MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
 (12/2005)

TP Hồ Chí Minh: Khai mạc Triển lãm ảnh môi trường Quốc tế (12/2005)
Thái Bình: Áp dụng nhiều giải pháp bảo vệ môi trường (12/2005)
Môi trường VN năm 2005: Chưa chuyển biến rõ nét! (12/2005)
Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ (12/2005)

Công bố Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2005 (12/2005)
Voi rừng Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng (12/2005)
Nguồn cá nước ngọt đang bị đe doạ (12/2005)
TPHCM: Rút giấy phép các doanh nghiệp vi phạm về môi trường (12/2005)
Kiên Giang: Tăng cường bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch (12/2005)
Sản xuất sạch hơn - công cụ hữu hiệu bảo vệ môi trường (12/2005)
Xây dựng 1,2 triệu ha đất ngập nước và khu bảo tồn biển (12/2005)
Kiên Giang: Sẽ có nguồn điện mới từ rác thải cho đảo Phú Quốc (12/2005)
Sở TN&MT các địa phương được phép giữ lại 60% mức thu phí nước thải (12/2005)
Thành lập Ủy ban Quốc gia vì sự phát triển bền vững (12/2005)
Xả nước thải chứa chất phóng xạ, phạt 70 triệu đồng (12/2005)
Môi trường không khí châu Á đang trả giá đắt cho sự phát triển kinh tế nhanh chóng (12/2005)


TP Hồ Chí Minh: Khai mạc Triển lãm ảnh môi trường Quốc tế (12/2005)

 

Nơi lánh nạn của nai tuyết (địa phận Tamilnadu, Ấn Độ) - Giải vàng hạng chung

Sáng nay 27/12/2005, triển lãm các tác phẩm đoạt giải của cuộc thi Ảnh quốc tế về môi trường năm 2004-2005 do Chương trình Môi trường của Liên Hiệp Quốc (UNEP) tổ chức đã khai mạc tại tầng 13 Trung tâm thương mại Zen Plaza (54-56 Nguyễn Trãi, Q.1, TP.HCM). Đây là cuộc thi được tổ chức lần thứ 3 kể từ năm 1991 mang chủ đề "Hướng về thế giới của chúng ta" do UNEP tổ chức với sự tài trợ của Tập đoàn Canon. Cuộc thi lần này bắt đầu từ ngày 5/6/2004 (Ngày Môi trường thế giới) dành cho mọi đối tượng, không phân biệt tuổi tác, quốc tịch và thu hút sự tham gia của 169 quốc gia, vùng lãnh thổ (trong đó có Việt Nam) với 32.299 tác phẩm dự thi.

Một nhóm nhiếp ảnh danh tiếng đã tiến hành đánh giá những bức ảnh dự thi và chọn ra được 137 tác phẩm xuất sắc thể hiện được tính đa dạng của môi trường trái đất. Những bức ảnh đã kể lại toàn bộ câu chuyện về cách chúng ta quản lý hành tinh này, mối quan hệ giữa con người và môi trường cũng như những thánh thức và thế giới tự nhiên đang phải đối mặt.

Một số bức ảnh đăng ký dự thi của Việt Nam đã đoạt giải trong 137 bức ảnh được chọn sẽ xuất hiện trong một cuộc triển lãm lưu động kéo dài tạo điều kiện cho đông đảo quần chúng có dịp chiêm ngưỡng những tác phẩm tuyệt vời.

Triển lãm sẽ kéo dài đến hết ngày 31/12.

Nơi lánh nạn của nai tuyết (địa phận Tamilnadu, Ấn Độ) - Giải vàng hạng chung (3 ảnh)

 

Cội nguồn phật học (địa phận Chonburi, Thái Lan) - Giải vàng hạng thiếu nhi

Thành phố Mexico - người dân chịu cảnh sống cùng rác thải (địa phận Mexico) - Giải vàng hạng trẻ

Nguồn: Tuổi Trẻ Online

Thái Bình: Áp dụng nhiều giải pháp bảo vệ môi trường (12/2005)

 

Là tỉnh nông nghiệp, ngành công nghiệp đang phát triển ở giai đoạn đầu, song môi trường trong địa bàn tỉnh Thái Bình đang xuống cấp nhanh, ở nhiều nơi đã đến mức báo động. Tình trạng khí thải, nước thải, rác thải tại các khu đô thị, khu dân cư, khu công nghiệp đang ngày một gia tăng cả về khối lượng và mức độ gây hại, đang gây bức xúc trong nhân dân... Trước thực trạng đó, tỉnh Thái Bình đã áp dụng nhiều biện pháp tích cực nhằm hạn chế thấp nhất nạn ô nhiễm môi trường, bảo vệ tốt sức khoẻ cộng đồng.

 Thực trạng ô nhiễm

 Sau một năm được nâng cấp lên thành phố, thành phố Thái Bình đã được đầu tư xây dựng ngày càng khang trang, tỷ lệ cây xanh đạt 3,5m2/người, nạn ô nhiễm môi trường bước đầu được cải thiện. Tỉnh đã đầu tư hàng chục tỷ đồng cải tạo sông Bồ Xuyên và sông Vĩnh Trà với chiều dài 6.500 m, kè lát mái và trồng cây xanh hai bên bờ sông; xây dựng 2 cống qua đê lấy nước từ sông Trà Lý vào thau rửa nên đã cải thiện đáng kể ô nhiễm môi trường nước thải trong thành phố. Tuy nhiên, tại 3 khu công nghiệp Nguyễn Đức Cảnh, Tiền Phong, Phúc Khánh và cụm công nghiệp Phong Phú (thành phố Thái Bình) đến nay vẫn chưa xây dựng được nhà máy xử lý nước thải công nghiệp. Chính vì vậy, toàn bộ nước thải sinh hoạt, bệnh viện, công nghiệp... hầu hết chưa được xử lý đều đổ ra  5 con sông trong địa bàn thành phố, dẫn đến tình trạng quá tải, làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống sinh hoạt của nhân dân. Mặc dù thành phố đã đầu tư xây dựng nhà máy xử lý rác thải và lò đốt rác với công suất 3.000 tấn/năm, nhưng mới chỉ đáp ứng được 50% số lượng rác thải sinh hoạt của thành phố. Tỉnh đã đầu tư xây dựng lò đốt rác thải bệnh viện, nhưng công suất chưa đáp ứng được lượng rác thải của 6 bệnh viện trong thành phố thải ra...

