MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
Vấn để chất
độc da cam ở Việt Nam: Một vài đề nghị về cách giải
quyết
Ý
tưởng xây dựng khu du lịch sinh thái Tam Đảo 2: Thận
trọng khi xem xét các vấn đề môi trường
Đằng
sau sự tăng trưởng của Trung Quốc
Hãy ngừng sử dụng
túi chất dẻo !
Báo động ô nhiễm môi trường
làng nghề ở Bắc Bộ
Ra
mắt Cục Cảnh sát Môi trường
Vụ
án đầu tiên của cảnh sát môi trường: Sự cố tràn
dầu
“Cảnh
sát môi trường có quyền đình chỉ hoạt động của
doanh nghiệp”
Hà
Nội: 1 tỷ đồng/ngày do ô nhiễm
Ô nhiễm ở các khu công
nghiệp miền Trung
"Ngôi nhà thông minh"
thân thiện môi trường
Thái
Lan - hình mẫu về cải thiện môi trường
Việt
Nam có khả năng đạt các mục tiêu thiên niên kỷ
Bảo
vệ môi trường: Thể
chế phải đi trước thực tiễn, chế tài phải quyết
liệt hơn
50 năm nữa, VN sẽ bị thiếu nước trầm
trọng
Việt Nam có thể mất 16% diện tích
VẤN
ĐỀ CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM: MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ
VỀ CÁCH GIẢI QUYẾT
Phát
biểu trên báo chí gần đây, một phụ tá của một thượng
nghị sĩ Mỹ cho biết, Chính phủ Mỹ đã nhận thức
được hậu quả của chất độc da cam (CĐDC) do nước này
gây ra trong chiến tranh ở Việt Nam, và sẽ cùng làm
việc với Chính phủ Việt Nam để giải quyết vấn đề
cho thỏa đáng cả đôi bên. Lời tuyên bố trên là một
tín hiệu có thiện chí từ phía Mỹ trong việc nhìn
nhận và sửa chữa những lỗI lầm mà họ đã gây ra
trong quá khứ. Nhưng câu hỏi đặt ra là, giải quyết như
thế nào và bồi thường cho ai (bồi thường không đơn
giản chỉ là cung cấp tiền bạc cho nạn nhân mà còn
bao gồm nhiều hình thức cộng đồng khác). Trong bài
viết dưới đây, tác giả đề xuất một vài định hướng
chung và cách tiếp cận vấn đề mà ông đã có dịp phát
biểu khi trả lời phỏng vấn Tạp chí Science.
Một
chút lịch sử…
|
|
Trong thời gian 14 năm
(1961-1975) xung đột quân sự giữa Mỹ và Việt Nam, ngoài
số lượng vũ khí và đạn dược khổng lồ, quân đội
Mỹ còn sử dụng một số hóa chất như là một phương
tiện quân sự. Trong thời gian 10 năm (tính từ 1962 đến
1971) qua sự phê chuẩn của Tổng thống John F. Kennedy và
sự đồng thuận của Ngô Đình Diệm, quân đội Mỹ đã
phun xuống các làng xã Việt Nam khoảng 77 triệu lít hóa
chất, phần lớn là CĐDC (Agent Orange), có chứa dioxin
[1]. Dioxin là một hóa chất độc hại vào hàng số 1 mà
con người từng biết đến, bởi nó có khả năng gây ra
hàng loạt bệnh tật, kể cả ung thư và dị thai, cho
những ai bị nhiễm. Điều đáng chú ý là, giới quân
sự Mỹ từng biết mức độ độc hại của CĐDC trước
khi họ đem sang sử dụng ở Việt Nam [1]. Các hóa chất
này được sản xuất và cung cấp theo đơn đặt hàng
của Bộ Quốc phòng Mỹ. Tham gia vào hợp đồng này có
hơn 20 công ty hóa chất Mỹ, kể cả những công ty lớn
và “quen thuộc” như Dow Chemical Co., Monsanto Co.,
Pharmacia Corp, Hercules Inc, Occidental Chemical Corp, Ultramar
Diamond Shamrock Corp, Maxus Energy Corp, Thompson Hayward Chemical
Co, Harcros Chemicals Inc và Uniroyal Chemical Inc.
Theo thống kê mới nhất của các nhà nghiên cứu Mỹ,
tổng số người Việt Nam, kể cả cựu quân nhân cả
hai miền Nam - Bắc, bị phơi nhiễm độc chất là 4, 8
triệu người. Hơn 25.000 làng xã với 2, 6 triệu hécta đồng
ruộng chịu ảnh hưởng của độc chất, trong đó có
gần 90% số làng xã bị phun hai lần và khoảng 11% số làng
xã bị phun đến 10 lần [2]! Với một lượng hóa chất
khổng lồ như thế, có thể nói rằng chiến dịch phun hóa
chất xuống miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh
hóa học lớn nhất trong lịch sử chiến tranh trên thế
giới, vì từ xưa đến nay, chưa có cuộc chiến nào và
ở bất cứ nơi đâu lại chịu một sự phơi nhiễm độc
chất nhiều như thế [2].
Sau khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, các nhà khoa
học Mỹ đã tiến hành một loạt nghiên cứu quy mô trên
cựu quân nhân Mỹ về tác hại của CĐDC hơn 20 năm
liền. Các nghiên cứu dịch tễ học này cho thấy những
cựu chiến binh từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy
cơ bị một số bệnh ung thư, tiểu đường và sinh con
với dị tật bẩm sinh cao hơn những người không bị phơi
nhiễm độc chất [1].
Trước các phát hiện khoa học đó, năm 1984, một nhóm
cựu chiến binh Mỹ đã đệ đơn kiện các công ty hóa
chất Mỹ về những tác hại đối với sức khỏe mà
họ phải chịu khi tham gia chiến dịch phun độc chất.
Vụ kiện, dưới sự chủ trì của Thẩm phán Jack
Weinstein, không được xét xử, mà chỉ kết thúc bằng
một thỏa thuận ngoài tòa. Theo đó, các công ty hóa
chất đồng ý lập ra một quỹ y tế xã hội khoảng 180
triệu USD nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mỹ
từng bị ảnh hưởng bởi CĐDC.
Ngày 30.1.2004, Hội nạn nhân CĐDC Việt Nam quyết định
đệ đơn kiện các công ty hóa chất Mỹ. Các công ty này
bị kiện với 10 tội danh, như tội làm lợi bất chính,
gây thương tích cho thường dân..., kể cả là tội
phạm chiến tranh. Vụ kiện tuy còn trong giai đoạn đầu
nhưng đã gây được sự chú ý của thế giới về nạn
nhân dioxin ở Việt Nam (trước đây nói đến dioxin, người
ta chỉ nghĩ đến cựu chiến binh Mỹ). Dư luận thế
giới đồng loạt và nhiệt tình đứng về phía các
nạn nhân. Hàng triệu chữ kỹ của công dân khắp năm
châu là một biểu hiện sự ủng hộ của họ dành cho
nạn nhân Việt Nam. Sau một thời gian ngắn nghe bằng
chứng từ phía nguyên đơn và bị đơn, ngày 10.3.2005,
Thẩm phán Jack Weinstein thuộc tòa án địa hạt Brooklyn,
New York, đã công bố phán quyết trong một tài liệu dài
233 trang [3]. Trong đó, ông Weinstein đề cập đến các trường
hợp kiện cáo trước đây, đến các khía cạnh lý
thuyết của luật pháp Mỹ và luật pháp quốc tế và
kết luận rằng: “Các yêu sách của phía nguyên đơn không
có cơ sở pháp lý dưới bất cứ luật nội địa, hay
luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế.
