TIN HOẠT ĐỘNG CỦA HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN


VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

Thông tin về các khu dự trữ sinh quyển Viêt Nam
Tờ rơi "Sinh quyển và các Khu dự trữ sinh quyển
Tin Hội nghị BCH TƯ Hội tại Đà Nẵng
Báo cáo tai Hội nghị BCH TƯ
Danh sách bầu bổ sung BCH TƯ và đề bạt Phó Tổng thư ký Hội
Danh sách khen thưởng "Vì sự nghiệp BVMT năm 2006"
Hội thảo về BVMT tại Đà Nẵng
Cuộc hành trình đáng nhớ
Họp Ban Kiểm tra của Hội
Hoàn tất công tác chuẩn bị Hội nghị BCH TƯ
Tham dự Hội thảo và Hội chợ quốc tế  về sản phẩm sinh thái
Làm việc với Trung tâm Năng suất Việt Nam về tổ chức Hội chợ quốc tế sản phẩm sinh thái
Họp Hội đồng Khoa học và Hội đồng Khen thưởng của Hội
Tham gia Hội thảo “THOÁT NƯỚC ĐÔ THỊ TP. HỒ CHÍ MINH NGUYÊN NHÂN & GIẢI PHÁP
Tập huấn cho cán bộ môi trường cấp huyện tại Kiên Giang
Hội thảo-Tập huân kỹ năng tiếp cận cộng đồng cho Khu vực phía Nam
Đoàn công tác của Hội làm việc với các đơn vị trực thuộc tai TP HCM
Hưởng ứng chiến dịch làm cho Thế giới sạch hơn tại Huế

THÔNG TIN VỀ CÁC KHU DỰ TRỮ SINH QUYỂN VIỆT NAM

VÀ KHU DI SẢN THIÊN NHIÊN TỪ VƯỜN QUỐC GIA

 

v     Đến nay (tháng 11 năm 2006) ở Việt Nam có 4 khu dự trữ sinh quyển cấp Thế giới do UNESCO công nhận và cấp bằng:

  • Cần Giờ (đầu tiên, 21/1/2000) thuộc TP. Hồ Chí Minh , nòng cốt là rừng ngập mặn phòng hộ.
  • Cát Tiên (10/11/2001), nòng cốt là Vườn Quốc Gia (VQG) Cát Tiên, phạm vi 4 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước, Đắc Lắc.
  • Cát Bà (02/12/2004), quần đảo Cát Bà, nòng cốt là  VQG Cát Bà, thuộc TP. Hải Phòng.
  • Châu Thổ Sông Hồng (02/12/2004) ven biển 3 tỉnh Châu thổ Sông Hồng là Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình.

 v     Hai khu đã hoàn tất hồ sơ đăng trình (Nomination) và đã được UNESCO chập nhận, chờ cấp bằng chính thức là Khu dự trữ sinh quyển Kiên Giang, tỉnh Kiên Giang, nòng cốt là VQG Phú Quốc và VQG U Minh Thượng; Khu dự trữ sinh quyển Tây Nghệ An, nòng cốt là VQG Pù Mát, 2 khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống và Pù Hoạt, thuộc tỉnh Nghệ An.

 v     Khởi đầu xây dựng hồ sơ đăng trình là Bạch Mã-Hải Vân, thuộc tỉnh Thừa Thiên - Huế, nòng cốt là VQG Bạch Mã.

 

v     Riêng Khu Di sản thiên nhiên Phong Nha - Kẻ Bàng, được công nhận cấp độ di sản thiên nhiên thế giới.

 Nhiều Chi hội hoặc Hội BVTN&MT các đơn vị Vườn quốc gia hoặc một số tỉnh, thành địa phương đã tích cực tham gia xây dựng hồ sơ đăng trình các Khu Dự trữ sinh quyển và Khu  Di sản thiên nhiên, đồng thời tiếp tục tham gia nhiều hoạt động ở các khu theo các mục tiêu và nội dung của Chương trình “ Con người và Sinh quyển” (Man and Biosphere – MAB) ở Việt Nam.

 

Võ Trí Chung,
Chuyên gia Uỷ ban Quốc gia MAB Việt Nam thuộc UNESCO

 

TIN VỀ HỘI NGHỊ BCH TƯ HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

Cộng đồng với Môi trường: Sau khi kết thúc Hội nghị BCH TƯ Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường Việt Nam tại Đà Nẵng, Văn phòng Hội chưa kịp đăng tải bài viết về Hội nghị thì Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã có bài viết rất đầy đủ đăng trên Website của LHH. Văn phòng Hội xin chân thành cảm ơn Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam và xin được đăng lại bài viết này, kèm theo một số hình ảnh và toàn văn Báo cáo tại Hội nghị..

 

 

HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM: NĂM 2006 HOẠT ĐỘNG CÓ NHIỀU KHỞI SẮC

Hội chợ - Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi trường Việt Nam 2006 do Hội đăng cai tổ chức

Hội chợ - Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi trường Việt Nam 2006 do Hội đăng cai tổ chức

Ngày 18/11/2006, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Ban chấp hành TW. Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và định hướng nhiệm vụ năm 2007 cho thấy năm nay hoạt động của Hội tiếp tục có nhiều khởi sắc.