Không chỉ ở thành phố Thái Bình, môi trường các vùng nông thôn trong tỉnh, nhất là tại các làng nghề cũng đã đến mức báo động. Trên đồng ruộng, một phần phân hữu cơ, phân hoá học, thuốc bảo vệ thực vật do nông dân sử dụng trong sản xuất nông nghiệp đã ngấm vào lòng đất, tan trong nước đã gây ô nhiễm môi trường. Theo Sở Tài nguyên và Môi trừong Thái Bình: hầu hết 173 làng nghề trong tỉnh hiện đang hoạt động với công nghệ lạc hậu, chất thải chưa qua xử lý đều được đổ trực tiếp ra sông ngòi, gây ảnh hưởng lớn tới nhiều vùng lân cận. Ngoài ra, toàn tỉnh hiện có trên 100.000 giếng khoan do nhân dân tự làm, do quản lý không chặt chẽ nên đã vô tình làm ô nhiễm tầng nước ngầm. Ở các vùng nông thôn, tình trạng đổ rác bừa bãi đang là vấn đề nổi cộm cần các nhà quản lý cấp huyện, xã tháo gỡ...

Cần nhiều giải pháp tích cực

 Để hạn chế nạn ô nhiễm môi trường, tỉnh Thái Bình đã đề ra nhiều giải pháp, như: lập quy hoạch xây dựng các bãi xử lý và chôn lấp rác hợp vệ sinh, hệ thống cấp thoạt nước tại các thị trấn, thị tứ; khuyến khích nông dân sử dụng phân bón hữu cơ, vi sinh, áp dụng quản lý tổng hợp IPM bảo đảm nông nghiệp sạch bền vững; quy hoạch xây dựng các vùng chăn nuôi theo mô hình trang trại, gia trại... Song, đó chỉ là những giải pháp trước mắt, còn về lâu dài để đạt được mục tiêu đến năm 2010 100% dân cư đô thị và 85% dân cư ở nông thôn trong tỉnh Thái Bình được sử dụng nước sạch; 100% các cơ sở sản xuất mới xây dựng được áp dụng công nghệ sạch, hoặc được trang bị các thiết bị giảm ô nhiễm môi trường, 50% cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường; 100% khu đô thị mới và 50% các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn về môi trường; 50% số làng nghề được quy hoạch và có giải pháp xử lý môi trường đạt tiêu chuẩn... tỉnh Thái Bình cần có những giải pháp cụ thể hơn nữa trong việc quản lý môi trường; xử lý những cơ sở sản xuất không đảm bảo vệ sinh môi trường.

 Phạm Hoàng Điệp (www.monre.gov.vn)

Môi trường VN năm 2005: Chưa chuyển biến rõ nét! (12/2005)

 

(VietNamNet)- Chiều 16/12 tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường công bố Báo cáo diễn biến môi trường năm 2005. Đây được coi là cuốn ''cẩm nang'' về môi trường cho nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhà khoa học, nghiên cứu và tất cả những ai quan tâm đến tình hình môi trường ở Việt Nam.

Môi trường xanh sạch đẹp là mong ước của tất cả mọi người.

Bản báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia 2005 được xây dựng trên cơ sở nhận thức rõ tầm quan trọng cảu công tác bảo vệ môi trường (BVMT)  và các khó khăn thách thức trong thời điểm hiện nay, khi nước ta đang chuẩn bị thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2006-2010, trở thành thành viên chính thức của WTO.

Thực trạng môi trường hiện nay được nêu cụ thể, Môi trường nước lục địa ô nhiễm nước mặt, nước dưới đất đang ngày càng trở nên nghiêm trọng, đặc biệt là các lưu vực sông và các sông nhỏ, kênh rạch trong nội thành nội thị. Nước dưới đất cũng có hiện tượng ô nhiễm và nhiễm mặn cục bộ dẫn đến suy giảm nghiêm trọng cả về chất và về lượng đối với tài nguyên nước.

Môi trường nước biển cũng có nguy cơ ô nhiễm ngày càng rõ nét bởi hoạt động của con người nhất là nơi có các khu dân cư đô thị tập trung và các cơ sở công nghiệp

Môi trường không khí cũng đang bức xúc ở các đô thị, khu công nghiệp và một số làng nghề có tác dụng xấu đến sức khỏe con người, ảnh hưởng xấu đến hệ sinh thái và gây biến đổi khí hậu. Các chất nhiễm không khí chính là: SO2, NO2, CO, H2S, bụi lơ lửng, chì và các chất hữu cơ bay hơi. Theo số liệu quan trắc môi trường hiện nay không khí ở các đô thị lớn nước ta đã bị ô nhiễm bụi, khí CO nhưng chất lượng không khí ở các vùng nông thôn vẫn còn tốt.

Môi trường đất cũng bị ô nhiễm bởi sử dụng phân bón hóa học, ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật, ô nhiễm do chất thải vào môi trường dẫn đến suy thóai đất và hoang mạc hóa. Theo số liệu của văn phòng điều phối Công ước chống hoang mạc hóa thì nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha đang chịu tác động mạnh bởi hoang mạc hóa tập trung ở các tỉnh miền trung; đất bị xói mòn ở Tây Bắc, Tây Nguyên; đất bị nhiễm mặn nhiễm phèn ở đồng bằng sông Cửu Long và đất khô hạn theo mùa hoặc vĩnh viễn tập trung ở Nam Trung Bộ.

