MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY
 

Vấn để chất độc da cam ở Việt Nam: Một vài đề nghị về cách giải quyết
Ý tưởng xây dựng khu du lịch sinh thái Tam Đảo 2: Thận trọng khi xem xét các vấn đề môi trường
Đằng sau sự tăng trưởng của Trung Quốc
Hãy ngừng sử dụng túi chất dẻo !
Báo động ô nhiễm môi trường làng nghề ở Bắc Bộ
Ra mắt Cục Cảnh sát Môi trường
Vụ án đầu tiên của cảnh sát môi trường: Sự cố tràn dầu
“Cảnh sát môi trường có quyền đình chỉ hoạt động của doanh nghiệp”
Hà Nội: 1 tỷ đồng/ngày do ô nhiễm
Ô nhiễm ở các khu công nghiệp miền Trung
"Ngôi nhà thông minh" thân thiện môi trường
Thái Lan - hình mẫu về cải thiện môi trường
Việt Nam có khả năng đạt các mục tiêu thiên niên kỷ   
Bảo vệ môi trường: Thể chế phải đi trước thực tiễn, chế tài phải quyết liệt hơn
50 năm nữa, VN sẽ bị thiếu nước trầm trọng
Việt Nam có thể mất 16% diện tích

 

VẤN ĐỀ CHẤT ĐỘC DA CAM Ở VIỆT NAM: MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ VỀ CÁCH GIẢI QUYẾT

Phát biểu trên báo chí gần đây, một phụ tá của một thượng nghị sĩ Mỹ cho biết, Chính phủ Mỹ đã nhận thức được hậu quả của chất độc da cam (CĐDC) do nước này gây ra trong chiến tranh ở Việt Nam, và sẽ cùng làm việc với Chính phủ Việt Nam để giải quyết vấn đề cho thỏa đáng cả đôi bên. Lời tuyên bố trên là một tín hiệu có thiện chí từ phía Mỹ trong việc nhìn nhận và sửa chữa những lỗI lầm mà họ đã gây ra trong quá khứ. Nhưng câu hỏi đặt ra là, giải quyết như thế nào và bồi thường cho ai (bồi thường không đơn giản chỉ là cung cấp tiền bạc cho nạn nhân mà còn bao gồm nhiều hình thức cộng đồng khác). Trong bài viết dưới đây, tác giả đề xuất một vài định hướng chung và cách tiếp cận vấn đề mà ông đã có dịp phát biểu khi trả lời phỏng vấn Tạp chí Science.

Một chút lịch sử…

Trong thời gian 14 năm (1961-1975) xung đột quân sự giữa Mỹ và Việt Nam, ngoài số lượng vũ khí và đạn dược khổng lồ, quân đội Mỹ còn sử dụng một số hóa chất như là một phương tiện quân sự. Trong thời gian 10 năm (tính từ 1962 đến 1971) qua sự phê chuẩn của Tổng thống John F. Kennedy và sự đồng thuận của Ngô Đình Diệm, quân đội Mỹ đã phun xuống các làng xã Việt Nam khoảng 77 triệu lít hóa chất, phần lớn là CĐDC (Agent Orange), có chứa dioxin [1]. Dioxin là một hóa chất độc hại vào hàng số 1 mà con người từng biết đến, bởi nó có khả năng gây ra hàng loạt bệnh tật, kể cả ung thư và dị thai, cho những ai bị nhiễm. Điều đáng chú ý là, giới quân sự Mỹ từng biết mức độ độc hại của CĐDC trước khi họ đem sang sử dụng ở Việt Nam [1]. Các hóa chất này được sản xuất và cung cấp theo đơn đặt hàng của Bộ Quốc phòng Mỹ. Tham gia vào hợp đồng này có hơn 20 công ty hóa chất Mỹ, kể cả những công ty lớn và “quen thuộc” như Dow Chemical Co., Monsanto Co., Pharmacia Corp, Hercules Inc, Occidental Chemical Corp, Ultramar Diamond Shamrock Corp, Maxus Energy Corp, Thompson Hayward Chemical Co, Harcros Chemicals Inc và Uniroyal Chemical Inc.