Về tổ chức, trong năm 2006, Hội đã thành lập thêm 1 đơn vị, kết nạp làm thành viên thêm 1 hội địa phương và 9 chi hội.Với sự gia nhập của 10 đơn vị này, cho đến nay, số hội thành viên của Hội đã tăng lên 68 đơn vị. Việc ngày càng có nhiều đơn vị thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam trong vài năm gần đây cho thấy hoạt động của Hội ngày càng gần gũi với cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường (BVMT).

Năm nay là năm đầu tiên Hội tổ chức giao ban các hội địa phương phía Bắc và phía Nam để trao đổi kinh nghiệm hoạt động.

Năm 2006 cũng là năm đánh dấu những cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của một đơn vị thành viên: Viện Môi trường và Phát triển bền vững kỷ niệm 10 năm ngày thành lập; Hội Sinh học - Môi trường tỉnh Hải Dương đã tổ chức Đại hội lần thứ II và đổi tên thành Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh Hải Dương; Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh Cao Bằng đã phát triển mạnh mẽ về mặt tổ chức, có nhiều hoạt động tạo được quan hệ và uy tín tốt với chính quyền địa phương, được địa phương đánh giá tốt và hỗ trợ kinh phí.

Tuy nhiên, hiện còn quá ít các hội thuộc khối doanh nghiệp tham gia Hội, hoạt động của Hội ở các doanh nghiệp chưa rõ hướng. Một số hội thành viên hoạt động rất yếu, có nơi hầu như không hoạt động cần có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

Tập huấn cho cán bộ môi trường cấp huyện tại Kiên Giang.

Tập huấn cho cán bộ môi trường cấp huyện tại Kiên Giang.

 

 

Về nghiên cứu khoa học, Hội đã tập hợp được nhiều hội thành viên và chuyên gia tham gia các đề tài, dự án liên quan đến cộng đồng. Dự án quốc tế “Quyền tiếp cận môi trường (TAI)” - Văn phòng Hội đã huy động 14 đại diện của các đơn vị thành viên và 3 chuyên gia từ các đơn vị nhà nước, trường đại học tham gia Nhóm nghiên cứu và 18 thành viên từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác nhau tham gia Ban Cố vấn. 7 đơn vị thành viên và 15 chuyên gia của Hội tham gia điều tra, tổng kết hoạt động xã hội hoá BVMT ở Việt Nam (do Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường giao). Hàng chục chuyên gia của 4 đơn vị đóng góp vào việc biên soạn Sổ tay về công tác BVMT dùng cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc cơ sở.

Với 68 đơn vị thành viên, hoạt động Hội rất đa dạng, từ thực hiện các đề tài nghiên cứu triển khai, tổ chức các hội thảo, diễn đàn khoa học đến đầu tư sản xuất. Các viện, trung tâm đã thực hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu các cấp, đóng góp cho xã hội và nộp cho Nhà nước một khoản kinh phí không nhỏ. Đặc biệt, hoạt động của các chi hội doanh nghiệp môi trường mới gia nhập Hội đã đem lại cho Hội một khí thế mới trong công tác BVMT như việc khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác Sơn Tây của Công ty Cổ phần phát triển môi trường xanh Seraphin; việc tái chế dầu mỡ thải thành sản phẩm vừa đem lại lợi nhuận vừa góp phần BVMT của Công ty Văn Đạo.

Hội chợ - Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi trường Việt Nam 2006 do Hội phối hợp với Cục BVMT và Công ty cổ phần Tổ chức sự kiện và hội chợ toàn cầu tổ chức đã thành công tốt đẹp: Có 93 tổ chức, công ty của 11 nước tham gia hội chợ. 31 hợp đồng đã được ký với tổng giá trị các hợp đồng được công bố: 216,2 tỷ VNĐ và 28,5 triệu USD. 3 hội thảo quốc tế về công nghệ môi trường được tổ chức với gần 1.000 người tham dự. 15 doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu trong nước được trao Cúp Môi trường. Một danh mục ưu tiên bao gồm 18 công nghệ và thiết bị thân thiện môi trường được Ban Tổ chức kiến nghị với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Công nghiệp.

Từ những thành công có ý nghĩa nêu trên, các đối tác của Hội, đặc biệt là phía Hàn Quốc, tín nhiệm và cam kết cùng Hội tổ chức tiếp Hội chợ tương tự tại TP Hồ Chí Minh vào năm 2007.

Thường trực Hội cũng đang có các thoả thuận và chuẩn bị ban đầu về việc phối hợp cùng Trung tâm Năng suất Việt Nam và Tổ chức Năng suất châu Á tổ chức Triển lãm quốc tế về sản phẩm sinh thái năm 2008 tại Hà Nội.

Trong năm 2006, công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với những vấn đề quan trọng ở cấp quốc gia được Hội chú trọng và được tiến hành một cách chủ động hơn.

Văn phòng Hội hợp tác với các chuyên gia và các đối tác như Liên hiệp hội Việt Nam, Cục BVMT, Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ như điều tra xã hội, đánh giá khía cạnh môi trường của vấn đề di dân chuẩn bị xây dựng đập thuỷ điện Sơn La; biên soạn 1 chương về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của dự thảo Luật Đa dạng sinh học và dự kiến phản biện toàn bộ dự thảo;... Văn phòng Hội cũng phối hợp với Liên hiệp hội Việt Nam tổ chức Hội thảo về phá dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường, giúp tư vấn cho các cơ quan quản lý giải quyết vấn đề và gây được dư luận tốt trên các phương tiện truyền thông.