Chất thải rắn hầu hết phát sinh tập trung ở các đô thị. Theo thống kê, lượng chất thải rắn sinh hoạt bình quân khoảng từ 0,6-0,9kg/người/ngày ở các đô thị lớn và dao động từ 0,4-0,5kg/người/ngày tại đô thị nhỏ. Còn chất thải nguy hại phát sinh từ họat động làng nghề, sản xuất công nghiệp, y tế. Tổng lượng chất thải rắn nguy hại từ làng nghề toàn quốc khoảng 2.400 tấn/ năm (Bắc Ninh, Hà Tây, Hà Nội, Hưng Yên...). Lượng chất thải nguy hại y tế cần phải xử lý khoảng 34 tấn/ngày...

Đa dạng sinh học nước ta cũng đang đối mặt với các nguy cơ suy thoái do nhiều nguyên nhân như: chuyển đổi mục đích sử dụng đất thiếu quy hoạch; khai thác và sử dụng không bền vững tài nguyên sinh học; sinh vật ngoại lai xâm hại; ô nhiễm môi trường; cháy rừng; thiên tai...

Ngòai ra còn tai biến thiên nhiên và sự cố môi trường với bão, lũ lụt năm qua gây thiệt hại lớn về người và của.

Những vấn đề môi trường nổi bật năm 2004 và đầu 2005 đã được đề cập trong 5 chương của Báo cáo Hiện trạng môi trường 2005. Trong đó có đề xuất một số biện pháp nhằm giải quyết các vấn đề môi trường.

Ông Trần Hồng Hà, Cục trưởng Cục Bảo vệ Môi trường (Bộ TN&MT) cho biết, báo cáo sẽ là tài liệu hữu ích cho các đại biểu quốc hội, các nhà quản lý, hoạch định chính sách, các nhà khoa học, nghiên cứu và tất cả những ai quan tâm đến công tác BVMT ở Việt Nam.

       Kiều Minh (VietNamNet)

Khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ (12/2005)


Rừng ngập mặn Cần Giờ.

Công trình khôi phục và phát triển bền vững hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ (thành phố Hồ Chí Minh - tiến hành từ 5-1978 đến 1-2000) của các tác giả: TS. Lê Văn Khôi, KS. Nguyễn Ðình Cường, KS. Nguyễn Minh Hải, KS. Lê Thị Liên, KS. Nguyễn Ngọc Nam, KS. Nguyễn Ðình Quý, CN Lê Văn Sinh, CN Ðoàn Văn Thu, Th.s Lê Ðức Tuấn đã được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và Giải thưởng Nhà nước về khoa học công nghệ năm 2005.

Rừng ngập mặn Cần Giờ trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ là đường giao thông huyết mạch, là cửa ngõ yết hầu vào Sài Gòn. Bộ đội đặc công, nhân dân Cần Giờ đã chiến đấu anh dũng trên mảnh đất này, gây cho địch nhiều thiệt hại nặng nề. Ðể bảo vệ vị trí chiến lược, người Mỹ đã biến rừng ngập mặn Cần Giờ thành "sa mạc mặn" bằng địa từ hàng chục nghìn quả bom, đạn và hàng triệu lít hóa chất khai hoang...

Sau ngày giải phóng, năm 1978, Thành ủy và UBND thành phố Hồ Chí Minh đã thành lập Lâm trường Duyên Hải (đóng tại Cần Giờ - thuộc Ty Lâm nghiệp) với nhiệm vụ khôi phục lại hệ sinh thái ngập mặn Cần Giờ. Các yêu cầu cụ thể: phải hồi phục rừng ngập mặn với tốc độ nhanh trong những năm đầu tiên; xác định được các giải pháp kỹ thuật phù hợp (giống tốt, vùng trồng thích hợp, tổ chức thi công nhanh, chăm sóc và bảo vệ rừng trồng tốt); có các biện pháp kỹ thuật tác động để rừng tăng tuổi nhanh, sớm cung cấp một phần nhu cầu chất đốt và vật liệu xây dựng cho dân cư trong vùng, đồng thời tạo ra một môi trường thuận lợi cho các loài thủy sản nước lợ sinh sôi phát triển, giải quyết một phần thực phẩm cho nhân dân; sau khi phủ xanh các tiểu khu rừng, các năm tiếp theo tiến hành công tác điều chế, chăm sóc nuôi dưỡng rừng bằng các biện pháp kỹ thuật lâm sinh theo hướng đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên, phục vụ cho nghỉ dưỡng, tham quan, học tập, nghiên cứu khoa học cho sinh viên.

Một trong những kết quả nghiên cứu nổi bật của nhóm tác giả là chọn được loài cây trồng thích hợp, với phương châm "đất nào cây đó". Các nhà khoa học sau khi đi điều tra, khảo sát thực địa, nghiên cứu các khu rừng ngập mặn ở Cà Mau, Bến Tre... đồng thời nghiên cứu tài liệu liên quan tình hình sinh trưởng, phát triển của rừng Sác Cần Giờ trước đây, đã chọn cây đước là cây được trồng chủ yếu. Cây đước có thể sinh trưởng và phát triển tốt trên các vùng đất phù sa, sình lầy, bùn chặt, chịu ảnh hưởng của thủy triều với độ mặn từ 10 đến 25%. Nguồn giống trái đước ở Cà Mau có thể cung cấp đủ số lượng để trồng lại rừng đước ở Cần Giờ. Sau cây đước, các nhà khoa học đã cho trồng các loài cây: vẹt, dà vôi, gõ biển, xu  ổi, cóc... trên những vùng đất ẩm, ổn định, ít ngập triều, nước lợ...

Sau 22 năm rừng sinh thái ngập mặn Cần Giờ đã bắt đầu hình thành và phát triển theo hướng đa dạng sinh học. Diện tích rừng đã phủ xanh hơn 31 nghìn héc-ta, trong đó có gần 20 nghìn héc-ta rừng trồng, hơn 11 nghìn héc-ta được khoanh nuôi tái sinh tự nhiên và các loại rừng khác. Thật vinh dự cho các nhà khoa học ngành lâm nghiệp nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, khi rừng ngập mặn Cần Giờ được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển rừng ngập mặn đầu tiên của thế giới và cũng là khu dự trữ sinh quyển đầu tiên ở Việt Nam.


