




 |
MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
(12/2005)
TP
Hồ Chí Minh: Khai mạc Triển lãm ảnh môi trường Quốc
tế (12/2005)
Thái Bình: Áp dụng nhiều giải
pháp bảo vệ môi trường (12/2005)
Môi
trường VN năm 2005: Chưa chuyển biến rõ nét! (12/2005)
Khôi
phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập
mặn Cần Giờ (12/2005)
Công
bố Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2005
(12/2005)
Voi
rừng Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng (12/2005)
Nguồn
cá nước ngọt đang bị đe doạ (12/2005)
TPHCM: Rút giấy phép các
doanh nghiệp vi phạm về môi trường (12/2005)
Kiên Giang: Tăng cường bảo
vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch (12/2005)
Sản xuất sạch hơn - công cụ
hữu hiệu bảo vệ môi trường (12/2005)
Xây dựng 1,2 triệu ha đất
ngập nước và khu bảo tồn biển (12/2005)
Kiên Giang: Sẽ có nguồn
điện mới từ rác thải cho đảo Phú Quốc (12/2005)
Sở
TN&MT các địa phương được phép giữ lại 60% mức
thu phí nước thải (12/2005)
Thành lập Ủy ban Quốc gia vì
sự phát triển bền vững (12/2005)
Xả
nước thải chứa chất phóng xạ, phạt 70 triệu đồng
(12/2005)
Môi trường không khí châu Á đang
trả giá đắt cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng
(12/2005)
|
TP
Hồ Chí Minh: Khai mạc Triển lãm ảnh môi trường
Quốc tế (12/2005)
|
|
|
|
|
|
Nơi
lánh nạn của nai tuyết (địa phận
Tamilnadu, Ấn Độ) - Giải vàng hạng
chung
|
|
Sáng nay
27/12/2005, triển lãm các tác phẩm đoạt
giải của cuộc thi Ảnh quốc tế về môi trường
năm 2004-2005 do Chương trình Môi trường của
Liên Hiệp Quốc (UNEP) tổ chức đã khai mạc
tại tầng 13 Trung tâm thương mại Zen Plaza
(54-56 Nguyễn Trãi, Q.1, TP.HCM). Đây là cuộc
thi được tổ chức lần thứ 3 kể từ năm
1991 mang chủ đề "Hướng về thế giới
của chúng ta" do UNEP tổ chức với sự tài
trợ của Tập đoàn Canon. Cuộc thi lần này
bắt đầu từ ngày 5/6/2004 (Ngày Môi trường
thế giới) dành cho mọi đối tượng, không
phân biệt tuổi tác, quốc tịch và thu hút
sự tham gia của 169 quốc gia, vùng lãnh thổ
(trong đó có Việt Nam) với 32.299 tác phẩm
dự thi.
|
Một
nhóm nhiếp ảnh danh tiếng đã tiến hành đánh giá
những bức ảnh dự thi và chọn ra được 137 tác
phẩm xuất sắc thể hiện được tính đa dạng
của môi trường trái đất. Những bức ảnh đã
kể lại toàn bộ câu chuyện về cách chúng ta
quản lý hành tinh này, mối quan hệ giữa con người
và môi trường cũng như những thánh thức và
thế giới tự nhiên đang phải đối mặt.
Một
số bức ảnh đăng ký dự thi của Việt Nam đã
đoạt giải trong 137 bức ảnh được chọn sẽ
xuất hiện trong một cuộc triển lãm lưu động kéo
dài tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng có
dịp chiêm ngưỡng những tác phẩm tuyệt vời.
Triển
lãm sẽ kéo dài đến hết ngày 31/12.
|
|
|
|
Nơi
lánh nạn của nai tuyết (địa phận
Tamilnadu, Ấn Độ) - Giải vàng hạng chung
(3 ảnh)
|
|
|
|
|
Cội
nguồn phật học (địa phận Chonburi, Thái
Lan) - Giải vàng hạng thiếu nhi
|
Thành
phố Mexico - người dân chịu cảnh sống cùng
rác thải (địa phận Mexico) - Giải vàng
hạng trẻ
|
Nguồn:
Tuổi Trẻ Online
|
Thái
Bình: Áp dụng nhiều giải pháp bảo vệ môi
trường (12/2005)
|
|
|
|
Là
tỉnh nông nghiệp, ngành công nghiệp đang
phát triển ở giai đoạn đầu, song môi trường
trong địa bàn tỉnh Thái Bình đang xuống
cấp nhanh, ở nhiều nơi đã đến mức báo
động. Tình trạng khí thải, nước thải,
rác thải tại các khu đô thị, khu dân cư,
khu công nghiệp đang ngày một gia tăng cả
về khối lượng và mức độ gây hại, đang
gây bức xúc trong nhân dân... Trước thực
trạng đó, tỉnh Thái Bình đã áp dụng
nhiều biện pháp tích cực nhằm hạn chế
thấp nhất nạn ô nhiễm môi trường, bảo
vệ tốt sức khoẻ cộng đồng.
Thực
trạng ô nhiễm
Sau
một năm được nâng cấp lên thành phố,
thành phố Thái Bình đã được đầu tư xây
dựng ngày càng khang trang, tỷ lệ cây xanh
đạt 3,5m2/người, nạn ô nhiễm môi trường
bước đầu được cải thiện. Tỉnh đã
đầu tư hàng chục tỷ đồng cải tạo sông
Bồ Xuyên và sông Vĩnh Trà với chiều dài
6.500 m, kè lát mái và trồng cây xanh hai bên
bờ sông; xây dựng 2 cống qua đê lấy nước
từ sông Trà Lý vào thau rửa nên đã cải
thiện đáng kể ô nhiễm môi trường nước
thải trong thành phố. Tuy nhiên, tại 3 khu công
nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Phong, Phúc
Khánh và cụm công nghiệp Phong Phú (thành
phố Thái Bình) đến nay vẫn chưa xây
dựng được nhà máy xử lý nước thải công
nghiệp. Chính vì vậy, toàn bộ nước
thải sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp...
hầu hết chưa được xử lý đều đổ ra
5 con sông trong địa bàn thành phố,
dẫn đến tình trạng quá tải, làm ảnh hưởng
trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của
nhân dân. Mặc dù thành phố đã đầu tư xây
dựng nhà máy xử lý rác thải và lò đốt
rác với công suất 3.000 tấn/năm, nhưng
mới chỉ đáp ứng được 50% số lượng rác
thải sinh hoạt của thành phố. Tỉnh đã
đầu tư xây dựng lò đốt rác thải bệnh
viện, nhưng công suất chưa đáp ứng được
lượng rác thải của 6 bệnh viện trong thành
phố thải ra...