Diễn đàn các nhà báo môi trường trực thuộc Hội tổ chức bàn tròn trực tuyến về dự báo cơn bão Chanchu. Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Hà Nội đã tổ chức Hội thảo “Thể chế xã hội hoá trong công tác BVMT tại Thủ đô”.

Cuộc thi quốc gia “Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước” (phối hợp cùng Báo Khoa học và Đời sống tổ chức) vẫn tiếp tục được duy trì và ngày càng có chất lượng hơn. Tuy vậy, bức xúc lớn nhất hiện nay về công tác tuyên truyền là Hội chưa có được một ấn phẩm tương xứng.

Công tác hợp tác quốc tế của Hội đã có một số bước tiến, tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa có định hướng lâu dài, chưa tương xứng với năng lực hiện có của Hội. Thường trực Hội có quan hệ thường xuyên với nhiều tổ chức như UNDP, WB, IUCN, WWF, Sida và được các tổ chức này hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau. Về quan hệ song phương, ngoài văn bản ký kết hợp tác lâu dài với Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Hàn Quốc trong lĩnh vực hội chợ - triển lãm và công nghệ môi trường, Hội được Viện Môi trường Thái Lan chọn làm đơn vị chủ trì dự án “Đánh giá quyền tiếp cận môi trường ở Việt Nam”. Ngoài ra, Hội cũng tăng cường tiếp xúc, làm việc với các đoàn, chuyên gia quốc tế về môi trường. Nhiều hội viên của Hội đã tham gia các cuộc họp quốc tế, các dự án quốc tế về môi trường, tham gia các đoàn khảo sát về môi trường tại các nước.

Trên cơ sở những kết quả đạt được, Hội nghị đã đề ra những nhiệm vụ cụ thể trong năm 2007: Chuẩn bị kỷ niệm 20 năm Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam (1988-2008); Tiếp tục tổ chức Hội chợ - Triển lãm về công nghệ môi trường; Hỗ trợ BVMT cho một vườn quốc gia hoặc khu bảo tồn; Tổng kết các mô hình thực tế về mô hình và phát triển bền vững; Thực hiện một số đề tài, dự án có sự tham gia của cộng đồng; Phối hợp tổ chức cuộc thi nước lần thứ 4.

HN (Tổng hợp); Ảnh: Lê Hồng Hà

HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM

HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG

Đà Nẵng, 18/11/2006

-----------------------------------------------------------

 

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2006 VÀ

ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC NĂM 2007

 

Trong năm 2006, hoạt động của Hội BVTN&MT Việt Nam tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Bằng nỗ lực của toàn Hội, của các tổ chức và hội thành viên của Hội và nhất là các hội viên, với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý như Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Nội vụ, của Liên hiệp các hội Khoa học và kỹ thuật Việt Nam và của nhiều cơ quan địa phương, Hội đã đạt được nhiều kết quả, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của Hội trong sự nghiệp bảo vệ môi trường và phát triển bền vững của đất nước. Báo cáo dưới đây tổng kết các hoạt động chính trong năm 2006 và định hướng công tác cho năm 2007 của Hội.

 

I. TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2006

1. Công tác phát triển tổ chức

v     Hội tiếp tục phát triển nhanh số lượng các hội thành viên

Năm 2006 Hội đã thành lập thêm 1 đơn vị thành viên, kết nạp thêm 1 hội địa phương và 8 chi hội . Đó là:

-         Mạng lưới hợp tác vì không khí sạch Việt Nam

-         Hội BVTN&MT tỉnh Đắk Lắk

-         Chi hội Công ty TNHH Môi trường Việt Nam xanh

-         Chi hội Trung tâm văn hoá – Giáo dục tổng hợp thanh thiếu nhi, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh

-         Chi hội Tổng đội TNXP 5 Nghệ An  

-         Chi hội Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế

-         Chi hội Trung tâm Tài nguyên  Môi trường và công nghệ sinh học, Đại học Huế

-         Chi hội Công ty TNHH phát triển công nghệ và môi trường Á Đông (ASIATECH)

-         Chi hội Trung tâm Môi trường Sinh thái Nhân văn, TP HCM

-         Công ty Cổ phần 206 Vĩnh Phúc

Ngoài ra Hội BVTN&MT tỉnh Quảng Nam cũng đang chuẩn bị Đại hội thành lập vào cuối năm nay.