 Thành tựu xuất sắc của công trình là phục hồi hệ sinh thái rừng ngập mặn Cần Giờ chỉ trong vòng 22 năm (trong khi đó nhận định của nhiều nhà khoa học trên thế giới là tối thiểu hàng trăm năm mới phục hồi được hệ sinh thái này). Ðóng góp của các nhà khoa học tham gia công trình nói trên là phục hồi một hệ sinh thái rừng ngập mặn bằng các giải pháp huy động được sức mạnh tổng hợp, đồng thời có sáng tạo trong việc xây dựng các quy trình lâm sinh phù hợp điều kiện tự nhiên và nhân văn của huyện Cần Giờ thuộc thành phố Hồ Chí Minh.

Hiệu quả về mặt kinh tế và môi trường rất lớn. Rừng ngập mặn Cần Giờ vừa là "lá phổi" vừa là "quả thận" có chức năng làm sạch không khí và nước thải từ các thành phố công nghiệp trong thượng nguồn sông Ðồng Nai - Sài Gòn để ra biển Ðông.

Hội đồng Giải thưởng Quốc gia đánh giá: Kết quả của công trình ngoài giá trị về mặt khoa học, kinh tế đã tạo việc làm, nâng cao đời sống nhân dân địa phương; tạo khu du lịch sinh thái và học tập nghiên cứu thì nhiều hấp dẫn; góp phần cải tạo môi trường thành phố Hồ Chí Minh và vùng lân cận.

Theo Báo Nhân dân

Công bố Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2005 (12/2005)

 

 

Ngày 16/12, tại Hà Nội, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã tổ chức  Lễ công bố Báo cáo Hiện trạng môi trường Quốc gia năm 2005. Tham dự buổi lễ có đại diện của Văn phòng Quốc hội; các Bộ, ngành; các Sở TN&MT địa phương; tổ chức, đoàn thể; các cơ quan thông tấn báo chí...Đây là báo cáo thường niên được Bộ TN&MT xây dựng trình Quốc hội nhằm đánh giá tình trạng môi trường để kịp thời điều chỉnh kế hoạch, đưa ra những biện pháp cần thiết bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước. Năm 2005, Bộ TN&MT xây dựng song song 2 báo cáo về môi trường:  Báo cáo Tổng quan và Báo cáo chuyên đề về Đa dạng sinh học.

Với 5 chương, Báo cáo Tổng quan đề cập đến những vấn đề môi trường nổi bật của năm 2004 và đầu năm 2005, đánh giá tình hình bảo vệ môi trường trong thời gian qua và đề xuất một số biện pháp bảo vệ môi trường trong thời gian tới. Bên cạnh những vấn đề chung như sức ép của quá trình phát triển kinh tế lên môi trường, Báo cáo dành một phần đáng kể nêu bật những vấn đề môi trường bức xúc nhất hiện nay như ô nhiễm các làng nghề và ô nhiễm môi trường nước lưu vực các sông Cầu, sông Nhuệ-sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai-Sài Gòn.

Báo cáo chuyên đề Đa dạng sinh học đưa ra một bức tranh tổng quát về đa dạng sinh học tại Việt Nam hiện nay trong môi tương quan với sự tác động của phát triển kinh tế-xã hội và sự nghiệp xóa đói giảm nghèo của đất nước. Báo cáo nêu bật, chỉ có bảo vệ và phát triển tốt đa dạng sinh học mới tạo điều kiện tốt cho phát triển kinh tế-xã hội một cách bền vững.

Các báo cáo nói trên được xây dựng theo mô hình "động lực - áp lực - hiện trạng - tác động - đáp ứng", là mô hình do Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP) đề xuất và đã được áp dụng tại nhiều quốc gia.   

(Theo Báo Nhân dân

Voi rừng Việt Nam có nguy cơ tuyệt chủng (12/2005)

Voi rừng nước ta chủ yếu tập trung ở phía Nam Trường Sơn, tỉnh Đăk Lăk, song đến nay chúng đang dần vắng bóng. Năm 1975, Đăk Lăk có khoảng 400 con voi rừng và voi nhà, thì cuối năm nay chỉ còn trên dưới 60 con.

Voi Việt Nam thuộc loài voi châu Á, chỉ có voi đực có ngà và không cao to như voi châu Phi. Động vật quý hiếm này được ghi trong Sách đỏ thế giới và Sách đỏ Việt Nam năm 1992 ở cấp độ bảo vệ cao nhất.

Chúng sinh sống chủ yếu ở cao nguyên Đăk Lăk, tại vùng rừng nguyên sinh dọc dãy núi lớn Chư Yang Sin (huyện Lăk và Krông Bông) và vùng rừng trải dài từ huyện Ea Súp đến Buôn Đôn giáp biên giới Campuchia, thuộc Vườn quốc gia Yôk Đôn.

Đăk Lăk cũng là nơi nổi tiếng từ lâu đời với địa danh Bản Đôn của đồng bào M'Nông - Lào chuyên săn bắt và thuần dưỡng voi. Nơi đây từng có nhiều người chuyên săn bắt voi rừng và 2 người được vinh danh là vua voi, như Ama Thu, Ama Kông đã săn bắt hàng trăm con voi từ rừng núi Yôk Đôn bên kia dòng sông lớn Sêrêpôk.

Để bảo tồn loài voi quý hiếm của núi rừng Tây Nguyên - Việt Nam, từ vài năm trước, Nhà nước đã không cho phép săn bắt voi rừng. Trong cuộc sống mới có sự giao lưu rộng hơn, chính đồng bào bản địa cũng giảm bớt nhu cầu thuần hóa và dùng voi vận chuyển hằng ngày, từ bỏ truyền thống săn bắt voi. Tuy nhiên, hiện tượng săn voi trộm vẫn diễn ra cùng việc thu hẹp nơi cư trú tự nhiên của chúng, khiến số lượng loài vật quý hiếm này giảm rõ rệt qua từng năm.