Không
chỉ ở thành phố Thái Bình, môi trường các
vùng nông thôn trong tỉnh, nhất là tại các
làng nghề cũng đã đến mức báo động.
Trên đồng ruộng, một phần phân hữu cơ,
phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật do
nông dân sử dụng trong sản xuất nông
nghiệp đã ngấm vào lòng đất, tan trong nước
đã gây ô nhiễm môi trường. Theo Sở Tài
nguyên và Môi trừong Thái Bình: hầu hết
173 làng nghề trong tỉnh hiện đang hoạt động
với công nghệ lạc hậu, chất thải chưa
qua xử lý đều được đổ trực tiếp ra
sông ngòi, gây ảnh hưởng lớn tới nhiều
vùng lân cận. Ngoài ra, toàn tỉnh hiện có
trên 100.000 giếng khoan do nhân dân tự làm,
do quản lý không chặt chẽ nên đã vô tình
làm ô nhiễm tầng nước ngầm. Ở các vùng
nông thôn, tình trạng đổ rác bừa bãi đang
là vấn đề nổi cộm cần các nhà quản lý
cấp huyện, xã tháo gỡ...
Cần nhiều
giải pháp tích cực
Để
hạn chế nạn ô nhiễm môi trường, tỉnh
Thái Bình đã đề ra nhiều giải pháp, như:
lập quy hoạch xây dựng các bãi xử lý và
chôn lấp rác hợp vệ sinh, hệ thống cấp
thoạt nước tại các thị trấn, thị tứ;
khuyến khích nông dân sử dụng phân bón
hữu cơ, vi sinh, áp dụng quản lý tổng
hợp IPM bảo đảm nông nghiệp sạch bền
vững; quy hoạch xây dựng các vùng chăn nuôi
theo mô hình trang trại, gia trại... Song, đó
chỉ là những giải pháp trước mắt, còn
về lâu dài để đạt được mục tiêu đến
năm 2010 100% dân cư đô thị và 85% dân cư
ở nông thôn trong tỉnh Thái Bình được
sử dụng nước sạch; 100% các cơ sở sản
xuất mới xây dựng được áp dụng công
nghệ sạch, hoặc được trang bị các
thiết bị giảm ô nhiễm môi trường, 50% cơ
sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn
về môi trường; 100% khu đô thị mới và
50% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có
hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu
chuẩn về môi trường; 50% số làng nghề
được quy hoạch và có giải pháp xử lý môi
trường đạt tiêu chuẩn... tỉnh Thái Bình
cần có những giải pháp cụ thể hơn nữa
trong việc quản lý môi trường; xử lý
những cơ sở sản xuất không đảm bảo
vệ sinh môi trường.
Phạm
Hoàng Điệp (www.monre.gov.vn)
|
|
Môi
trường VN năm 2005: Chưa chuyển biến rõ nét!
(12/2005)
|
|
(VietNamNet)-
Chiều 16/12 tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi
trường công bố Báo cáo diễn biến môi
trường năm 2005. Đây được coi là cuốn ''cẩm
nang'' về môi trường cho nhà quản lý,
hoạch định chính sách, các nhà khoa học,
nghiên cứu và tất cả những ai quan tâm đến tình
hình môi trường ở Việt Nam.
|
|
|
Môi
trường xanh sạch đẹp là mong ước
của tất cả mọi người.
|
Bản
báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia
2005 được xây dựng trên cơ sở nhận thức
rõ tầm quan trọng cảu công tác bảo vệ môi
trường (BVMT) và các khó khăn thách
thức trong thời điểm hiện nay, khi nước ta
đang chuẩn bị thực hiện kế hoạch phát
triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010,
trở thành thành viên chính thức của WTO.
Thực
trạng môi trường hiện nay được nêu cụ
thể, Môi trường nước lục địa ô
nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày
càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là các
lưu vực sông và các sông nhỏ, kênh rạch
trong nội thành nội thị. Nước dưới đất
cũng có hiện tượng ô nhiễm và nhiễm mặn
cục bộ dẫn đến suy giảm nghiêm trọng
cả về chất và về lượng đối với tài
nguyên nước.
Môi
trường nước biển cũng có nguy cơ ô
nhiễm ngày càng rõ nét bởi hoạt động
của con người nhất là nơi có các khu dân cư
đô thị tập trung và các cơ sở công
nghiệp
Môi
trường không khí cũng đang bức xúc ở các
đô thị, khu công nghiệp và một số làng
nghề có tác dụng xấu đến sức khỏe con
người, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái
và gây biến đổi khí hậu. Các chất nhiễm
không khí chính là: SO2, NO2, CO, H2S, bụi lơ
lửng, chì và các chất hữu cơ bay hơi. Theo
số liệu quan trắc môi trường hiện nay không
khí ở các đô thị lớn nước ta đã bị ô
nhiễm bụi, khí CO nhưng chất lượng không
khí ở các vùng nông thôn vẫn còn tốt.
Môi
trường đất cũng bị ô nhiễm bởi sử
dụng phân bón hóa học, ô nhiễm do thuốc
bảo vệ thực vật, ô nhiễm do chất thải vào
môi trường dẫn đến suy thóai đất và
hoang mạc hóa. Theo số liệu của văn phòng
điều phối Công ước chống hoang mạc hóa
thì nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha đang
chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa
tập trung ở các tỉnh miền trung; đất bị
xói mòn ở Tây Bắc, Tây Nguyên; đất bị
nhiễm mặn nhiễm phèn ở đồng bằng sông
Cửu Long và đất khô hạn theo mùa hoặc vĩnh
viễn tập trung ở Nam Trung Bộ.