Theo thống kê mới nhất của các nhà nghiên cứu Mỹ, tổng số người Việt Nam, kể cả cựu quân nhân cả hai miền Nam - Bắc, bị phơi nhiễm độc chất là 4, 8 triệu người. Hơn 25.000 làng xã với 2, 6 triệu hécta đồng ruộng chịu ảnh hưởng của độc chất, trong đó có gần 90% số làng xã bị phun hai lần và khoảng 11% số làng xã bị phun đến 10 lần [2]! Với một lượng hóa chất khổng lồ như thế, có thể nói rằng chiến dịch phun hóa chất xuống miền Nam Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất trong lịch sử chiến tranh trên thế giới, vì từ xưa đến nay, chưa có cuộc chiến nào và ở bất cứ nơi đâu lại chịu một sự phơi nhiễm độc chất nhiều như thế [2].

Sau khi chiến tranh chấm dứt vào năm 1975, các nhà khoa học Mỹ đã tiến hành một loạt nghiên cứu quy mô trên cựu quân nhân Mỹ về tác hại của CĐDC hơn 20 năm liền. Các nghiên cứu dịch tễ học này cho thấy những cựu chiến binh từng bị phơi nhiễm độc chất có nguy cơ bị một số bệnh ung thư, tiểu đường và sinh con với dị tật bẩm sinh cao hơn những người không bị phơi nhiễm độc chất [1].

Trước các phát hiện khoa học đó, năm 1984, một nhóm cựu chiến binh Mỹ đã đệ đơn kiện các công ty hóa chất Mỹ về những tác hại đối với sức khỏe mà họ phải chịu khi tham gia chiến dịch phun độc chất. Vụ kiện, dưới sự chủ trì của Thẩm phán Jack Weinstein, không được xét xử, mà chỉ kết thúc bằng một thỏa thuận ngoài tòa. Theo đó, các công ty hóa chất đồng ý lập ra một quỹ y tế xã hội khoảng 180 triệu USD nhằm trợ cấp cho các cựu chiến binh Mỹ từng bị ảnh hưởng bởi CĐDC.

Ngày 30.1.2004, Hội nạn nhân CĐDC Việt Nam quyết định đệ đơn kiện các công ty hóa chất Mỹ. Các công ty này bị kiện với 10 tội danh, như tội làm lợi bất chính, gây thương tích cho thường dân..., kể cả là tội phạm chiến tranh. Vụ kiện tuy còn trong giai đoạn đầu nhưng đã gây được sự chú ý của thế giới về nạn nhân dioxin ở Việt Nam (trước đây nói đến dioxin, người ta chỉ nghĩ đến cựu chiến binh Mỹ). Dư luận thế giới đồng loạt và nhiệt tình đứng về phía các nạn nhân. Hàng triệu chữ kỹ của công dân khắp năm châu là một biểu hiện sự ủng hộ của họ dành cho nạn nhân Việt Nam. Sau một thời gian ngắn nghe bằng chứng từ phía nguyên đơn và bị đơn, ngày 10.3.2005, Thẩm phán Jack Weinstein thuộc tòa án địa hạt Brooklyn, New York, đã công bố phán quyết trong một tài liệu dài 233 trang [3]. Trong đó, ông Weinstein đề cập đến các trường hợp kiện cáo trước đây, đến các khía cạnh lý thuyết của luật pháp Mỹ và luật pháp quốc tế và kết luận rằng: “Các yêu sách của phía nguyên đơn không có cơ sở pháp lý dưới bất cứ luật nội địa, hay luật quốc gia, hay luật tiểu bang, hay luật quốc tế. Vụ kiện không được xét xử”.

Ngày 19.12.2006, sau chuyến dự hội nghị APEC tại Việt Nam của Tổng thống George W. Bush, Quốc hội Mỹ đã tuyên bố rằng họ sẽ xem xét thành lập một ngân quỹ vào năm 2007 để giúp làm sạch môi trường ở những nơi bị ô nhiễm độc chất trong thời chiến. Trước đó, phát biểu trên báo chí, một phụ tá của một thượng nghị sĩ Mỹ cho biết, Chính phủ Mỹ đã nhận thức được hậu quả của CĐDC ở Việt Nam và sẽ cùng làm việc với Chính phủ Việt Nam để giải quyết vấn đề cho thỏa đáng cả đôi bên. Trong nhiều bài viết trước ở trong và ngoài nước, tôi cũng đã từng đề nghị lập một quỹ để làm sạch môi trường và giải quyết một số vấn đề khác. Nhân dịp này, xin đề nghị thêm vài điểm xung quanh vấn đề “bồi thường”.

