HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG VÀ MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG NHẰM PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

 

PGS.TS. Phùng Chí Sỹ

Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường

 

1. ĐẶT VẤN ĐỀ̀

 

Công nghệ môi trường (CNMT) là các sản phẩm hoặc quá trình có thể hạn chế, phòng ngừa, giảm thiểu hoặc xử lý các tác động có hại gây ra do hoạt động của con người lên môi trường. CNMT còn bao gồm các quá trình sản xuất hiệu quả hơn, ít chất thải hơn hoặc tiêu thụ ít nguyên liệu hơn. CNMT còn bao gồm các phương pháp làm sạch môi trường ô nhiễm đang tồn tại hoặc tiêu huỷ an toàn hoặc tái chế chất thải (Nguồn : Cơ quan Môi trường Canađa).

 

CNMT là tổng hợp các biện pháp vật lý, hoá học, sinh học nhằm ngăn ngừa và xử lý các chất độc hại phát sinh từ quá trình sản xuất và hoạt động của con người. Công nghệ môi trường bao gồm các tri thức dưới dạng nguyên lý, quy trình và các thiết bị kỹ thuật thực hiện nguyên lý và quy trình đó (Nguồn : Website http://www.nea.gov.vn).

 

Theo các định nghĩa nêu trên "công nghệ môi trường" bao gồm "sản xuất sạch hơn" và "công nghệ xử lý chất thải cuối đường ống".

 

Theo định nghĩa của Chương trình môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP): ỎSản xuất sạch hơn (SXSH) là tiếp cận áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường đối với các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường".

 

Kỹ thuật xử lý cuối đường ống được hiểu là công nghệ xử lý khí thải, nước thải, chất thải rắn trước khi thải ra môi trường. Công nghệ xử lý chất thải bao gồm cả công nghệ tái sinh, tái chế, tái sử dụng các loại phế phẩm, phụ phẩm của quá trình sản xuất.

 

ở các nước phát triển, ngoài khái niệm "công nghệ môi trường" còn có 2 khái niệm "công nghệ xanh" và "công nghệ sạch".  "Công nghệ xanh" là công nghệ sản xuất có áp dụng các biện pháp công nghệ xử lý chất thải đảm bảo không thải ra môi trường các chất ô nhiễm với nồng độ vượt quá tiêu chuẩn cho phép. "Công nghệ sạch" là công nghệ sản xuất sử dụng nguyên liệu, nhiên liệu và các biện pháp kỹ thuật trong dây chuyền sản xuất nhằm đạt được mục đích thải ít chất thải nhất và chất thải ít chứa các thành phần gây ô nhiễm.

 

 

Ngành CNMT được phát triển thành một ngành kinh tế quan trọng tại nhiều quốc gia phát triển (Mỹ, Nhật, Canađa, Anh, Singapore, Đài Loan, Hàn Quốc ...) và một số quốc gia đang phát triển (Thái Lan, ấn Độ, Malaysia ...). Trong số các công nghệ đã được áp dụng, có nhiều công nghệ được sử dụng ổn định như :

 

-         -         Công nghệ xử lý nước thải : Các phương pháp cơ học, hóa học, hóa lý, hóa sinh, sinh học .

-         -         Công nghệ xử lý khí thải : Các phương pháp khô (buồng lắng, Xyclon, lọc tay áo, lọc tĩnh điện ...), các phương pháp ướt (hấp thu, ô xy hóa-khử ...).

-         -         Công nghệ xử lý chất thải rắn : Chôn lấp hợp vệ sinh, đóng rắn, hóa học, sinh học, tái sử dụng ...

 

Các công nghệ này đã được các công ty nước ngòai du nhập vào Việt Nam và đã phát huy tác dụng trong thực tế nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Việt Nam.

 

Sau 18 năm đổi mới (1986-2004), nền kinh tế Việt Nam đã đạt được những thành tựu nổi bật, phát triển với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định.  Ngoài những lợi ích kinh tế xã hội, sự phát triển đã, đang và sẽ sinh ra một khối lượng lớn chất thải, trong đó có nước thải, khí thải, chất thải rắn. Nếu không áp dụng công nghệ khống chế ô nhiễm thích hợp và hiệu quả thì các chất thải sinh ra sẽ gây tác động nghiêm trọng tới môi trường và sức khoẻ nhân dân. Vì vậy, đầu tư cho công nghệ phòng ngừa và xử lý ô nhiễm là vấn đề ưu tiên trong công tác quản lý môi trường.

 

Từ khi ban hành Luật bảo vệ môi trường đến nay, ngành CNMT Việt Nam đã có những bước đi ban đầu, tuy nhiên còn nhiều yếu kém cần khắc phục mới có thể theo kịp được nhịp độ phát triển của nền kinh tế và phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam.

 

Báo cáo này sẽ trình bày về hiện trạng áp dụng CNMT và một số định hướng nhằm phát triển CNMT  tại Việt Nam.

 

2. HIỆN TRẠNG VỀ ̀ QUẢN LƯ VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ MÔI TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM

 

2.1. Nghiên cứu về phát triển công nghệ môi trường ở cấp quốc gia

 

Trong giai đoạn 1976-2005, Bộ Khoa học và Công nghệ đã và đang thực hiện 5 chương trình nghiên cứu trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (BVMT), trong đó có nhiều đề tài, dự án đã hoàn thành và được ứng dụng hiệu quả trong thực tế. Tăng cường nghiên cứu khoa học và CNMT, đào tạo cán bộ, chuyên gia môi trường là giải pháp hỗ trợ để công tác BVMT đạt được kết quả ngày càng cao hơn.

 

- Trong Chương trình Khoa học Công nghệ (KH-CN) cấp nhà nước giai đoạn 1991-1995 ỎTài nguyên và Môi trườngÕ (KT-02) có một số đề tài liên quan đến công nghệ bao gồm: Ỏ Xây dựng và áp dụng một số quy trình công nghệ điển hình để xử lý ô nhiễm, bảo vệ môi trường tại một số cơ sở công nghiệp phía Nam (KT-02-04)Õ; giảm thiểu ô nhiễm tại Hà Nội, Hải Phòng, Việt Trì, Ninh Bình ...(KT-02-03); Ỏ Nghiên cứu tận thu, xử lý chất thải công nghiệp và một số công nghệ không (hoặc ít) chất thảiÕ (KT-02-06).

