên hơn 63% nhờ Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng (11/2005)
Hà Giang: Sau thảm họa lũ quét, người dân đã biết yêu quý rừng (11/2005)
TP HCM: Thử nghiệm nhà vệ sinh thông minh (10/2005)
Đà Nẵng: Ô nhiễm ánh sáng đô thị ? (10/2005)
Biến rác thành dầu (10/2005)
Từ 2007, xe cơ giới phải đạt tiêu chuẩn khí thải EU (10/2005)

Việt Nam: Độ che phủ rừng đạt 36,7% (10/2005)
Bán điện từ rác: Thu 13 tỷ đồng/năm (10/2005)
Đức tài trợ hai dự án cải thiện môi trường và nâng cao chất lượng y tế cho Việt Nam  (10/2005)
Bến Tre: không cấp phép những nghề gây ô nhiễm trong nội thị (10/2005)
10 loài hải sâm ở Vịnh Nha Trang có nguy cơ cạn kiệt (10/2005)
Bảo vệ loài nhuyễn thể 2 mảnh vỏ ở Bình Thuận: SOS! (10/2005)
Lễ ký kết “Dự án lồng ghép xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường” (10/2005)

Người tái tạo “quả cầu xanh” từ rác (10/2005)
Khu xử lý chất thải công nghiệp đầu tiên của Việt Nam (10/2005)
Lễ ký kết “Dự án lồng ghép xóa đói giảm nghèo và bảo vệ môi trường” (10/2005)  

 

Công bố báo cáo đa dạng sinh học ở Việt Nam (11/2005)

Việt Nam là một trong những quốc gia có tính đa dạng sinh học cao nhất trên thế giới, vì vậy cần phải có những cách tiếp cận và đầu tư sáng tạo để bảo vệ và sử dụng một cách bền vững những tài sản tự nhiên quý giá, đó là kết luận của Báo cáo Diễn biến Môi trường Việt Nam 2005 về đa dạng sinh học được công bố tại Hà Nội chiều 24/11.

Đây là báo cáo thứ tư trong loạt báo cáo hàng năm do Ngân hàng Thế giới phối hợp với Bộ Tài nguyên Môi trường thực hiện, đánh giá về các xu hướng biến đổi, thách thức và mục tiêu ưu tiên mà Việt Nam đang đối mặt trong lĩnh vực quản lý môi trường.

Báo cáo năm nay đánh giá trung thực hiện trạng và xu hướng của đa dạng sinh học, làm nổi bật những vấn đề quan trọng, xác định những kinh nghiệm và bài học giúp các nhà hoạch định chính sách đưa ra các hành động ưu tiên trong thời gian tới nhằm cải thiện công tác quản lý các hệ sinh thái, các loài và các nguồn gien của Việt Nam. Các báo cáo trước tập trung phân tích các điều kiện môi trường nói chung (2002), tài nguyên nước (2003) và chất thải rắn (2004).

Báo cáo nêu rõ để giải quyết những thách thức đang gặp phải trong bảo tồn đa dạng sinh học, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ những giải pháp như cải thiện hệ thống khu bảo tồn và hiệu quả quản lý của hệ thống này; tăng cường quyền và năng lực của các cộng đồng để quản lý tài nguyên thiên nhiên, cải thiện việc lồng ghép các biện pháp bảo vệ đa dạng sinh học vào khu vực phát triển kinh tế; nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, đặc biệt trong kiểm soát buôn bán phi pháp động vật hoang dã; và tăng cường quản lý hiệu quả việc cung cấp tài chính cho việc bảo tồn.

Hệ động thực vật của Việt Nam không những giàu về thành phần loài mà còn có nhiều nét độc đáo đặc trưng cho vùng Đông Nam Á với 11.373  loài thực vật bậc cao có mạch, khoảng 1.030 loài rêu, 2.500 loài tảo, 826 loài nấm, và 21.000 loài động vật, trong đó có 310 loài thú, 840 loài chim, 286 loài bò sát, 3.170 loài cá, 7.500 loài côn trùng và các động vật xương sống khác./.

(TTXVN)

Hà Nội - Ô nhiễm không khí ngày càng nghiêm trọng (11/2005)

Ngày 28/11, tại Hà Nội, Ban quản lý Dự án SEA-UEMA (Dự án ứng dụng Quản lý Môi trường đô thị ở Đông Nam Á) và Viện Quy hoạch Đô thị và Nông thôn Việt Nam, tổ chức “Hội thảo chính sách về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm không khí từ các nguồn điểm ở các huyện ngoại thành Hà Nội”. Hội thảo nhìn nhận và đánh giá mức độ nghiệm của tình trạng ô nhiễm không khí ở Hà Nội đang ngày càng tăng. Đồng thời, thảo lụân các nội dụng như: chính sách quốc gia về chất lượng không khí và khí thải ở Việt Nam. Chiến lược để giảm ô nhiễm trong khu vực và áp dụng các chính sách điển hình về giảm ô nhiễm không khí…Hội thảo này là một trong những hoạt động thuộc Dự án SEA-UEMA, nhằm tìm ra các chính sách, chia xẻ kinh nghiệm giữa các nước trong khu vực, để cải thiện môi trường ở khu vực thông qua dự án thực tế. Theo đánh giá của giới chuyên môn, hiện nay, không chỉ có lượng khí thải lớn từ các phương tiện giao thông đang xâm hại nghiêm trọng đến không khí Hà Nội, mà còn có cả bụi. Ô nhiễm bụi tại Hà Nội đã gấp ba lần tiêu chuẩn cho phép. Thống kê chưa đầy đủ của Sở TN&MT Hà Nội cho biết, mỗi năm, thành phố tiếp nhận khoảng 80.000 tấn bụi khói, 9.000 tấn khí SO­­2, 46.000 tấn khí CO từ hơn 400 cơ sở công nghiệp. Đó là chưa kể khói của hơn 100 ngàn ôtô và trên 1 triệu xe máy. Tình trạng ô nhiễm không khí ngày càng nặng, đã khiến người dân sinh sống ở Hà Nội ngày càng có nhiều người bị bệnh về đường hô hấp. Theo kết quả khảo sát, chỉ riêng ở khu vực nội thành, với dân số khoảng 1,4 triệu người, nhưng mỗi năm có 626 người chết và 1547 người bị bệnh hô hấp do nồng độ TSP trong không khí ngoài trời vượt quá TCVN 159,4mg/m3. Mặc dù, Hà Nội đã nổ lực đưa ra một số gải pháp nhằm hạn chế ô nhiễm không khí trong thời gian qua, nhưng tình hình vẫn chưa có chuyển biến rõ nét./.