Hành lang công lý và hình thức trợ giúp      

Kinh nghiệm từ Thế chiến thứ II và cuộc chiến ở Nam Tư cho thấy, vấn đề CĐDC ở Việt Nam có thể được tiếp cận bằng 3 “hành lang công lý” cho nạn nhân: Tòa án công lý quốc tế (ICJ), các tòa án của Việt Nam và một quỹ tài trợ quốc tế. Vì lý do chính trị và luật pháp quốc tế, hai phương tiện đầu (ICJ và toà án trong nước) không thực tế và khó áp dụng cho trường hợp Việt Nam. Do đó, chỉ có hành lang sau cùng là thực tế nhất: Đó là thiết lập một quỹ tài trợ quốc tế cho nạn nhân CĐDC tại Việt Nam. Có thể quỹ này sẽ do các nước trên thế giới từng tham chiến ở Việt Nam, có lẽ phần lớn từ Mỹ, đóng góp. Quỹ nên được một hội đồng quốc tế đứng ra quản lý và điều hành dựa vào những tiêu chí nghiêm chỉnh mà các bên đều nhất trí. Thông qua quỹ này, có thể thực hiện một số việc thực tế như sau:

Thứ nhất, giúp đỡ những nạn nhân bị nhiễm độc chất và bị những bệnh được công nhận là do CĐDC hay dioxin gây ra. Viện Y khoa Mỹ đã chính thức công nhận CĐDC là nguyên nhân gây ra một số bệnh như ung thư tế bào mềm, ung thư máu dạng Non -Hodgkin và Hodgkin, ung thư tuyến tiền liệt, ban clor, chứng nứt đốt sống, …  Chính vì thỏ, năm 1984, các công ty hóa chất có liên quan đến việc sản xuất và cung cấp độc chất da cam cho quân đội Mỹ đã đồng ý bồi thường cho các cựu quân nhân Mỹ một số tiền khoảng 180 triệu USD. ở Việt Nam, hình thức bồi thường có thể bao gồm việc điều trị những bệnh được công nhận là do phơi nhiễm độc chất gây ra, tạo công ăn việc làm cho những cư dân trong các vùng bị nhiễm, lập bệnh xá và trường học để nâng cao đời sống vật chất và trình độ văn hóa cho nạn nhân và cư dân tại những nơi bị nhiễm độc chất.

Thứ hai, quỹ nên bỏ ra một số ngân khoản để làm sạch môi trường tại những nơi bị nhiễm nặng như Biên Hòa, A Lưới, A Sao,... Sau 10 năm, 50% nồng lượng dioxin vẫn còn tồn tại trong con người, và nếu không tồn tại trong con người thì tồn tại trong môi trường. Do đó, tác hại của dioxin rất lâu dài. Xin dẫn một ví dụ: Năm 1976, ở ý một vụ tai nạn xảy ra tại nhà máy gần thị trấn Seveso đã thải ra môi trường xung quanh khoảng 30 kg dioxin. ấy thế mà cho đến nay, tức sau hơn 30 năm xảy ra tai nạn đó và 30 năm làm sạch môi trường, các nhà nghiên cứu ý vẫn phát hiện tác hại của dioxin đối với sức khỏe người dân. ở Việt Nam hiện nay, kết quả của nhiều nghiên cứu cho thấy tại các địa điểm này, nồng độ dioxin rất cao, có khi cao hơn 130 lần nồng độ an toàn cho phép, vì chất độc đã lắng đọng xuống đất, nhất là các nơi bùn lầy. Do đó, nhu cầu làm sạch môi trường tại những nơi này phải được xem là một ưu tiên hàng đầu.

Thứ ba, quỹ nên hỗ trợ và giúp đỡ thành lập một viện nghiên cứu quốc tế về CĐDC và dioxin. Viện sẽ quy tụ nhiều chuyên gia trên thế giới về hóa học, y học, môi trường học và dịch tễ học để tiến hành những nghiên cứu cơ bản cũng như nghiên cứu lâm sàng xác định cơ chế tác hại của dioxin và CĐDC trên con người và môi trường. Viện cũng có thể phục vụ như một trung tâm đào tạo các nhà khoa học tương lai chuyên về môi trường học và y tế - môi trường học. Đây là một việc làm mang ý nghĩa quốc tế vì nó sẽ cung cấp thông tin khoa học quý báu vào kho tàng tri thức của con người về tác hại của dioxin.