Chất
thải rắn hầu hết phát sinh tập trung ở các
đô thị. Theo thống kê, lượng chất thải
rắn sinh hoạt bình quân khoảng từ 0,6-0,9kg/người/ngày
ở các đô thị lớn và dao động từ
0,4-0,5kg/người/ngày tại đô thị nhỏ. Còn
chất thải nguy hại phát sinh từ họat động
làng nghề, sản xuất công nghiệp, y tế.
Tổng lượng chất thải rắn nguy hại từ làng
nghề toàn quốc khoảng 2.400 tấn/ năm (Bắc
Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên...). Lượng
chất thải nguy hại y tế cần phải xử lý
khoảng 34 tấn/ngày...
Đa
dạng sinh học nước ta cũng đang đối
mặt với các nguy cơ suy thoái do nhiều nguyên
nhân như: chuyển đổi mục đích sử dụng
đất thiếu quy hoạch; khai thác và sử dụng
không bền vững tài nguyên sinh học; sinh
vật ngoại lai xâm hại; ô nhiễm môi trường;
cháy rừng; thiên tai...
Ngòai
ra còn tai biến thiên nhiên và sự cố môi
trường với bão, lũ lụt năm qua gây
thiệt hại lớn về người và của.
Những
vấn đề môi trường nổi bật năm 2004 và
đầu 2005 đã được đề cập trong 5 chương
của Báo cáo Hiện trạng môi trường 2005.
Trong đó có đề xuất một số biện pháp
nhằm giải quyết các vấn đề môi trường.
Ông
Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ Môi
trường (Bộ TN&MT) cho biết, báo cáo sẽ
là tài liệu hữu ích cho các đại biểu
quốc hội, các nhà quản lý, hoạch định chính
sách, các nhà khoa học, nghiên cứu và tất
cả những ai quan tâm đến công tác BVMT ở
Việt Nam.
Kiều Minh (VietNamNet)
|
Khôi
phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng
ngập mặn Cần Giờ (12/2005)
|
|
|
Rừng
ngập mặn Cần Giờ.
|
Công
trình khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh
thái rừng ngập mặn Cần Giờ (thành phố Hồ Chí
Minh - tiến hành từ 5-1978 đến 1-2000) của các tác
giả: TS. Lê Văn Khôi, KS. Nguyễn Ðình Cường, KS.
Nguyễn Minh Hải, KS. Lê Thị Liên, KS. Nguyễn
Ngọc Nam, KS. Nguyễn Ðình Quý, CN Lê Văn Sinh, CN
Ðoàn Văn Thu, Th.s Lê Ðức Tuấn đã được tặng
Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước
về khoa học công nghệ năm 2005.
Rừng
ngập mặn Cần Giờ trong chiến tranh chống đế
quốc Mỹ là đường giao thông huyết mạch, là
cửa ngõ yết hầu vào Sài Gòn. Bộ đội đặc công,
nhân dân Cần Giờ đã chiến đấu anh dũng trên
mảnh đất này, gây cho địch nhiều thiệt hại
nặng nề. Ðể bảo vệ vị trí chiến lược, người
Mỹ đã biến rừng ngập mặn Cần Giờ thành
"sa mạc mặn" bằng địa từ hàng chục
nghìn quả bom, đạn và hàng triệu lít hóa chất
khai hoang...
Sau
ngày giải phóng, năm 1978, Thành ủy và UBND thành
phố Hồ Chí Minh đã thành lập Lâm trường Duyên
Hải (đóng tại Cần Giờ - thuộc Ty Lâm nghiệp)
với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh thái ngập
mặn Cần Giờ. Các yêu cầu cụ thể: phải hồi
phục rừng ngập mặn với tốc độ nhanh trong
những năm đầu tiên; xác định được các giải
pháp kỹ thuật phù hợp (giống tốt, vùng trồng
thích hợp, tổ chức thi công nhanh, chăm sóc và
bảo vệ rừng trồng tốt); có các biện pháp kỹ
thuật tác động để rừng tăng tuổi nhanh, sớm
cung cấp một phần nhu cầu chất đốt và vật
liệu xây dựng cho dân cư trong vùng, đồng thời
tạo ra một môi trường thuận lợi cho các loài
thủy sản nước lợ sinh sôi phát triển, giải
quyết một phần thực phẩm cho nhân dân; sau khi
phủ xanh các tiểu khu rừng, các năm tiếp theo
tiến hành công tác điều chế, chăm sóc nuôi dưỡng
rừng bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo
hướng đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên,
phục vụ cho nghỉ dưỡng, tham quan, học tập,
nghiên cứu khoa học cho sinh viên.
Một
trong những kết quả nghiên cứu nổi bật của nhóm
tác giả là chọn được loài cây trồng thích
hợp, với phương châm "đất nào cây đó".
Các nhà khoa học sau khi đi điều tra, khảo sát
thực địa, nghiên cứu các khu rừng ngập mặn
ở Cà Mau, Bến Tre... đồng thời nghiên cứu tài
liệu liên quan tình hình sinh trưởng, phát triển
của rừng Sác Cần Giờ trước đây, đã chọn cây
đước là cây được trồng chủ yếu. Cây đước
có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên các
vùng đất phù sa, sình lầy, bùn chặt, chịu ảnh
hưởng của thủy triều với độ mặn từ 10 đến
25%. Nguồn giống trái đước ở Cà Mau có thể
cung cấp đủ số lượng để trồng lại rừng
đước ở Cần Giờ. Sau cây đước, các nhà khoa
học đã cho trồng các loài cây: vẹt, dà vôi, gõ
biển, xu ổi, cóc... trên những vùng đất
ẩm, ổn định, ít ngập triều, nước lợ...
Sau
22 năm rừng sinh thái ngập mặn Cần Giờ đã
bắt đầu hình thành và phát triển theo hướng đa
dạng sinh học. Diện tích rừng đã phủ xanh hơn
31 nghìn héc-ta, trong đó có gần 20 nghìn héc-ta
rừng trồng, hơn 11 nghìn héc-ta được khoanh nuôi
tái sinh tự nhiên và các loại rừng khác. Thật
vinh dự cho các nhà khoa học ngành lâm nghiệp nhân
dân thành phố Hồ Chí Minh, khi rừng ngập mặn
Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ
sinh quyển rừng ngập mặn đầu tiên của thế
giới và cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên
ở Việt Nam.