Năm 1997, cả tỉnh Đăk Lăk còn 115 voi nhà, voi rừng lại càng ít hơn, chỉ trên dưới 30 con. Vùng rừng núi lớn Chư Yang Sin hầu như không còn thấy dấu vết hiện diện của voi rừng nữa. Đến năm 2000, voi nhà giảm xuống còn 84 con và năm 2004, chỉ còn 62. Cùng thời gian này, voi rừng suy giảm chỉ còn khoảng 10-15 con, xê dịch qua lại không an toàn quanh khu vực rừng đã thưa thớt dần dọc biên giới Việt Nam - Campuchia thuộc các huyện Ea Súp, Buôn Đôn và các huyện Chư Jút, Đắk Mil của tỉnh mới Đắk Nông.

Đến cuối năm 2005, đàn voi của tỉnh Đăk Lăk chỉ còn không quá 50 con voi nhà, đồng thời voi rừng còn ít ỏi quá, nhất là voi đực có ngà đang bị những họng súng đêm ngày rập rình săn bắn.

Nhiều biện pháp bảo vệ và bảo tồn voi nghiêm ngặt được đưa ra từ đầu năm 1992, trong đó có Chỉ thị cấp bách của Thủ tướng Chính phủ về bảo vệ các loài động vật hoang dã quý hiếm, Chương trình hành động bảo tồn voi do Tổ chức quốc tế FFI và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn triển khai, Hội thảo bảo tồn voi châu Á tại Đông Dương, tạo sinh cảnh sống cho voi rừng tại Vườn quốc gia Yôk Đôn, ban hành nhiều văn bản cấm săn voi.

Song nguy cơ vắng bóng hoàn toàn loài voi trên cao nguyên này vào những năm tới đã hiện rõ. Các chuyên gia cho biết nếu không có những biện pháp bảo tồn và phát triển rừng tự nhiên, trả lại môi trường sống thích nghi yên lành và đầy đủ cho loài voi, thì chúng khó có cơ phục hồi, sinh

Nguyễn Hoàng Thu - Thanh Niên Online

Nguồn cá nước ngọt đang bị đe doạ (12/2005)

Trong khi các nhà quản lý môi trường và giới truyền thông hướng sự chú ý vào đại dương với nguy cơ về sự tuyệt chủng của các loài như cá tuyết, cá heo, và rùa biển, thì họ lại đang bỏ qua những con sông và hồ nước ngọt vốn cũng đang bị cạn kiệt nguồn thuỷ sản, nhất là các loài cá quý hiếm...

Trong một báo cáo mới đây đăng trên tạp chí Bio Science, các nhà khoa học cho biết, việc khai thác quá mức nguồn cá nước ngọt đang đe doạ sự đa dạng sinh học trong các sông hồ trên phạm vi toàn cầu, đồng thời ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn cung cấp thực phẩm và công ăn việc làm ở các nước đang phát triển. "Đây là một nguy cơ thực sự - Kirk Winemiller, nhà nghiên cứu thuỷ sản tại Trạm Thực nghiệm Nông nghiệp Texas, nói - Hiện nay, các loài cá nước ngọt lại gặp nhiều nguy cơ hơn so với cá nước mặn".

Trong số các sông hồ được nhắc tới trong báo cáo có sông Mê Kông. Đây là nơi sinh sống của cá trê Mê Kông khổng lồ (ảnh) - loài cá nước ngọt lớn nhất thế giới (có trọng lượng lên tới 300 kilôgam, chiều dài 2,7 mét), và nhiều loại cá lớn khác đang bị đe doạ tuyệt chủng. Một số loài thuỷ sản khác cũng đang gặp nguy hiểm là cá tuyết Murray ở lưu vực sông Murray (Ốt-xtrây-li-a) và cá tầm ở Great Lakes (Bắc Mỹ).

Việc khai thác cá tại các sông hồ trên thế giới đã tăng gấp 4 lần kể từ năm 1950. Hiện nay sản lượng khai thác cá nước ngọt hàng năm khoảng 8,7 triệu tấn, trong đó 2/3 được đánh bắt ở Châu Á. Riêng lưu vực sông Mê Kông, lượng cá tiêu thụ trung bình hàng năm là 56 kilôgam/người, trong đó có cả các loại cá lớn nhất và hiếm nhất thế giới như cá trê Mê Kông khổng lồ, cá bơn nước ngọt đuôi dài và cá gai. Zeb Hogan - nhà nghiên cứu cá tại Đại học Wiscosin, Madison (Mỹ), đồng thời là nhà nghiên cứu hàng đầu của Hội Địa lý Quốc gia Mỹ - cho biết, trong những năm gần đây cơ hội bắt được cá trê Mê Kông giảm đi trông thấy, từ 60 con năm 1995 xuống chỉ còn 4 con năm 2005. Ông tỏ ý lo ngại rằng chỉ trong một thời gian ngắn nữa giống cá trê này sẽ chỉ còn là huyền thoại.

Báo cáo cũng cho biết, con người đã dùng nhiều phương tiện để đánh bắt các loại cá có kích cỡ khác nhau, bắt đầu từ loại lớn nhất rồi dần chuyển sang các loài nhỏ hơn dẫn đến sự suy kiệt các loài thuỷ sản. "Cá lớn là nguồn duy trì nòi giống - David Allan, Giáo sư Bảo tồn sinh học tại Đại học Michigan, một trong những tác giả của báo cáo, nói - Khả năng sinh sản tăng lên khi kích thước cá tăng, do vậy các con cái lớn là đặc biệt quan trọng cho sự tồn tại của giống loài". Và khi các loài cá lớn ngày càng trở nên hiếm hơn, thì đến lượt các loại cá nhỏ "lên ngôi". Sông Queme tại Benin, Tây Phi đã chứng kiến loài cá ăn thịt lớn như cá pecca sông Nile bị các loài cá nhỏ như cá cichlid và cá trê thay thế.