(www.monre.gov.vn)

Diện tích các khu bảo tồn thiên nhiên tăng 28% (11/2005)

 

Sau hơn 10 năm thực hiện Công ước quốc tế về đa dạng sinh học, Việt Nam hiện có 126 khu bảo tồn thiên nhiên với tổng diện tích trên 2,5 triệu hécta, tăng 28% so với trước khi tham gia công ước.

Tại cuộc hội thảo đánh giá việc thực hiện Công ước đa dạng sinh học do Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp với Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) tổ chức tại Hà Nội ngày 23/11, Cục Bảo vệ môi trường cho biết tỷ lệ đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học hiện chiếm từ 20%-30% tổng đầu tư cho lĩnh vực môi trường.

Tuy nhiên, chất lượng đầu tư bảo tồn chưa cao. Hiện Việt Nam chưa có khu bảo tồn biển nào và mới có chỉ có 2 khu bảo tồn sinh thái đất ngập nước. Các hệ sinh thái bị suy thoái cũng chưa được phục hồi một cách hiệu quả.

TTXVN

 

Bỉ hỗ trợ Phú Yên cải thiện môi trường (11/2005)

 

Ngày 24/11, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Phú Yên Đào Tấn Lộc và Đại sứ Vương quốc Bỉ tại Việt Nam Ph.Giôtát đã ký Hiệp định về Dự án cải thiện điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường thành phố Tuy Hòa, do Chính phủ Bỉ tài trợ. Theo hiệp định, dự án được triển khai thực hiện trong 3 năm (2006-2008), giúp thành phố Tuy Hòa xây dựng một khu xử lý rác thải hợp vệ sinh nhằm cải thiện điều kiện môi trường, điều kiện sức khoẻ cho người dân thành phố Tuy Hòa.

Dự án cũng góp phần nâng cao năng lực quản lý cho Công ty quản lý rác thải rắn của địa phương trong việc thu gom và xử lý rác thải; đồng thời nâng cao nhận thức của cộng đồng và tăng cường sự tham gia của người dân vào hoạt động cải thiện điều kiện vệ sinh và bảo vệ môi trường.

Tổng kinh phí của dự án là 3,3 triệu euro, trong đó Chính phủ Bỉ viện trợ 60%; 20% kinh phí từ Quỹ đối ứng được thành lập trên cơ sở xóa nợ của Chính phủ Bỉ cho Việt Nam năm 2000, phần còn lại 20% do phía Việt Nam đóng góp

(www.monre.gov.vn)

 

TPHCM di dời gần 1.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm (11/2005)

 

Đến thời điểm này, Thành phố Hồ Chí Minh đã thực hiện di dời và sắp xếp lại được gần 1.000 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm từ các quận nội thành vào các khu sản xuất tập trung, đạt 71% kế hoạch đề ra.

Theo Ban chỉ đạo công tác di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm Thành phố Hồ Chí Minh, có 188 doanh nghiệp đăng ký di dời vào các khu công nghiệp và cụm công nghiệp với diện tích 254,52ha. Hiện các khu công nghiệp Lê Minh Xuân, khu công nghiệp Tân Phú Trung là những nơi có khả năng tiếp nhận các doanh nghiệp di dời.

Thành phố đã phê duyệt danh sách 1.394 cơ sở sản xuất gây ô nhiễm buộc phải di dời. Theo kế hoạch, việc di dời các cơ sở sản xuất này sẽ kết thúc chận nhất vào ngày 31/12/2006./.

(TTXVN)

 

Thuế bảo vệ môi trường – công cụ "xanh" trong bảo vệ môi trường (11/2005)

 

Người gây ô nhiễm phải đóng thuế môi trường

Trong thực tiễn, các nước phải sử dụng một hệ thống tổng thể các chính sách, biện pháp và các công cụ rất đa dạng để thực hiện quản lý và bảo vệ môi trường, nhưng nhìn chung được phân thành các nhóm: Nhóm các biện pháp hành chính kết hợp với giáo dục và truyền thông môi trường; Nhóm các biện pháp kinh tế - tài chính.

Trong đó:

a/ Nhóm các công cụ hành chính bao gồm rất nhiều các nội dung gắn với công việc cụ thể liên quan đến các nhiệm vụ của các cơ quan quản lý nhà nước chuyên ngành về môi trường thực hiện. Việc thực hiện các công việc hành chính này cần có nguồn tài chính rất lớn, trong khi nguồn kinh phí ngân sách nhà nước có hạn, nên việc tăng cường huy động các nguồn lực trong dân và xã hội hoá công tác bảo vệ môi trường đang được chú trọng thực hiện. Do vậy, sử dụng các công cụ kinh tế – tài chính nhằm vừa huy động nguồn lực tài chính, vừa đảm bảo thực hiện mục tiêu bảo vệ môi trường đang được chú trong trong hệ thống các chính sách và biện pháp để bảo vệ môi trường.

b/ Nhóm biện pháp kinh tế - tài chính ngày càng được mở rộng phạm vi áp dụng, bao gồm các công cụ cơ bản sau: 1/ Quy định đặt cọc – hoàn trả, ký quỹ bảo vệ môi trường; 2/ Quỹ môi trường; 3/ Phí bảo vệ môi trường; 4/ Thuế.