Thành tựu xuất sắc của công trình là
phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ
chỉ trong vòng 22 năm (trong khi đó nhận định
của nhiều nhà khoa học trên thế giới là tối
thiểu hàng trăm năm mới phục hồi được hệ
sinh thái này). Ðóng góp của các nhà khoa học
tham gia công trình nói trên là phục hồi một hệ
sinh thái rừng ngập mặn bằng các giải pháp huy
động được sức mạnh tổng hợp, đồng thời có
sáng tạo trong việc xây dựng các quy trình lâm
sinh phù hợp điều kiện tự nhiên và nhân văn
của huyện Cần Giờ thuộc thành phố Hồ Chí
Minh.
Hiệu
quả về mặt kinh tế và môi trường rất lớn.
Rừng ngập mặn Cần Giờ vừa là "lá phổi"
vừa là "quả thận" có chức năng làm
sạch không khí và nước thải từ các thành phố
công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai - Sài
Gòn để ra biển Ðông.
Hội
đồng Giải thưởng Quốc gia đánh giá: Kết quả
của công trình ngoài giá trị về mặt khoa học,
kinh tế đã tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân
dân địa phương; tạo khu du lịch sinh thái và
học tập nghiên cứu thì nhiều hấp dẫn; góp
phần cải tạo môi trường thành phố Hồ Chí
Minh và vùng lân cận.
Theo
Báo Nhân dân
|
|
Công
bố Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia năm
2005 (12/2005)
|
|
|
|
|
Ngày
16/12, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường
đã tổ chức Lễ công bố Báo cáo
Hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2005.
Tham dự buổi lễ có đại diện của Văn phòng
Quốc hội; các Bộ, ngành; các Sở TN&MT địa
phương; tổ chức, đoàn thể; các cơ
quan thông tấn báo chí...Đây là báo cáo thường
niên được Bộ TN&MT xây dựng trình
Quốc hội nhằm đánh giá tình trạng môi
trường để kịp thời điều chỉnh
kế hoạch, đưa ra những biện pháp cần
thiết bảo đảm cho sự phát triển bền
vững của đất nước. Năm 2005, Bộ
TN&MT xây dựng song song 2 báo cáo về môi
trường: Báo cáo Tổng quan và Báo cáo
chuyên đề về Đa dạng sinh học.
|
Với
5 chương, Báo cáo Tổng quan đề cập đến
những vấn đề môi trường nổi bật
của năm 2004 và đầu năm 2005, đánh giá
tình hình bảo vệ môi trường trong thời gian qua và đề
xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường
trong thời gian tới. Bên cạnh những vấn đề
chung như sức ép của quá trình phát triển
kinh tế lên môi trường, Báo cáo dành một phần đáng
kể nêu bật những vấn đề môi trường
bức xúc nhất hiện nay như ô nhiễm các làng
nghề và ô nhiễm môi trường nước lưu
vực các sông Cầu, sông Nhuệ-sông Đáy và
hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn.
Báo
cáo chuyên đề Đa dạng sinh học đưa
ra một bức tranh tổng quát về đa dạng sinh
học tại Việt Nam hiện nay trong môi tương
quan với sự tác động của phát triển kinh
tế-xã hội và sự nghiệp xóa đói giảm nghèo
của đất nước. Báo cáo nêu bật, chỉ có
bảo vệ và phát triển tốt đa dạng sinh
học mới tạo điều kiện tốt cho phát
triển kinh tế-xã hội một cách bền vững.
Các
báo cáo nói trên được xây dựng theo mô
hình "động lực - áp lực - hiện trạng
- tác động - đáp ứng", là mô hình do
Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đề
xuất và đã được áp dụng tại
nhiều quốc gia.
(Theo
Báo Nhân dân
|
Voi
rừng Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng (12/2005)
Voi
rừng nước ta chủ yếu tập trung ở phía Nam Trường Sơn,
tỉnh Đăk Lăk, song đến nay chúng đang dần vắng bóng.
Năm 1975, Đăk Lăk có khoảng 400 con voi rừng và voi nhà,
thì cuối năm nay chỉ còn trên dưới 60 con.
Voi Việt Nam thuộc loài voi châu Á, chỉ có voi đực có
ngà và không cao to như voi châu Phi. Động vật quý hiếm
này được ghi trong Sách đỏ thế giới và Sách đỏ
Việt Nam năm 1992 ở cấp độ bảo vệ cao nhất.
Chúng sinh sống chủ yếu ở cao nguyên Đăk Lăk, tại vùng
rừng nguyên sinh dọc dãy núi lớn Chư Yang Sin (huyện Lăk
và Krông Bông) và vùng rừng trải dài từ huyện Ea Súp
đến Buôn Đôn giáp biên giới Campuchia, thuộc Vườn
quốc gia Yôk Đôn.
Đăk Lăk cũng là nơi nổi tiếng từ lâu đời với địa
danh Bản Đôn của đồng bào M'Nông - Lào chuyên săn
bắt và thuần dưỡng voi. Nơi đây từng có nhiều người
chuyên săn bắt voi rừng và 2 người được vinh danh là
vua voi, như Ama Thu, Ama Kông đã săn bắt hàng trăm con voi
từ rừng núi Yôk Đôn bên kia dòng sông lớn Sêrêpôk.
Để bảo tồn loài voi quý hiếm của núi rừng Tây Nguyên
- Việt Nam, từ vài năm trước, Nhà nước đã không cho
phép săn bắt voi rừng. Trong cuộc sống mới có sự giao
lưu rộng hơn, chính đồng bào bản địa cũng giảm
bớt nhu cầu thuần hóa và dùng voi vận chuyển hằng ngày,
từ bỏ truyền thống săn bắt voi. Tuy nhiên, hiện tượng
săn voi trộm vẫn diễn ra cùng việc thu hẹp nơi cư trú
tự nhiên của chúng, khiến số lượng loài vật quý
hiếm này giảm rõ rệt qua từng năm.
