|
|
|
Hội
chợ - Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi
trường Việt Nam 2006 do Hội đăng cai tổ
chức
|
|
Ngày
18/11/2006, Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường
Việt Nam đã tổ chức Hội nghị Ban chấp hành TW.
Báo cáo tổng kết công tác năm 2006 và định hướng
nhiệm vụ năm 2007 cho thấy năm nay hoạt động
của Hội tiếp tục có nhiều khởi sắc.
Về tổ
chức, trong năm 2006, Hội đã thành lập thêm 1 đơn
vị, kết nạp làm thành viên thêm 1 hội địa phương
và 9 chi hội.Với sự gia nhập của 10 đơn vị này,
cho đến nay, số hội thành viên của Hội đã tăng
lên 68 đơn vị. Việc ngày càng có nhiều đơn vị
thuộc các thành phần kinh tế khác nhau tham gia Hội
Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam trong vài
năm gần đây cho thấy hoạt động của Hội ngày càng
gần gũi với cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia
của cộng đồng vào công tác bảo vệ môi trường
(BVMT).
Năm nay là năm
đầu tiên Hội tổ chức giao ban các hội địa phương
phía Bắc và phía
Nam
để trao đổi kinh nghiệm hoạt động.
Năm 2006 cũng
là năm đánh dấu những cột mốc quan trọng trong
quá trình phát triển của một đơn vị thành viên:
Viện Môi trường và Phát triển bền vững kỷ
niệm 10 năm ngày thành lập; Hội Sinh học - Môi
trường tỉnh Hải Dương đã tổ chức Đại hội
lần thứ II và đổi tên thành Hội Bảo vệ thiên
nhiên và môi trường tỉnh Hải Dương; Hội Bảo
vệ thiên nhiên và môi trường tỉnh Cao Bằng đã
phát triển mạnh mẽ về mặt tổ chức, có nhiều
hoạt động tạo được quan hệ và uy tín tốt
với chính quyền địa phương, được địa phương
đánh giá tốt và hỗ trợ kinh phí.
Tuy nhiên,
hiện còn quá ít các hội thuộc khối doanh nghiệp
tham gia Hội, hoạt động của Hội ở các doanh
nghiệp chưa rõ hướng. Một số hội thành viên
hoạt động rất yếu, có nơi hầu như không hoạt
động cần có biện pháp chấn chỉnh kịp thời.
|
|
|
Tập
huấn cho cán bộ môi trường cấp huyện tại
Kiên Giang.
|
Về nghiên
cứu khoa học, Hội đã tập hợp được nhiều
hội thành viên và chuyên gia tham gia các đề tài,
dự án liên quan đến cộng đồng. Dự án quốc
tế “Quyền tiếp cận môi trường (TAI)” - Văn phòng
Hội đã huy động 14 đại diện của các đơn vị
thành viên và 3 chuyên gia từ các đơn vị nhà nước,
trường đại học tham gia Nhóm nghiên cứu và 18 thành
viên từ các tổ chức chính phủ và phi chính phủ
khác nhau tham gia Ban Cố vấn. 7 đơn vị thành viên
và 15 chuyên gia của Hội tham gia điều tra, tổng
kết hoạt động xã hội hoá BVMT ở Việt
Nam
(do Vụ Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường
giao). Hàng chục chuyên gia của 4 đơn vị đóng góp
vào việc biên soạn Sổ tay về công tác BVMT dùng
cho cán bộ Mặt trận Tổ quốc cơ sở.
Với 68 đơn
vị thành viên, hoạt động Hội rất đa dạng, từ
thực hiện các đề tài nghiên cứu triển khai, tổ
chức các hội thảo, diễn đàn khoa học đến đầu
tư sản xuất. Các viện, trung tâm đã thực hiện hàng
trăm đề tài nghiên cứu các cấp, đóng góp cho xã
hội và nộp cho Nhà nước một khoản kinh phí không
nhỏ. Đặc biệt, hoạt động của các chi hội
doanh nghiệp môi trường mới gia nhập Hội đã đem
lại cho Hội một khí thế mới trong công tác BVMT
như việc khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác Sơn
Tây của Công ty Cổ phần phát triển môi trường
xanh Seraphin; việc tái chế dầu mỡ thải thành
sản phẩm vừa đem lại lợi nhuận vừa góp phần
BVMT của Công ty Văn Đạo.
Hội chợ -
Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi trường Việt
Nam 2006 do Hội phối hợp với Cục BVMT và Công ty
cổ phần Tổ chức sự kiện và hội chợ toàn
cầu tổ chức đã thành công tốt đẹp: Có 93 tổ
chức, công ty của 11 nước tham gia hội chợ. 31
hợp đồng đã được ký với tổng giá trị các
hợp đồng được công bố: 216,2 tỷ VNĐ và 28,5
triệu USD. 3 hội thảo quốc tế về công nghệ môi
trường được tổ chức với gần 1.000 người tham
dự. 15 doanh nghiệp và tổ chức nghiên cứu trong nước
được trao Cúp Môi trường. Một danh mục ưu tiên
bao gồm 18 công nghệ và thiết bị thân thiện môi
trường được Ban Tổ chức kiến nghị với Bộ Tài
nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và
Bộ Công nghiệp.