Trong đó, việc sử dụng công cụ thuế để bảo vệ môi trường là cách thức có nhiều ưu điểm để bảo vệ môi trường và tăng thu cho ngân sách nhà nước, cụ thể:

- Thuế bảo vệ môi trường cấu thành vào giá hàng hoá, dịch vụ, nên có tác dụng kích thích và điều chỉnh sản xuất, tiêu dùng theo hướng bảo vệ môi trường, thúc đẩy việc nghiên cứu tìm ra các nguồn năng lượng “sạch” nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của con người hoặc có thể dẫn tới việc ra đời của các công nghệ, chu trình sản xuất và sản phẩm mới giảm thiểu tác hại đến môi trường.

- Xét trên khía cạnh kinh tế, thuế đánh vào các nguồn thu nhập từ lao động, vốn và tiết kiệm thường gây các ảnh hưởng tiêu cực hơn cho xã hội so với thuế bảo vệ môi trường. Tăng thuế đánh vào thu nhập (thu nhập cá nhân, thu nhập doanh nghiệp) thường là một trong những nguyên nhân làm giảm động lực làm việc, giảm tiết kiệm, đầu tư. Nhưng thuế bảo vệ môi trường không gây gây tác động của thuế đối với tăng trưởng kinh tế, hơn nữa về lâu dài còn góp phần làm tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, của doanh nghiệp và nền kinh tế. Điều này có nghĩa là nguồn thu từ thuế bảo vệ môi trường có thể được sử dụng để thay thế nguồn thu từ các loại thuế khác đối với thu nhập từ lao động và vốn. Việc chuyển đổi đối tượng của các loại thuế: từ việc đánh vào “những cái tốt” của nền kinh tế (như lao động và vốn) sang “những cái xấu” (như ô nhiễm môi trường) sẽ phát huy được khía cạnh sinh thái học của thuế.

Vì vậy, trong quá trình cải cách và hoàn thiện hệ thống thuế của nhiều nước trên thế giới, nội dung về bảo vệ môi trường ngày càng được chú trọng để đưa vào quy định trong các sắc thuế. Đặc biệt, hiện nay tại các nước phát triển đang thực hiện cuộc cải cách “thuế xanh”.

Ở nước ta, việc quản lý và bảo vệ môi trường chủ yếu vẫn dựa vào các công cụ pháp lý và mệnh lệnh hành chính kết hợp với giáo dục và truyền thông về môi trường. Việc sử dụng các công cụ thuế, phí để bảo vệ môi trường mới đang trong quá trình hình thành và phát triển. Các khoản phí bảo vệ môi trường đang trong quá trình ban hành và triển khai thực hiện. Hiện nay, trong hệ thống thuế của nước ta chưa có riêng một loại thuế bảo vệ môi trường mà mới chỉ có các quy định ưu đãi, miễn giảm trong một số sắc thuế hiện hành nhằm bảo vệ môi trường, như: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tiêu thụ đặc biệt,...

            Một số kiến nghị về bảo vệ môi trường và thuế bảo vệ môi trường:

- Cần kết hợp nhuần nhuyễn giữa các nhóm công cụ hành chính, công cụ giáo dục truyền thông môi trường, công cụ kinh tế - tài chính nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Trong điều kiện của nước ta, khi mà Ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn, khả năng bố trí kinh phí cho các mục tiêu về quản lý, giữ gìn và bảo vệ môi trường còn hạn chế thì việc sử dụng các công cụ kinh tế - tài chính để huy động nguồn lực toàn xã hội tham gia bảo vệ môi trường (thông qua các công cụ thuế, phí, các quỹ bảo vệ môi trường,…) là hướng đi đúng, vừa giúp giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, vừa giúp đạt được các mục tiêu về bảo vệ môi trường với hiệu quả cao hơn.
- So với các biện pháp khác, thuế có những ưu điểm hướng dẫn và khuyến khích các hoạt động ngăn ngừa và hạn chế các chất thải gây tác hại đối với môi trường, đồng thời tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, việc áp dụng thuế để bảo vệ môi trường cần được cân nhắc kỹ lưỡng, vì nó có thể ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập của người dân, sức cạnh tranh của sản phẩm và sức cạnh tranh trong thu hút đầu tư.

Do đây là lần đầu tiên xây dựng và áp dụng riêng một loại thuế bảo vệ môi trường ở nước ta, nên trong lần ban hành này, thuế bảo vệ môi trường cần tập trung vào giải quyết các vấn đề ô nhiễm môi trường đang có nhiều bức xúc, đồng thời phải đảm bảo tính khả thi và phù hợp với thông lệ quốc tế. Hiện nay, các vấn đề ô nhiễm không khí đang là vấn đề rất bức xúc của xã hội, không khí đang trở lên ngột ngạt, ô nhiễm nặng lề ở các thành phố, khu công nghiệp và các làng nghề đã gây lên rất nhiều các hậu quả về môi trường sinh thái và sức khỏe nhân dân. Vì vậy, thuế bảo vệ môi trường nên áp dụng thu đối với đối tượng là các sản phẩm mà việc sản xuất và sử dụng chúng có phát thải ra các loại chất thải làm ô nhiễm môi trường không khí (gồm khí thải, bụi, tiếng ồn). Chẳng hạn, như thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu (gồm cả khí ga, các sản phẩm từ xăng dầu); than và các nhiên liệu chất đốt khác; phương tiện giao thông - vận tải; các sản phẩm điện lạnh gồm tủ lạnh, điều hoà nhiệt độ.../.

Nguyễn Thanh Hải (Bộ Tài chính)

Hội thảo Việt-Mỹ về công nghệ chống ô nhiễm nước (11/2005)

 

 

(VietNamNet)-Từ ngày 15 tới 18/11 tại Hà Nội sẽ diễn ra Hội thảo Việt-Mỹ về công nghệ chống ô nhiễm nước do Quỹ Giáo dục Việt Nam (VEF) và Trung tâm Nghiên cứu công nghệ cao và Y học từ xa đồng tài trợ.