- Trong Chương trình KH-CN cấp nhà nước giai đoạn 1995-2000 ỎSử dụng hợp lý tài nguyên và Bảo vệ môi trườngÕ (KHCN-07) có 5 đề tài liên quan đến công nghệ bao gồm: làm sạch khu vực khai thác than vùng Hạ Long-Quảng Ninh (KHCN-07-06); giảm thiểu ô nhiễm tại một số khu công nghiệp và dân cư trọng điểm TP. Hồ Chí Minh và vùng lân cận (KHCN-07-10); giảm thiểu ô nhiễm do phát triển công nghiệp và đô thị Hà Nội (KHCN-07-11); Xử lý các chất siêu độc sinh thái trong công nghiệp và dân sinh (KHCN-07-15); Xử lý chất thải sinh ra từ các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ (KHCN-07-16).

- Trong Chương trình KH-CN cấp nhà nước giai đoạn 2001-2005 ỎBảo vệ Môi trường và phòng tránh thiên taiÕ có 02 đề tài liên quan đến công nghệ môi trường ỎNghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc xây dựng các chính sách và biện pháp giải quyết vấn đề môi trường ở các làng nghề Việt NamÕ  (KC.08.09) và "Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn nhằm đề xuất các chính sách, giải pháp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững kinh tế trang trại tại Việt Nam" (KC08.30).

 

Do tính cấp bách của vấn đề CNMT, trong thời gian qua Cục Bảo vệ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường (Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường trước đây) đã tổ chức nhiều hoạt động liên quan đến công nghệ môi trường:

- Soạn thảo và trình Chính phủ phê duyệt ỎKế hoạch Quốc gia về môi trường và phát triển bền vững 1991-2000Õ. Bản kế hoạch này đã đánh giá thực trạng môi trường Việt Nam, trình bày tóm tắt các cơ sở, hướng đi, những hoạt động ưu tiên trong lĩnh vực BVMT. Bản kế hoạch đã khuyến nghị Chương trình hành động gồm 3 thành phần : Bảo vệ, phục hồi và quản lý tài nguyên thiên nhiên; kiểm soát ô nhiễm công nghiệp và đô thị; nâng cao khuôn khổ thể chế về kế hoạch hoá, quản lý và BVMT.

- Giao cho Viện Môi trường và Tài nguyên (Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh) thực hiện nhiệm vụ ỎTổng quan và đánh giá hiện trạng công nghệ môi trường Việt NamÕ (1996-1997).

- Soạn thảo ỎKế hoạch hành động quốc gia về môi trường 1996-2000Õ từ năm 1993 đến tháng 4 năm 1995. Đây là văn bản đầu tiên về kế hoạch hành động quốc gia về môi trường ở Việt Nam. Nội dung chính của bản kế hoạch này là : Hiện trạng và xu thế biến đổi môi trường tại Việt Nam; Chương trình, hành động và các mục tiêu cần đạt được; Xác lập ưu tiên và các giải pháp thực hiện, bao gồm cả xây dựng thể chế.

- Soạn thảo và trình  Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 26/06/2001 về Ỏ Tăng cường công tác bảo vệ môi trường trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nướcÕ. Chỉ thị đã nêu ra những yếu kém chủ yếu trong công tác BVMT thời gian qua và nêu ra những tư tưởng, quan điểm chỉ đạo cơ bản trong công tác môi trường. Đó là : BVMT là sự nghiệp của toàn đảng, toàn dân và toàn quân; BVMT là một nội dung cơ bản không thể tách rời trong kế hoạch phát triển KTXH của mọi cấp, mọi ngành, là cơ sở quan trọng bảo đảm cho phát triển bền vững và thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; Phòng ngừa và ngăn chặn ô nhiễm là nguyên tắc chủ đạo kết hợp với xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường và bảo tồn thiên nhiên; Kết hợp phát huy nội lực với tăng cường hợp tác quốc tế trong BVMT và phát triển bền vững.

- Phối hợp với các bộ/ngành liên quan chủ trì thực hiện 04 đề án liên ngành nhằm thực hiện Chỉ thị 36-CT/TW của Bộ Chính trị về : Kiện toàn cơ quan quản lý nhà nước về BVMT; Đưa nội dung bảo vệ môi trường vào hệ thống giáo dục quốc dân; Xây dựng kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm nghiêm trọng; Tăng cường và đa dạng hoá đầu tư cho bảo vệ môi trường.

- Xây dựng dự thảo ỎChiến lược Quốc gia về bảo vệ môi trường đến năm 2010Õ và tổ chức Hội thảo trong 2 ngày 27-28/08/1999 tại Hà Nội để lấy ý kiến đóng góp của các ban, ngành, địa phương. Nội dung cơ bản của Hội thảo là : Các quan điểm và nguyên tắc chỉ đạo; các mục tiêu; các hành động chiến lược về các lĩnh vực : Sử dụng bền vững nguồn nước; BVMT không khí; Quản lý chất thải rắn; Bảo vệ đa dạng sinh học; khai thác bền vững tài nguyên biển; Sử dụng bền vững tài nguyên đất; Bảo vệ môi trường nông nghiệp và phát triển nông thôn; bảo vệ môi trường đô thị và KCN; Phát triển giáo dục và nâng cao nhận thức môi trường. Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 02 tháng 12 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020. Văn bản có hiệu lực từ ngày 24 tháng 12 năm 2003. Kèm theo Quyết định này là Danh mục 36 chương trình, kế hoạch, đề án và dự án ưu tiên cấp quốc gia về BVMT.

- Cục Môi trường đã chủ trì soạn thảo Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất sạch hơn 2001-2005 và tổ chức hội thảo ngày 12/12/2000 để lấy ý kiến đóng góp của các nhà khoa học và quản lý. Kế hoạch này đã được Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường phê duyệt ngày 06 tháng 05 năm 2002.