Năm 1997, cả tỉnh Đăk Lăk còn 115 voi nhà, voi rừng
lại càng ít hơn, chỉ trên dưới 30 con. Vùng rừng núi
lớn Chư Yang Sin hầu như không còn thấy dấu vết hiện
diện của voi rừng nữa. Đến năm 2000, voi nhà giảm
xuống còn 84 con và năm 2004, chỉ còn 62. Cùng thời gian
này, voi rừng suy giảm chỉ còn khoảng 10-15 con, xê
dịch qua lại không an toàn quanh khu vực rừng đã thưa
thớt dần dọc biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các
huyện Ea Súp, Buôn Đôn và các huyện Chư Jút, Đắk Mil
của tỉnh mới Đắk Nông.
Đến cuối năm 2005, đàn voi của tỉnh Đăk Lăk chỉ còn
không quá 50 con voi nhà, đồng thời voi rừng còn ít ỏi
quá, nhất là voi đực có ngà đang bị những họng súng
đêm ngày rập rình săn bắn.
Nhiều biện pháp bảo vệ và bảo tồn voi nghiêm ngặt
được đưa ra từ đầu năm 1992, trong đó có Chỉ thị
cấp bách của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ các
loài động vật hoang dã quý hiếm, Chương trình hành động
bảo tồn voi do Tổ chức quốc tế FFI và Bộ Nông
nghiệp và phát triển nông thôn triển khai, Hội thảo
bảo tồn voi châu Á tại Đông Dương, tạo sinh cảnh
sống cho voi rừng tại Vườn quốc gia Yôk Đôn, ban hành
nhiều văn bản cấm săn voi.
Song nguy cơ vắng bóng hoàn toàn loài voi trên cao nguyên này
vào những năm tới đã hiện rõ. Các chuyên gia cho biết
nếu không có những biện pháp bảo tồn và phát triển
rừng tự nhiên, trả lại môi trường sống thích nghi yên
lành và đầy đủ cho loài voi, thì chúng khó có cơ
phục hồi, sinh
Nguyễn
Hoàng Thu - Thanh Niên Online
|
Nguồn
cá nước ngọt đang bị đe doạ (12/2005)
Trong
khi các nhà quản lý môi trường và giới truyền thông
hướng sự chú ý vào đại dương với nguy cơ về
sự tuyệt chủng của các loài như cá tuyết, cá
heo, và rùa biển, thì họ lại đang bỏ qua những
con sông và hồ nước ngọt vốn cũng đang bị cạn
kiệt nguồn thuỷ sản, nhất là các loài cá quý
hiếm...
Trong một báo cáo mới đây đăng trên tạp chí Bio
Science, các nhà khoa học cho biết, việc khai thác quá
mức nguồn cá nước ngọt đang đe doạ sự đa
dạng sinh học trong các sông hồ trên phạm vi toàn
cầu, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến
nguồn cung cấp thực phẩm và công ăn việc làm ở
các nước đang phát triển. "Đây là một nguy cơ
thực sự - Kirk Winemiller, nhà nghiên cứu thuỷ sản
tại Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Texas, nói -
Hiện nay, các loài cá nước ngọt lại gặp nhiều
nguy cơ hơn so với cá nước mặn".
Trong số các sông hồ được nhắc tới trong báo cáo
có sông Mê Kông. Đây là nơi sinh sống của cá trê
Mê Kông khổng lồ (ảnh) - loài cá nước ngọt
lớn nhất thế giới (có trọng lượng lên tới 300
kilôgam, chiều dài 2,7 mét), và nhiều loại cá lớn
khác đang bị đe doạ tuyệt chủng. Một số loài
thuỷ sản khác cũng đang gặp nguy hiểm là cá
tuyết Murray ở lưu vực sông Murray (Ốt-xtrây-li-a)
và cá tầm ở Great Lakes (Bắc Mỹ).
Việc khai thác cá tại các sông hồ trên thế giới
đã tăng gấp 4 lần kể từ năm 1950. Hiện nay sản
lượng khai thác cá nước ngọt hàng năm khoảng 8,7
triệu tấn, trong đó 2/3 được đánh bắt ở Châu
Á. Riêng lưu vực sông Mê Kông, lượng cá tiêu
thụ trung bình hàng năm là 56 kilôgam/người, trong
đó có cả các loại cá lớn nhất và hiếm nhất
thế giới như cá trê Mê Kông khổng lồ, cá bơn nước
ngọt đuôi dài và cá gai. Zeb Hogan - nhà nghiên cứu
cá tại Đại học Wiscosin, Madison (Mỹ), đồng
thời là nhà nghiên cứu hàng đầu của Hội Địa
lý Quốc gia Mỹ - cho biết, trong những năm gần đây
cơ hội bắt được cá trê Mê Kông giảm đi trông
thấy, từ 60 con năm 1995 xuống chỉ còn 4 con năm
2005. Ông tỏ ý lo ngại rằng chỉ trong một thời
gian ngắn nữa giống cá trê này sẽ chỉ còn là
huyền thoại.
Báo cáo cũng cho biết, con người đã dùng nhiều phương
tiện để đánh bắt các loại cá có kích cỡ khác
nhau, bắt đầu từ loại lớn nhất rồi dần
chuyển sang các loài nhỏ hơn dẫn đến sự suy
kiệt các loài thuỷ sản. "Cá lớn là nguồn
duy trì nòi giống - David Allan, Giáo sư Bảo tồn
sinh học tại Đại học Michigan, một trong những tác
giả của báo cáo, nói - Khả năng sinh sản tăng lên
khi kích thước cá tăng, do vậy các con cái lớn là
đặc biệt quan trọng cho sự tồn tại của giống
loài". Và khi các loài cá lớn ngày càng trở nên
hiếm hơn, thì đến lượt các loại cá nhỏ "lên
ngôi". Sông Queme tại Benin, Tây Phi đã chứng
kiến loài cá ăn thịt lớn như cá pecca sông Nile
bị các loài cá nhỏ như cá cichlid và cá trê thay
thế.