Soạn: AM 615947 gửi đến 996 để nhận ảnh này

 

Các chủ đề sẽ được thảo luận tại hội thảo là quản lý và sử dụng nước, kiểm soát ô nhiễm nước, các công nghệ xử lý nước thải và các chiến lược tăng cường hợp tác trong lĩnh vực này giữa Mỹ và Việt Nam..

Mục đích của hội thảo là tăng cường hợp tác khoa học và công nghệ trong lĩnh vực môi trường, đặc biệt là chống ô nhiễm nước giữa Mỹ và Việt Nam. Các nhà đồng tài trợ hy vọng hội thảo sẽ là nền tảng cho sự hợp tác lâu dài giữa cộng đồng khoa học của hai quốc gia trong lĩnh vực môi trường nước.

Đến tham dự hội thảo sẽ có hơn 100 đại biểu, trong đó có các nhà hoạch định chính sách, các nhà khoa học trong và người nước, cùng đại diện của các cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Sáu nhà khoa học tới từ các ĐH hàng đầu của Mỹ sẽ tham dự và thuyết trình tại hội thảo.

  • Minh Sơn

Có nên tiêu diệt hàng loạt chim di cư ít có khả năng phát tán cúm gia cầm? (11/2005)

Sếu đầu đỏ - một loài chim di cư phổ biến ở Việt Nam.Trong khi chim di cư được coi là một trong những nguồn phát tán mạnh virút cúm gia cầm, thì các chuyên gia điểu học ở Việt Nam lại khẳng định với VnExpress rằng nguy cơ này là thấp, và chúng chỉ làm phát tán bệnh khi bị bắt nuôi nhốt với các loài khác.

Thứ trưởng Bộ Y tế Trịnh Quân Huấn nhiều lần nhấn mạnh, chim di cư là một trong những yếu tố khiến dịch cúm gia cầm lây lan trên toàn cầu. Sự di chuyển của các loài chim đã góp phần quan trọng khiến virút H5N1 được mang từ châu lục này sang châu lục khác. Vì thế, chỉ trong vòng 2 tháng gần đây, virút này đã có mặt ở hầu khắp các châu lục. Tuy nhiên, theo ông Huấn, việc ngăn chặn nguy cơ dịch cúm từ chim di cư là một "nhiệm vụ bất khả thi". Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Tổ chức Lương thực thế giới (FAO) cũng nhận định việc kiểm soát cúm gia cầm ở chim hoang dã bằng cách tiêu diệt hàng loạt là không khả thi và không nên thực hiện.

Còn theo đánh giá của ông Nguyễn Đức Tú, chuyên viên tổ chức Birdlife tại Việt Nam, nguy cơ lây nhiễm virút cúm gia cầm từ chim di cư là có, nhưng không cao. Bản thân các loài chim nước thường xuyên mang trong mình các chủng cúm khác, nhưng sinh bệnh học của chúng không cao. Theo các nghiên cứu khoa học thì hiện trên thế giới có rất ít mẫu bệnh H5N1 được phát hiện ở chim di cư. Ngoài ra các loài chim hoang dã luôn có cơ chế tự bảo vệ. Khi một con bị bệnh cả đàn sẽ tách ra để tránh lây nhiễm. Vì vậy, theo ông Tú, nguyên nhân phát bệnh giữa các loài chim chính là ở việc nuôi tập trung và nuôi thả, khiến chim không có khả năng tránh bệnh và bị nhiễm từ con khác. Bên cạnh đó, việc kiểm soát chim di cư là không thể, nên biện pháp khả thi phải là quản lý chặt chẽ các loài chim nuôi, chim bắt và dập tắt nguồn bệnh từ đó.

Tổ chức BirdLife quốc tế cũng cảnh báo những biện pháp vội vàng nhằm ngăn chặn cúm gia cầm dựa trên những dữ liệu chưa hoàn chỉnh có thể gây nguy hại nghiêm trọng cho các loài chim và sự đa dạng sinh học. Đặc biệt, BirdLife kịch liệt phản đối việc tiêu diệt các loài chim hoang nhằm ngăn chặn sự phát tán bệnh. Cách đó chỉ làm virút phát tán rộng hơn khi những con chim sống sót sẽ chuyển tới nơi mới, và những con chim khoẻ mạnh sẽ bị stress và dễ nhiễm bệnh hơn.

Mặc dù chưa có hiện tượng chim di cư mang cúm gia cầm đến các vườn chim ở Việt Nam, song các Vườn Quốc gia, khu bảo tồn cũng đã chuẩn bị tinh thần nếu có dịch xảy ra. Vườn Quốc gia Xuân Thuỷ, huyện Giao Thuỷ, Nam Định, nơi có khu hệ chim trọng tâm ở miền Bắc, từ nhiều tháng nay đã tuyên truyền cho người dân xung quanh về việc tránh tiếp xúc với các loài chim. Tháng 10-11 là thời điểm mà Vườn đón các loài chim di cư từ phương Bắc tới như các loài chim nước, dẽ, choi choi, cò, vịt trời, ngỗng... Chúng xuất phát từ Nga, Xibêri, Bắc Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản, đến trú đông ở Xuân Thuỷ cho đến hết mùa rét rồi lại quay về. Ông Nguyễn Viết Cách, giám đốc Vườn cho biết ông đã theo dõi tin tức về cúm gà từ vài năm gần đây, và nếu có dịch sẽ báo ngay cho cơ quan chức năng. Song ông cũng cho rằng nếu đẩy vấn đề lên mức cực đoan quá (tức là tiêu diệt hết chim) thì nguy hiểm. Đến nay Vườn cũng chưa có động thái chuẩn bị cơ sở vật chất nào trước nguy cơ này.