Theo các nhà nghiên cứu, nguồn cá suy kiệt có thể gây ra những tác động nghiêm trọng cho sức khoẻ của con người, nhất là ở các nước đang phát triển. Ví dụ, sự gia tăng tỉ lệ mắc bệnh sán máng ở Châu Phi liên quan tới sự suy giảm các loài cá ăn các con ốc mang sán gây bệnh. Hơn nữa, đối với hàng chục triệu cư dân nghèo của Châu Á và Châu Phi thì cá nước ngọt là một trong những nguồn sống quan trọng. Chính vì vậy, việc bảo tồn nguồn tài nguyên này là vô cùng quan trọng đối với sự sinh tồn của người nghèo.

Hoàng Giang - Báo Lao động

 

TPHCM: Rút giấy phép các doanh nghiệp vi phạm về môi trường (12/2005)

 

Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh vừa có công văn chỉ đạo Sở tài nguyên và Môi trường phối hợp với các cơ quan chức năng tăng cường công tác kiểm tra, giám sát và xử lý những trường hợp không đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường, xử lý nước thải không đúng theo quy định.

Riêng trong lĩnh vực tài nguyên nước, Ủy ban Nhân dân thành phố cũng chỉ đạo các các ngành liên quan phối hợp thực hiện thu thuế tài nguyên nước, tăng cường kiểm soát, đình chỉ khai thác nước tại những giếng khoan không phép, kiên quyết rút giấy phép đầu tư đối với những doanh nghiệp cố tình vi phạm Luật bảo vệ môi trường

TTXVN

Kiên Giang: Tăng cường bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch (12/2005)

 

Từ năm 2001- 2005, tổng lượt khách du lịch đến Kiên Giang đã tăng gấp 3 lần, riêng trong năm 2005, tỉnh thu hút 1,6 triệu khách. Để tăng khả năng thu hút du khách, Kiên Giang đã tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng, dịch vụ và khai thác tài nguyên để phục vụ phát triển du lịch. Điều này cũng làm tăng thêm áp lực tác động đến môi trường, đặc biệt là vào mùa du lịch hoặc thời điểm tổ chức lễ hội.

Từ năm 1999 đến nay, tỉnh Kiên Giang đã tổ chức thẩm định các báo cáo đánh giá tác động môi trường của các dự án như: Dự án khu du lịch Chùa Hang- Mũi Nai (Kiên Lương), Dự án chống bồi lắng, bảo vệ hệ sinh thái, phát triển du kịch đầm, Đông Hồ và Dự án đầm Đông Hồ (Thị xã Hà Tiên). Riêng 3 năm gần đây, Sở Tài nguyên và Môi trường đã tiến hành kiểm tra thẩm định và cấp phiếu xác định đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường cho gần 100 cơ sở kinh doanh dịch vụ khách sạn, nhà hàng, nhà nghỉ trên địa bàn tỉnh và 3 khu du lịch thuộc huyện Phú Quốc: khu du lịch biển Cataco Phú Quốc, khu du lịch khách sạn ngàn sao, khu du lịch Suối Đá Bàn. Tuy nhiên việc quản lý vệ sinh môi trường tại các khu du lịch vẫn còn nhiều bất cập, thiếu lao động thu gom rác. Việc bố trí các thùng chứa rác và bảng hướng dẫn bỏ rác ở các khu du lịch chưa hợp lý hoặc còn quá ít, trong khi không ít du khách chưa có ý thức cao trong việc giữ gìn vệ sinh môi trường. Thêm vào đó hầu hết các cơ sở kinh doanh dịch vụ, du lịch lâu nay chưa có hệ thống xử lý nước và chất thải rắn gặp nhiều khó khăn, gây ô nhiễm cục bộ tại một số khu, điểm du lịch.

Theo Sở Tài nguyên- Môi trường Kiên Giang, tỉnh ngày càng bị áp lực của ô nhiễm môi trường đối với sự phát triển du lịch như: việc tăng cường nước và chất thải sinh hoạt góp phần làm tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường đất và nước; tăng mức độ suy thoái và ô nhiễm nguồn nước ngầm ở khu vực ven biển như Phú Quốc, Hà Tiên do việc khai thác các nguồn nước ngầm để phục vụ cho sinh hoạt của du khách. Mặt khác, tăng cả lượng khí thải ở các khu du lịch do việc tăng các hệ thống điều hòa nhiệt độ trong hệ thống khách sạn, nhà nghỉ, các máy phát điện dự phòng, lưu lượng xe chuyên chở khách ra vào khu du lịch. Tính đa dạng sinh học cũng có nguy cơ bị đe dọa bởi việc săn bắt để phục vụ nhu cầu ẩm thực, làm đồ lưu niệm của du khách cũng như việc chặt phá cây rừng dựng cơ sở kinh doanh dịch vụ. Ngoài ra, còn có những tác động tiêu cực khác như: sự lây truyền dịch bệnh đến cộng đồng, xói mòn và thóai hóa đất...

Để bảo vệ môi trường du lịch, ngăn ngừa và giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường trong quá trình phát triển du lịch theo hướng bền vững, nhất là ở trung tâm du lịch sinh thái chất lượng cao Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang sẽ triển khai thực hiện "Qui chế bảo vệ môi trường trong lĩnh vực du lịch" do Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường ban hành ngày 29/7/2003 và "Qui chế quản lý các khu, điểm du lịch, di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh trên địa bàn tỉnh" do UBND tỉnh đã ban hành ngày 16/5/2003 nhằm thực hiện quản lý chức năng Nhà nước về du lịch, trọng tâm là đảm bảo phát triển theo hướng du lịch văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Hoàng Vân - www.monre.gov.vn

Sản xuất sạch hơn - công cụ hữu hiệu bảo vệ môi trường (12/2005)

 

Đó là nhận xét không chỉ của các nhà quản lý, mà ngay cả nhà sản xuất cũng phải thừa nhận công nghệ sản xuất sạch hơn là một công cụ hữu hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường. Chính vì vậy 10 năm qua, Chính phủ đầu tư trên 2000 tỷ đồng cho công tác bảo vệ môi trường, chiếm 0,25 % GDP hàng năm, nhưng đến năm 2006 khoản tiền đầu tư cho tương lai này đã tăng lên 1% và  năm 2007 còn tăng lên nữa.