- Cục Môi trường phối hợp với Viện Môi trường và Tài nguyên tổ chức Hội thảo toàn quốc lần thứ nhất về ỎCông nghệ Môi trườngÕ tại Hà Nội từ 16-19/05/1997 và in Kỷ yếu hội thảo (NXB Nông nghiệp, Hà Nội, 1998, 310 trang).

- Cục Môi trường tổ chức Hội nghị Môi trường toàn quốc năm 1998 và in Tuyển tập hội nghị (NXB Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1999, 1.500 trang).

- Bộ KHCN&MT phối hợp với Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tổ chức ỎDiễn đàn các nhà quản lý về trách nhiệm ngăn ngừa ô nhiễm công nghiệpÕ ngày 6/3/1999 tại Huế.

- Bộ trưởng Bộ KHCN&MT ra Quyết định số 62/2001/QĐ-BKHCNMT ngày 21/11/2001 về việc ban hành văn bản kỹ thuật đối với lò đốt chất thải y tế, kèm theo là 10 văn bản kỹ thuật làm cơ sở cho việc đánh giá, thẩm định lò đốt chất thải y tế.

 

2.2. Nghiên cứu về phát triển công nghệ môi trường ở cấp địa phương

 

Một số hoạt động cấp địa phương liên quan đến quản lý và triển khai CNMT là :

 

- Tạp chí ỎThông tin Khoa học - Kỹ thuậtÕ thuộc Trung tâm thông tin khoa học công nghệ, Sở KHCN&MT TP. Hồ Chí Minh (TP.HCM) đã tổ chức giới thiệu các đơn vị hoạt động trong lĩnh vực khoa học công nghệ; giới thiệu các công nghệ thiết bị trong nước thông qua ỎChợ thiết bị/công nghệÕ; cung cấp cho các doanh nghiệp danh mục các thiết bị, công nghệ có thể cung cấp, chuyển giao từ nguồn trong và ngoài nước (trong đó có công nghệ môi trường) thông qua dịch vụ ỎHỏi – ĐápÕ. Hiện nay tại ỎChợ thiết bị/công nghệÕ  có gần 60 đơn vị tham gia trưng bày giới thiệu chào bán 208 thiết bị công nghệ sản xuất;77 thiết bị, công nghệ hỗ trợ sản xuất; 59 kết quả đề tài nghiên cứu có thể chuyển giao áp dụng; 72 dịch vụ và sản phẩm thông tin công nghệ. ỎChợ thiết bị/công nghệÕ  mở cửa hàng ngày từ 8:00 đến 17:00 h (trừ thứ 7, chủ nhật) tại Trung tâm thông tin khoa học công nghệ (số 79 Trương Định, P. Bến Thành, Q.1, TP.HCM).

 

- Sở KHCN&MT TP. HCM phát hành ỎSổ tay hướng dẫn Xử lý ô nhiễm môi trường trong sản xuất tiểu thủ công nghiệp (TTCN)- TP.Hồ Chí Minh, 1998-1999Õ bao gồm Ỏ Những vấn đề chungÕ (Tập 1, 61 trang); ỎXử lý khói thải lò hơiÕ (Tập 2, 28 trang ),Õ Xử lý ô nhiễm ngành thuộc daÕ (Tập 3,19 trang), ỎXử lý ô nhiễm ngành tẩy nhuộmÕ (Tập 4, 27 trang ), ỎXử lý ô nhiễm ngành nấu đúc kim loạiÕ (Tập 5, 21 trang), ỎXử lý ô nhiễm ngành cán luyện cao suÕ (Tập 6, 20 trang), ỎXử lý ô nhiễm ngành chế biến thực phẩmÕ (Tập 7, 36 trang), ỎXử lý ô nhiễm ngành mạ điệnÕ (Tập 8, 47 trang), ỎXử lý ô nhiễm ngành sản xuất giấy tái sinhÕ (Tập 9, 18 trang), ỎXử lý ồn rungÕ (Tập 10, 18 trang) . Trong các Sổ tay hướng dẫn đã trình bày về đặc trưng nguồn ô nhiễm; tổng quan về các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm; giới thiệu các giải pháp xử lý ô nhiễm đã được ứng dụng trong thực tế; giá thành và nguồn cung cấp vật tư, thiết bị; danh mục các đơn vị tư vấn.

 

Sở KHCN&MT TP. HCM còn phát hành một số ấn phẩm nhằm hỗ trợ cho các doanh nghiệp lựa chọn và triển khai công nghệ môi trường, bao gồm :

- ỎSách xanh – Giới thiệu các đơn vị đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường (Tập I)Õ, 2001-2002, 36 trang.

- Tài liệu hướng dẫn Ỏ Sản xuất sạch hơn – Những điều bạn muốn biết nhưng không thể hỏiÕ, TP.HCM, 1998-1999, 18 trang.

- Giới thiệu một số công trình điển hình về xử lý ô nhiễm trong sản xuất công nghiệp và TTCN tại TP. HCM, 2/1999, 44 trang.

- Giới thiệu thiết bị, công nghệ mới ngành Dệt-Da-May và Xử lý môi trường, 12/2000, trang 95-171.

- Dự án giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp TP. HCM (Dự án TF/VIE/97/001)- Các trường hợp nghiên cứu điển hình về sản xuất sạch hơn ngành chế biến thực phẩm, TP. Hồ Chí Minh, 9/1999, 36 trang.

- Dự án giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp TP. HCM (Dự án TF/VIE/97/001)- Các trường hợp nghiên cứu điển hình về sản xuất sạch hơn ngành Dệt-Nhuộm, TP. Hồ Chí Minh, 9/1999, 30 trang.

- Dự án giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp TP. HCM (Dự án TF/VIE/97/001)- Các trường hợp nghiên cứu điển hình về sản xuất sạch hơn ngành Giấy-Bột giấy, TP. Hồ Chí Minh, 9/1999, 32 trang.

 

Những kinh nghiệm hoạt động tại TP. HCM nhằm phát triển công nghệ môi trường trong những năm qua sẽ là những bài học quý giá trong quá trình thực hiện nhiệm vụ này trên quy mô toàn quốc.