Từ những
thành công có ý nghĩa nêu trên, các đối tác của
Hội, đặc biệt là phía Hàn Quốc, tín nhiệm và
cam kết cùng Hội tổ chức tiếp Hội chợ tương
tự tại TP Hồ Chí Minh vào năm 2007.
Thường
trực Hội cũng đang có các thoả thuận và chuẩn
bị ban đầu về việc phối hợp cùng Trung tâm Năng
suất Việt Nam và Tổ chức Năng suất châu Á tổ
chức Triển lãm quốc tế về sản phẩm sinh thái năm
2008 tại Hà Nội.
Trong năm
2006, công tác tư vấn, phản biện và giám định xã
hội đối với những vấn đề quan trọng ở cấp
quốc gia được Hội chú trọng và được tiến hành
một cách chủ động hơn.
Văn phòng
Hội hợp tác với các chuyên gia và các đối tác
như Liên hiệp hội Việt Nam, Cục BVMT, Bộ Tài nguyên
và Môi trường thực hiện các nhiệm vụ như điều
tra xã hội, đánh giá khía cạnh môi trường của
vấn đề di dân chuẩn bị xây dựng đập thuỷ điện
Sơn La; biên soạn 1 chương về tiếp cận nguồn gen
và chia sẻ lợi ích của dự thảo Luật Đa dạng
sinh học và dự kiến phản biện toàn bộ dự
thảo;... Văn phòng Hội cũng phối hợp với Liên
hiệp hội Việt Nam tổ chức Hội thảo về phá
dỡ tàu cũ và vấn đề môi trường, giúp tư vấn
cho các cơ quan quản lý giải quyết vấn đề và gây
được dư luận tốt trên các phương tiện truyền
thông.
Diễn đàn các
nhà báo môi trường trực thuộc Hội tổ chức bàn
tròn trực tuyến về dự báo cơn bão Chanchu. Hội
Bảo vệ thiên nhiên và môi trường Hà Nội đã
tổ chức Hội thảo “Thể chế xã hội hoá trong công
tác BVMT tại Thủ đô”.
Cuộc thi
quốc gia “Cải thiện việc sử dụng và bảo vệ
nguồn nước” (phối hợp cùng Báo Khoa học và Đời
sống tổ chức) vẫn tiếp tục được duy trì và
ngày càng có chất lượng hơn. Tuy vậy, bức xúc
lớn nhất hiện nay về công tác tuyên truyền là
Hội chưa có được một ấn phẩm tương xứng.
Công tác
hợp tác quốc tế của Hội đã có một số bước
tiến, tuy nhiên, nhìn chung vẫn chưa có định hướng
lâu dài, chưa tương xứng với năng lực hiện có
của Hội. Thường trực Hội có quan hệ thường
xuyên với nhiều tổ chức như UNDP, WB, IUCN, WWF,
Sida và được các tổ chức này hỗ trợ dưới
nhiều hình thức khác nhau. Về quan hệ song phương,
ngoài văn bản ký kết hợp tác lâu dài với Hiệp
hội Công nghiệp Môi trường Hàn Quốc trong lĩnh
vực hội chợ - triển lãm và công nghệ môi trường,
Hội được Viện Môi trường Thái Lan chọn làm
đơn vị chủ trì dự án “Đánh giá quyền tiếp
cận môi trường ở Việt Nam”. Ngoài ra, Hội cũng
tăng cường tiếp xúc, làm việc với các đoàn,
chuyên gia quốc tế về môi trường. Nhiều hội viên
của Hội đã tham gia các cuộc họp quốc tế, các
dự án quốc tế về môi trường, tham gia các đoàn
khảo sát về môi trường tại các nước.
Trên cơ sở
những kết quả đạt được, Hội nghị đã đề
ra những nhiệm vụ cụ thể trong năm 2007: Chuẩn
bị kỷ niệm 20 năm Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi
trường Việt Nam (1988-2008); Tiếp tục tổ chức
Hội chợ - Triển lãm về công nghệ môi trường;
Hỗ trợ BVMT cho một vườn quốc gia hoặc khu bảo
tồn; Tổng kết các mô hình thực tế về mô hình
và phát triển bền vững; Thực hiện một số đề
tài, dự án có sự tham gia của cộng đồng; Phối
hợp tổ chức cuộc thi nước lần thứ 4.
HN
(Tổng hợp); Ảnh: Lê Hồng Hà

HỘI BẢO VỆ THIÊN NHIÊN
VÀ MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
Đà Nẵng, 18/11/2006
-----------------------------------------------------------
BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC NĂM 2006 VÀ
ĐỊNH HƯỚNG CÔNG TÁC NĂM 2007
Trong
năm 2006, hoạt động của Hội BVTN&MT Việt Nam
tiếp tục có nhiều chuyển biến tích cực. Bằng
nỗ lực của toàn Hội, của các tổ chức và hội
thành viên của Hội và nhất là các hội viên,
với sự hỗ trợ của các cơ quan quản lý như Bộ
Tài nguyên và Môi trường, Bộ Khoa học và Công
nghệ, Bộ Nội vụ, của Liên hiệp các hội Khoa
học và kỹ thuật Việt Nam và của nhiều cơ quan
địa phương, Hội đã đạt được nhiều kết
quả, tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng
của Hội trong sự nghiệp bảo vệ môi trường và
phát triển bền vững của đất nước. Báo cáo dưới
đây tổng kết các hoạt động chính trong năm 2006
và định hướng công tác cho năm 2007 của Hội.