Tại Vườn Quốc gia Tràm Chim, Tam Nông, Đồng Tháp - khu hệ chim điển hình của đồng bằng sông Cửu Long - các cán bộ ở đây đang theo dõi chặt chẽ diễn biến dịch cúm gia cầm. Trong đợt dịch năm trước, tỉnh đã yêu cầu Vườn đóng cửa với khách du lịch. Năm nay tuy hoạt động du lịch vẫn diễn ra bình thường, nhưng Vườn đã phải từ chối khéo một số đoàn khách để tránh nguy cơ lây bệnh. Ông Nguyễn Văn Hùng, Trưởng phòng nghiên cứu khoa học và môi trường của Vườn cho biết, các cán bộ của Vườn Quốc gia Tràm Chim luôn ở trong tư thế chuẩn bị, cảnh báo sớm, nếu có hiện tượng lạ sẽ báo ngay cho các cơ quan chức năng đến lấy mẫu, kiểm tra. Mới gần đây, có vài con chim ốm yếu và chết, Vườn đã nhờ cán bộ thú y đến xét nghiệm, nhưng kết quả bình thường.

Việt Nam là một trong những nước có khu hệ chim giàu nhất Đông Nam Á với hơn 800 loài, trong đó có hơn 200 loài chim nước là chim di cư, do sự đa dạng trong kiểu sinh cảnh đất ngập nước. Đây cũng là nơi kiếm ăn quan trọng của các loài chim ven biển, các loài mòng biển và nhạn, trong đó có một số loài bị đe doạ toàn cầu như rẽ mỏ thìa, choắt lớn mỏ vàng, mòng biển mỏ ngắn và cò mỏ thìa.

Chim di cư ở Việt Nam được chia thành 2 nhóm. Một nhóm di cư nội địa theo đường thức ăn, như sếu đầu đỏ. Những con này chỉ bay từ nơi này sang nơi khác, theo nguồn thức ăn hay mùa làm tổ. Kiểu di cư thứ hai "xuyên quốc gia" là của các con chim biển như mòng, giẽ, vịt trời, ngỗng trời. Hằng năm, chúng vượt khoảng 30.000 kilômét để đi trú đông. Việt Nam nằm trên tuyến đường bay Đông Á - Ốt-xtrây-li-a của nhóm chim này. Vào mùa hè, chúng làm tổ ở các vùng lãnh nguyên gần cực Bắc. Khi mùa đông đến, chúng di chuyển xuống phía nam tới Ốt-xtrây-li-a. Một số loài sẽ dừng lại ở Việt Nam trong 1-2 tuần, trong khi một số khác như cò thìa sẽ ở lại cả mùa đông. Chúng thường phân bố ở các cửa sông lớn thuộc đồng bằng Bắc bộ, ven biển Trung bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Thời gian di cư của chúng kéo dài từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau. Tại Việt Nam, chúng thường ghé qua vào tháng 9-10 trên đường đi và tháng 3-4 khi trở về.

Anh Thi - VnExpress

Rừng ngập mặn - bức tường xanh trước biển (11/2005)

Rừng ngập mặn (RNM), các vỉa san hô và cỏ biển còn nguyên vẹn có thể làm giảm nhẹ hoặc tiêu tan các đợt sóng thần cao 15 m. Một nghiên cứu của Nhật Bản cho thấy, một RNM có chiều rộng 100 m có thể làm giảm 50% chiều cao của sóng triều và giảm 50% năng lượng của sóng. Trong đợt động đất và sóng thần ngày 26 tháng 12 năm 2004, tại đảo pulau Sêmplu của Indonesia nằm gần tâm ngoài của trận động đất, chỉ có 100 người bị chết vì những người dân trên đảo đã học được kinh nghiệm chạy trốn lên vùng đất cao và những vùng có RNM bao quanh...

Việt Nam với bờ biển dài 3260km, nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, hàng năm thường xuyên phải hứng chịu những cơn bão và triều cường gây thiệt hại lớn. Trước đây, nhờ có các dải RNM tự nhiên và những dải rừng được trồng ở các vùng cửa sông, ven biển nên đê điều ít khi bị vỡ. Nhưng gần đây do việc phá rừng ngày càng tăng nạn lở đất, lũ lụt xảy ra nhiều nên cuộc sống của cộng đồng dân cư ven biển ngày càng bị đe doạ. Ngay trong năm 2005 này, Việt Nam đã phải gánh chịu những thiệt hại to lớn về người, tài sản và cơ sở hạ tầng. Nhiều đoạn đê biển bị vỡ hoặc sạt lở nghiêm trọng. Nhưng sau những thiệt hại mà bão số 2, bão số 6 và bão số 7 gây ra, nhiều người dân ở vùng biển đều có nhận xét rằng, ở những khu vực có RNM, đê biển không hề sạt lở.

Ông Phạm Minh Trung, một người dân huyện đảo Cát Hải cho biết: "Tôi đã ngoài 70 tuổi, từng chứng kiến 4 trận bão lớn. Bão năm 1955, Cát Hải chưa có đê, ngập tràn hết, rất nguy hiểm và bởi lúc đó do điều kiện chưa có chủ trương phòng ngừa tốt. Bão năm 68, đê chưa tốt nên gây lụt…; Bão số 2 năm nay do chủ quan, nhiều người khi thấy nước sóng còn ra xem! Bão số 7, người dân có ý thức và được sự quan tâm chỉ đạo của cấp trên báo tin thường xuyên nên phòng chống tốt hơn. Ngoài ra, chỗ này tổ chức trồng rừng ngăn sóng rất tốt, phi lao, sú vẹt ở rìa đê hoặc tre đảm bảo cho việc ngăn sóng, chắn gió rất quý báu. Điều này cho thấy cái lợi của công tác trồng rừng".