 

2.3. Hợp tác Quốc tế trong lĩnh vực môi trường:

 

BVMT tại Việt Nam gắn liền với các hoạt động hợp tác song phương và đa phương. Hiện nay Việt Nam đã ký 15 Công ước Quốc tế về BVMT và phát triển bền vững. Các hợp tác quốc tế chủ yếu trong thời gian qua là :

- Hợp tác giữa các nước ASEAN trong lĩnh vực BVMT.

- Hợp tác với UNDP trong 4 lĩnh vực chính : Quản lý môi trường, bao gồm Chương trình nghị sự 21 về phát triển chiến lược, năng lựcvà đào tạo về môi trường; quản lý thiên tai; đa dạng sinh học và năng lượng bền vững.

- Hợp tác với ADB về quản lý biển ven bờ và giảm thiểu ô nhiễm.

-  Hợp tác với Ngân hàng Thế giới trong lĩnh vực xử lý nước thải, đào tạo cán bộ với tổng kinh phí vay là 15 triệu USD trong thời gian 5 năm.

- Hợp tác với Canađa (Chương trình môi trường Việt Nam- Canađa (VCEP)) với kinh phí  tài trợ khoảng 2 triệu USD/năm.

- Hợp tác với DANIDA trong lĩnh vực đa dạng sinh học, quản lý chất thải rắn, quản lý biển ven bờ với kinh phí tài trợ khoảng 50 triệu DKK/năm.

- Hợp tác với Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy điển (SIDA), Nhật Bản (JICA) trong lĩnh vực sản xuất sạch hơn, vệ sinh môi trường, quản lý chất thải, quản lý biển ven bờ .

 

Kinh phí ODA trong lĩnh vực môi trường đạt tới 2 tỷ USD trong giai đọan 1985-2000 và tăng nhanh từ năm 1996.

 

3. HIỆN TRẠNG ÁP DỤNG CÔNG NGHỆ ̣ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM

 

3.1. Hiện trạng áp dụng công nghệ môi trường tại các đô thị :

 

Tính đến năm 2003, nước ta có 656 đô thị, trong đó có 5 thành phố lớn do Trung ương quản lý, 81 thành phố, thị xã cấp tỉnh và hơn 570 thị trấn cấp huyện với tổng dân số 20,0 triệu người (chiếm 25% dân số toàn quốc). Dự báo đến năm 2010 sẽ có 1.226 đô thị, với tổng số dân 30,4 triệu người (chiếm 33% dân số toàn quốc) và đến năm 2020 sẽ có 1.953 đô thị, với tổng số dân 46,0 triệu người (chiếm 45% dân số toàn quốc). Quá trình đô thị hóa nhanh sẽ gia tăng lượng chất thải bao gồm khí thải giao thông, nước thải và rác thải sinh hoạt.

 

Vấn đề ô nhiễm do bụi và tiếng ồn tại hầu hết các đô thị đang là vấn đề cấp bách. Tại các đô thị lớn (Hà Nội, TP. HCM), đã có những khu vực bị ô nhiễm do khí CO, chất hữu cơ bay hơi (VOC). Nguyên nhân chính là do gia tăng quá mức lượng ô tô và xe máy do chất lượng đường sá yếu kém và do tỉ lệ xe cũ cao (số lượng xe có 10-20 năm sử dụng chiếm 73%). Tính đến tháng 6/2003, Việt Nam có khoảng 600.430 ô tô,10.410.000 xe máy. Tại Hà Nội và TP. HCM, trong 2 năm 2000-2001, số ô tô tăng 35,5%, số xe máy tăng 61,5%/năm). Ngoài những biện pháp quản lý, cải thiện chất lượng đường sá, mở rộng đường, tăng tỷ lệ người đi xe buýt công cộng, thay xăng pha chì  ... hiện nay đã có một số nghiên cứu công nghệ trong nước và nghiên cứu ứng dụng công nghệ nước ngoài nhằm giảm thiểu ô nhiễm do khí thải giao thông. Khoa Kỹ thuật giao thông (Trường đại học Bách khoa TP. HCM) đã nghiên cứu phương án thay thế nhiên liệu xăng bằng khí hóa lỏng LPG để chạy thử xe Taxi KIA-PRIDE, xe máy Wave 110 cc  tại TP. HCM  nhằm giảm ô nhiễm;  Phân Viện Vật liệu tại TP. HCM đã chế tạo và thử nghiệm chất xúc tác Cu, Co, Ni, La trên chất mang là Ôxýt nhôm hoặc Bentonit để chuyển hóa CO sinh ra từ xe Babetta; Viện Khoa học vật liệu đã nghiên cứu chế tạo và thử nghiệm chất xúc tác chứa đất hiếm (Monolith-autocatalyst) để chuyển hóa CO, các chất hữu cơ bay hơi (VOC) sinh ra từ xe Mazda ... Ngoài ra, trong thời gian qua đã có một số công ty nước ngoài (Nga, Mỹ ...) đến thử  nghiệm công nghệ giảm thiểu ô nhiễm do khí thải giao thông tại TP. HCM. Cho đến nay chưa có công nghệ nào được triển khai vào thực tế.

 

Vấn đề thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt tại tất cả các đô thị chưa được triển khai. Hiện nay, tại một số thành phố lớn (TP. Hà Nội, TP.HCM, TP. Đà Nẵng ...) đang thực hiện các dự án cải tạo kênh rạch trong nội thị, di dời nhà ổ chuột, kè bờ sông, giải tỏa 2 bờ sông, xây đường nhựa có thảm cỏ ngăn cách với bờ sông ... . Tại TP. HCM đã và đang thực hiện các dự án ỎCải thiện môi trường TP. HCMÕ bằng vốn vay Ngân hàng Châu á (ADB), ỎQuy hoạch cải thiện kênh Tân Hóa-Lò GốmÕ do Chính phủ Bỉ tài trợ, ỎCải tạo kênh Nhiêu Lộc -Thị NghèÕ do vay Ngân hàng thế giới (WB) ... Tại Hà Nội, đã và đang thực hiện dự án ỎCải tạo sông Kim NgưuÕ, ỎCải tạo  sông Tô LịchÕ ... Giai đoạn tiếp theo nước thải sinh hoạt tại Hà Nội và TP. HCM sẽ được bơm về một số hồ tự nhiên hoặc khu vực đất trũng để xử lý bằng phương pháp sinh học.  Tại các đô thị khác, vấn đề quy hoạch hệ thống thu gom, xử lý nước thải sinh hoạt  đã được phê duyệt, nhưng chưa được triển khai do thiếu nguồn kinh phí. Hiện nay, công nghệ xử lý nước thải sinh hoạt và nước ao hồ, kênh rạch ô nhiễm tại các đô thị mới được triển khai ở quy mô Pilot . Công ty HAECON (Bỉ) đã nghiên cứu công nghệ thích hợp (bể lọc đệm sinh học cố định (Fixed Bed bioreactor)) để xử lý nước thải sinh hoạt cho các cụm dân cư nhỏ (khoảng vài trăm đến vài nghìn người). Công nghệ này có ưu  điểm nổi bật là vật liệu đơn giản ,tốn ít mặt bằng, nên đã được triển khai tại nhiều nước trên thế giới.