Với việc 10 đơn vị này gia nhập Hội, cho đến nay số hội thành viên của Hội đã tăng lên thành 68 đơn vị. Việc ngày càng có nhiều đơn vị thuộc các tổ chức khác nhau tham gia Hội trong vài năm gần đây càng làm cho Hội ta ngày càng gần gũi với cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường.

v     Đợt làm việc của Đoàn công tác Hội với các Viện và Trung tâm trực thuộc đã thu được kết quả khả quan

Thực hiện chủ trương của Ban Thường vụ Hội, Đoàn công tác của Hội do Chủ tịch Hội làm Trưởng Đoàn đã đến thăm và làm việc với toàn thể 5 Viện và 7 Trung tâm trực thuộc Hội tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh. Kết quả cho thấy tất cả các đơn vị đều hoạt động theo đúng pháp luật, thực hiện mọi nghĩa vụ như quy định của Nhà nước. Đa số các đơn vị hoạt động có kết quả, tạo thu nhập cho các thành viên, đồng thời đóng góp đắc lực cho công cuộc BVMT. Tuy nhiên cũng có vài đơn vị hoạt động khó khăn, thậm chí có đơn vị có ý định giải thể. Đoàn công tác Hội đã có nhiều ý kiến đóng góp cho các hoạt động của các đơn vị và ghi nhận các kiến nghị của các đơn vị để đưa vào kế hoạch công tác của Hội sắp tới.

v     Lần đầu tiên tổ chức giao ban các hội địa phương phía Bắc và phía Nam

Theo nguyện vọng của các hội thành viên và tận dụng sự có mặt của đại diện các hội thành viên địa phương trong 2 đợt Hội thảo - Tập huấn về kỹ năng tiếp cận cộng đồng, Thường trực Hội đã tổ chức 2 cuộc tọa đàm cho các hội thành viên địa phương phía Bắc và phía Nam. Tại các cuộc tọa đàm này, các đại biểu đã cùng nhau trao đổi sôi nổi về các kinh nghiệm hoạt động của mình. Kết quả trao đổi cho thấy, để thúc đẩy được hoạt động hội, cần có đội ngũ cán bộ nhiệt tình, hăng hái, tự chủ và chủ động trong hoạt động. Đồng thời, các hội cần vận động để có được sự hỗ trợ của các cấp lãnh đạo địa phương, đặc biệt là của Ủy ban nhân dân và Sở TN&MT địa phương. 

v     Nhiều đơn vị thành viên tiếp tục phát triển mạnh về mặt tổ chức và hoạt động ngày càng gắn bó với Trung ương Hội

 Trong năm qua, nhiều hội địa phương tiếp tục phát triển thêm nhiều chi hội và đơn vị trực thuộc. Một số đơn vị đã có những cột mốc quan trọng trong quá trình phát triển của mình như Viện Môi trường và Phát triển bền vững đã kỷ niệm 10 năm ngày thành lập; Hội Sinh học – Môi trường tỉnh Hải Dương đã tổ chức Đại hội lần thứ II và đổi tên thành Hội Bảo vệ Thiên nhiên và Môi trường tỉnh Hải Dương; Hội Cao Bằng đã phát triển mạnh mẽ về mặt tổ chức, có nhiều hoạt động tạo được quan hệ và uy tín tốt với chính quyền địa phương, được địa phương đánh giá tốt và hỗ trợ kinh phí cho Hội hoạt động.

v     Về mặt tồn tại, còn quá ít các hội thuộc khối doanh nghiệp tham gia Hội, hoạt động của Hội ở các doanh nghiệp chưa rõ hướng; Một số hội thành viên hoạt động rất yếu, có nơi hầu như không hoạt động cần có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.

2. Công tác nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ

v     Các đề tài, dự án nghiên cứu liên quan đến cộng đồng được nhiều hội thành viên và chuyên gia của Hội tham gia, trong đó quan trọng nhất là:

-         Dự án quốc tế "Quyền tiếp cận môi trường" (TAI) - Văn phòng Hội đã huy động 14 đại diện của các đơn vị thành viên và 3 chuyên gia từ các đơn vị nhà nước và trường đại học tham gia Nhóm nghiên cứu và 18 thành viên từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ khác nhau tham gia Ban Cố vấn.

-         Nhiệm vụ Điều tra, tổng kết hoạt động xã hội hóa bảo vệ môi trường ở Việt Nam do Vụ Môi trường, Bộ TN&MT giao đã huy động 7 đơn vị thành viên và 15 chuyên gia của Hội tham gia.

-         Nhiệm vụ biên soạn Sổ tay về công tác bảo vệ môi trường dùng cho cán bộ mặt trận tổ quốc cơ sở phối hợp với Trung tâm Công tác lý luận, MTTQVN và Cục BVMT đã huy động hàng chục chuyên gia của 4 đơn vị tham gia.

Đây là một hướng quan trọng dần được khẳng định trong hoạt động của Hội ta. Thông qua các dự án này, chuyên gia của Hội có dịp đi khảo sát tại nhiều cộng đồng khác nhau, tiếp xúc nhiều với cấp địa phương thông qua các hội thảo, từ đó tạo mối liên kết gắn bó với địa phương và cộng đồng để triển khai công tác Hội.

v     Các hoạt động nghiên cứu - triển khai - sản xuất sôi động tại các đơn vị thành viên tiếp tục được duy trì