I.
TỔNG
KẾT CÔNG TÁC NĂM 2006
1. Công tác phát
triển tổ chức
v
Hội tiếp tục phát triển nhanh số lượng các hội
thành viên
Năm
2006 Hội đã thành lập thêm 1 đơn vị thành viên,
kết nạp thêm 1 hội địa phương và 8 chi hội . Đó
là:
-
Mạng lưới hợp tác vì không khí sạch Việt Nam
-
Hội BVTN&MT tỉnh Đắk Lắk
-
Chi hội Công ty TNHH Môi trường Việt Nam xanh
-
Chi hội Trung tâm văn hoá – Giáo dục tổng hợp thanh
thiếu nhi, Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh
-
Chi hội Tổng đội TNXP 5 Nghệ An
-
Chi hội Khoa Môi trường, Trường Đại học Khoa học,
Đại học Huế
-
Chi hội Trung tâm Tài nguyên
Môi trường và công nghệ sinh học, Đại
học Huế
-
Chi hội Công ty TNHH phát triển công nghệ và môi trường
Á Đông (ASIATECH)
-
Chi hội Trung tâm Môi trường Sinh thái Nhân văn, TP HCM
-
Công ty Cổ phần 206 Vĩnh Phúc
Ngoài
ra Hội BVTN&MT tỉnh Quảng Nam cũng đang chuẩn
bị Đại hội thành lập vào cuối năm nay.
Với
việc 10 đơn vị này gia nhập Hội, cho đến nay
số hội thành viên của Hội đã tăng lên thành 68
đơn vị. Việc ngày càng có nhiều đơn vị thuộc
các tổ chức khác nhau tham gia Hội trong vài năm
gần đây càng làm cho Hội ta ngày càng gần gũi
với cộng đồng, thúc đẩy sự tham gia của cộng
đồng vào công tác bảo vệ môi trường.
v
Đợt
làm việc của Đoàn công tác Hội với các Viện và
Trung tâm trực thuộc đã thu được kết quả khả
quan
Thực
hiện chủ trương của Ban Thường vụ Hội, Đoàn công
tác của Hội do Chủ tịch Hội làm Trưởng Đoàn
đã đến thăm và làm việc với toàn thể 5 Viện và
7 Trung tâm trực thuộc Hội tại Hà Nội và TP Hồ
Chí Minh. Kết quả cho thấy tất cả các đơn vị
đều hoạt động theo đúng pháp luật, thực hiện
mọi nghĩa vụ như quy định của Nhà nước. Đa
số các đơn vị hoạt động có kết quả, tạo thu
nhập cho các thành viên, đồng thời đóng góp đắc
lực cho công cuộc BVMT. Tuy nhiên cũng có vài đơn
vị hoạt động khó khăn, thậm chí có đơn vị có
ý định giải thể. Đoàn công tác Hội đã có
nhiều ý kiến đóng góp cho các hoạt động của các
đơn vị và ghi nhận các kiến nghị của các đơn
vị để đưa vào kế hoạch công tác của Hội
sắp tới.
v
Lần
đầu tiên tổ chức giao ban các hội địa phương
phía Bắc và phía Nam
Theo
nguyện vọng của các hội thành viên và tận dụng
sự có mặt của đại diện các hội thành viên địa
phương trong 2 đợt Hội thảo - Tập huấn về kỹ
năng tiếp cận cộng đồng, Thường trực Hội đã
tổ chức 2 cuộc tọa đàm cho các hội thành viên
địa phương phía Bắc và phía Nam. Tại các cuộc
tọa đàm này, các đại biểu đã cùng nhau trao đổi
sôi nổi về các kinh nghiệm hoạt động của mình.
Kết quả trao đổi cho thấy, để thúc đẩy được
hoạt động hội, cần có đội ngũ cán bộ nhiệt
tình, hăng hái, tự chủ và chủ động trong hoạt
động. Đồng thời, các hội cần vận động để
có được sự hỗ trợ của các cấp lãnh đạo địa
phương, đặc biệt là của Ủy ban nhân dân và Sở
TN&MT địa phương.
v
Nhiều
đơn vị thành viên tiếp tục phát triển mạnh về
mặt tổ chức và hoạt động ngày càng gắn bó
với Trung ương Hội
Trong
năm qua, nhiều hội địa phương tiếp tục phát
triển thêm nhiều chi hội và đơn vị trực thuộc.