 

Thực hiện Chỉ thị số 199/TTg ngày 3/4/1997 của Thủ tướng Chính phủ về các biện pháp cấp bách trong quản lý chất thải rắn ở các đô thị và khu công nghiệp, các địa phương đã tiến hành quy hoạch hệ thống bãi chôn lấp chất thải rắn sinh hoạt. Hiện nay đã có 32 đô thị có quy hoạch xây dựng bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh, trong đó có 13 đô thị đang xây dựng. Các công nghệ áp dụng là chôn lấp hợp vệ sinh và sản xuất phân compost. Tuy nhiên, cho đến nay rất ít địa phương có được khu xử lý rác đạt tiêu chuẩn vệ sinh.

 

 

Một số ví dụ về hiện trạng công nghệ xử lý rác là :

- Các địa phương đã triển khai nghiên cứu quy hoạch hệ thống bãi chôn lấp rác hợp vệ sinh tới đô thị cấp huyện là Tây Ninh, Đắc Lắc, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Thuận,Ặ

- Một số địa phương áp dụng công nghệ chôn lấp hợp vệ sinh là TP. HCM, Hà Nội, Đà Nẵng, Long An, Vĩnh Long, Bến Tre ...

- Một số địa phương áp dụng công nghệ  ủ yếm khí kết hợp sản xuất phân bón hữu cơ (TP. Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai); h. Hải Ninh, tỉnh Ninh Thuận .. .

- Một số địa phương áp dụng công nghệ ủ hiếu khí kết hợp sản xuất phân bón hữu cơ là Nhà máy xử lý phân rác Cầu Diễn (Hà Nội), Nhà máy phân rác Bà Rịa(Tỉnh Bà Rịa –Vũng Tàu), Nhà máy phân rác Buôn Ma Thuột (Tỉnh Đắc Lắc) Ặ

 

Ngoài ra, hiện nay có một số công nghệ đang được triển khai nhằm giảm thiểu ô nhiễm gây ra từ các bãi rác :

- Xử lý rác thải bằng giun (Perionyx Excavalus) được nhập về Philippines (Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (TTKHTN &CNQG) thực hiện).

- Xử lý rác thải bằng ruồi đen (Đại học Nông Lâm TP. HCM thực hiện).

- Xử lý mùi hôi sinh ra từ bãi rác bằng Chế phẩm EM .

- Chế tạo các thiết bị xử lý rác công suất 50-1.000 tấn rác/ngày theo phương pháp sinh học (do Công ty Cổ phần An Sinh thực hiện).

- Xử lý nước rỉ ra từ bãi rác Đông Thạnh (TP. HCM) và Nam Sơn (Hà Nội).

 

 

3.2. Hiện trạng áp dụng công nghệ môi trường tại khu công nghiệp :

 

Trong những năm gần đây tốc độ hình thành và phát triển các khu công nghiệp (KCN), khu chế xuất (KCX) tại Việt Nam xảy ra rất nhanh. Tính đến tháng đầu năm 2003 đã có 76 KCN, KCX được thành lập với tổng diện tích 15.216 ha, trong đó vùng Đông Nam Bộ chiếm 53% về số khu công nghiệp và 65.5% về diện tích đất; Duyên hải miền Trung tương ứng là 18% và 13%; đồng bằng sông Hồng là 18% và 14%; Trung du, miền núi Bắc Bộ, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long chỉ có 10,5% và 7,5%.  Tính đến quý I năm 2004 đã có 93 KCN, KCX được Chính phủ phê duyệt với tổng diện tích 18.630 ha.

 

Ngoài những lợi ích kinh tế xã hội, sự phát triển các KCN, KCX sinh ra một khối lượng lớn nước thải, khí thải, chất thải rắn gây tác động nghiêm trọng tới môi trường và sức khỏe nhân dân trong khu vực.

 

Trong thời gian qua đã có 18/76 KCN, KCX áp dụng công nghệ xử lý nước thải tập trung như  KCN Nomura (Hải Phòng), KCN Suối Dầu (Khánh Hòa), các KCN Biên Hòa 2, Amata, Loteco, Gò Dầu (Đồng Nai); các KCX Tân Thuận, Linh Trung, các KCN Tân Tạo, Lê Minh Xuân (TP. HCM); các KCN Sóng Thần I, Sóng Thần II, Việt Hương, Đồng An, Việt Nam-Singapore, Bình Đường (tỉnh Bình Dương); KCN Hòa Hiệp (Phú Yên) ... . Nhìn chung việc xử lý nước thải trong các KCN chưa được coi trọng, ngay cả các KCN có trạm xử lý nước thải tập trung nhưng việc vận hành cũng chưa tốt, dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi  trường ngày càng gia tăng.

 

Hiện nay, chất thải rắn công nghiệp và chất thải nguy hại từ tất cả các KCN, KCX chưa được thu gom và xử lý. Một số khu xử lý sẽ hình thành trong những năm tới là:

- Khu xử lý chất thải công nghiệp đầu tiên trên diện tích 2,2 ha (trong số 100 ha được quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải trong thời hạn 50 năm) thuộc địa bàn 2 xã Giang Điền và An Viễn (huyện Thống Nhất) do Công ty phát triển KCN Biên Hòa – SONADEZI (Đồng Nai) xây dựng.