Với 68 đơn vị thành viên, hoạt động Hội trong lĩnh vực này rất đa dạng: Từ việc thực hiện các đề tài nghiên cứu triển khai, tổ chức các hội thảo, diễn đàn khoa học đến đầu tư sản xuất. Các viện, trung tâm nghiên cứu đã thực hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu các cấp, đóng góp cho xã hội và nộp cho Nhà nước một khoản kinh phí không nhỏ. Các đơn vị thành viên đã tổ chức và tham gia tổ chức nhiều hội thảo khoa học về các vấn đề môi trường cấp thiết. Đặc biệt, các hoạt động của các chi hội doanh nghiệp môi trường mới gia nhập Hội đã đem lại cho Hội một khí thế mới trong hoạt động BVMT như việc khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác Sơn Tây của Công ty Cổ phần phát triển Môi tr­ường xanh Seraphin; việc tái chế dầu mỡ thải thành sản phẩm vừa đem lại lợi nhuận vừa góp phần BVMT của Công ty Văn Đạo.

v     Tồn tại lớn về công tác nghiên cứu và triển khai là tản mạn, phụ thuộc chủ yếu vào các hợp đồng dịch vụ. Việc hợp tác giữa các đơn vị trong cùng một lĩnh vực hoạt động cũng chưa cao.

3. Hoạt động Hội chợ - Triển lãm - Nhiệm vụ trọng tâm năm 2006 của Hội

v     Hội chợ - Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi trường Việt Nam 2006 do Hội phối hợp với Cục BVMT và Công ty cổ phần Tổ chức sự kiện và hội chợ toàn cầu tổ chức đã thành công tốt đẹp.

Hội chợ đã đạt được mục tiêu quảng bá công nghệ môi trường của Việt Nam và của cả nước ngoài: Số tổ chức, công ty tham gia là 93 với tổng số gian trưng bày là 140 gian; 11 nước có công nghệ trưng bày tại HC-TL; 31 hợp đồng đã được ký với tổng giá trị các hợp đồng được công bố: 216,2  tỷ VNĐ và 28,5 triệu USD. Tại HC-TL đã tiến hành 3 hội thảo quốc tế về công nghệ môi trường với gần 1.000 người tham dự. 15 doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu trong nước được trao Cúp Môi trường; 18 tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước được trao bằng khen của Bộ Tài nguyên và Môi trường; một danh mục ưu tiên bao gồm 18 công nghệ và thiết bị thân thiện môi trường được Ban Tổ chức kiến nghị với Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ Công nghiệp.

v     Sự thành công trong năm 2006 đã mở hướng cho các hoạt động tương tự của Hội trong thời gian tới.

4. Công tác tư vấn, phản biện, giám định xã hội

v     Công tác phản biện, giám định xã hội đối với các hoạt động quan trọng ở cấp quốc gia được chú trọng và được tiến hành một cách chủ động hơn.

-         Văn phòng Hội đã phối hợp với các chuyên gia và các đơn vị đối tác như Liên hiệp các Hội KHKT VN, Cục BVMT, Bộ TN&MT thực hiện các nhiệm vụ như: điều tra xã hội, đánh giá khía cạnh môi trường của vấn đề di dân chuẩn bị xây dựng đập thủy điện Sơn La; biên soạn 1 chương về tiếp cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của dự thảo Luật Đa dạng sinh học và dự kiến phản biện toàn bộ dự thảo; Tham gia phản biện báo cáo ĐTM Thủy điện Sơn La, Báo cáo ĐTM  nâng cấp do Bộ TN&MT đề nghị.

-         Văn phòng Hội cũng đã phối hợp cùng Liên hiệp hội tổ chức Hội thảo về Phá dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường, giúp tư vấn cho các cơ quan quản lý giải quyết vấn đề và gây được dư luận tốt trên các phương tiện truyền thông. Trong hoạt động này, Trang web của Hội cũng đã góp phần tích cực trong việc đưa cập nhật các thông tin trong và ngoài nước.

v     Các đơn vị thành viên của Hội vẫn tiếp tục phát huy tốt vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hội thông qua việc tham gia vào các hội đồng thẩm định, xét duyệt khoa học của địa phương, các chương trình giám sát các nhà máy, các hội thảo mang tính góp ý, tư vấn. Ví dụ Diễn đàn các nhà báo môi trường đã tham gia tổ chức bàn tròn trực tuyến về dự báo cơn bão Chanchu nhằm thảo luận về các vấn đề liên quan và tư vấn cho các cơ quan chuyên môn và quản lý; Hội BVTN&MT Thủ đô đã tổ chức Hội thảo “Thể chế xã hội hoá trong công tác bảo vệ môi trường" tại Thủ đô Hà Nội.

v     Hội có tiềm lực thực hiện công việc tư vấn, phản biện, nhưng chưa được tận dụng khai thác, Hội cũng chưa chủ động tìm kiếm cơ hội, nguồn lực. Cần phấn đấu nâng cao vai trò và vị thế của Hội trong vấn đề này.

5. Công tác tuyên truyền, giáo dục đào tạo

v     Công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo của Hội vẫn được chú trọng và triển khai mạnh mẽ trong toàn Hội năm 2006.