Tại tỉnh Thanh Hoá, bão số 7 đã gây những thiệt hại nghiêm trọng, nhưng cũng qua cơn bão này, người dân càng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của rừng ngập mặn. Bà Viên Thị Hoa - Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ Thanh Hoá nói: "Sau bão số 7, chúng tôi có dịp đi một số tỉnh nằm trong dự án trồng rừng ngập mặn do Hội Chữ thập đỏ Đan Mạch và hội Chữ thập đỏ Nhật Bản tài trợ. Tận mắt chứng kiến những đoạn đê vỡ, những khu nhà ngập trong nước và có dịp so sánh với những quãng đê lành lặn được che chở bởi những cánh rừng ngập mặn hoặc những khoảng tre gai... chúng tôi dễ dàng nhận thấy một điều: ở đâu có rừng ngập mặn, sức tàn phá của sóng biển bị suy giảm. RNM là vành đai xanh góp phần quan trọng trong việc phòng chống và giảm thiểu thiệt hại thiên tai".

GSTS Phan Nguyên Hồng - một chuyên gia trong lĩnh vực RNM cho biết:"RNM có ý nghĩa to lớn trong việc phòng vệ đê chống xói lở ở vùng ven biển. Nếu chỗ nào không có RNM thì khi có bão dễ bị phá. Ở các nước có RNM, họ rất quan tâm giúp đỡ các nước không có RNM như Nhật Bản, Hà Lan. Một số nước Bắc Âu muốn Việt Nam phát triển RNM để bảo vệ dân, người ta đã đầu tư nhiều tiền cho chúng ta phục hồi rừng, nhưng một số địa phương lại có chủ trương phá rừng đi để làm đầm tôm, vì lợi ích trước mắt không tính đến hậu quả lâu dài. Hậu quả cơn bão số 7, số 6 là những bài học rất đắt giá cho chúng ta".

Chúng ta đều biết rằng, ngay sau trận sóng thần và động đất xảy ra ở khu vực Nam Á cuối năm ngoái, rất nhiều hội thảo khoa học về thảm hoạ thiên tai đã được tổ chức và tầm quan trọng của RNM trong việc phòng ngừa và giảm nhẹ thiên tai đã được các quốc gia đặc biệt quan tâm, chú ý. Bài học nhãn tiền từ sự thiệt hại về người, về tài sản ở Thái Lan – đất nước quá quan tâm đến việc phát triển kinh doanh du lịch mà chưa tính đến sự tổn thất phải trả giá đắt vì thiên tai dường như chưa đủ vì ở một số địa phương vẫn còn tình trạng phá rừng làm đầm nuôi trồng thuỷ sản. Giáo sư tiến sĩ Khoa học Trương Quang Học – Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tài nguyên môi trường Đại học Quốc gia Hà Nội khẳng định, đó là vấn đề lợi bất cập hại. Ông nói: "Chúng tôi rất đau xót rằng rất nhiều diện tích RNM hiện nay ở nhiều nơi từ Bắc vào Nam bị phá huỷ để nuôi tôm. Có thể thấy rằng khi nuôi tôm trong những năm đầu hiệu quả, đưa lại nguồn lợi lớn hơn nhiều so với trồng nông nghiệp nhưng chỉ được một vài năm. Thực tế, tất cả những diện tích ấy rồi bị suy thoái đi nghĩa là kinh tế chúng ta cũng không được, về mặt sinh thái mát quá lớn, có những nơi mất hoàn toàn. Khi môi trường suy thoái, vùng đất bị ô nhiễm, sau đó rất khó phục hồii. Đặc biệt, khi hệ sinh thái bị phá đi, RNM phục hồi nhanh hơn nhưng cũng phải mất hàng chục năm. Vì vậy, chúng ta cần phải đánh giá giá trị của các hệ sinh thái một cách toàn diện, kể cả những giá trị vô hình. Nếu ta vì lợi ích trước mắt, giải quyết không đúng sẽ để lại hậu quả khôn lường và lâu dài".

Thu Lương - Đài TNVN

 

 

Phú Thọ: Công ty Hóa chất Lâm Thao đánh giá lại tác động môi trường (11/2005)

Gần đây, một số báo thông tin về” Làng ung thư” Thạch Sơn, huyện Lâm Thao, Phú Thọ, trong 10 năm có 104 người chết do ung thư. Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao nằm trên địa phận xã Thạch Sơn- xã có khoảng 200 hộ dân sống sát với khu vực CTy. Trong hai ngày 2 và 3/11/2005, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Mai Ái Trực đã về làm việc với tỉnh Phú Thọ và yêu cầu Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao báo cáo cụ thể về tình hình trên, đồng thời chỉ đạo CTy phải có những biện pháp giải quyết kịp thời tình hình ô nhiễm môi trường do bãi thải của CTy trên địa phận xã.

Ông Quách Đình Diệu, Giám đốc Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cho biết: Công ty đã thực hiện một số giải pháp làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong và ngoài phạm vi Công ty, đã đền bù thiệt hại cho những hộ dân bị chết cá, hỏng lúa. Hiện Công ty đã “cứng hóa” mương và chuẩn bị nhận mặt bằng để khoanh bao bãi xỉ thải. Công ty rất mong được các bộ, ngành, cơ quan khoa học tập trung nghiên cứu, điều tra làm rõ nguyên nhân gây ung thư để đề xuất những giải pháp xử lý triệt để. Bộ trưởng Mai Ái Trực cũng cho rằng: Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao đã có những đóng góp quan trọng cho sự phát triển của ngành công nghiệp hóa chất và nông nghiệp, đặc biệt là cho ngân sách địa phương. Việc tìm nguyên nhân gây ung thư là hết sức cần thiết, nhưng không thể chờ đợi mà phải tính đến những giải pháp cấp bách. Chính quyền cấp xã phải gióng lên hồi chuông cảnh giác với bệnh tật, cần kết hợp với ngành y tế tổ chức khám sức khỏe, phát hiện sớm bệnh tật cho nhân dân; chấm dứt ngay việc sử dụng nước giếng cho sinh hoạt. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Phú Thọ phải theo dõi sát và thường xuyên kiểm tra, đánh giá tiêu chuẩn môi trường khu vực của Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao cùng Công ty Pin và Ắc quy Vĩnh Phú, Công ty Giấy Bãi Bằng.  