- KCN xử lý chất thải (kể cả chất thải công nghiệp và sinh hoạt) tại xã Tân Thành, huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An  trên diện tích 1760 ha do Liên doanh giữa Công ty cổ phần Đức Hạnh và Công ty Môi trường đô thị TP.HCM xây dựng.

 

Khả năng xây dựng mô hình KCN thân thiện môi trường đã được triển khai tại một số khu công nghiệp như KCN Đức Hòa 2, KCN Biên Hòa 2.

 

3.3. Hiện trạng áp dụng công nghệ môi trường tại các cơ sở sản xuất quy mô lớn (nằm ngoài khu công nghiệp):

 

3.3.1. Sản xuất sạch hơn

 

Trong những năm qua sản xuất sạch hơn (SXSH) ngày càng được các nhà quản lý môi trường và các doanh nghiệp quan tâm như một công cụ hữu hiệu nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường tại Việt Nam. Các hoạt động chính liên quan đến SXSH là :

- Trong khuôn khổ Dự án UNIDO-SECO (US/VIE/96/023), từ năm 1998  Trung tâm sản xuất sạch Việt Nam đã ra đời. Dự án được thực hiện thông qua 2 giai đoạn (giai đoạn 1 : 1999-2000; giai đoạn 2 : 2001-2003). Ngoài các hoạt động giáo dục đào tạo, nâng cao nhận thức môi trường, Dự án đã và đang triển khai trình diễn SXSH tại 50 doanh nghiệp bao gồm các ngành dệt, giấy, chế biến thực phẩm, gia công kim loại ... tại Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Nam Định, Ninh Bình, Phú Thọ ...

- Thông qua Dự án ỎGiảm thiểu ô nhiễm công nghiệp –sản xuất sạch hơnÕ do UNIDO và SIDA (Thụy Điển) tài trợ đã có 6 doanh nghiệp tại TP. HCM được trình diễn các giải pháp SXSH bao gồm Nhà máy mì ăn liền Thiên Hương, Công ty thực phẩm VISAN,  Công ty giấy Xuân Đức,  Công ty giấy Linh Xuân,  Công ty dệt Phước Long, Công ty dệt nhuộm Thuận Thiên.

- Trong khuôn khổ Dự án UNDP về giảm thiểu ô nhiễm công nghiệp ở Phú Thọ (VIE/95/019) và Đồng Nai (VIE/95/053) đã có trên 10 doanh nghiệp được tham gia trình diễn các giải pháp SXSH.

- Dự án VCEP (gai đoạn 2) đang hỗ trợ các Sở KHCN &MT các TP. Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, tỉnh Bình Dương triển khai các giải pháp SXSH đối với các ngành gốm sứ,  chế biến mủ cao su, giấy tái sinh, chế biến thủy sản, dệt nhuộm, thép ...

- Tháng 9/1999 Chính phủ Việt Nam đã ký tuyên ngôn về SXSH. Kế hoạch hành động quốc gia về SXSH (giai đoạn 2001-2005) đã được Bộ KHCN &MT phê duyệt ngày 06 tháng 05 năm 2002.

- Trong thời gian qua Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường, các Sở KH&CN, các Sở TN&MT TP. HCM, Long An, Cà Mau, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương ... đã đầu tư kinh phí cho các cơ quan khoa học hỗ trợ các doanh nghiệp triển khai các giải pháp SXSH. Một số doanh nghiệp đã tự đầu tư kinh phí để triển khai các giải pháp SXSH tại cơ sở của mình.

 

3.3.2. Công nghệ xử lý khí thải

 

Các nguồn gây ô nhiễm không khí tại Việt Nam chủ yếu phát sinh từ các nhà máy nhiệt điện, xi măng, phân bón, hóa chất, tôn mạ kẽm ... Trong thời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp áp dụng công nghệ xử lý bụi, khí thải được thiết kế chế tạo tại Việt Nam hay nhập từ nước ngoài. Có thể liệt kê một số ví dụ sau đây :

 

-  Hệ thống xử lý khí thải tại Nhà máy (NM) nhiệt điện Formosa (KCN Nhơn Trạch 3, tỉnh Đồng Nai) .

- Hệ thống xử lý khí thải lò hồ quang (NM thép Tân Bình, NM thép Thủ Đức, NM thép Tân Thuận (TPHCM), NM thép Biên Hòa ...). Công nghệ này do Công ty Thụy Sỹ và ấn Độ chuyển giao. Thời gian gần đâyViện Bảo hộ Lao động, Viện Mỏ-Luyện kim, Viện thiết kế công nghiệp hóa chất đã nghiên cứu, triển khai công nghệ tương tự tại Việt Nam.

- Xử lý bụi và khí thải tại các nhà máy sản xuất phân bón và hóa chất (Super Photpat Lâm Thao, NM Super Phosphat Long Thành, NM hóa chất Tân Bình, NM Hóa chất Biên Hòa, NM Cao su Sao Vàng ...).

- Xử lý khí thải chế biến hạt điều (NM chế biến hạt điều Long An, NM chế biến hạt điều Tây Ninh, NM chế biến hạt điều SACAFA ...).

- Xử lý khí thải sản xuất bột giặt (NM bột giặt TICO, DASO, LIX, NM bột giặt Cần Thơ, NM bột giặt VISO ...).

- Xử lý khí thải nhà máy thuốc lá (NM Thuốc lá Thăng Long; NM thuốc lá Vĩnh Hội, Sài Gòn, NM thuốc lá Đồng Nai, NM thuốc lá Renold-Đà Nẵng...).

- Hệ thống xử lý khí thải nồi hơi (XN dược phẩm 26, Công ty dệt Gia Định, Công ty PESCO, Công ty dệt nhuộm Thuận Thiên ...).

- Xử lý khí thải tôn mạ kẽm (Công ty Tôn POSVINA , Công ty Tôn Phương Nam..)

- Xử lý khí thải xi măng (NM Xi măng Hà Tiên, Sao Mai, Hiệp Phước, Nghi Sơn, Hoàng Mai, Hoàng Thạch ...).