-         Văn phòng Hội đã tổ chức tốt việc thực hiện nhiệm vụ biên soạn Báo cáo Môi trường cho cộng đồng do Cục BVMT giao; Trang web của Hội tiếp tục phát triển, cải tiến và cập nhật thường xuyên, góp phần tạo kênh thông tin kịp thời đến các hội thành viên cũng như cho độc giả nói chung. Đặc biệt, Trang web của Hội đã xuất hiện trong bảng xếp hạng các nước trên thế giới - đứng thứ 1.000.000 trên 100.000.000 trang web trên thế giới. Các tin hoạt động của Hội được duy trì đều trên 2 trang của Tạp chí  BVMT của Cục BVMT. Lãnh đạo Hội thường xuyên tham gia các buổi thuyết trình về các đề tài môi trường tại nhiều tổ chức, cơ quan như Ủy ban Dân tộc, các địa phương,…

-         Trong khuôn khổ các đề tài, dự án được giao, Văn phòng Hội đã  huy động nhiều đơn vị thành viên và chuyên gia thực hiện nhiều lớp tập huấn như: 3 lớp tập huấn cho các cán bộ quản lý môi trường địa phương và các tổ chức chính trị - xã hội tại các tỉnh Hà Tĩnh, Kiên Giang và Bắc Giang; 2 cuộc Hội thảo - Tập huấn về Kỹ năng tiếp cận cộng đồng tại Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; Hội thảo Cộng đồng BVMT nhân dịp họp BCHTW Hội; Hội thảo về đào tạo đại học về môi trường phối hợp với Trung tâm KTMT Đô thị và KCN,…

-         Cuộc thi quốc gia Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ nguồn nước lần thứ 3 do Hội BVTN&MT Việt Nam phối hợp tổ chức cùng Báo Khoa học và Đời sống vẫn tiếp tục được duy trì và ngày càng có chất lượng hơn. Kết thúc cuộc thi thứ ba, Ban Tổ chức đã chọn ra 1 giải nhất, 5 giải nhì, 6 giải 3 và 13 giải khuyến khích trên tổng số 855 bài dự thi. Nhóm thí sinh gồm 3 em của giải nhất đã được Sida tài trợ đi dự cuộc thi quốc tế tại Thụy Điển. Cuộc thi lần thứ tư đã được phát động và Ban Tổ chức đang có nhiều nỗ lực tìm kiếm các nguồn tài trợ để duy trì lâu dài cuộc thi.

v     Hoạt động tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về môi trường cũng là mặt mạnh của tất cả các đơn vị thành viên của Hội. Đào tạo chuyên ngành về môi trường không chỉ có các chi hội tại các trường đại học thực hiện mà nhiều đơn vị của Hội như các viện, các trung tâm đều tham gia. Trung ương Hội đã và đang phối hợp với các viện và trung tâm GTVT của Hội tổ chức đào tạo kỹ sư GTVT có chứng chỉ môi trường. Đây là hướng đào tạo rất có triển vọng, có thể nhân rộng sang các ngành khác. Các đơn vị thành viên cũng đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục môi trường thông qua các chiến dịch môi trường như Ngày MTQT 5/6, Chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn,…

v     Bức xúc lớn nhất hiện nay về công tác tuyên truyền của Hội là việc Hội chưa có được 1 ấn phẩm tương xứng. Các phương án khác nhau đã được đề xuất nhưng chưa có kết luận cụ thể. Cần thảo luận kỹ xem có thể phát hành 1 ấn phẩm riêng của Hội dưới dạng nào?

6. Các Viện và Trung tâm trực thuộc Hội tăng cường hoạt động:

v     Viện Môi trường và Phát triển bền vững: Trên 20 cán bộ của Viện được ký kết hợp đồng lao động dài hạn, được đảm bảo các chế độ BHXH, BHYT, lương cơ bản và các chế độ phúc lợi xã hội khác. Trong 2 năm 2005-2006 Viện và các chi nhánh đã thực hiện 21 đề tài, dự án trên toàn quốc. Trong 2 năm này Viện cũng thực hiện đầy đủ đóng góp theo quy định cho Hội.

v     Viện Nước và Công nghệ Môi trường: Từ năm thành lập (2002) đến nay, Viện đã thực hiện 15 đề tài, dự án lớn nhỏ với tổng kinh phí của các hoạt động KHKT là 4,5 tỷ đồng cộng với nguồn thu từ các hợp đồng tư vấn và chuyển giao công nghệ với doanh thu hàng năm khoảng 2-3 tỷ. Viện luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng góp đối với Hội.

v     Viện Kỹ thuật Nước và Công nghệ Môi trường: Trong 2 năm sau khi thành lập (2005-2006), Viện đã ổn định về pháp nhân và tổ chức, thực hiện 6 đề tài nghiên cứu khoa học, tư vấn và đào tạo với tổng kinh phí khoảng 3,5 tỷ đồng. Viện luôn chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ đóng góp đối với Hội.

v     Trung tâm Công nghệ Môi trường: Trung tâm có mặt bằng sử dụng trên 200 m2 với văn phòng, phòng họp và phòng làm việc được trang bị đầy đủ, có ô tô đê phục vụ hoạt động. Trong các năm 2005 và 2006 Trung tâm đã thực hiện 51 báo cáo đánh giá tác động môi trường, chủ trì và tham gia thực hiện 21 đề tài, dự án khác nhau và thực hiện công tác giám sát môi trường cho 5 doanh nghiệp. Trung tâm đã hỗ trợ kinh phí cho 5 cán bộ của mình theo học chương trình thạc sỹ môi trường, tham gia nhiều chương trình đào tạo đại học và sau đại học tại các trường của TP Hồ Chí Minh. Trung tâm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước và nghĩa vụ đóng góp cho Hội. 

v     Trung tâm Môi trường và Phát triển cộng đồng: Trung tâm mới được thành lập cuối năm 2005. Năm 2006 đã triển khai và ổn định tổ chức ban đầu, thuê trụ sở ổn định và mua sắm trang thiết bị. Tuy vậy, Trung tâm cũng đã có 3 dự án đang triển khai thực hiện: Biên soạn sách "Cẩm nang xanh", nghiên cứu về chính sách lâm nghiệp và ISO 14000.