Vụ kiện không được xét xử”.
Ngày 19.12.2006, sau chuyến dự hội nghị APEC tại
Việt Nam của Tổng thống George W. Bush, Quốc hội Mỹ đã
tuyên bố rằng họ sẽ xem xét thành lập một ngân quỹ
vào năm 2007 để giúp làm sạch môi trường ở những nơi
bị ô nhiễm độc chất trong thời chiến. Trước đó,
phát biểu trên báo chí, một phụ tá của một thượng
nghị sĩ Mỹ cho biết, Chính phủ Mỹ đã nhận thức
được hậu quả của CĐDC ở Việt Nam và sẽ cùng làm
việc với Chính phủ Việt Nam để giải quyết vấn đề
cho thỏa đáng cả đôi bên. Trong nhiều bài viết trước
ở trong và ngoài nước, tôi cũng đã từng đề nghị
lập một quỹ để làm sạch môi trường và giải
quyết một số vấn đề khác. Nhân dịp này, xin đề
nghị thêm vài điểm xung quanh vấn đề “bồi thường”.
Hành
lang công lý và hình thức trợ giúp
Kinh nghiệm từ Thế chiến thứ II và cuộc chiến ở
Nam Tư cho thấy, vấn đề CĐDC ở Việt Nam có thể được
tiếp cận bằng 3 “hành lang công lý” cho nạn nhân: Tòa
án công lý quốc tế (ICJ), các tòa án của Việt Nam và
một quỹ tài trợ quốc tế. Vì lý do chính trị và
luật pháp quốc tế, hai phương tiện đầu (ICJ và toà
án trong nước) không thực tế và khó áp dụng cho trường
hợp Việt Nam. Do đó, chỉ có hành lang sau cùng là thực
tế nhất: Đó là thiết lập một quỹ tài trợ quốc
tế cho nạn nhân CĐDC tại Việt Nam. Có thể quỹ này
sẽ do các nước trên thế giới từng tham chiến ở
Việt Nam, có lẽ phần lớn từ Mỹ, đóng góp. Quỹ nên
được một hội đồng quốc tế đứng ra quản lý và
điều hành dựa vào những tiêu chí nghiêm chỉnh mà các
bên đều nhất trí. Thông qua quỹ này, có thể thực
hiện một số việc thực tế như sau:
Thứ nhất, giúp đỡ
những nạn nhân bị nhiễm độc chất và bị những
bệnh được công nhận là do CĐDC hay dioxin gây ra. Viện
Y khoa Mỹ đã chính thức công nhận CĐDC là nguyên nhân
gây ra một số bệnh như ung thư tế bào mềm, ung thư máu
dạng Non -Hodgkin và Hodgkin, ung thư tuyến tiền liệt, ban
clor, chứng nứt đốt sống, …
Chính vì thỏ, năm 1984, các công ty hóa chất có liên
quan đến việc sản xuất và cung cấp độc chất da cam
cho quân đội Mỹ đã đồng ý bồi thường cho các cựu
quân nhân Mỹ một số tiền khoảng 180 triệu USD. ở
Việt Nam, hình thức bồi thường có thể bao gồm việc
điều trị những bệnh được công nhận là do phơi
nhiễm độc chất gây ra, tạo công ăn việc làm cho
những cư dân trong các vùng bị nhiễm, lập bệnh xá và
trường học để nâng cao đời sống vật chất và trình
độ văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị
nhiễm độc chất.
Thứ hai, quỹ nên bỏ ra một số ngân khoản để làm
sạch môi trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên
Hòa, A Lưới, A Sao,... Sau 10 năm, 50% nồng lượng dioxin
vẫn còn tồn tại trong con người, và nếu không tồn
tại trong con người thì tồn tại trong môi trường. Do
đó, tác hại của dioxin rất lâu dài. Xin dẫn một ví
dụ: Năm 1976, ở ý một vụ tai nạn xảy ra tại nhà máy
gần thị trấn Seveso đã thải ra môi trường xung quanh
khoảng 30 kg dioxin. ấy thế mà cho đến nay, tức sau hơn
30 năm xảy ra tai nạn đó và 30 năm làm sạch môi trường,
các nhà nghiên cứu ý vẫn phát hiện tác hại của
dioxin đối với sức khỏe người dân. ở Việt Nam
hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại
các địa điểm này, nồng độ dioxin rất cao, có khi cao
hơn 130 lần nồng độ an toàn cho phép, vì chất độc đã
lắng đọng xuống đất, nhất là các nơi bùn lầy. Do
đó, nhu cầu làm sạch môi trường tại những nơi này
phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.
Thứ ba, quỹ nên hỗ trợ và giúp đỡ thành lập
một viện nghiên cứu quốc tế về CĐDC và dioxin. Viện
sẽ quy tụ nhiều chuyên gia trên thế giới về hóa
học, y học, môi trường học và dịch tễ học để
tiến hành những nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên
cứu lâm sàng xác định cơ chế tác hại của dioxin và
CĐDC trên con người và môi trường. Viện cũng có thể
phục vụ như một trung tâm đào tạo các nhà khoa học tương
lai chuyên về môi trường học và y tế - môi trường
học. Đây là một việc làm mang ý nghĩa quốc tế vì nó
sẽ cung cấp thông tin khoa học quý báu vào kho tàng tri
thức của con người về tác hại của dioxin.
Thứ tư, ngay bây giờ Chính phủ và các công ty hóa
chất Mỹ có thể tài trợ để Việt Nam có thể tiến hành
thu thập dữ kiện khoa học về tác hại của CĐDC tại
Việt Nam. Nghiên cứu này nhắm mục tiêu phát triển cho
được một phương pháp để ước định mức độ phơi
nhiễm độc chất cho từng cá nhân trong những vùng
từng bị ảnh hưởng độc chất; thiết lập mối liên
hệ giữa mức độ phơi nhiễm độc chất da cam và các
bệnh như ung thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường và
tỷ lệ giới tính; thẩm định tác hại của dioxin hay CĐDC
đối với cấu trúc di truyền (gen) trong các nạn nhân
thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba. Trong suốt gần 30 năm
sau khi chiến tranh chấm dứt, trên các diễn đàn khoa
học quốc tế, số lượng bài báo khoa học liên quan đến
CĐDC từ Việt Nam còn cực kỳ khiêm tốn (chưa đến con
số 10). Phần lớn những nghiên cứu này chỉ ở dạng mô
tả, chưa đi sâu vào vấn đề. Do đó, đây là một nhu
cầu cấp bách, bởi vì dù quy mô lớn như thế nhưng tác
hại của CĐDC và dioxin trong người dân Việt Nam từng
bị phơi nhiễm độc chất trong thời chiến cho đến nay
vẫn chưa rõ ràng.