Một số đơn vị đã có những cột mốc quan
trọng trong quá trình phát triển của mình như
Viện Môi trường và Phát triển bền vững đã kỷ
niệm 10 năm ngày thành lập; Hội Sinh học – Môi
trường tỉnh Hải Dương đã tổ chức Đại hội
lần thứ II và đổi tên thành Hội Bảo vệ Thiên
nhiên và Môi trường tỉnh Hải Dương; Hội Cao
Bằng đã phát triển mạnh mẽ về mặt tổ chức,
có nhiều hoạt động tạo được quan hệ và uy tín
tốt với chính quyền địa phương, được địa phương
đánh giá tốt và hỗ trợ kinh phí cho Hội hoạt động.
v
Về mặt tồn tại, còn quá ít các
hội thuộc khối doanh nghiệp tham gia Hội, hoạt động
của Hội ở các doanh nghiệp chưa rõ hướng; Một
số hội thành viên hoạt động rất yếu, có nơi
hầu như không hoạt động cần có biện pháp chấn
chỉnh kịp thời.
2. Công tác nghiên
cứu khoa học và triển khai công nghệ
v
Các
đề tài, dự án nghiên cứu liên quan đến cộng đồng
được nhiều hội thành viên và chuyên gia của
Hội tham gia, trong đó quan trọng nhất là:
-
Dự án quốc tế "Quyền tiếp cận môi trường"
(TAI) - Văn phòng Hội đã huy động 14 đại diện
của các đơn vị thành viên và 3 chuyên gia từ các
đơn vị nhà nước và trường đại học tham gia Nhóm
nghiên cứu và 18 thành viên từ các tổ chức chính
phủ và phi chính phủ khác nhau tham gia Ban Cố vấn.
-
Nhiệm vụ Điều tra, tổng kết hoạt động xã hội hóa
bảo vệ môi trường ở Việt Nam do Vụ Môi trường,
Bộ TN&MT giao đã huy động 7 đơn vị thành viên
và 15 chuyên gia của Hội tham gia.
-
Nhiệm vụ biên soạn Sổ tay về công tác bảo vệ môi
trường dùng cho cán bộ mặt trận tổ quốc cơ
sở phối hợp với Trung tâm Công tác lý luận,
MTTQVN và Cục BVMT đã huy động hàng chục chuyên
gia của 4 đơn vị tham gia.
Đây
là một hướng quan trọng dần được khẳng định
trong hoạt động của Hội ta. Thông qua các dự án
này, chuyên gia của Hội có dịp đi khảo sát tại
nhiều cộng đồng khác nhau, tiếp xúc nhiều với
cấp địa phương thông qua các hội thảo, từ đó
tạo mối liên kết gắn bó với địa phương và
cộng đồng để triển khai công tác Hội.
v
Các
hoạt động nghiên cứu - triển khai - sản xuất sôi
động tại các đơn vị thành viên tiếp tục được
duy trì
Với
68 đơn vị thành viên, hoạt động Hội trong lĩnh
vực này rất đa dạng: Từ việc thực hiện các đề
tài nghiên cứu triển khai, tổ chức các hội
thảo, diễn đàn khoa học đến đầu tư sản
xuất. Các viện, trung tâm nghiên cứu đã thực
hiện hàng trăm đề tài nghiên cứu các cấp, đóng
góp cho xã hội và nộp cho Nhà nước một khoản
kinh phí không nhỏ. Các đơn vị thành viên đã tổ
chức và tham gia tổ chức nhiều hội thảo khoa
học về các vấn đề môi trường cấp thiết. Đặc
biệt, các hoạt động của các chi hội doanh
nghiệp môi trường mới gia nhập Hội đã đem lại
cho Hội một khí thế mới trong hoạt động BVMT như
việc khởi công xây dựng nhà máy xử lý rác Sơn Tây
của Công ty Cổ phần phát triển Môi trường xanh
Seraphin; việc tái chế dầu mỡ thải thành sản
phẩm vừa đem lại lợi nhuận vừa góp phần BVMT
của Công ty Văn Đạo.
v
Tồn
tại lớn về công tác nghiên cứu và triển khai là
tản mạn, phụ thuộc chủ yếu vào các hợp đồng
dịch vụ. Việc hợp tác giữa các đơn vị trong cùng
một lĩnh vực hoạt động cũng chưa cao.
3. Hoạt động Hội
chợ - Triển lãm - Nhiệm vụ trọng tâm năm 2006
của Hội
v
Hội chợ - Triển lãm quốc tế Công nghệ - Môi trường
Việt Nam 2006 do Hội phối hợp với Cục BVMT và Công
ty cổ phần Tổ chức sự kiện và hội chợ toàn
cầu tổ chức đã thành công tốt đẹp.
Hội
chợ đã đạt được mục tiêu quảng bá công
nghệ môi trường của Việt Nam và của cả nước
ngoài: Số tổ chức, công ty tham gia là 93 với
tổng số gian trưng bày là 140 gian; 11 nước có công
nghệ trưng bày tại HC-TL; 31 hợp đồng đã được
ký với tổng giá trị các hợp đồng được công
bố: 216,2 tỷ VNĐ và 28,5 triệu USD. Tại HC-TL
đã tiến hành 3 hội thảo quốc tế về công nghệ
môi trường với gần 1.000 người tham dự. 15 doanh
nghiệp và tổ chức nghiên cứu trong nước được
trao Cúp Môi trường; 18 tổ chức, doanh nghiệp trong
và ngoài nước được trao bằng khen của Bộ Tài
nguyên và Môi trường; một danh mục ưu tiên bao
gồm 18 công nghệ và thiết bị thân thiện môi trường
được Ban Tổ chức kiến nghị với Bộ Tài nguyên
và Môi trường, Bộ Khoa học và Công nghệ và Bộ
Công nghiệp.
v
Sự thành công trong năm 2006 đã mở hướng cho các
hoạt động tương tự của Hội trong thời gian
tới.