7. Các Chi hội tại các trường đại học, cơ quan khoa học, báo chí và doanh nghiệp có nhiều chuyển biến:

v     Chi hội tại Trung tâm KTMT Đô thị và KCN: Ngoài những nhiệm vụ chuyên môn của Trung tâm ra, các hội viên của Chi hội còn tích cực tham gia vào các chiến dịch môi trường, tham gia và đoạt Cúp tại Hội trợ - Triển lãm Techmart, tham gia 1 gian tại Hội chợ - Triển lãm Công nghệ Môi trường của Hội.

v     Chi hội Khoa Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội: Các thành viên của Chi hội đã có nhiều đóng góp cho công tác đào tạo, giáo dục và truyền thông môi trường. Ngoài các giờ giảng của trường, các cán bộ của Chi hôi còn tham gia tích cực giảng dạy cho các lớp tập huấn của Hội, cho ra đời và duy trì hoạt động của Câu lạc bộ sinh viên với các hoạt động tình nguyện giúp đồng bào vùng sâu, vùng xa. Cán bộ của Chi hội cũng tham gia thực hiện 28 đề tài khoa học, công bố trên 120 bài báo và báo cáo khoa học và tổ chức Hội nghị khoa học của sinh viên trong Khoa.

v     Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam: Kể từ khi thành lập (1998), Diễn đàn đã tiến hành nhiều hội thảo, tọa đàm với các nhà quản lý, chuyên môn, tổ chức các chuyến đi thực tế cho các nhà báo và cử các thành viên đi dự các hội nghị quốc tế. Từ năm 2001, Diến đàn duy trì thường xuyên Bản tin "Nhà báo và Môi trường", là kênh truyền  thông quan trọng giữa các thành viên và nơi chia sẻ thông tin và trao đổi nghề báo môi trường.

v     Chi hội Trung tâm chuyển giao công nghệ mới thuộc Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga: Là một đơn vị mơi gia nhập Hội, Chi hội ngoài các hoạt động về nghiên cứu triển khai BVMT đã bước đầu có các hoạt động thành công và đóng góp tích cực cho Hội như tham gia Hội chợ - Triển lãm Công nghệ Môi trường và được Ban Tổ chức Hội chợ trao Cúp Môi trường cho sản phẩm Tủ cấy vi sinh, tham gia các hội thảo do Hội tổ chức và đóng góp kinh phí ủng hộ Hội chợ.

v     Chi hội Công ty TNHH Văn Đạo:  Mặc dù đầu năm gặp sự cố lớn ảnh hưởng đáng kể đến kết quả kinh doanh, Công ty vẫn đạt được thành tích cao trong sản xuất kinh doanh: thu gom và xử lý hơn 3.000 tấn dầu thải, 300 tấn nhũ nước dầu,. 20.000 vỏ thùng chứa chất thải nguy hại, sản xuất ra hơn 2.000 tấn nhiên liệu, chất bôi trơn từ chất thải tái chế, tạo việc làm cho hơn 1.000 lao động và đóng góp cho Ngân sách nhà nước khoảng 500.000 triệu đồng. Công ty đã nhận được bằng Giải pháp hữu ích trong lĩnh vực xử lý dầu thải sản xuất chất bôi trơn, đăng ký xin cấp bằng sáng chế cho 2 lĩnh vực , hoàn thành chương trình quản lý chất lượng theo ISO 9001-2000, mở rộng quan hệ với nhiều đối tác trong và ngoài nước.

8. Một số Hội địa phương tích cực hoạt động:

v     Hội BVMT Cao Bằng: Hội có 22 chi hội và 28 đơn vị hội viên tập thể. Tỉnh Hội có quan hệ tốt và thường xuyên với Hội TW, UBND, MTTQ, Liên hiệp hội và các hội bạn trong tỉnh. Hội được UBND Tỉnh hỗ trợ kinh phí hoạt động, tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ môi trường tại địa phương và huy động các chi hội thành viên cùng tham gia.

v     Hội BVTN&MT Thủ đô vẫn tiếp tục thực hiện việc tư vấn, phản biện cho các hoạt động bảo vệ môi trường ở Thủ đô, tham gia công tác tuyên truyền giáo dục môi trường trong các chiến dịch môi trường, hội thảo, tập huấn, viết sách, báo,…

v     Hội BVTN&MT Thanh Hóa: Trong năm 2006 đã tham gia nhiệm vụ lập báo cáo về khai thác nước và xả nước thải vào nguồn nước cho một số đơn vị ở địa phương, chủ trì và tham gia lập một số dự án để thực hiện trong năm 2007; tham gia tích cực và vận động các chi hội cùng tham gia các hoạt động BVMT ở địa phương và xây dựng chương trình hành động bảo vệ môi trường tại đơn vị.