Có thể nhìn hệ quả của CĐDC ở Việt Nam như là
một vết thương chiến tranh mà cuộc chiến, dù đã
chấm dứt từ 30 năm trước đây, để lại. Ngày nay, người
nước ngoài đến Việt Nam chắc sẽ không thấy vết thương
đó, mà họ chỉ nhìn thấy một nước Việt Nam đang trên
đường phát triển kinh tế nhanh chóng. Nhưng trên thực
tế, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất
thế giới, và những cư dân sống trong các vùng từng
bị ảnh hưởng CĐDC trong thời chiến tranh là những người
còn nghèo hơn cả những người nghèo. Họ cần được
giúp đỡ.
Vấn đề hệ quả của CĐDC tại Việt Nam có thể nhìn
qua hai khía cạnh: Pháp lý và đạo lý. Không chỉ người
Mỹ, mà mọi dân tộc khác trên hành tinh này, kể cả dân
tộc Việt Nam, cũng có quyền được sống trong hòa bình,
quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Sau Thế chiến
thứ II, nước Đức đã nhìn nhận trách nhiệm của họ
về các hành vi sai trái trong thời chiến, không chỉ vì
nạn nhân của chiến tranh, mà còn vì tương lai nước Đức.
Người Đức hiểu rằng một quốc gia không dám nhìn
nhận cái sai trái của mình trước con em mình và trước
thế giới thì không thể nào khôi phục được đạo đức.
Ngày nay, nước Mỹ là cường quốc hào hiệp số một
trên thế giới, và nếu Mỹ muốn dương cao ngọn cờ đạo
lý trên trường quốc tế thì Mỹ cũng nên nhìn nhận
lỗi lầm trong chiến dịch phun độc chất xuống Việt
Nam trong thời chiến, và có hành động thiết thực
nhằm xoa dịu nạn nhân của độc chất. Đó là việc không
cần đến chốn pháp đình, mà chỉ cần đến đạo đức
của người Mỹ.
Năm 1864, khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống, Karl
Marx đại diện cho Hiệp hội công nhân quốc tế đã
gửi lời chúc mừng. Lúc đó, Charles Francis Adams, một
Bộ trưởng của Mỹ ở Luân Đôn thay mặt Lincoln đã
trả lời Marx: “Chính phủ Mỹ ý thức sâu sắc rằng
chính sách của Mỹ, hiện nay cũng như trong quá khứ
[…]là phấn đấu cho sự bình đẳng và công lý đúng
đắn cho tất cả các nhà nướcl, tất cả con người
[...]. Quốc gia không phải tồn tại một cách riêng
lẻ và chỉ cho riêng quốc gia đó; quốc gia tồn tại để
cổ vũ cho sự thịnh vượng và hạnh phúc của nhân
loại bằng những hợp tác nhân đạo”.
Đó là một lý tưởng nằm trong những tuyên bố
gần đây của Quốc hội Mỹ. Hy vọng những đề nghị
cụ thể trên đây sẽ được xem xét, thực thi để
phần nào xoa dịu những mất mát cho nạn nhân CĐDC ở
Việt Nam.
Nguyễn
Văn Tuấn (Tạp chí Hoạt động khoa học, số 3/2007)
Tài
liệu tham khảo:
[1]
Nguyễn Văn Tuấn. CĐDC, dioxin và hệ quả. Nhà xuất
bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh 2004.
[2] Stellman JM, et al. The extent and patterns of usage of Agent
Orange and other herbicides on Vietnam. Nature 2003; 422: 681-687.
[3] Nguyên văn bản phán quyết (tiếng Anh) có thể xem
tại địa chỉ: http://www.ffrd.org/AO/10_03_05_agentorange.pdf
và http://Vietnam-Dioxine.org
(*)Tác
giả là giáo sư y học thuộc Đại học New South Wales T
(Australia) và là tác giả cuốn sách “CĐDC, dioxin và
hệ quả”, Nhà xuất bản Trẻ, Tp Hồ Chí Minh 2004.
|
Ý
TƯỞNG XÂY DỰNG KHU DU LỊCH SINH THÁI TAM ĐẢO 2: THẬN
TRỌNG KHI XEM XÉT CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG
|
|
|
|
Một đoạn đường lên Tam Đảo
2 bị sạt lở
|
Tỉnh
Vĩnh Phúc dự kiến sẽ chuyển mục đích sử dụng
300ha đất tại Vườn quốc gia Tam Đảo để xây
dựng một khu du lịch sinh thái. Theo ý tưởng này,
trong thời gian không xa Khu du lịch sinh thái Tam Đảo
2 sẽ trở thành một khu du lịch cao cấp, có khu
vila, sân golf, công viên thiên nhiên, khu nhà nghỉ
cao cấp, sòng bạc... Vấn đề đặt ra ở đây là
làm thế nào cân bằng giữa phát triển kinh tế và
bảo vệ môi trường.
Thận
trọng trước khi chuyển đổi
Theo
quan điểm của Ts. Trần Hồng Hà - Cục trưởng
Cục Bảo vệ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường):
"Việc sử dụng đất tại Vườn quốc gia Tam
Đảo để phát triển khu du lịch sinh thái cũng
nằm trong xu hướng chung của nhiều nước hiện nay
trên thế giới. Tuy nhiên, cần phải đánh giá lại
giá trị đa dạng sinh học, khoanh định lại diện
tích, trong đó phải xác định đâu là khu bảo vệ
tuyệt đối, đâu là vùng đệm, đâu là vùng khai
thác sử dụng gắn với phát triển. Công việc này
phải được thực hiện thông qua công cụ gọi là
đánh giá tác động môi trường. Phải xem xét khu
vực dự kiến cho hoạt động phát triển đó có
nằm trong khu bảo tồn không? Có tác động lên hệ
động thực vật không? Đồng thời cũng cần xem xét
toàn bộ dự án đó có mối quan hệ lồng ghép
giữa mục tiêu phát triển và bảo tồn, sử dụng
hợp lý tài nguyên. Dự án này không chỉ nhà nước
quyết định mà phải lấy ý kiến rộng rãi của
nhân dân, các tổ chức, hiệp hội, các nhà khoa
học
ÔÂng
Nguyễn Ngọc Phi - Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc -
khẳng định: “quan điểm của tỉnh là phát
triển kinh tế nhưng không bằng mọi giá. Luôn đặt
vấn đề môi trường lên hàng đầu".
Giá
trị bảo tồn thấp?
Được
biết, ngay sau khi có ý tưởng quy hoạch xây dựng
khu du lịch sinh thái này, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã
mời một nhóm nhà khoa học thuộc Trường Đại
học Khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà
Nội) đánh giá sơ bộ tác động môi trường của
dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vững Tam
Đảo 2. Qua phân tích thực trạng, nhóm nhà khoa
học đã đưa ra kết luận: giá trị bảo tồn khu
Tam Đảo 2 thấp do khu vực này thảm rừng che phủ
đã bị tàn phá nhiều lần, các loài quý hiếm không
còn, thay vào đó chỉ còn phổ biến các loài trúc
gai và dứa dại. Hiện trạng tài nguyên rừng và đa
dạng sinh học của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn
quốc gia Tam Đảo 2 không còn đáp ứng yêu cầu và
tiêu chí; hiện nay không còn rừng nguyên sinh mà
chỉ là rừng thứ sinh thưa thớt với tính đa
dạng thấp. Chính vì vậy, khu du lịch sinh thái được
xây dựng ở đây sẽ ít ảnh hưởng đến sự
tồn vong của đa dạng sinh học. Ông Nguyễn Đạm -
Phó Giám đốc sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc, người
đã nhiều lần tới khảo sát Tam Đảo 2 - cho
biết, nơi đó không gian bằng phẳng không có cây
đại thụ nào, chỉ là rừng lúp xúp. Lãnh đạo
tỉnh rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế
nhưng vẫn bảo vệ môi trường. Tỉnh chờ ý kiến
của các nhà khoa học.