4. Công tác tư vấn,
phản biện, giám định xã hội
v
Công tác phản biện, giám định xã hội đối với các
hoạt động quan trọng ở cấp quốc gia được chú
trọng và được tiến hành một cách chủ động hơn.
-
Văn phòng Hội đã phối hợp với các chuyên gia và các
đơn vị đối tác như Liên hiệp các Hội KHKT VN,
Cục BVMT, Bộ TN&MT thực hiện các nhiệm vụ như:
điều tra xã hội, đánh giá khía cạnh môi trường
của vấn đề di dân chuẩn bị xây dựng đập
thủy điện Sơn La; biên soạn 1 chương về tiếp
cận nguồn gen và chia sẻ lợi ích của dự thảo
Luật Đa dạng sinh học và dự kiến phản biện toàn
bộ dự thảo; Tham gia phản biện báo cáo ĐTM Thủy
điện Sơn La, Báo cáo ĐTM
nâng cấp do Bộ TN&MT đề nghị.
-
Văn phòng Hội cũng đã phối hợp cùng Liên hiệp
hội tổ chức Hội thảo về Phá dỡ tàu cũ và
vấn đề môi trường, giúp tư vấn cho các cơ quan
quản lý giải quyết vấn đề và gây được dư
luận tốt trên các phương tiện truyền thông. Trong
hoạt động này, Trang web của Hội cũng đã góp
phần tích cực trong việc đưa cập nhật các thông
tin trong và ngoài nước.
v
Các đơn vị thành viên của Hội vẫn tiếp tục phát
huy tốt vai trò
tư vấn, phản biện và giám định xã hội thông
qua việc tham gia vào các hội đồng thẩm định, xét
duyệt khoa học của địa phương, các chương trình
giám sát các nhà máy, các hội thảo mang tính góp
ý, tư vấn. Ví dụ Diễn đàn các nhà báo môi trường
đã tham gia tổ chức bàn tròn trực tuyến về dự
báo cơn bão Chanchu nhằm thảo luận về các vấn đề
liên quan và tư vấn cho các cơ quan chuyên môn và
quản lý; Hội BVTN&MT Thủ đô đã tổ chức
Hội thảo “Thể chế xã hội hoá trong công tác
bảo vệ môi trường" tại Thủ đô Hà Nội.
v
Hội có tiềm lực thực hiện công việc tư vấn,
phản biện, nhưng chưa được tận dụng khai thác,
Hội cũng chưa chủ động tìm kiếm cơ hội, nguồn
lực. Cần phấn đấu nâng cao vai trò và vị thế
của Hội trong vấn đề này.
5. Công tác tuyên
truyền, giáo dục đào tạo
v
Công tác tuyên truyền, giáo dục và đào tạo của
Hội vẫn được chú trọng và triển khai mạnh mẽ
trong toàn Hội năm 2006.
-
Văn phòng Hội đã tổ chức tốt việc thực hiện
nhiệm vụ biên soạn Báo cáo Môi trường cho cộng
đồng do Cục BVMT giao; Trang web của Hội tiếp tục
phát triển, cải tiến và cập nhật thường xuyên,
góp phần tạo kênh thông tin kịp thời đến các
hội thành viên cũng như cho độc giả nói chung. Đặc
biệt, Trang web của Hội đã xuất hiện trong bảng
xếp hạng các nước trên thế giới - đứng thứ
1.000.000 trên 100.000.000 trang web trên thế giới. Các
tin hoạt động của Hội được duy trì đều trên
2 trang của Tạp chí
BVMT của Cục BVMT. Lãnh đạo Hội thường xuyên
tham gia các buổi thuyết trình về các đề tài môi
trường tại nhiều tổ chức, cơ quan như Ủy ban Dân
tộc, các địa phương,…
-
Trong khuôn khổ các đề tài, dự án được giao, Văn
phòng Hội đã huy
động nhiều đơn vị thành viên và chuyên gia thực
hiện nhiều lớp tập huấn như: 3 lớp tập huấn
cho các cán bộ quản lý môi trường địa phương và
các tổ chức chính trị - xã hội tại các tỉnh Hà
Tĩnh, Kiên Giang và Bắc Giang; 2 cuộc Hội thảo -
Tập huấn về Kỹ năng tiếp cận cộng đồng tại
Hà Nội và TP Hồ Chí Minh; Hội thảo Cộng đồng
BVMT nhân dịp họp BCHTW Hội; Hội thảo về đào
tạo đại học về môi trường phối hợp với
Trung tâm KTMT Đô thị và KCN,…
-
Cuộc thi quốc gia Cải thiện việc sử dụng và bảo
vệ nguồn nước lần thứ 3 do Hội BVTN&MT Việt
Nam phối hợp tổ chức cùng Báo Khoa học và Đời
sống vẫn tiếp tục được duy trì và ngày càng có
chất lượng hơn. Kết thúc cuộc thi thứ ba, Ban
Tổ chức đã chọn ra 1 giải nhất, 5 giải nhì, 6
giải 3 và 13 giải khuyến khích trên tổng số 855 bài
dự thi. Nhóm thí sinh gồm 3 em của giải nhất đã
được Sida tài trợ đi dự cuộc thi quốc tế tại
Thụy Điển. Cuộc thi lần thứ tư đã được phát
động và Ban Tổ chức đang có nhiều nỗ lực tìm
kiếm các nguồn tài trợ để duy trì lâu dài cuộc
thi.