Thứ tư, ngay bây giờ Chính phủ và các công ty hóa chất Mỹ có thể tài trợ để Việt Nam có thể tiến hành thu thập dữ kiện khoa học về tác hại của CĐDC tại Việt Nam. Nghiên cứu này nhắm mục tiêu phát triển cho được một phương pháp để ước định mức độ phơi nhiễm độc chất cho từng cá nhân trong những vùng từng bị ảnh hưởng độc chất; thiết lập mối liên hệ giữa mức độ phơi nhiễm độc chất da cam và các bệnh như ung thư, dị tật bẩm sinh, tiểu đường và tỷ lệ giới tính; thẩm định tác hại của dioxin hay CĐDC đối với cấu trúc di truyền (gen) trong các nạn nhân thuộc thế hệ thứ hai và thứ ba. Trong suốt gần 30 năm sau khi chiến tranh chấm dứt, trên các diễn đàn khoa học quốc tế, số lượng bài báo khoa học liên quan đến CĐDC từ Việt Nam còn cực kỳ khiêm tốn (chưa đến con số 10). Phần lớn những nghiên cứu này chỉ ở dạng mô tả, chưa đi sâu vào vấn đề. Do đó, đây là một nhu cầu cấp bách, bởi vì dù quy mô lớn như thế nhưng tác hại của CĐDC và dioxin trong người dân Việt Nam từng bị phơi nhiễm độc chất trong thời chiến cho đến nay vẫn chưa rõ ràng.

Có thể nhìn hệ quả của CĐDC ở Việt Nam như là một vết thương chiến tranh mà cuộc chiến, dù đã chấm dứt từ 30 năm trước đây, để lại. Ngày nay, người nước ngoài đến Việt Nam chắc sẽ không thấy vết thương đó, mà họ chỉ nhìn thấy một nước Việt Nam đang trên đường phát triển kinh tế nhanh chóng. Nhưng trên thực tế, Việt Nam vẫn là một trong những nước nghèo nhất thế giới, và những cư dân sống trong các vùng từng bị ảnh hưởng CĐDC trong thời chiến tranh là những người còn nghèo hơn cả những người nghèo. Họ cần được giúp đỡ.

Vấn đề hệ quả của CĐDC tại Việt Nam có thể nhìn qua hai khía cạnh: Pháp lý và đạo lý. Không chỉ người Mỹ, mà mọi dân tộc khác trên hành tinh này, kể cả dân tộc Việt Nam, cũng có quyền được sống trong hòa bình, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc. Sau Thế chiến thứ II, nước Đức đã nhìn nhận trách nhiệm của họ về các hành vi sai trái trong thời chiến, không chỉ vì nạn nhân của chiến tranh, mà còn vì tương lai nước Đức. Người Đức hiểu rằng một quốc gia không dám nhìn nhận cái sai trái của mình trước con em mình và trước thế giới thì không thể nào khôi phục được đạo đức. Ngày nay, nước Mỹ là cường quốc hào hiệp số một trên thế giới, và nếu Mỹ muốn dương cao ngọn cờ đạo lý trên trường quốc tế thì Mỹ cũng nên nhìn nhận lỗi lầm trong chiến dịch phun độc chất xuống Việt Nam trong thời chiến, và có hành động thiết thực nhằm xoa dịu nạn nhân của độc chất. Đó là việc không cần đến chốn pháp đình, mà chỉ cần đến đạo đức của người Mỹ.

Năm 1864, khi Abraham Lincoln đắc cử tổng thống, Karl Marx đại diện cho Hiệp hội công nhân quốc tế đã gửi lời chúc mừng. Lúc đó, Charles Francis Adams, một Bộ trưởng của Mỹ ở Luân Đôn thay mặt Lincoln đã trả lời Marx: “Chính phủ Mỹ ý thức sâu sắc rằng chính sách của Mỹ, hiện nay cũng như trong quá khứ […]là phấn đấu cho sự bình đẳng và công lý đúng đắn cho tất cả các nhà nướcl, tất cả con người  [...]. Quốc gia không phải tồn tại một cách riêng lẻ và chỉ cho riêng quốc gia đó; quốc gia tồn tại để cổ vũ cho sự thịnh vượng và hạnh phúc của nhân loại bằng những hợp tác nhân đạo”.  Đó là một lý tưởng nằm trong những tuyên bố gần đây của Quốc hội Mỹ. Hy vọng những đề nghị cụ thể trên đây sẽ được xem xét, thực thi để phần nào xoa dịu những mất mát cho nạn nhân CĐDC ở Việt Nam.