Gs.
Ts. Bùi Công Hiển - Giám đốc Trung tâm Ứng dụng côn
trùng học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên -
cho biết: “Tại Tam Đảo 2 trước đây có gì chúng
tôi không biết nên qua mấy ngày khảo sát không
thể biết ngay được còn gì để bảo tồn. Là
một trong những thành viên tham gia khảo sát, tôi
thấy muốn cứu Tam Đảo 2, khôi phục lại dạng
nguyên sinh phải được đầu tư. Nếu phát triển
du lịch sinh thái ở đây phải khảo sát hiện
trạng xem tiềm năng có gì, hệ động thực vật,
thủy văn thế nào, địa chất cho phép làm những gì,
bước 2 mới làm dự án tiền khả thi. Có thể phát
triển dự án du lịch sinh thái vì nếu can thiệp thông
minh, hợp lý vào tự nhiên, con người sẽ được hưởng
lợi từ tự nhiên rất nhiều.
Tuy
nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta cần có
nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể, khách
quan về giá trị bảo tồn của Tam Đảo 2, bởi có
như vậy mới có thể biết được chúng ta cần
bảo tồn, khôi phục cái gì. Có được kết quả
nghiên cứu này chắc chắn sẽ là cơ sở khoa học
tốt nhất khi các nhà làm chính sách quyết định
lựa chọn giữa việc bảo tồn hay phát triển khu
du lịch sinh thái. Hoặc nếu quyết định phát
triển du lịch sinh thái cũng cần có chiến lược xây
dựng và phát triển cho phù hợp giữa phát triển
kinh tế và bảo vệ môi trường.
Bích
Ngọc (Khoa học và Phát triển, Số 11 (420),
15-21/3/2007)
Bài
tham khảo: Thận
trọng với phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn
Quốc gia Tam Đảo
|
Tiếp
theo bài "Sự thần
kỳ sắp kết thúc", chúng tôi xin đăng tải tiếp
bài viết này về sự tăng trưởng của Trung Quốc và những
vấn đề môi trường :

|
HÃY NGỪNG SỬ DỤNG TÚI CHẤT DẺO |
|
|
|
Gây ô nhiễm, tạo
nguy hiểm cho môi sinh..., túi chất dẻo đã bị tẩy chay ở nhiều
nước phát triển và có nhiều dự án để loại trừ việc sử dụng
loại túi này. Nhưng ở nước ta, từ vùng núi cao Mèo Vạc xa xôi
tới vùng biển Cà Mau tận cùng Tổ quốc, đâu đâu cũng có mặt túi
chất dẻo. Một thảm họa ô nhiễm môi trường thật nhỡn tiền!
Mới đây báo chí đưa
tin một Viện nghiên cứu khai thác biển ở Pháp đã quan sát thấy
hơn 60% rác tìm thấy dưới đáy biển là chất dẻo, gây độc hại
cho hệ động vật dưới nước. Hàng trăm con cá voi và rùa biển ở
đó bị chết ngạt hoặc tắc ruột khi nuốt phải túi chất dẻo nổi
bập bềnh giữa hai làn nước vì nhầm tưởng là cá. Xin lưu ý một
nhược điểm nữa là túi chất dẻo được chế tạo từ các dẫn xuất
dầu mỏ nên gián tiếp góp phần tạo ra hiệu ứng nhà kính và sự
nóng lên của khí hậu.
Được biết ở Đài
Loan, chính quyền đã ra lệnh cấm sử dụng túi này từ năm 2002.
Ở Ailen, chính quyền cũng chọn giải pháp đánh thuế loại túi
này nên mức sử dụng giảm hẳn… Vậy tại sao chúng ta không hoàn
toàn loại trừ loại túi này, bắt đầu trước hết ở các siêu thị?
Tất nhiên các nhà
khoa học phải vào cuộc chứ không chỉ người tiêu dùng. Họ cần
tìm được biện pháp xen kẽ có tính quá độ cho vấn đề túi chất
dẻo, những túi “có tính phân hủy sinh học chẳng hạn”, được chế
tạo từ mây tre đan hay từ tinh bột ngô, khoai tây, sợi đay, cà
chua…, như một số nước đã làm? Túi giấy vẫn được xem là “có
tính sinh thái” nhưng sản xuất túi giấy cần khá nhiều năng
lượng và nước nên nhiều chuyên gia coi túi giấy cũng gây ô
nhiễm ngang với túi xách tạm bằng chất dẻo.
Giá túi “sinh học”
chắc sẽ đắt hơn túi chất dẻo vài ba lần nhưng bù lại, môi
trường sẽ tránh được hiểm họa không nhỏ. Và người tiêu dùng có
thể sẽ học được cách tiêu thụ và sống có trách nhiệm hơn...
Nguyên Đán (ĐH Bách Khoa Hà Nội) |
|
|
BÁO ĐỘNG Ô NHIỂM MÔI TRƯỜNG
LÀNG NGHỀ Ở BẮC BỘ
|

Ô nhiễm tại làng nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, Bắc Ninh (Ảnh:
Nguyễn Đức Quang) |
|
Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về
cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường Phạm Thế Bảo cho biết mức
độ ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, đặc
biệt tại các làng nghề, đang gia tăng ở mức báo động.
Khu vực Đồng bằng sông Hồng hiện có khoảng 700 làng nghề, chiếm tới
gần một nửa số làng nghề của cả nước. Một khảo sát mới đây của Viện
Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ
Khoa học Công nghệ cho thấy 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều
cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước mặt, nước ngầm
đều có dấu hiệu ô nhiễm, nhất là nước tại các làng nghề chế biến
nông sản thực phẩm, dệt nhuộm.
Theo ông Phạm Thế Bảo, kết quả khảo sát tại 30 làng nghề tại Hưng
Yên cho thấy có tới 60% sản xuất hoàn toàn thủ công, chỉ có 37% là
có trang bị nửa cơ khí và hầu hết là sản xuất tại gia đình. Khảo sát
tại 40 xã ở Hà Nội cũng cho thấy khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ
các hoạt động sản xuất.
Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý được thải trực
tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên),
nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép. Nghề thuộc da,
làm miến dong ở Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột,
da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy
qua làng nghề.
Nhiều làng nghề còn gây ra tiếng ồn và bụi quá mức cho phép.
Do ô nhiễm môi trường, lao động không có dụng cụ bảo hiểm và sinh
hoạt hàng ngày chung với môi trường sản xuất, tình trạng sức khoẻ
của người dân làng nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả nghiên
cứu của Viện Bảo hộ lao động gần đây cho thấy trong các làng nghề,
tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm
30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%.
Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần
kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị
chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4%. Tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà
(Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về
đường ruột là 58,8%.
Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề tại Đồng bằng Bắc Bộ,
Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ
sinh môi trường Phạm Thế bảo cho rằng các địa phương cần gắn quy
hoạch xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề với việc xử lý môi
trường và chất thải mang tính tập trung; tăng cường nâng cao nhận
thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường và tăng cường chuyển giao
công nghệ sản xuất tiên tiến, phù hợp với điều kiện từng địa phương.
(Theo TTXVN)
RA
MẮT CỤC CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG
Chiều
6-3, tại Hà Nội, Tổng cục Cảnh sát đã tổ chức lễ
ra mắt Cục Cảnh sát Môi trường trước sự chứng
kiến của đông đẩo các vị lãnh đạo Bộ Công an,
Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng đại diện các đơn
vị trực thuộc Tổng cục Cảnh sát.
Thượng
tướng Lê Thế Tiệm, Thứ trưởng Bộ Công an đã trực
tiếp giao nhiệm vụ và đề nghị lãnh đạo Cục Cảnh
sát Môi trường: khẩn trương ổn định về tổ chức;
tham mưu, đề xuất lãnh đạo Bộ Công an nghiên cứu trình
Chính phủ, Quốc hội xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý
cho hoạt động của lực lượng cảnh sát này. Cán bộ,
chiến sĩ Cục Cảnh sát Môi trường cần nắm vững công
tác điều tra cơ bản; đấu tranh kiên quyết với các hành
vi vi phạm pháp luật về môi trường; phấn đấu hoàn
thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Cục
Cảnh sát môi trường có trách nhiệm giúp Tổng Cục trưởng
Tổng cục Cảnh sát thống nhất quản lý, tổ chức
chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng Cảnh sát Môi trường
trong cả nước thực hiện các chủ trương, kế hoạch,
biện pháp bảo vệ môi trường. Cục có nhiệm vụ phòng
ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi
phạm pháp luật khác về môi trường theo quy định của
pháp luật và của Bộ trưởng; hướng dẫn, chỉ đạo
và tổ chức thực hiện một số hoạt động điều tra
theo pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự và xử lý các
vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quy định
của pháp luật.
Trước
đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã có quyết định bổ
nhiệm ông Nguyễn Xuân Lý (Phó cục trưởng Cục quản lý
khoa học môi trường) làm Cục trưởng Cục cảnh sát môi
trường.
(Theo
TTXVN)
VỤ
ÁN ĐẨU TIÊN CỦA CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG: SỰ CỐ TRÀN DẦU
|
|
|
|
Thứ
trưởng Thường trực Phạm Khôi Nguyên
chụp ảnh cùng lực lượng cảnh sát môi
trường
|
|
Phát biểu tại lễ ra mắt,
Thứ trưởng Thường trực Phạm Khôi Nguyên
khẳng định: “Môi trường là mặt trận
rất phức tạp vì vậy lực lượng CSMT sẽ là
người bạn đồng hành, là cứu cánh cho môi
trường Việt Nam. Bộ TN&MT không còn đơn
độc trên mặt trận bảo vệ môi trường
bởi tới đây Bộ và Cục CSMT sẽ cùng phối
hợp trên trận địa này”.
Đại tá Nguyễn Xuân Lý –
Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường đã
khẳng định điều này với PV báo TN&MT
ngay sau lễ ra mắt Cục CSMT chiều 6/3 tại Hà
Nội. Đại tá Nguyễn Xuân Lý cho biết:
|
- Nhiệm vụ trước mắt của Cục CSMT là tập trung
ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng đường
lối, phương thức hoạt động của Cục; rà soát các
quy phạm pháp luật để có phương án bổ sung,
sửa đổi như Nghị định 81 về xử lý vi phạm hành
chính... Đồng thời có kế hoạch tổ chức tập
huấn nâng cao kiến thức môi trường cho các chiến
sỹ. Xác định một số chuyên án theo quy định
của pháp luật. Và việc đầu tiên sau khi Cục CSMT
đi vào hoạt động là phối hợp với Bộ TN&MT
điều tra vụ tràn dầu tại các tỉnh miền Trung
(xảy ra cuối tháng 1, đầu tháng 2/2007), và đang
trong quá trình điều tra một số vụ án tại các
điểm nóng môi trường.
|
|
|
Đại
tá Nguyễn Xuân Lý
|
|
Theo ông, đâu là những
khó khăn, thách thức mà lực lượng CSMT sẽ
đối mặt khi đi vào hoạt động?
- Để tiên lượng được
những khó khăn của Cục trong thời gian tới là
điều không dễ vì cơ cấu tổ chức của đơn
vị chúng tôi chưa rõ ràng. Tuy nhiên, theo tôi
khó khăn ban đầu sẽ là hành lang pháp lý chưa
đồng bộ, cả Pháp lệnh Tổ chức điều tra
hình sự, Nghị định 81 về xử phạt vi phạm
hành chính đều cần phải sửa đổi, bổ
sung. Nhận thức về bảo vệ môi trường của
các cấp lãnh đạo, các tổ chức, đơn vị và
cá nhân chưa đồng đều, thậm chí còn rất mơ
hồ.
|
Trong khi đó, trình độ nhận
thức của cán bộ, chiến sỹ còn hạn chế, có
thể nhiều đồng chí giỏi nghiệp vụ cảnh sát nhưng
không hiểu biết về môi trường và ngược lại.
Ngoài ra, cơ sở vật chất cũng là một trong những
thách thức đối với chúng tôi.
Thưa ông, đến bao giờ lực lượng
CSMT ở các địa phương sẽ chính thức được thành
lập?
- Chúng tôi
đã có báo cáo lãnh đạo Bộ để có thể triển
khai lực lượng CSMT ở địa phương trong thời gian
sớm nhất. Trước mắt, chúng tôi sẽ thành lập 36
phòng CSMT trực thuộc Công an các tỉnh và các đội
CSMT thuộc một số Công an quận, sau đó rút kinh
nghiệm để tiến tới triển khai trong toàn quốc.
Ông đánh giá thế nào về tình
hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường hiện
nay ở nước ta?
- Có thể nói, tình hình vi
phạm pháp luật môi trường ở VN đang có những
diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Nhiều đơn
vị và doanh nghiệp chưa chú trọng đúng mức về
nhiệm vụ bảo vệ môi trường, các chất độc
hại được thải thẳng ra sông, hồ và không khí mà
không qua xử lý hoặc có xử lý nhưng không đảm
bảo yêu cầu về an toàn môi trường; sử dụng các
phương tiện không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật
về môi trường, đồng thời việc khai thác bừa bãi
tài nguyên cũng gây tác hại nghiêm trọng về cân
bằng môi trường sinh thái. Vì vậy, sự ra đời
lực lượng CSMT sẽ góp phần ổn định tình hình
vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay.
Ông có khuyến cáo gì trong
việc huy động toàn dân hỗ trợ lực lượng CSMT
hoàn thành công tác này?
- Mọi lực lượng nếu không có
sự tham gia của dân sẽ không thành công. Do đó để
phát động phong trào quần chúng nhân dân tham gia
bảo vệ môi trường, chúng tôi sẽ phối hợp với
Cục Phong trào Bảo vệ An ninh Tổ quốc (Bộ Công
an), đồng thời kết hợp với Bộ TN&MT tổ
chức cuộc vận động này, có thể trong ngày Môi
trường thế giới 5/6 tới đây.