- Xử lý khí thải pha chế thuốc BVTV (NM thuốc trừ sâu Sài Gòn, Bình Triệu, KOSVIDA, Cần Thơ, Huế ...).

- Xử lý khí thải tại các NM chế biến thức ăn gia súc (CP Group, Cargil ...).

 

Thực tế hoạt động cho thấy các hệ thống xử lý khí thải đạt hiệu quả chưa cao do trình độ thiết kế, chế tạo, chất lượng thiết bị, trình độ công nhân vận hành, ý thức bảo vệ môi trường của chủ doanh nghiệp ... chưa cao.

 

3.3.3. Công nghệ xử lý nước thải

 

Nguồn gốc phát sinh nước thải chủ yếu tại Việt Nam là chế biến thực phẩm, dệt nhuộm, giấy, chế biến mủ cao su, xi mạ. Trong thời gian qua đã có nhiều doanh nghiệp áp dụng công nghệ xử lý nước thải thải được thiết kế chế tạo tại Việt Nam hay nhập từ nước ngoài. Có thể liệt kê một số ví dụ sau đây:

- Xử lý nước thải chế biến tinh bột khoai mì (NM tinh bột khoai mì Sông Bé-Singapore, Công ty khoai mì Tây Ninh-Tapioca, VEDAN ...).

- Xử lý nước thải sản xuất bia, nước giải khát (Công ty Coca Cola (Đà Nẵng), NM bia Huế, NM Bia Heneiken (TPHCM), NM bia Henninger (Vĩnh Phúc), NM bia San Miguel (Khánh Hòa)...).

- Xử lý nước thải nhà máy đường (NM đường Bourbon Tây Ninh, Nhà máy đường Biên Hòa (tại Tây Ninh), Công ty Men Mauri-La Ngà, Nhà máy đường La Ngà , NM đường Trị An (Đồng Nai) ...)

- Xử lý nước thải dệt nhuộm (NM dệt 8-3 (Hà Nội); Công ty dệt Việt Thắng (TPHCM), Công ty dệt SY Vina, XN dệt Thế Hòa (Đồng Nai), XN dệt Long An ...).

- Xử lý nước thải sản xuất giấy (Công ty giấy Tân Mai, Công ty giấy Đồng Nai (Đồng Nai), Công ty giấy Bãi Bằng (Phú Thọ)...). 

- Hệ thống xử lý nước thải dược phẩm ( XNLH Dược Hậu Giang, Nhà máy Capsule Vĩnh Long ... ).

- Xử lý nước thải cơ khí, xi mạ (Công ty Liên doanh nhôm Việt-Nhật (TPHCM), Công ty Liên Doanh Ô tô VISUCO, Công ty Fujitsu (Đồng Nai), Công ty Phụ tùng xe máy Goshi-Thăng Long (Hà Nội)  ...).

- Xử lý nước thải chế biến mủ cao su (Công ty cao su Tân Biên, Công ty cao su Vên Vên (Tây Ninh), Công ty cao su Đồng Phú, NM chế biến mủ cao su Long Thành (Đồng Nai), NM chế biến mủ cao su Cua Paris (Bình Dương)...).

 

Thực tế hoạt động cho thấy, trừ một số hệ thống xử lý tại doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, hầu hết các hệ thống xử lý nước thải đạt hiệu quả chưa cao do trình độ thiết kế, chế tạo, chất lượng thiết bị, trình độ công nhân vận hành, ý thức bảo vệ môi trường của chủ doanh nghiệp ... chưa cao

 

3.3.4. Công nghệ xử lý chất thải rắn và chất thải nguy hại:

 

Chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại phát sinh từ các nhà máy sản xuất linh kiện điện tử, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật, pin ắc-quy, cặn vệ sinh bồn dầu và tàu dầu ... Ngoài các dự án xây dựng các khu liên hợp xử lý tập trung chất thải rắn công nghiệp, chất thải nguy hại, trong thời gian qua đã có một số công ty đầu tư hệ thống xử lý chất thải rắn. Một số ví dụ áp dụng công nghệ thiêu hủy chất thải như sau:

 

- Lò đốt chất thải rắn chứa dầu sinh ra từ quá trình rửa tàu (Công ty Sông Thu (Bộ Quốc phòng) xây dựng).

- Xử lý, tiêu hủy thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) (DDT, Vofatox là các loại thuốc BVTV cấm sử dụng còn tồn đọng) (Công ty TNHH xử lý chất thải công nghiệp và tư vấn môi trường Văn Lang (TP. Hồ Chí Minh).

- Lò đốt chất thải rắn thuốc BVTV của Công ty Vật tư nông nghiệp Tiền Giang  do Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng và Tư vấn Công nghệ Môi trường (Viện Cơ học ứng dụng) thiết kế, lắp đặt và chế tạo.

- Lò đốt chất thải công nghiệp tại Công ty Formosa (50 kg/h), Công ty Thái Tuấn (100 kg/h) (Tây Ninh) (Do Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường thiết kế chế tạo).

 

3.4. Hiện trạng công nghệ môi trường tại các cơ sở sản xuất quy mô vừa và nhỏ:

 

Theo Quy định tiêu chí tạm thời xác định doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) ngày 20/06/1998 của Chính phủ Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, DNV&N là các doanh nghiệp có vốn điều lệ dưới 5 tỉ đồng (tương đương 300.000 USD) và số lao động trung bình hàng năm dưới 200 người là các DNV&N.

 

Theo số liệu thống kê tính đến 30-6-1998 nước ta có 562.357 cơ sở sản xuất công nghiệp, trong đó có 569 doanh nghiệp nhà nước trung ương, 1.252 doanh nghiệp nhà nước địa phương, 559.706 doanh nghiệp ngoài quốc doanh, 830 doanh nghiệp đầu tư  nước ngoài. Trong số các cơ sở sản xuất công nghiệp có gần 98% là cơ sở cá thể có quy mô vừa và nhỏ. Theo thống kê chưa đầy đủ, vốn kinh doanh của các DNV&N chiếm khoảng 20% tổng số vốn kinh doanh của mọi thành phần kinh tế trong cả nước, chiếm 24-25 % về GDP và 25 -26 % về lực lượng lao động cả nước (khoảng 8 triệu người).