v
Hoạt
động tuyên truyền, giáo dục, đào tạo về môi trường
cũng là mặt mạnh của tất cả các đơn vị thành
viên của Hội. Đào tạo chuyên ngành về môi
trường không chỉ có các chi hội tại các trường
đại học thực hiện mà nhiều đơn vị của Hội
như các viện, các trung tâm đều tham gia. Trung ương
Hội đã và đang phối hợp với các viện và trung
tâm GTVT của Hội tổ chức đào tạo kỹ sư GTVT có
chứng chỉ môi trường. Đây là hướng đào tạo
rất có triển vọng, có thể nhân rộng sang các ngành
khác. Các đơn vị thành viên cũng đẩy mạnh công
tác tuyên truyền, giáo dục môi trường thông qua các
chiến dịch môi trường như Ngày MTQT 5/6, Chiến
dịch làm cho thế giới sạch hơn,…
v
Bức
xúc lớn nhất hiện nay về công tác tuyên truyền
của Hội là việc Hội chưa có được 1 ấn
phẩm tương xứng. Các phương án khác nhau đã
được đề xuất nhưng chưa có kết luận cụ
thể. Cần thảo luận kỹ xem có thể phát hành 1
ấn phẩm riêng của Hội dưới dạng nào?
6. Các Viện và Trung
tâm trực thuộc Hội tăng cường hoạt động:
v
Viện Môi trường và Phát triển bền vững:
Trên 20 cán bộ của Viện được ký kết hợp đồng
lao động dài hạn, được đảm bảo các chế độ
BHXH, BHYT, lương cơ bản và các chế độ phúc lợi
xã hội khác. Trong 2 năm 2005-2006 Viện và các chi nhánh
đã thực hiện 21 đề tài, dự án trên toàn quốc.
Trong 2 năm này Viện cũng thực hiện đầy đủ đóng
góp theo quy định cho Hội.
v
Viện Nước và Công nghệ Môi trường:
Từ năm thành lập (2002) đến nay, Viện đã thực
hiện 15 đề tài, dự án lớn nhỏ với tổng kinh
phí của các hoạt động KHKT là 4,5 tỷ đồng
cộng với nguồn thu từ các hợp đồng tư vấn và
chuyển giao công nghệ với doanh thu hàng năm khoảng
2-3 tỷ. Viện luôn thực hiện đầy đủ nghĩa vụ
đóng góp đối với Hội.
v
Viện Kỹ thuật Nước và Công nghệ Môi trường:
Trong 2 năm sau khi thành lập (2005-2006), Viện đã
ổn định về pháp nhân và tổ chức, thực hiện 6
đề tài nghiên cứu khoa học, tư vấn và đào tạo
với tổng kinh phí khoảng 3,5 tỷ đồng. Viện luôn
chấp hành nghiêm chỉnh nghĩa vụ đóng góp đối
với Hội.
v
Trung tâm Công nghệ Môi trường: Trung tâm có
mặt bằng sử dụng trên 200 m2 với văn phòng,
phòng họp và phòng làm việc được trang bị đầy
đủ, có ô tô đê phục vụ hoạt động. Trong các
năm 2005 và 2006 Trung tâm đã thực hiện 51 báo cáo
đánh giá tác động môi trường, chủ trì và tham
gia thực hiện 21 đề tài, dự án khác nhau và
thực hiện công tác giám sát môi trường cho 5 doanh
nghiệp. Trung tâm đã hỗ trợ kinh phí cho 5 cán bộ
của mình theo học chương trình thạc sỹ môi trường,
tham gia nhiều chương trình đào tạo đại học và
sau đại học tại các trường của TP Hồ Chí Minh.
Trung tâm thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ thuế
đối với Nhà nước và nghĩa vụ đóng góp cho
Hội.
v
Trung tâm Môi trường và Phát triển cộng đồng:
Trung tâm mới được thành lập cuối năm 2005. Năm
2006 đã triển khai và ổn định tổ chức ban đầu,
thuê trụ sở ổn định và mua sắm trang thiết
bị. Tuy vậy, Trung tâm cũng đã có 3 dự án đang
triển khai thực hiện: Biên soạn sách "Cẩm
nang xanh", nghiên cứu về chính sách lâm nghiệp
và ISO 14000.