Thanh
Xuân (thực hiện)
|
“CẢNH
SÁT MÔI TRƯỜNG CÓ QUYỀN ĐÌNH CHỈ HOẠT ĐỘNG CỦA
DOANH NGHIỆP”
Ngày
6/3 tại Hà Nội, Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) đã
tổ chức lễ ra mắt Cục Cảnh sát môi trường. Nhân
dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Đại tá
Nguyễn Sĩ, Phó cục trưởng.
Xin ông cho biết mục đích, chức năng và nhiệm vụ
của việc thành lập Cục Cảnh sát môi trường?
Trước thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ngày
càng phức tạp và nghiêm trọng; đồng thời trên cơ
sở đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày
29/11/2006, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định thành
lập Cục Cảnh sát môi trường (trực thuộc Tổng cục
Cảnh sát).
Là đơn vị quản lý hành chính trật tự xã hội, Cục
Cảnh sát môi trường có nhiệm vụ điều tra, phòng
ngừa, phát hiện ban đầu các vi phạm về môi trường.
Theo Quyết định của Bộ Công an, Cục sẽ thực hiện
13 nhiệm vụ cơ bản trong đó có: tham mưu cho Tổng cục
về lĩnh vực này, hướng dẫn chỉ đạo lực lượng
cảnh sát môi trường địa phương thực hiện chức năng;
hướng dẫn tuyên truyền, kiểm tra, xử lý hành chính công
tác vi phạm pháp luật về môi trường; tiến hành hoạt
động điều tra đối với các hành vi vi phạm pháp
luật môi trường; kiểm định tiêu chuẩn môi trường...
Cục Cảnh sát môi trường có 3 phòng nghiệp vụ và 1
trung tâm kiểm định với lực lượng ban đầu trên 100
cán bộ. Tại các địa phương sẽ có phòng cảnh sát môi
trường với quân số khoảng 10 cán bộ trực thuộc giám
đốc công an tỉnh; đồng thời ở các cấp quận,
huyện sẽ có các đội cảnh sát môi trường.
Ngay trong những ngày đầu ra quân, lực lượng Cảnh
sát môi trường sẽ tập trung triển khai thực hiện
những nhiệm vụ trọng tâm gì, thưa ông?
Trước mắt, sẽ có khoảng trên 30 địa phương thành
lập phòng cảnh sát môi trường, trong đó tập trung vào
các thành phố trực thuộc Trung ương, những khu vực
nổi cộm về ô nhiễm môi trường và vi phạm về khai
thác tài nguyên thiên nhiên; các tỉnh miền biển như
Quảng Ninh; các tỉnh đang có hiện tượng phá rừng
nhiều; các tỉnh có nhiều khu công nghiệp tập trung như
Đồng Nai, Thái Nguyên...
Ngay trong thời gian đầu ra quân, Cục sẽ nghiêm túc
thực hiện đúng chức năng được giao, tập trung trang
thiết bị kỹ thuật, xây dựng lực lượng cảnh sát
bảo vệ môi trường; đồng thời rà soát hệ thống văn
bản quy phạm pháp luật nhà nước kiến nghị sửa đổi,
bổ sung để phù hợp với chức năng nhiệm vụ của
cảnh sát hoạt động trong lĩnh vực môi trường.
Hiện nay, do cảnh sát môi trường là lực lượng mới nên
các văn bản quy phạm pháp luật chưa đề cập đến. Đặc
biệt, trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính không
có quy định lực lượng cảnh sát môi trường được
quyền xử phạt vi phạm hành chính.
Đây là một trong những khó khăn trước mắt trong quá
trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của Cục.
Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có lực lượng
thanh tra môi trường. Theo ông, liệu sự ra đời của
Cục Cảnh sát môi trường có tạo sự chồng chéo trong
công tác bảo vệ môi trường không?
Ngay
sau khi ra mắt và đi vào hoạt động, Cục sẽ cùng với
Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng các quy chế
phối hợp giữa lực lượng cảnh sát môi trường và cơ
quan bảo vệ môi trường để thực hiện tốt nhiệm
vụ quản lý nhà nước và đấu tranh phòng chống tội
phạm về môi trường.
Sự phối hợp cùng thực hiện trên cơ sở chức năng
nhiệm vụ của từng cơ quan để tránh sự chồng chéo.
Cần xác định mức độ nào thì sẽ chuyển sang cơ quan
cảnh sát môi trường thực hiện. Những trường hợp
Thanh tra môi trường phát hiện thấy có dấu hiệu vi
phạm về hình sự (được căn cứ vào 10 điều của Chương
XII (Bộ Luật hình sự) mà cần phải truy tố trước pháp
luật, Cục Cảnh sát môi trường sẽ lập hồ sơ và đề
nghị khởi tố vụ án.
Ngoài việc phối hợp với Thanh tra, lực lượng cảnh sát
môi trường sẽ chủ động triển khai lực lượng trinh
sát đi đến các điểm nóng về môi trường. Việc đầu
tiên lãnh đạo Cục chỉ đạo là triển khai ngay công tác
điều tra cơ bản các điểm nóng mà trước hết là
những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.
Trên cơ sở đó phối hợp với ngành tài nguyên và môi
trường để bằng các biện pháp xử phạt hành chính thông
thường kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ công an
để tập trung đi sâu vào xử lý những điểm nóng.
Nếu có đủ lực lượng thì Cảnh sát môi trường sẽ
tham gia vào các vụ như tràn dầu ở miền Trung vừa qua.
Sẽ hoàn toàn không có sự chồng chéo như một số người
lo ngại. Lực lượng cảnh sát môi trường sẽ có chức
năng nhiệm vụ hoàn toàn khác với lực lượng thanh tra
tài nguyên môi trường.
Sự khác nhau cụ thể là, xử phạt hành chính là nhiệm
vụ của thanh tra tài nguyên môi trường, lực lượng
cảnh sát môi trường có thể đi theo thanh tra nhưng công
việc chủ yếu là phát hiện bằng biện pháp trinh sát,
xác minh bằng kỹ thuật, nếu phát hiện đơn vị có
dấu hiệu vi phạm đến mức phải xử lý hình sự thì
sẽ lập hồ sơ, khởi tố.
Tuy nhiên, lực lượng thanh tra là nguồn cung cấp tài
liệu cho lực lượng cảnh sát chúng tôi.
Là cảnh sát nhưng lại thực hiện các nhiệm vụ điều
tra vi phạm về môi trường, vậy sẽ có những thuận
lợi và khó khăn gì, thưa ông?
Lực lượng cảnh sát môi trường ngoài nghiệp vụ chuyên
môn đặc thù cơ bản của mình cần phải có những
kiến thức cần thiết về môi trường thông qua đào
tạo, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm.
Đòi hỏi đầu tiên là lực lượng cảnh sát môi trường
phải nắm được Luật Bảo vệ môi trường và có
những kiến thức tối thiểu về lĩnh vực này. Ban đầu,
lực lượng cảnh sát môi trường có thể sẽ gặp
phải những phản đối của các đối tượng vi phạm
nếu trong trường hợp phải đình chỉ hoạt động sản
xuất.
Cảnh sát môi trường có quyền ra lệnh đình chỉ hoạt
động của doanh nghiệp đó nếu thấy có vi phạm môi trường.