Theo các nhà nghiên cứu, nguồn cá suy kiệt có thể
gây ra những tác động nghiêm trọng cho sức khoẻ
của con người, nhất là ở các nước đang phát
triển. Ví dụ, sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh sán
máng ở Châu Phi liên quan tới sự suy giảm các loài
cá ăn các con ốc mang sán gây bệnh. Hơn nữa, đối
với hàng chục triệu cư dân nghèo của Châu Á và
Châu Phi thì cá nước ngọt là một trong những
nguồn sống quan trọng. Chính vì vậy, việc bảo
tồn nguồn tài nguyên này là vô cùng quan trọng đối
với sự sinh tồn của người nghèo.
|
|
Hoàng
Giang - Báo Lao động
|
|
TPHCM:
Rút giấy phép các doanh nghiệp vi phạm về môi trường
(12/2005)
|
|
|
|
Ủy
ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa có công văn
chỉ đạo Sở tài nguyên và Môi trường phối
hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công
tác kiểm tra, giám sát và xử lý những trường
hợp không đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường,
xử lý nước thải không đúng theo quy định.
Riêng
trong lĩnh vực tài nguyên nước, Ủy ban Nhân dân
thành phố cũng chỉ đạo các các ngành liên quan
phối hợp thực hiện thu thuế tài nguyên nước,
tăng cường kiểm soát, đình chỉ khai thác nước
tại những giếng khoan không phép, kiên quyết rút
giấy phép đầu tư đối với những doanh nghiệp
cố tình vi phạm Luật bảo vệ môi trường
TTXVN
|
|
Kiên
Giang: Tăng cường bảo vệ môi trường trong lĩnh
vực du lịch (12/2005)
|
|
|
|
Từ
năm 2001- 2005, tổng lượt khách du lịch đến Kiên
Giang đã tăng gấp 3 lần, riêng trong năm 2005,
tỉnh thu hút 1,6 triệu khách. Để tăng khả năng
thu hút du khách, Kiên Giang đã tăng cường đầu tư
cơ sở hạ tầng, dịch vụ và khai thác tài nguyên
để phục vụ phát triển du lịch. Điều này cũng
làm tăng thêm áp lực tác động đến môi trường,
đặc biệt là vào mùa du lịch hoặc thời điểm
tổ chức lễ hội.
Từ
năm 1999 đến nay, tỉnh Kiên Giang đã tổ chức
thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi
trường của các dự án như: Dự án khu du lịch
Chùa Hang- Mũi Nai (Kiên Lương), Dự án chống bồi
lắng, bảo vệ hệ sinh thái, phát triển du kịch
đầm, Đông Hồ và Dự án đầm Đông Hồ (Thị xã
Hà Tiên). Riêng 3 năm gần đây, Sở Tài nguyên và
Môi trường đã tiến hành kiểm tra thẩm định và
cấp phiếu xác định đăng ký đạt tiêu chuẩn môi
trường cho gần 100 cơ sở kinh doanh dịch vụ khách
sạn, nhà hàng, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh và
3 khu du lịch thuộc huyện Phú Quốc: khu du lịch
biển Cataco Phú Quốc, khu du lịch khách sạn ngàn
sao, khu du lịch Suối Đá Bàn. Tuy nhiên việc
quản lý vệ sinh môi trường tại các khu du lịch
vẫn còn nhiều bất cập, thiếu lao động thu gom
rác. Việc bố trí các thùng chứa rác và bảng hướng
dẫn bỏ rác ở các khu du lịch chưa hợp lý
hoặc còn quá ít, trong khi không ít du khách chưa có
ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường.
Thêm vào đó hầu hết các cơ sở kinh doanh dịch
vụ, du lịch lâu nay chưa có hệ thống xử lý nước
và chất thải rắn gặp nhiều khó khăn, gây ô
nhiễm cục bộ tại một số khu, điểm du lịch.
Theo
Sở Tài nguyên- Môi trường Kiên Giang, tỉnh ngày
càng bị áp lực của ô nhiễm môi trường đối
với sự phát triển du lịch như: việc tăng cường
nước và chất thải sinh hoạt góp phần làm tăng
nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nước; tăng
mức độ suy thoái và ô nhiễm nguồn nước ngầm
ở khu vực ven biển như Phú Quốc, Hà Tiên do
việc khai thác các nguồn nước ngầm để phục
vụ cho sinh hoạt của du khách. Mặt khác, tăng
cả lượng khí thải ở các khu du lịch do việc tăng
các hệ thống điều hòa nhiệt độ trong hệ
thống khách sạn, nhà nghỉ, các máy phát điện
dự phòng, lưu lượng xe chuyên chở khách ra vào
khu du lịch. Tính đa dạng sinh học cũng có nguy cơ
bị đe dọa bởi việc săn bắt để phục vụ nhu
cầu ẩm thực, làm đồ lưu niệm của du khách cũng
như việc chặt phá cây rừng dựng cơ sở kinh
doanh dịch vụ. Ngoài ra, còn có những tác động
tiêu cực khác như: sự lây truyền dịch bệnh đến
cộng đồng, xói mòn và thóai hóa đất...
Để
bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm
thiểu các tác động xấu đến môi trường trong
quá trình phát triển du lịch theo hướng bền
vững, nhất là ở trung tâm du lịch sinh thái
chất lượng cao Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang sẽ
triển khai thực hiện "Qui chế bảo vệ môi
trường trong lĩnh vực du lịch" do Bộ trưởng
Bộ Tài nguyên Môi trường ban hành ngày 29/7/2003 và
"Qui chế quản lý các khu, điểm du lịch, di tích
lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa
bàn tỉnh" do UBND tỉnh đã ban hành ngày
16/5/2003 nhằm thực hiện quản lý chức năng Nhà
nước về du lịch, trọng tâm là đảm bảo phát
triển theo hướng du lịch văn hóa, giữ gìn và phát
huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Hoàng
Vân - www.monre.gov.vn
|
|
Sản
xuất sạch hơn - công cụ hữu hiệu bảo vệ môi
trường (12/2005)
|
|
|
|
Đó
là nhận xét không chỉ của các nhà quản lý, mà
ngay cả nhà sản xuất cũng phải thừa nhận công
nghệ sản xuất sạch hơn là một công cụ hữu
hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chính
vì vậy 10 năm qua, Chính phủ đầu tư trên 2000
tỷ đồng cho công tác bảo vệ môi trường,
chiếm 0,25 % GDP hàng năm, nhưng đến năm 2006
khoản tiền đầu tư cho tương lai này đã tăng lên
1% và năm
2007 còn tăng lên nữa.