Xã Thạch Sơn có hơn 8.000 hộ trong đó có 200 hộ sống gần Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao, 200 hộ sống ở ven đê sông Hồng cạnh đường nước thải của Cty Giấy Bãi Bằng - 400 hộ này đều không sử dụng được nước giếng vì nước quá đen và hôi. Ngoài ra, khí thải và nước thải từ bãi xỉ thải của Cty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao còn gây chết lúa và cá của nông dân. Tuy nhiên, chưa có cơ sở khoa học nào kết luận rằng tỷ lệ ung thư cao như vậy là do đâu. Công ty thì không thể chuyển đi và hơn 8.000 hộ dân ở Thạch Sơn cũng không dễ dàng di dời khỏi địa bàn. UBND xã yêu cầu Công ty phải đắp khoanh, nâng cao bờ bao bãi xỉ thải, tách những đường thải không độc về phía Lâm Thao, tránh xả quá nhiều ra phía cánh đồng Thạch Sơn, cứng hóa mương xả và xử lý triệt để nước thải trước khi xả thẳng ra cánh đồng Thạch Sơn... Gần đây, tỉnh Phú Thọ lại cấp phép cho xây dựng Nhà máy xi măng trên vị trí bãi xỉ thải của Công ty Supe Phốt phát và Hóa chất Lâm Thao- theo quy hoạch thì cự ly từ nhà máy đến trường tiểu học và mầm non của xã chỉ cách khoảng 50 mét. Đây là điều không thể chấp nhận! 

Bộ trưởng Mai Ái Trực nhất trí những giải pháp tình thế của tỉnh, nhất là việc sớm di dời dân xã Thạch Sơn ra nơi ở mới dù có khó khăn, tốn kém. Bộ TN&MT sẽ phối hợp với các ngành chức năng tìm ra nguyên nhân, tuyên truyền giáo dục và chăm sóc sức khỏe cho người dân Thạch Sơn; đồng thời tiến hành kiểm tra, đánh giá thường xuyên, nghiêm túc tiêu chuẩn môi trường của tất cả các nhà máy, cơ sở sản xuất trên địa bàn.

Phương Anh

 

  

 

Khu Bàu Sấu được công nhận là vùng đất ngập nước (11/2005)

Ban Thư ký Công ước Ramsar tại Thụy Sĩ đã công nhận hệ đất ngập nước Bàu Sấu (vườn quốc gia Cát Tiên) có tầm quan trọng quốc tế thứ 1499 của thế giới theo danh sách Ramsar đồng thời là khu Ramsar thứ hai của Việt Nam.

Vùng đất ngập nước Bàu Sấu (Vườn Quốc gia Cát Tiên)

Vùng đất ngập nước Bàu Sấu và các vùng đất ngập nước theo mùa của vườn quốc gia Cát Tiên (gọi tắt là hệ đất ngập nước Bàu Sấu) có diện tích 13.759ha, bao gồm 5.360ha đất ngập nước theo mùa và 151ha đất ngập nước quanh năm. Còn lại là các diện tích thấp hơn 115m so với mặt nước biển. Toàn bộ hệ đất ngập nước Bàu Sấu nằm ở vị trí trung tâm khu Nam Cát Tiên, vườn quốc gia Cát Tiên (huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai).

Hệ đất ngập nước Bàu Sấu được công nhận vào danh sách Ramsar càng khẳng định giá trị và ý nghĩa của công tác bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi hơn để tiếp tục phát huy các thành quả bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát triển cộng đồng, phát huy các lợi ích về bảo vệ môi trường, về khoa học, gắn liền với các lợi ích về kinh tế, văn hoá và xã hội.

Công ước Ramsar là "công ước về các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế đặc biệt như là nơi cư trú của các loài chim nước" được ký ngày 2-2-1971 tại thành phố Ramsar của Iran. Việt Nam đã ký gia nhập Công ước vào năm 1989, là thành viên thứ 50, đồng thời là quốc gia đầu tiên của Đông Nam Á tham gia Công ước này.

 Theo Nhân dân

 

Sử dụng vệ tinh theo dõi ven biển Nam Bộ (11/2005)
 

Từ 1 - 4/11/2005, nhiều cơ quan khoa học tại TPHCM đã tham dự hội thảo về Mô hình và Hệ Thông tin Đại dương trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương thứ 16 để trao đổi khả năng triển khai dự án Ứng dụng Công nghệ Dữ liệu ảnh Vệ tinh FORMOSAT-2 vào các vùng ven biển Nam bộ, kéo dài từ 2006 - 2008.

Soạn: AM 605105 gửi đến 996 để nhận ảnh này

FORMOSAT - 2 đã chụp được ảnh đảo Phuket, Thái Lan vào ngày 29/12/2004, sau khi bị đợt sóng thần Sumatra tàn phá.

Dự án trên nhằm triển khai ứng dụng công nghệ dữ liệu ảnh vệ tinh FORMOSAT-2 vào việc đánh giá ô nhiễm ven biển do tràn dầu và nguồn thải bẩn từ đất liền.

Đồng thời dự án còn giúp quy hoạch và quản lý rừng ngập mặn và du lịch sinh thái, lập mô hình sóng-dòng chảy và lan truyền ô nhiễm ven bờ biển, quan trắc khí tượng thủy văn biển, giám sát thiên tai ven biển, đặc biệt là vấn đề xói lở bờ biển, góp phần nâng cao chất lượng các môn học liên quan trong đào tạo đại học.

Địa bàn triển khai ứng dụng là vùng ven biển Nam bộ, Cần giờ-TP Hồ Chí Minh và những vùng lân cận mà vệ tinh FORMOSAT-2 có thể cung cấp dữ liệu.