 

Đặc trưng của loại hình sản xuất này là phân tán rải rác trong các khu dân cư đô thị, nông thôn; công nghệ thủ công hoặc bán thủ công, máy móc thiết bị lạc hậu, mặt bằng hẹp, vốn đầu tư ít. Vì vậy, nhiều cơ sở sản xuất quy mô nhỏ  đã gây ô nhiễm cho các khu vực dân cư xung quanh.

 

Kết quả điều tra, khảo sát tại một lĩnh vực sản xuất quy mô vừa và nhỏ gây ô nhiễm điển hình (chế biến tinh bột khoai mì, giết mổ gia súc, chế biến thủy sản, chế biến chè, sản xuất tơ tằm, chế biến mủ cao su, dệt nhuộm Ặ) tại các địa phương ở Việt Nam (Thừa Thiên-Huế, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Tây Ninh, Đồng Nai, TP. HCM Ặ) cho thấy tình hình ô nhiễm do nước thải, khí thải, mùi hôi, chất thải rắn Ặ tại phần lớn các DNV&N là rất nghiêm trọng.

 

Trong thời gian qua đã có một số nghiên cứu ứng dụng công nghệ thích hợp nhằm giảm thiểu ô nhiễm sinh ra từ các DNV&N. Một số ví dụ là :

 

- Xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học yếm khí (bể tự hoại bằng nhựa tái sinh).

- Xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học yếm khí kết hợp với hiếu khí (do các Công ty URBAN WING Inc., NISHIHARA NEO và tổ chức JAVITACHS của Nhật Bản thử nghiệm tại Việt Nam).
- Xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học hiếu khí (do Công ty RedFox Environmental Services, Inc (Mỹ) áp dụng tại Việt Nam).
- Xử lý nước thải chăn nuôi bằng phương pháp hóa lý (do Viện Hóa học Công nghệ ứng dụng).
- Xử lý mùi hôi từ cơ sở nấu mỡ bò, tẩy lông gà lông vịt bằng ôzôn (Do Công ty DX nhập thiết bị từ Mỹ và triển khai)
- Sử dụng chế phẩm E.M để xử lý mùi hôi (Công ty Tư vấn Công nghệ Môi trường CTA thực hiện).

- Xử lý nước thải tinh bột khoai mì  quy mô 5 m3/ng.đ bằng công nghệ bùn hoạt tính (Do Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường thực hiện).

- Xử lý nước thải chế biến Thủy sản bằng công nghệ bùn hoạt tính (Do Trung tâm Công nghệ Môi trường Đà Nẵng thực hiện).

- Xử lý bã khoai mì, hèm cồn bằng công nghệ ủ yếm khí (Do Viện Kỹ thuật Nhiệt đới và Bảo vệ Môi trường thực hiện).

 

3.5. Hiện trạng công nghệ môi trường tại các bệnh viện, trung tâm y tế :

 

Hiện nay tại Việt Nam có hàng ngàn bệnh viện cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện đang hoạt động. Trong tương lai số bệnh viện sẽ gia tăng.  Theo số liệu thống kê năm 1996, ngành y tế có 12.556 cơ sở khám chữa bệnh với 172.642 giường bệnh, trong đó có 815 bệnh viện tuyến huyện trở lên nhưng hầu hết chưa được quản lý theo một quy chế chặt chẽ hoặc có xử lý nhưng theo cách đối phó hoặc chưa đúng. Cho đến nay, có khoảng 50 lò đốt rác y tế (nhập ngoại và chế tạo trong nước) đã được lắp đặt và hoạt động tại Việt Nam. Tuyệt đại đa số các bệnh viện còn lại chưa có biện pháp thu gom và xử lý chất thải nói chung và rác thải y tế nói riêng. Chất thải y tế đã và đang gây tác động xấu tới sức khỏe của các cộng đồng dân cư sống ở khu vực lân cận.

 

Trong thời gian qua có một số cơ quan nghiên cứu chế tạo lò đốt rác y tế và đã lắp đặt cho 1 số bệnh viện như : Bệnh viện lao tỉnh Tây Ninh, Trung tâm Y tế huyện Tân Châu, Trung tâm Y tế huyện Bến Cầu (Tây Ninh), Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Vĩnh Long, bệnh viện Hữu Nghị, Thanh Bình (tỉnh Đồng Tháp), Quảng Trị, Bình Dương, Đắc Lắc ... Một số bệnh viện (Bệnh viện 175, 7B, Đà Nẵng, Bình Dương, Vĩnh Long, Thanh Hóa, Thái Nguyên, Ninh Bình, Cẩm Phả, Đông Anh ...) đã lắp đặt hệ thống xử lý nước thải bằng công nghệ sinh học.

 

Trong thời gian qua Bộ Y tế đã nhập 25 lò đốt chất thải y tế ký hiệu Hoval (áo) và lắp đặt cho một số địa phương trong cả nước bao gồm Đồng Tháp, An Giang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Bình Định, Khánh Hòa, Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Ặ TPHCM cũng đã nhập lò đốt rác y tế từ áo với công suất 7 tấn/ngày để thiêu hủy toàn bộ chất thải rắn y tế sinh ra từ các bệnh viện của thành phố.

 

3.6. Hiện trạng công nghệ môi trường tại các vùng nông thôn :

 

Việt Nam là một nước có khoảng 80% dân số sống bằng nghề sản xuất nông nghiệp. Công nghiệp tập trung chủ yếu vào lĩnh vực chế biến nông sản (ví dụ : xay xát lúa, sản xuất mía đường, chế biến cà phê, hạt điều, ngô, đậu, lạc, dừa...), lâm sản (ví dụ : chế biến gỗ, mây, tre...). Hàng năm, có hàng chục triệu tấn phế liệu, phụ liệu nông nghiệp và công nghiệp chế biến (ví dụ: rơm rạ, trấu, bã mía, lõi ngô, vỏ đậu, vỏ lạc, vỏ hạt điều, vỏ dừa, mùn cưa, dăm bào...) được tạo ra.

Trong thời gian qua có nhiều công nghệ được nghiên cứu và áp dụng nhằm xử lý tái sử dụng phế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp. Một số phương hướng công nghệ chủ yếu là :