Nếu doanh nghiệp vẫn không chịu khắc phục sẽ khởi
tố vụ án, đề nghị đưa ra truy tố trước pháp
luật. Chúng tôi không dùng màu áo cảnh sát để đi răn
đe các đơn vị, nhưng hoạt động của lực lượng
cảnh sát môi trường phải thực sự nghiêm minh
(Đức
Phan thực hiện. Theo VietnamEconomy)
HÀ NỘI: 1 TỶ ĐỒNG/NGÀY DO
Ô NHIỄM
|
|
Phát
thải do xe máy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không
khí
|
Theo
tính toán của Viện Y tế lao động, Hà Nội bị tổn
thất mỗi ngày 1 tỷ đồng do ô nhiễm không khí. Trong
đó, phát thải xe máy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm
không khí.
Tất
cả các loại khí thải độc hại ở tại các đô thị
Việt Nam đều đã quá mức tiêu chuẩn cho phép rất
nhiều, là thông tin từ Hội thảo "Chương trình
kiểm soát khí thải mô tô, xe máy tại các TP lớn - kinh
nghiệm quốc tế và điều kiện ở Việt Nam" ngày
6-3 do Cục Đăng kiểm Việt Nam phối hợp dự án không
khí sạch Việt Nam-Thụy Sĩ tổ chức.
Thiệt
hại từ 0,3- 0,6% GDP
Ông
Michael Walsh thuộc Hội đồng quốc tế về giao thông
sạch (ICCT) Hoa Kỳ đưa ra thông tin giật mình: Mức độ
ô nhiễm bụi khói một số điểm ở Hà Nội qua đo
thực tế đã gần bằng mức độ ô nhiễm khói lẫn
trong sương mù năm 1952 ở London làm hàng nghìn người
tử vong.
Trong
khi đó nguyên nhân chính là do lượng phát thải từ mô
tô xe máy hiện đang bị thả nổi không kiểm soát được.
Tham
luận của ông Lê Anh Tú - Cục Đăng kiểm Việt Nam - cũng
cho thấy các loại khí độc hại như HC, CO, SO2,
CO2… trong không khí tại các đô thị Việt Nam
đều vượt, thậm chí gấp hơn hai lần tiêu chuẩn cho
phép ở những khu vực mật độ giao thông cao.
Cũng
theo tính toán của Viện Y tế lao động, Hà Nội bị
tổn thất mỗi ngày 1 tỷ đồng do ô nhiễm không khí.
Trong đó, phát thải xe máy là nguyên nhân chính gây ô
nhiễm không khí. Mức thiệt hại về kinh tế do khí
thải xe máy được các nhà nghiên cứu đưa ra là hơn 50
triệu USD/ năm tại TP.HCM và hơn 20 triệu USD/năm tại Hà
Nội. Đáng ngại là mức thiệt hại ngày càng tăng,
chiếm từ 0,3 -0,6 % GDP của TP. Trong khi đó, lượng xe máy
không ngừng tăng, năm 2006 đã lên tới con số 18 triệu
xe.
Không
thể chần chừ
Các
quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan... là những nước có
nhiều xe mô tô xe gắn máy đều thực hiện việc kiểm
soát phát thải xe máy. Mặc dù mỗi quốc gia có những
biện pháp khác nhau, nhưng theo như ông Michael Walsh thì đều
nằm trong những hình thức chung sau:
Thứ
nhất,
kiểm soát công nghệ sản xuất môtô xe máy, áp dụng tiêu
chuẩn khí thải Euro 2-4. Thứ
hai,
sử dụng nhiên liệu sạch, có động thái kiên quyết tách
các chất độc hại như chì (Việt Nam đã làm ) lưu
huỳnh... ra khỏi xăng. Thứ ba,
phải quy hoạch giao thông hợp lý giảm thiểu tắc
nghẽn giao thông vì khi các phương tiện bị tắc nghẽn
nồng độ khí thải độc hại tăng đột biến. Thứ
tư,
có chế độ bảo dưỡng thích hợp với xe máy. Thứ năm
là có lộ trình loại bỏ xe máy cũ.
Với
hiện trạng ô nhiễm không khí từ phát thải xe máy đang
báo động tại Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam cũng
đưa ra ba nhóm giải pháp.
Nhóm
giải pháp trước mắt, gồm: Kiểm tra khí thải định kỳ cho xe đang lưu hành
với lộ trình phù hợp; áp dụng tiêu chuẩn Euro 2 cho xe
mới; nâng cao chất lượng nhiên liệu phù hợp tiêu
chuẩn phương tiện.
Nhóm
giải pháp thường xuyên lâu dài gồm: Quản lý điều hành tổ chức giao thông
giảm ùn tắc, nâng cao ý thức cộng đồng và ý thức
bảo vệ môi trường của người dân.
Nhóm
giải pháp hỗ trợ gồm: Lắp đặt bộ xử lý khí thải cho xe đang sử
dụng; sử dụng các loại thuế phí môi trường như
một công cụ điều tiết lượng xe máy, khuyến khích
loại bỏ xe cũ...
Tuy
nhiên, khó khăn khi thực hiện kiểm soát khí thải xe máy
tại Việt Nam còn do lượng xe quá lớn, đòi hỏi một
lực lượng thiết bị và nhân lực lớn, thói quen sử
dụng xe máy tự do của người dân khiến các nhà quản
lý vẫn phải nghiên cứu cân nhắc.
(Theo Tuoitre.com)
Ô NHIẼM Ở CÁC KHU CÔNG
NGHIỆP MIỀN TRUNG
Theo
thống kê chưa đầy đủ, khu vực kinh tế động lực
của miền Trung (từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Định)
đã có khoảng 20 khu công nghiệp (KCN) được xây dựng và
thu hút gần 500 dự án.
Đây là một tín
hiệu đáng mừng cho miền Trung chậm phát triển. Thế nhưng
cùng với việc phát triển nhanh các KCN thì môi trường
nơi đây cũng đang trong tình trạng báo động bởi nạn
ô nhiễm nặng nề do chất thải từ các nhà máy.
Đà Nẵng:
sống chung với ô nhiễm
|
|
|
Nước
ruộng bị ô nhiễm gây bệnh lở loét, ghẻ ngứa
cho người dân sống gần Khu công nghiệp Hòa Khánh
|
Vụ lúa đông
xuân năm nay hơn 120ha ruộng của phường Hòa Hiệp Nam
(quận Liên Chiểu) không thể gieo cấy được vì ô
nhiễm. Hơn 400 hộ nông dân ở các đội sản xuất Hòa
Hiệp ngao ngán trước tình trạng lúa cấy xuống bị héo
rũ vì nguồn nước thải của KCN Hòa Khánh tràn ra các
thửa ruộng.