Hình ảnh về vùng biển Nam Bộ sẽ được FORMOSAT-2 được cung cấp hàng ngày. Những hình ảnh này sẽ có độ phân giải cao 2m đối với ảnh đen-trắng hoặc 8m đối với ảnh màu, với băng quét 24km. Đây là ảnh vệ tinh thương mại, có  giá 1 USD/km2

Việc triển khai ứng dụng dữ liệu vệ tinh của dự án trên là vấn đề cấp thiết của thực tiễn ven biển Nam bộ, nhất là đối với TP HCM và vùng Cần Giờ. Đây là nơi vừa là rừng sinh thái ngập mặn quốc gia, vừa là khu du lịch sinh thái. Ngoài ra khu vực này còn bị tác động ô nhiễm do các quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa từ các tỉnh thành trên lưu vực Sài gòn-Đồng nai và bị ô nhiễm do tràn dầu loang từ thuyền bè ra vào các bến cảng trong lưu vực. Có được dữ liệu vệ tinh, như FORMOSAT-2, là điều kiện thuận lợi để nghiên cứu về những vấn đề vừa nêu.

Trong mong muốn ứng dụng dữ liệu vệ tinh để góp phần giải quyết những vấn đề cụ thể ở ven biển Nam bộ, nhiều đơn vị nghiên cứu ở phía Nam của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam như: Phân Viện Vật lý, Phân Viện Địa lý, Phân Viện Công nghệ Thông tin, Viện Sinh học Nhiệt đới đang tiến hành các thủ tục cần thiết để tham gia trực tiếp dự án này.

Tại Hội nghị Quốc tế về “Sử dụng Công nghệ Vũ trụ trong Giám sát Thiên tai”, do Văn phòng LHQ về Các Vấn đề Vũ trụ (United Nations Office for Outer Space Affairs -UNOOSA), tổ chức từ 18 đến 22/10/2004 tại Munich,  với hơn 70 báo cáo của 50 nước trên thế giới, đã thừa nhận việc ứng dụng công nghệ vệ tinh là một trong những nhu cầu không thể thiếu trong dự báo khí tượng thủy văn, theo dõi và phòng tránh thiên tai, giám sát môi trường, quy hoạch sử dụng các nguồn tài nguyên, v.v..

Tuy nhiên, do đầu tư kinh phí cho dữ lịệu vệ tinh có độ phân giải dưới một vài mét là rất đắt nên tại Hội nghị Munich các nước đang phát triển đã đề nghị được chia sẻ từ các nước phát triển để sử dụng với chi phí chấp nhận được. Đáp ứng nhu cầu này, Ban Thư ký APEC đã phê duyệt dự án hỗ trợ dữ liệu ảnh vệ tinh FORMOSAT-2 cho các nền kinh tế thành viên có nhu cầu.

Hương Cát (Theo VietNamNet)

 

 

 

Chuyện sản xuất nước sinh hoạt từ sông Hồng (11/2005)

 

Hà Nội đang định triển khai xây dựng một nhà máy sản xuất nước sinh hoạt từ nước mặt sông Hồng trị giá hơn 800 tỉ đồng. Nguồn nước dồi dào hứa hẹn sẽ chấm dứt tình trạng cúp nước ở thủ đô. Nhưng liệu ý tưởng táo bạo đó khả thi?

 

Sự phát triển kinh tế công nghiệp (CN) của lưu vực sông Hồng mấy chục năm qua đã tác động xấu đến chất lượng nước của con sông này. Một con số thống kê cho thấy, trong số hơn 44.000 doanh nghiệp CN ở khu vực tây bắc và đông bắc sông Hồng thì chỉ tính riêng tỉnh Phú Thọ đã có tới hơn 18.000 doanh nghiệp CN và nhà máy. Đáng kể nhất là khu CN Việt Trì, nơi có khối lượng nước thải lớn vào sông Hồng mà hầu hết không qua xử lý, gây ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước sông. Tại khu CN này, chỉ tính khối lượng nước thải CN của 28 nhà máy, doanh nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm đã là 102.000m3/ngày. Trong đó, Công ty giấy Bãi Bằng 54.000m3/ngày; Công ty Supe phốt-phát 45.000m3/ngày; Nhà máy hóa chất Việt Trì 2.980 m3/ngày; Nhà máy giấy Việt Trì 2.970 m3/ngày; Công ty Pangrim Dye 2.500m3/ngày; Nhà máy dệt may Vĩnh Phú 1.860m3/ngày... Ngoài ra, do sự phát triển của ngành CN khai khoáng, nên những ảnh hưởng của nó lên chất lượng nước sông Hồng ngày càng tăng, trong đó phải kể đến mỏ Apatit Lào Cai. Một nguồn ô nhiễm khác đang là mối nguy cơ đối với các nguồn nước khi việc sử dụng phân bón hóa chất trong nông nghiệp hiện nay tăng gấp 4 lần so với hai thập niên trước đây (hiện tại lượng phân bón sử dụng trên 1 ha lên tới 120-180 kg/năm)...

 

Các số liệu khoa học đánh giá về đặc tính lý hóa của nước mặt sông Hồng cho thấy độ pH tương đối cao, thậm chí vượt giá trị yêu cầu đối với nước mặt tiêu chuẩn A; hàm lượng ô xy hòa tan (DO) trong nước sông thấp hơn giá trị cho phép. Hàm lượng chất hữu cơ BOD và COD trong nước sông Hồng là tương đối cao so với tiêu chuẩn TCVN 5942-1995 áp dụng cho các nhà máy xử lý nước cấp cho sinh hoạt. Hàm lượng chất hữu cơ cao chủ yếu là do xói mòn đất và chất thải CN xả xuống lưu vực sông. Tuy hàm lượng kim loại nặng trong nước sông Hồng không đáng kể, nhưng có một nguồn gây ô nhiễm đáng lưu ý là nhà máy sản xuất pin (tại khu CN Việt Trì) đã thường xuyên thải ra kẽm, chì, đồng và một số các kim loại cực độc khác như cadmium và thủy ngân. Riêng hàm lượng sắt trong nước sông Hồng thì luôn vượt quá giá trị cho phép. Còn hàm lượng khuẩn Coliform trong n