Mới đây, 50 doanh nghiệp thuộc các ngành dệt, giấy, chế biến thực phẩm, gia công kim lọai tại Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ đã tham gia trình diễn sản xuất sạch trong khuôn khổ dự án UNIDO-SECO (US/VIE/96/023)  và dự án “Giảm  thiểu ô nhiễm công nghiệp- sản xuất sạch hơn” do UNIDO và SIDA ( Thụy Điển) tài trợ. Dự án VCEP (giai đoạn 2) đang hỗ trợ các sở Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Bình Dương triển khai các giải pháp sản xuất sạch hơn đối với các ngành gốm sứ, chế biến mủ cao su, giấy tái sinh, chế biến thủy sản, thép, dệt nhuộm…

Tuy nhiên, phần lớn công nghệ xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn và chất thải nguy hại đều “có vấn đề”, nhất là công nghệ xử lý nước thải ở các doanh nghiệp đều chưa đạt hiệu quả do trình độ thiết kế, chế tạo, chất lượng thiết bị, trình độ công nhân vận hành, ý thức bảo vệ môi trường của doanh nghiệp chưa cao. Đối với các cơ sở sản xuất qui mô vừa và nhỏ, do công nghệ sản xuất lạc hậu, thủ công hoặc bán thủ công, mặt bằng hẹp, vốn đầu tư ít; nên vấn đề xử lý môi trường chưa mấy được quan tâm, dù biết "lợi bất cập hại" nhưng "lực bất tòng tâm". Hiện nay, ở Việt Nam mới chỉ có 50 lò đốt rác thải bệnh viện, còn lại rất nhiều  bệnh viện chưa có biện pháp thu gom và xử lý loại rác thải nguy hại này.

Lâu nay, các cơ sở sản xuất ở nước ta có thói quen chọn lựa dây chuyền công nghệ theo tư duy “truyền thống”- có giá thành đầu tư, giá thành vận hành thấp, không chiếm dụng nhiều mặt bằng, dễ quản lý, bảo hành bảo trì đơn giản. Trong khi đó để phát triển bền vững, cần tới công nghệ sạch với những đặc trưng sử dụng nguyên vật liệu tối ưu, sinh ra ít hoặc không sinh ra chất thải; ngăn ngừa ô nhiễm từ đầu nguồn. Việc xây dựng công nghệ sạch trong một nhà máy có thể làm phát sinh những chi phí lớn về mua sắm thiết bị, thay đổi phương pháp sản xuất, nhưng vẫn có khả năng sinh lợi cao hơn so với việc phải xây dựng trạm xử lý chất thải cuối đường ống. Tiếp cận công nghệ sạch rất cần tư duy “đầu tư đắt” để có hiệu quả cao.  Đã có các doanh nghiệp đơn lẻ đi theo hướng này như Công ty cổ phần ống sợi thủy tinh Vinaconex, Công ty cổ phần vật tư ngành nước Viwapico cũng thuộc Tổng công ty Vinaconex, sản xuất ống dẫn nước sạch và ống nhựa chất lượng cao; hoặc một số doanh nghiệp sản xuất vòi nước thuộc Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng Viglacera đã lựa chọn nguyên liệu sạch, công nghệ sạch cho ra các sản phẩm cao cấp…

Nhưng để các nhà quản lý, các nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là các doanh nghiệp, các nhà sản xuất vừa và nhỏ thay đổi tư duy đầu tư ngay từ khâu thiết kế đã hướng đến công nghệ sạch, cần phải đầu tư đồng bộ cũng như hoàn thiện khung pháp lý, nâng cao trình độ công nghệ, thiết bị, đội ngũ cán bộ trong lĩnh vực công nghệ môi trường. Có như vậy mới có thể biến tuyên ngôn về sản xuất sạch mà Chính phủ nước ta ký từ  tháng 9 năm 1999 và “chương trình hành động Quốc gia về sản xuất sạch hơn giai đoạn 2001-2005” trở thành hiện thực.

Monre Phương Anh-www.monre.gov.vn 

Kiên Giang: Sẽ có nguồn điện mới từ rác thải cho đảo Phú Quốc (12/2005)

 

Trường Đại học Cần Thơ và Viện tái chế bảo vệ môi trường của Cộng hòa Liên bang Đức vừa phối hợp tổ chức hội thảo để bàn giải pháp xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải tại huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang) nhằm bảo vệ môi trường, đồng thời giải quyết được một phần năng lượng thiếu hụt tại chỗ.

Các vấn đề như: nguồn vốn, mặt bằng để xây dựng nhà máy, đối tác đầu tư, các chính sách về ưu đãi đầu tư đã được tập trung thảo luận. Xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải là một đề tài nghiên cứu có tính khả thi và đã được áp dụng có hiệu quả tại một số nước ở châu Âu. Nguồn rác thải, lượng sinh khối trong sinh hoạt hàng ngày của nhân dân, thông qua nhà máy khí sinh học bằng Biogaz và máy đốt sinh khí sẽ tạo ra 2 sản phẩm: điện năng và phân bón hữu cơ. Đây là các sản phẩm rất thiết thực cho một huyện đảo vì không thể kéo điện lưới quốc gia ra đảo và hiện nay, mỗi năm Nhà nuớc phải bù lỗ cho Phú Quốc khoảng 23 tỷ đồng tiền điện, trong khi kinh phí đầu tư một nhà máy phát điện từ rác thải khoảng 2,5 triệu Euro (tương đương 50 tỷ đồng). Ngoài ra, với lượng rác thải (hơn 15.000 tấn/năm), nếu không có giải phát xử lý kip thời, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường trên đảo là rất lớn và sẽ ảnh hưởng đến việc phát triển du lịch.

Phương án xây dựng nhà máy phát điện từ rác thải tại huyện đảo Phú Quốc là rất cần thiết và mang tính khả thi cao.