7. Các Chi hội tại các
trường đại học, cơ quan khoa học, báo chí và
doanh nghiệp có nhiều chuyển biến:
v
Chi hội tại Trung tâm KTMT Đô thị và KCN:
Ngoài những nhiệm vụ chuyên môn của Trung tâm ra,
các hội viên của Chi hội còn tích cực tham gia vào
các chiến dịch môi trường, tham gia và đoạt Cúp
tại Hội trợ - Triển lãm Techmart, tham gia 1 gian
tại Hội chợ - Triển lãm Công nghệ Môi trường
của Hội.
v
Chi hội Khoa Môi trường, Đại học Quốc gia Hà Nội:
Các thành viên của Chi hội đã có nhiều đóng góp
cho công tác đào tạo, giáo dục và truyền thông môi
trường. Ngoài các giờ giảng của trường, các cán
bộ của Chi hôi còn tham gia tích cực giảng dạy
cho các lớp tập huấn của Hội, cho ra đời và duy
trì hoạt động của Câu lạc bộ sinh viên với các
hoạt động tình nguyện giúp đồng bào vùng sâu, vùng
xa. Cán bộ của Chi hội cũng tham gia thực hiện 28
đề tài khoa học, công bố trên 120 bài báo và báo
cáo khoa học và tổ chức Hội nghị khoa học của
sinh viên trong Khoa.
v
Diễn đàn các nhà báo môi trường Việt Nam:
Kể từ khi thành lập (1998), Diễn đàn đã tiến hành
nhiều hội thảo, tọa đàm với các nhà quản lý,
chuyên môn, tổ chức các chuyến đi thực tế cho các
nhà báo và cử các thành viên đi dự các hội
nghị quốc tế. Từ năm 2001, Diến đàn duy trì thường
xuyên Bản tin "Nhà báo và Môi trường", là
kênh truyền thông
quan trọng giữa các thành viên và nơi chia sẻ thông
tin và trao đổi nghề báo môi trường.
v
Chi hội Trung tâm chuyển giao công nghệ mới thuộc
Trung tâm Nhiệt đới Việt - Nga: Là một đơn vị mơi gia nhập Hội, Chi hội ngoài các
hoạt động về nghiên cứu triển khai BVMT đã bước
đầu có các hoạt động thành công và đóng góp tích
cực cho Hội như tham gia Hội chợ - Triển lãm Công
nghệ Môi trường và được Ban Tổ chức Hội chợ
trao Cúp Môi trường cho sản phẩm Tủ cấy vi sinh,
tham gia các hội thảo do Hội tổ chức và đóng góp
kinh phí ủng hộ Hội chợ.
v
Chi hội Công ty TNHH Văn Đạo: Mặc dù đầu năm gặp sự cố lớn ảnh hưởng đáng
kể đến kết quả kinh doanh, Công ty vẫn đạt được
thành tích cao trong sản xuất kinh doanh: thu gom và
xử lý hơn 3.000 tấn dầu thải, 300 tấn nhũ nước
dầu,. 20.000 vỏ thùng chứa chất thải nguy hại,
sản xuất ra hơn 2.000 tấn nhiên liệu, chất bôi trơn
từ chất thải tái chế, tạo việc làm cho hơn
1.000 lao động và đóng góp cho Ngân sách nhà nước
khoảng 500.000 triệu đồng. Công ty đã nhận được
bằng Giải pháp hữu ích trong lĩnh vực xử lý
dầu thải sản xuất chất bôi trơn, đăng ký xin
cấp bằng sáng chế cho 2 lĩnh vực , hoàn thành chương
trình quản lý chất lượng theo ISO 9001-2000, mở
rộng quan hệ với nhiều đối tác trong và ngoài nước.
8. Một số Hội địa
phương tích cực hoạt động:
v
Hội BVMT Cao Bằng: Hội có 22 chi hội
và 28 đơn vị hội viên tập thể. Tỉnh Hội có
quan hệ tốt và thường xuyên với Hội TW, UBND,
MTTQ, Liên hiệp hội và các hội bạn trong tỉnh.
Hội được UBND Tỉnh hỗ trợ kinh phí hoạt động,
tham gia tích cực các hoạt động bảo vệ môi trường
tại địa phương và huy động các chi hội thành viên
cùng tham gia.
v
Hội BVTN&MT Thủ đô vẫn tiếp tục
thực hiện việc tư vấn, phản biện cho các hoạt
động bảo vệ môi trường ở Thủ đô, tham gia công
tác tuyên truyền giáo dục môi trường trong các
chiến dịch môi trường, hội thảo, tập huấn,
viết sách, báo,…
v
Hội BVTN&MT Thanh Hóa: Trong năm 2006 đã
tham gia nhiệm vụ lập báo cáo về khai thác nước
và xả nước thải vào nguồn nước cho một số
đơn vị ở địa phương, chủ trì và tham gia lập
một số dự án để thực hiện trong năm 2007; tham
gia tích cực và vận động các chi hội cùng tham
gia các hoạt động BVMT ở địa phương và xây
dựng chương trình hành động bảo vệ môi trường
tại đơn vị.
v
Hội BVTN&MT tỉnh Đăk Lăk tuy mới thành
lập từ giữa năm 2006 cũng đã có báo cáo cho TW
Hội về các hoạt động tuyên truyền, vận động
kết nạp hội viên: Hiện Hội đã có 5 hội viên
tập thể và 69 hội viên cá nhân. Các thành viên
của Hội tích cực tham gia các lớp hội thảo,
tập huấn và các hoạt động tuyên truyền hưởng
ứng các chiến dịch môi trường.