v     Hội BVTN&MT tỉnh Đăk Lăk tuy mới thành lập từ giữa năm 2006 cũng đã có báo cáo cho TW Hội về các hoạt động tuyên truyền, vận động kết nạp hội viên: Hiện Hội đã có 5 hội viên tập thể và 69 hội viên cá nhân. Các thành viên của Hội tích cực tham gia các lớp hội thảo, tập huấn và các hoạt động tuyên truyền hưởng ứng các chiến dịch môi trường.

v     Hội BVTN&MT Ninh Bình có khó khăn là chưa có cán bộ chuyên trách và trụ sở riêng, còn phải dựa vào Phòng Môi trường của Sở TN&MT, tuy nhiên các hội viên cũng đã có các đóng góp rất tích cực cho công tác tư vấn phản biện và c¸c hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường tại địa phương.

v     Hội BVTN&MT Hải Dương: Hội có 10 chi hội trực thuộc, 11 hội viên tập thể và 1 Trung tâm. Các hội viên của Hội tích cực hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, phản biện xã hội và tuyên truyền, nâng cao nhận thức BVMT ở địa phương. Đặc biệt, Trung tâm của Hội sản xuất được chế phẩm sinh học EM và cung cấp rộng rãi trong tỉnh để giảm ô nhiễm môi trường. Hội có trang bị máy vi tính và kết nối interrnet, do đó tham khảo được thường xuyên tin tức từ Trang web của Hội TW.

v     Hội BVMT TP Hải Phòng: Năm 2006 Hội đã tăng cường công tác tư vấn, phản biện và giám định xã hội đối với các chương trình khoa học của Thành phố, thẩm định các báo cáo ĐTM, đề xuất và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu. Hội và các chi hội đã và đang thực hiện nhiều đề tài, nhiệm vụ khoa học các cấp. Công tác tuyên truyền, giáo dục BVMT vẫn được tiến hành đều đặn. Trung tâm tư vấn môi trường của Hội đã được Hội đồng khen thưởng đưa vào danh sách đề nghị BCHTW Hội khen thưởng năm nay.

9. Công tác hợp tác quốc tế

Công tác HTQT của Hội đã có một số bước tiến, tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa có định hướng lâu dài, chưa tương xứng với năng lực hiện có của Hội. Dưới đây là một số kết quả cụ thể về hoạt động HTQT:

v     Thường trực Hội có quan hệ thường xuyên với nhiều tổ chức quốc tế như UNDP, WB, IUCN, WWF, Sida và được các tổ chức này hỗ trợ dưới nhiều hình thức khác nhau. Về quan hệ song phương, Hội đã có các quan hệ tốt với một số tổ chức của Hàn Quốc và Thái Lan: trong năm 2006 đã có văn bản ký kết về hợp tác lâu dài giữa Hội BVTN&MT Việt Nam và Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Hàn Quốc trong lĩnh vực hội chợ - triển lãm cũng như về công nghệ môi trường nói chung; Hội đã được Viện Môi trường Thái Lan chọn làm đơn vị chủ trì dự án Đánh giá quyền tiếp cận môi trường ở Việt Nam.  tiếp xúc, đón tiếp và làm việc với các đoàn, các chuyên gia quốc tế về môi trường. Nhiều hội viên của Hội đã tham gia các cuộc họp quốc tế, các dự án quốc tế về môi trường, tham gia các đoàn khảo sát về môi trường tại các nước.

v     Văn phòng Hội và các đơn vị thành viên khác đã thực hiện một số dự án nhỏ của các tổ chức quốc tế; nhiều đơn vị thành viên đã đề xuất các dự án xin tài trợ của nước ngoài và đã được chấp thuận.

v     Đại diện Hội đã được Trung tâm Năng suất Việt Nam mời tham dự Hội chợ - Triển lãm tại Singapore; được Hiệp hội công nghiệp Hàn Quốc mời dự hội thảo về công nghệ môi trường tại Hàn Quốc.

v     Hợp tác quốc tế là khâu yếu trong hoạt động của Hội, cần được tăng cường từ nhiều phía, với nhiều hình thức khác nhau.

10. Khen thưởng

v     Tháng 10/2006 Hội đồng Khen thưởng của Hội đã họp tại Hà Nội để xem xét các đề cử của các đơn vị thành viên và Văn phòng Hội cho Giải thưởng "Vì sự nghiệp bảo vệ môi trường" của Hội. Sau khi xem xét, cân nhắc, Hội đồng đã nhất trí thông qua 10 đề cử, trong đó có 2 tập thể và 8 cá nhân để trình ra BCHTW phê duyệt.

v     Cuốn Việt Nam - Môi trường và cuộc sống được Giải bạc về sách hay

v     Công ty Văn Đạo được cấp bằng giải pháp hữu ích cho các sản phẩm liên quan đến dầu, mỡ đã qua sử dụng, được tái chế, sản xuất ra nhiên liệu, chất bôi trơn tiết kiệm tối đa nguồn thải, bảo vệ môi trường.

v     Một số đơn vị của Hội được trao Cup và bằng khen tại HC-TL công nghệ môi trường Việt Nam 2006.

11. Hoạt động của Thường vụ, các Ban, các Hội đồng và Văn phòng Hội

v     Hoạt động của Ban Thường v