Monre Hoàng Vân – www.monre.gov.vn

Xây dựng 1,2 triệu ha đất ngập nước và khu bảo tồn biển (12/2005)

Hà Nội (TTXVN) - Việt Nam đặt mục tiêu đến năm 2010 sẽ xây dựng gần 1,2 triệu ha đất ngập nước quốc gia và khu bảo tồn biển và phục hồi khoảng 50% diện tích rừng đầu nguồn đã bị suy thoái trong nhiều năm qua.

Tại hội thảo tư vấn quốc gia kế hoạch hành động đa dạng sinh học của Việt Nam, ngày 13/12 tại Hà Nội, các đại biểu cũng đặt mục tiêu đến 2010 trên 70% dân số thường xuyên được tiếp cận thông tin về đa dạng sinh học để giảm thiểu hành vi xâm hại tới môi trường sống.

Hội thảo đã đề xuất hệ thống 28 chương trình ưu tiên về bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó có 7 chương trình đã được Chính phủ phê duyệt thực hiện đến năm 2010 và 2015.

Đó là dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, phục hồi rừng đầu nguồn bị suy thoái nghiêm trọng, bảo vệ các loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao, phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên trên cạn, phát triển nguồn lợi thủy sản, bảo vệ các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc gia và phục hồi các hệ sinh thái đặc thù đã bị suy thoái nghiêm trọng.

Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngay từ năm 2006, các địa phương có nhiều diện tích đất rừng ngập mặn, rừng phòng hộ đầu nguồn phải ngăn chặn quyết liệt nạn phá rừng, tàn phá đa dạng sinh học, ưu tiên thực hiện đồng bộ các biện pháp kiểm soát và buôn bán các loài động thực vật quý hiếm có nguy cơ tuyệt chủng cao đồng thời áp dụng mạnh mẽ khung hình phạt hình sự đối với các tổ chức, cá nhân cố tình vi phạm, xâm hại đa dạng sinh học.

Bên cạnh đó, các địa phương cần đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ đa dạng sinh học, trong đó ưu tiên phát triển các mô hình quản lý môi trường dựa vào cộng đồng. Các Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Thủy sản, Khoa học và Công nghệ cũng cần nhanh chóng hoàn thiện các thể chế, chính sách và hệ thống pháp luật liên quan.

Hội thảo do Cục Bảo vệ môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường) phối hợp với Đại sứ quán Hà Lan tổ chức./.

Theo TTXVN

Thành lập Ủy ban Quốc gia vì sự phát triển bền vững (12/2005)

Thủ tướng đã quyết định thành lập Uỷ Ban Quốc gia về thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững của Việt Nam (2005-2014). Uỷ ban do một Phó thủ tướng phụ trách công tác văn xã làm Chủ tịch.

Các phó chủ tịch gồm Chủ tịch Uỷ ban quốc gia UNESCO của Việt Nam và thứ trưởng các Bộ Giáo dục và Đào tạo, Khoa học và Công nghệ, Tài nguyên và Môi trường, Văn hoá - Thông tin.

Uỷ ban có chức năng giúp Thủ tướng chỉ đạo thực hiện các hoạt động của Việt Nam trong khuôn khổ hoạt động của thập kỷ giáo dục vì sự phát triển bền vững của Liên Hợp Quốc.

Ngoài ra, Uỷ ban còn nghiên cứu và tư vấn cho Thủ tướng về các vấn đề liên quan đến chiến lược, chính sách và chương trình; thúc đẩy chương trình hợp tác giữa Việt Nam và UNESCO và điều phối hoạt động của các ngành giáo dục, văn hóa, khoa học, thông tin, môi trường và phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức tuyên truyền, nghiên cứu, đào tạo liên quan đến các hoạt động giáo dục vì sự phát triển bền vững.

(Theo TTXVN)

Sở TN&MT các địa phương được phép giữ lại 60% mức thu phí nước thải (12/2005)

(Mạng Monre.gov.vn, ngày 7/12/2005 10:42:54 AM)

 

Việc thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải sinh hoạt trong cả nước do công ty cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường các địa phương đảm nhiệm cùng với việc thu tiền nước sạch sử dụng. Mức phí nước thải sinh hoạt do Hội đồng nhân dân các địa phương tự quy định, với mức trần là 10% giá bán nước sạch chưa tính thuế. Đối với nước thải công nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh sẽ phải tự kê khai số phí của mình theo mẫu quy định và nộp cho Sở Tài nguyên môi trường sở tại thẩm định, thông báo nộp phí.

Trên cơ sở số phí thu được, các Sở Tài nguyên và Môi trường địa phương được phép giữ lại 60% số phí, bao gồm 20% phí để sử dụng cho công tác thu phí và 40% để sử dụng cho công tác duy tu, nạo vét kênh mương, tái đầu tư cho các dự án xử lý nước thải. Còn lại 40% phí phải nộp về Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam.

Dự thảo Luật Bảo vệ môi trường (sửa đổi) được Quốc hội thông qua, có hiệu lực thi hành vào tháng 7/2006 cũng quy định rõ việc thu phí bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh đó, việc thu phí như trên tạo điều kiện cho các địa phương đưa công tác quản lý môi trường đi vào nề nếp, thực hiện có kết quả Nghị định 67/CP/2003 về “Thu phí nước thải“. Bộ Tài nguyên và Môi trường cho biết, cả nước hiện có 45/64 tỉnh, thành phố đã thực hiên việc thu phí theo Nghị định 67/CP/2003, trong đó có 24 tỉnh thực hiện tốt và thu được cả 2 loại phí nước thải sinh hoạt, nước thải công nghiệp.

Tiến Hiếu - www.monre.gov.vn

Xả nước thải chứa chất phóng xạ, phạt 70 triệu đồng (12/2005)

 

(VietNamNet) - UBND TP.Hà Nội vừa ban hành quy định mới  về quản lý, khai thác và bảo vệ hệ thống thoát nước. Theo đó, sẽ xử phạt hành chính 60 - 70 triệu đồng đối với hành vi xả nước thải có chứa chất phóng xạ gây nhiễm xạ môi trường vượt mức cho phép.