Gần hai tháng
nay, căn bệnh ngứa rồi lở loét chân tay bùng phát
mạnh ở các đội sản xuất Hòa Hiệp (quận Liên
Chiểu). Ông Huỳnh Thanh Sơn, bí thư chi bộ thôn Xuân
Thiều, phân trần: Dân ở đây chỉ cần lội xuống
ruộng một buổi là y như rằng sau đó chân tay nứt nẻ
vì ghẻ ngứa. Ông Trương Tỏa ở đội 5 cả hai bàn tay
và chân đều xù xì những vết nứt đỏ loét suốt
nửa tháng nay nằm bẹp gí trên giường. Mấy sào ruộng
của gia đình ông đành bỏ hoang cho cỏ mọc. Bà Trần
Thị Bảy (52 tuổi) ở đội 1 cũng lâm vào tình cảnh như
vậy. “Biết lội ruộng thì ngứa ngáy rồi ghẻ lở,
nhưng tụi tui là nông dân, không làm ruộng thì còn
biết làm gì sống”.
|
* Đà Nẵng có
6 KCN tập trung có tổng diện tích qui hoạch 1.500ha
với 290 DN, trong đó có 200 DN đang hoạt động. Khi
các KCN được lấp đầy và các dự án đi vào
hoạt động thì cũng là lúc Đà Nẵng nhận ra
những gánh nặng về vấn đề môi trường nước
thải, khí thải, chất thải.
Và điều đáng lo
ngại nhất là tại 6 KCN chỉ mới có KCN Hòa Khánh
có nhà máy xử lý nước thải tập trung nhưng đang
trong giai đoạn vận hành thử. Kết quả kiểm tra
thực địa tại các KCN cho thấy chất thải là
rất lớn và phức tạp. Trong số 290 dự án đầu tư
tại các KCN trên địa bàn TP Đà Nẵng chỉ có
khoảng 45% số dự án lập báo cáo đánh giá tác động
môi trường.
* Ông Lê Hồng
Hà, phó BQL các KCN tỉnh Quảng Ngãi, cho biết:
Thực trạng ô nhiễm môi trường trong KCN Quảng Phú
đang là vấn đề hết sức bức xúc trong nhiều năm
qua. Theo qui định các nhà máy phải xử lý chất
thải đạt tiêu chuẩn loại B trước khi thải ra môi
trường, nhưng không mấy nhà máy thực hiện.
Trong đó đáng chú
ý là Nhà máy chế biến giấy Hải Phương luôn vi
phạm ô nhiễm môi trường và đã nhiều lần bị
phạt hành chính. Còn hệ thống xử lý nước thải
chung trong KCN đã được đề cập từ năm 2001,
với nguồn kinh phí trên 25 tỉ đồng nhưng chưa
được triển khai với lý do chưa có kinh phí.
|
Ông Bùi Văn
Quốc - chủ tịch phường - cho hay vụ đông xuân này hơn
2/3 diện tích lúa của gần 400 hộ bị hư hại vì ngâm
trong nước thải đen ngòm, cầm chắc nhiều hộ sẽ bị
thiếu đói vào lúc giáp hạt.
“Không có nước
nơi nào đen và hôi bằng nơi đây” - ông Nguyễn Ý,
một nông dân ở phường Hòa Hiệp, nói. Trước đây nước
giếng trong vắt chứ không đục nhờ nhờ như thế này.
Từ ngày KCN Hòa Khánh hình thành, toàn bộ đất trên cánh
đồng Gia Tròn, đồng Phở, đồng Cửa nằm sát hồ Bàu
Tràm bị nước thải của Nhà máy sản xuất giấy Wei
Sen Xin làm ô nhiễm. Nước thải chảy tràn lâu ngày
thấm sâu vào đất khiến đất chuyển sang màu đen đục,
mùi hôi thối quánh đặc trong không khí.
“Không chịu
nổi nên chúng tôi kiến nghị với chính quyền, nhưng
chỉ được vài ba bữa rồi đâu lại vào đó” - ông Bùi
Minh Kiểm (ở đội 4) than thở. Theo ông Kiểm, chỉ trong
hai năm qua trong xóm đã có chín người chết vì bệnh
ung thư. Không biết có phải do ảnh hưởng của việc ô
nhiễm từ nước thải của KCN không, nhưng cứ mỗi
lần nước thải tràn ra đồng là y như rằng gà, vịt
của các hộ dân trong xóm lăn ra chết như ngã rạ. Các
ao nuôi tôm nước lợ thì tôm chết nổi đỏ cả mặt
ao. Nguồn lợi thủy sản trên sông Cu Đê nay bị nước
thải KCN hủy diệt môi trường sống của các loài tôm
cá.
Khoảng ba tháng
nay, trước phản ứng gay gắt của cư dân khu vực Thủy
Tú, Nam Ô (thuộc phường Hòa Hiệp Bắc), Công ty ximăng
Hải Vân (thuộc KCN Liên Chiểu) tạm ngưng thải bụi ximăng
vào giờ hành chính trong ngày. Nhưng cứ tầm từ 7 giờ
tối đến khoảng 5 giờ sáng hôm sau, quanh khu vực này
bụi lại bay mù mịt. Buổi tối có việc phải ra ngoài,
dù có đèn đường chiếu sáng nhưng người dân khu vực
này vẫn không thể nhìn rõ lối đi. Không khí còn đặc
quánh hơn ban ngày vì nồng độ bụi tăng cao.
Bụi không chỉ
phủ trắng trên những mái nhà, khung cửa, vật dụng
trong các hộ gia đình xung quanh mà toàn bộ cây xanh
trồng ở khu vực này đều bị bụi ximăng nhuộm một màu
trắng đục. Người dân của tổ 60, phường Hòa Hiệp
cho biết họ ăn, ngủ với bụi ximăng từ hơn một năm
nay. Và không chỉ có Nhà máy ximăng Hải Vân thải bụi,
Nhà máy Thép Đà Nẵng ở gần đó cũng mặc nhiên xả
mạt sắt thép ra ngoài khiến không khí ở đây càng đặc
quánh lại. “Mỗi lần nhà máy này xả mạt ra cả khu
vực đen đặc như sương mù” - ông Thái Thanh Hùng, cư
trú tại số nhà 14 đường Nguyễn Phúc Chu, cho hay.
Không còn cách
nào khác, cư dân tại đây đã phải trang bị cho mình
hệ thống khẩu trang đeo kín mặt lẫn đầu để sống
chung với ô nhiễm. “Đã quá nhiều lần bà con chúng tôi
gửi đơn kêu cứu đến chính quyền thành phố nhưng tình
hình đâu lại vào đấy. Người già, trẻ con cứ đến
tối là nặng đầu, khó thở”. Đáng ngại nhất là hai
trường tiểu học và mầm non với gần 1.000 học sinh
nằm trong vùng bụi thải của hai nhà máy Ximăng Hải Vân
và Thép Đà Nẵng.
Quảng Nam: rác
công nghiệp hành hạ người dân
|
|
|
Nước
thải từ Khu công nghiệp Hòa Khánh đã làm hơn
120ha đất canh tác lúa đông xuân của bà con nông dân
phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên Chiểu) bị ảnh hưởng
không gieo cấy được
|
Với hơn 34 nhà
máy đã và đang đưa vào hoạt động, KCN Điện Nam - Điện
Ngọc được xem là KCN lớn nhất và là niềm tự hào
về phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Nam. Và KCN
này cũng đang nổi lên như một điểm nóng về ô nhiễm
môi trường ở miền Trung. Bởi vì, cũng như nhiều KCN
khác ở miền Trung, KCN này vẫn chưa xây dựng hệ
thống xử lý chất thải. Và hiển nhiên, tất thảy
những gì thải ra ở KCN này người dân xung quanh phải gánh