Mới
đây, 50 doanh nghiệp thuộc các ngành dệt, giấy,
chế biến thực phẩm, gia công kim lọai tại Hà
Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng,
Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ đã tham gia trình
diễn sản xuất sạch trong khuôn khổ dự án
UNIDO-SECO (US/VIE/96/023) và dự án “Giảm
thiểu ô nhiễm công nghiệp- sản xuất
sạch hơn” do UNIDO và SIDA ( Thụy Điển) tài
trợ. Dự án VCEP (giai đoạn 2) đang hỗ trợ các
sở Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường
Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương triển
khai các giải pháp sản xuất sạch hơn đối với
các ngành gốm sứ, chế biến mủ cao su, giấy tái
sinh, chế biến thủy sản, thép, dệt nhuộm…
Tuy
nhiên, phần lớn công nghệ xử lý khí thải, nước
thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại đều
“có vấn đề”, nhất là công nghệ xử lý nước
thải ở các doanh nghiệp đều chưa đạt hiệu
quả do trình độ thiết kế, chế tạo, chất lượng
thiết bị, trình độ công nhân vận hành, ý
thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp chưa
cao. Đối với các cơ sở sản xuất qui mô vừa và
nhỏ, do công nghệ sản xuất lạc hậu, thủ công
hoặc bán thủ công, mặt bằng hẹp, vốn đầu tư
ít; nên vấn đề xử lý môi trường chưa mấy
được quan tâm, dù biết "lợi bất cập hại"
nhưng "lực bất tòng tâm". Hiện nay, ở
Việt Nam mới chỉ có 50 lò đốt rác thải bệnh
viện, còn lại rất nhiều
bệnh viện chưa có biện pháp thu gom và xử
lý loại rác thải nguy hại này.
Lâu
nay, các cơ sở sản xuất ở nước ta có thói
quen chọn lựa dây chuyền công nghệ theo tư duy
“truyền thống”- có giá thành đầu tư, giá thành
vận hành thấp, không chiếm dụng nhiều mặt
bằng, dễ quản lý, bảo hành bảo trì đơn giản.
Trong khi đó để phát triển bền vững, cần tới
công nghệ sạch với những đặc trưng sử dụng
nguyên vật liệu tối ưu, sinh ra ít hoặc không
sinh ra chất thải; ngăn ngừa ô nhiễm từ đầu
nguồn. Việc xây dựng công nghệ sạch trong một
nhà máy có thể làm phát sinh những chi phí lớn
về mua sắm thiết bị, thay đổi phương pháp
sản xuất, nhưng vẫn có khả năng sinh lợi cao hơn
so với việc phải xây dựng trạm xử lý chất
thải cuối đường ống. Tiếp cận công nghệ
sạch rất cần tư duy “đầu tư đắt” để có
hiệu quả cao. Đã
có các doanh nghiệp đơn lẻ đi theo hướng này như
Công ty cổ phần ống sợi thủy tinh Vinaconex, Công
ty cổ phần vật tư ngành nước Viwapico cũng
thuộc Tổng công ty Vinaconex, sản xuất ống dẫn
nước sạch và ống nhựa chất lượng cao; hoặc
một số doanh nghiệp sản xuất vòi nước thuộc
Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng Viglacera
đã lựa chọn nguyên liệu sạch, công nghệ sạch
cho ra các sản phẩm cao cấp…
Nhưng
để các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính
sách, đặc biệt là các doanh nghiệp, các nhà
sản xuất vừa và nhỏ thay đổi tư duy đầu tư
ngay từ khâu thiết kế đã hướng đến công
nghệ sạch, cần phải đầu tư đồng bộ cũng như
hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao trình độ công
nghệ, thiết bị, đội ngũ cán bộ trong lĩnh
vực công nghệ môi trường. Có như vậy mới có
thể biến tuyên ngôn về sản xuất sạch mà Chính
phủ nước ta ký từ
tháng 9 năm 1999 và “chương trình hành động
Quốc gia về sản xuất sạch hơn giai đoạn
2001-2005” trở thành hiện thực.
Monre
Phương Anh-www.monre.gov.vn
|
|
Kiên
Giang: Sẽ có nguồn điện mới từ rác thải cho
đảo Phú Quốc (12/2005)
|
|
|
|
Trường
Đại học Cần Thơ và Viện tái chế bảo vệ môi
trường của Cộng hòa Liên bang Đức vừa phối
hợp tổ chức hội thảo để bàn giải pháp xây
dựng nhà máy phát điện từ rác thải tại
huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) nhằm bảo vệ môi
trường, đồng thời giải quyết được một
phần năng lượng thiếu hụt tại chỗ.
Các
vấn đề như: nguồn vốn, mặt bằng để xây
dựng nhà máy, đối tác đầu tư, các chính sách
về ưu đãi đầu tư đã được tập trung thảo
luận. Xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải
là một đề tài nghiên cứu có tính khả thi và
đã được áp dụng có hiệu quả tại một số nước
ở châu Âu. Nguồn rác thải, lượng sinh khối
trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân, thông qua
nhà máy khí sinh học bằng Biogaz và máy đốt sinh
khí sẽ tạo ra 2 sản phẩm: điện năng và phân bón
hữu cơ. Đây là các sản phẩm rất thiết thực
cho một huyện đảo vì không thể kéo điện lưới
quốc gia ra đảo và hiện nay, mỗi năm Nhà nuớc
phải bù lỗ cho Phú Quốc khoảng 23 tỷ đồng
tiền điện, trong khi kinh phí đầu tư một nhà máy
phát điện từ rác thải khoảng 2,5 triệu Euro (tương
đương 50 tỷ đồng). Ngoài ra, với lượng rác
thải (hơn 15.000 tấn/năm), nếu không có giải phát
xử lý kip thời, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường
trên đảo là rất lớn và sẽ ảnh hưởng đến
việc phát triển du lịch.