v
Hội BVTN&MT Ninh Bình có khó khăn là chưa
có cán bộ chuyên trách và trụ sở riêng, còn
phải dựa vào Phòng Môi trường của Sở TN&MT,
tuy nhiên các hội viên cũng đã có các đóng góp
rất tích cực cho công tác tư vấn phản biện và c¸c
hoạt động tuyên truyền, phổ biến kiến thức
về bảo vệ môi trường tại địa phương.
v
Hội BVTN&MT Hải Dương: Hội có 10 chi hội
trực thuộc, 11 hội viên tập thể và 1 Trung tâm. Các
hội viên của Hội tích cực hoạt động trong lĩnh
vực tư vấn, phản biện xã hội và tuyên truyền,
nâng cao nhận thức BVMT ở địa phương. Đặc
biệt, Trung tâm của Hội sản xuất được chế
phẩm sinh học EM và cung cấp rộng rãi trong tỉnh
để giảm ô nhiễm môi trường. Hội có trang bị máy
vi tính và kết nối interrnet, do đó tham khảo được
thường xuyên tin tức từ Trang web của Hội TW.
v
Hội BVMT TP Hải Phòng: Năm 2006 Hội đã tăng
cường công tác tư vấn, phản biện và giám định
xã hội đối với các chương trình khoa học của
Thành phố, thẩm định các báo cáo ĐTM, đề xuất
và nghiệm thu các đề tài nghiên cứu. Hội và các
chi hội đã và đang thực hiện nhiều đề tài,
nhiệm vụ khoa học các cấp. Công tác tuyên
truyền, giáo dục BVMT vẫn được tiến hành đều
đặn. Trung tâm tư vấn môi trường của Hội đã
được Hội đồng khen thưởng đưa vào danh sách đề
nghị BCHTW Hội khen thưởng năm nay.
9.
Công tác hợp tác quốc tế
Công
tác HTQT của Hội đã có một số bước tiến, tuy
nhiên, nhìn chung vẫn chưa có định hướng lâu dài,
chưa tương xứng với năng lực hiện có của Hội.
Dưới đây là một số kết quả cụ thể về
hoạt động HTQT:
v
Thường
trực Hội có quan hệ thường xuyên với nhiều tổ
chức quốc tế như UNDP, WB, IUCN, WWF, Sida và được
các tổ chức này hỗ trợ dưới nhiều hình thức
khác nhau. Về quan hệ song phương, Hội đã có các
quan hệ tốt với một số tổ chức của Hàn Quốc
và Thái Lan: trong năm 2006 đã có văn bản ký kết
về hợp tác lâu dài giữa Hội BVTN&MT Việt Nam
và Hiệp hội Công nghiệp Môi trường Hàn Quốc
trong lĩnh vực hội chợ - triển lãm cũng như về công
nghệ môi trường nói chung; Hội đã được Viện Môi
trường Thái Lan chọn làm đơn vị chủ trì dự án
Đánh giá quyền tiếp cận môi trường ở Việt
Nam. tiếp xúc,
đón tiếp và làm việc với các đoàn, các chuyên
gia quốc tế về môi trường. Nhiều hội viên của
Hội đã tham gia các cuộc họp quốc tế, các dự
án quốc tế về môi trường, tham gia các đoàn
khảo sát về môi trường tại các nước.
v
Văn
phòng Hội và các đơn vị thành viên khác đã
thực hiện một số dự án nhỏ của các tổ chức
quốc tế; nhiều đơn vị thành viên đã đề xuất
các dự án xin tài trợ của nước ngoài và đã
được chấp thuận.
v
Đại
diện Hội đã được Trung tâm Năng suất Việt Nam
mời tham dự Hội chợ - Triển lãm tại Singapore;
được Hiệp hội công nghiệp Hàn Quốc mời dự
hội thảo về công nghệ môi trường tại Hàn
Quốc.
v
Hợp
tác quốc tế là khâu yếu trong hoạt động của
Hội, cần được tăng
cường từ nhiều phía, với nhiều hình thức khác
nhau.
10.
Khen thưởng
v
Tháng
10/2006 Hội đồng Khen thưởng của Hội đã họp
tại Hà Nội để xem xét các đề cử của các đơn
vị thành viên và Văn phòng Hội cho Giải thưởng
"Vì sự nghiệp bảo vệ môi trường" của
Hội. Sau khi xem xét, cân nhắc, Hội đồng đã
nhất trí thông qua 10 đề cử, trong đó có 2 tập
thể và 8 cá nhân để trình ra BCHTW phê duyệt.
v
Cuốn
Việt Nam - Môi trường và cuộc sống được Giải
bạc về sách hay
v
Công
ty Văn Đạo được cấp bằng giải pháp hữu ích
cho các sản phẩm liên quan đến dầu, mỡ đã qua
sử dụng, được tái chế, sản xuất ra nhiên
liệu, chất bôi trơn tiết kiệm tối đa nguồn
thải, bảo vệ môi trường.
v
Một
số đơn vị của Hội được trao Cup và bằng khen
tại HC-TL công nghệ môi trường Việt Nam 2006.
11. Hoạt động của
Thường vụ, các Ban, các Hội đồng và Văn phòng
Hội
v
Hoạt
động của Ban Thường v |