Phương
án xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải
tại huyện đảo Phú Quốc là rất cần thiết và
mang tính khả thi cao.
Monre
Hoàng Vân – www.monre.gov.vn
|
Xây
dựng 1,2 triệu ha đất ngập nước và khu bảo tồn
biển (12/2005)
Hà
Nội (TTXVN)
- Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng
gần 1,2 triệu ha đất ngập nước quốc gia và khu bảo
tồn biển và phục hồi khoảng 50% diện tích rừng đầu
nguồn đã bị suy thoái trong nhiều năm qua.
Tại
hội thảo tư vấn quốc gia kế hoạch hành động đa
dạng sinh học của Việt Nam, ngày 13/12 tại Hà Nội, các
đại biểu cũng đặt mục tiêu đến 2010 trên 70% dân
số thường xuyên được tiếp cận thông tin về đa
dạng sinh học để giảm thiểu hành vi xâm hại tới môi
trường sống.
Hội
thảo đã đề xuất hệ thống 28 chương trình ưu tiên
về bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có 7 chương trình
đã được Chính phủ phê duyệt thực hiện đến năm
2010 và 2015.
Đó
là dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, phục hồi rừng
đầu nguồn bị suy thoái nghiêm trọng, bảo vệ các loài
động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao,
phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn, phát
triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ các vùng đất
ngập nước có tầm quan trọng quốc gia và phục hồi các
hệ sinh thái đặc thù đã bị suy thoái nghiêm trọng.
Theo
Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngay từ năm 2006, các địa
phương có nhiều diện tích đất rừng ngập mặn, rừng
phòng hộ đầu nguồn phải ngăn chặn quyết liệt nạn
phá rừng, tàn phá đa dạng sinh học, ưu tiên thực
hiện đồng bộ các biện pháp kiểm soát và buôn bán các
loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng
cao đồng thời áp dụng mạnh mẽ khung hình phạt hình
sự đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm,
xâm hại đa dạng sinh học.
Bên
cạnh đó, các địa phương cần đẩy mạnh phong trào toàn
dân tham gia bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó ưu tiên
phát triển các mô hình quản lý môi trường dựa vào
cộng đồng. Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Tài nguyên và Môi trường, Thủy sản, Khoa học và Công
nghệ cũng cần nhanh chóng hoàn thiện các thể chế, chính
sách và hệ thống pháp luật liên quan.
Hội
thảo do Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi
trường) phối hợp với Đại sứ quán Hà Lan tổ chức./.
Theo
TTXVN
Thành
lập Ủy ban Quốc gia vì sự phát triển bền vững (12/2005)
Thủ
tướng đã quyết định thành lập Uỷ Ban Quốc gia về
thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững của
Việt Nam (2005-2014). Uỷ ban do một Phó thủ tướng phụ
trách công tác văn xã làm Chủ tịch.
Các
phó chủ tịch gồm Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO
của Việt Nam và thứ trưởng các Bộ Giáo dục và Đào
tạo, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường,
Văn hoá - Thông tin.
Uỷ
ban có chức năng giúp Thủ tướng chỉ đạo thực hiện
các hoạt động của Việt Nam trong khuôn khổ hoạt động
của thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững
của Liên Hợp Quốc.
Ngoài
ra, Uỷ ban còn nghiên cứu và tư vấn cho Thủ tướng
về các vấn đề liên quan đến chiến lược, chính sách
và chương trình; thúc đẩy chương trình hợp tác giữa
Việt Nam và UNESCO và điều phối hoạt động của các
ngành giáo dục, văn hóa, khoa học, thông tin, môi trường
và phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức tuyên
truyền, nghiên cứu, đào tạo liên quan đến các hoạt
động giáo dục vì sự phát triển bền vững.
(Theo
TTXVN)
|
Sở
TN&MT các địa phương được phép giữ lại 60%
mức thu phí nước thải (12/2005)
(Mạng
Monre.gov.vn, ngày 7/12/2005 10:42:54 AM)
|
|
|
|
Việc
thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
sinh hoạt trong cả nước do công ty cung cấp nước
sạch và vệ sinh môi trường các địa phương đảm
nhiệm cùng với việc thu tiền nước sạch sử
dụng. Mức phí nước thải sinh hoạt do Hội đồng
nhân dân các địa phương tự quy định, với mức
trần là 10% giá bán nước sạch chưa tính thuế. Đối
với nước thải công nghiệp, các cơ sở sản
xuất kinh doanh sẽ phải tự kê khai số phí của mình
theo mẫu quy định và nộp cho Sở Tài nguyên môi trường
sở tại thẩm định, thông báo nộp phí.
Trên
cơ sở số phí thu được, các Sở Tài nguyên và Môi
trường địa phương được phép giữ lại 60% số
phí, bao gồm 20% phí để sử dụng cho công tác thu
phí và 40% để sử dụng cho công tác duy tu, nạo vét
kênh mương, tái đầu tư cho các dự án xử lý nước
thải. Còn lại 40% phí phải nộp về Quỹ Bảo vệ
môi trường Việt Nam.
Dự
thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) được
Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành vào tháng
7/2006 cũng quy định rõ việc thu phí bảo vệ môi
trường. Trong bối cảnh đó, việc thu phí như trên
tạo điều kiện cho các địa phương đưa công tác
quản lý môi trường đi vào nề nếp, thực hiện có
kết quả Nghị định 67/CP/2003 về “Thu phí nước
thải“. Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết,
cả nước hiện có 45/64 tỉnh, thành phố đã thực
hiên việc thu phí theo Nghị định 67/CP/2003, trong đó
có 24 tỉnh thực hiện tốt và thu được cả 2
loại phí nước thải sinh hoạt, nước thải công
nghiệp.
Tiến
Hiếu - www.monre.gov.vn
|
|
Xả
nước thải chứa chất phóng xạ, phạt 70 triệu đồng
(12/2005)
|
|
(VietNamNet)
-
UBND TP.Hà Nội vừa ban hành quy định mới về
quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống thoát nước.
Theo đó, sẽ xử phạt hành chính 60 - 70 triệu đồng
đối với hành vi xả nước thải có chứa chất phóng
xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.
| | | |