Nguyễn Văn Tuấn (Tạp chí Hoạt động khoa học, số 3/2007)       

Tài liệu tham khảo:

[1] Nguyễn Văn Tuấn. CĐDC, dioxin và hệ quả. Nhà xuất bản Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh 2004.

[2]  Stellman JM, et al. The extent and patterns of usage of Agent Orange and other herbicides on Vietnam. Nature 2003; 422: 681-687.

[3]  Nguyên văn bản phán quyết (tiếng Anh) có thể xem tại địa chỉ: http://www.ffrd.org/AO/10_03_05_agentorange.pdf và http://Vietnam-Dioxine.org

(*)Tác giả là giáo sư y học thuộc Đại học New South Wales T (Australia) và là tác giả cuốn sách “CĐDC, dioxin và hệ quả”, Nhà xuất bản Trẻ, Tp Hồ Chí Minh 2004.

 

 

Ý TƯỞNG XÂY DỰNG KHU DU LỊCH SINH THÁI TAM ĐẢO 2: THẬN TRỌNG KHI XEM XÉT CÁC VẤN ĐỀ MÔI TRƯỜNG

Một đoạn đường lên Tam Đảo 2 bị sạt lở

Tỉnh Vĩnh Phúc dự kiến sẽ chuyển mục đích sử dụng 300ha đất tại Vườn quốc gia Tam Đảo để xây dựng một khu du lịch sinh thái. Theo ý tưởng này, trong thời gian không xa Khu du lịch sinh thái Tam Đảo 2 sẽ trở thành một khu du lịch cao cấp, có khu vila, sân golf, công viên thiên nhiên, khu nhà nghỉ cao cấp, sòng bạc... Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Thận trọng trước khi chuyển đổi

Theo quan điểm của Ts. Trần Hồng Hà - Cục trưởng Cục Bảo vệ Môi trường (Bộ Tài nguyên và Môi trường): "Việc sử dụng đất tại Vườn quốc gia Tam Đảo để phát triển khu du lịch sinh thái cũng nằm trong xu hướng chung của nhiều nước hiện nay trên thế giới. Tuy nhiên, cần phải đánh giá lại giá trị đa dạng sinh học, khoanh định lại diện tích, trong đó phải xác định đâu là khu bảo vệ tuyệt đối, đâu là vùng đệm, đâu là vùng khai thác sử dụng gắn với phát triển. Công việc này phải được thực hiện thông qua công cụ gọi là đánh giá tác động môi trường. Phải xem xét khu vực dự kiến cho hoạt động phát triển đó có nằm trong khu bảo tồn không? Có tác động lên hệ động thực vật không? Đồng thời cũng cần xem xét toàn bộ dự án đó có mối quan hệ lồng ghép giữa mục tiêu phát triển và bảo tồn, sử dụng hợp lý tài nguyên. Dự án này không chỉ nhà nước quyết định mà phải lấy ý kiến rộng rãi của nhân dân, các tổ chức, hiệp hội, các nhà khoa học

ÔÂng Nguyễn Ngọc Phi - Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc - khẳng định: “quan điểm của tỉnh là phát triển kinh tế nhưng không bằng mọi giá. Luôn đặt vấn đề môi trường lên hàng đầu".

Giá trị bảo tồn thấp?

Được biết, ngay sau khi có ý tưởng quy hoạch xây dựng khu du lịch sinh thái này, UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã mời một nhóm nhà khoa học thuộc Trường Đại học Khoa học tự nhiên (Đại học quốc gia Hà Nội) đánh giá sơ bộ tác động môi trường của dự án xây dựng khu du lịch sinh thái bền vững Tam Đảo 2. Qua phân tích thực trạng, nhóm nhà khoa học đã đưa ra kết luận: giá trị bảo tồn khu Tam Đảo 2 thấp do khu vực này thảm rừng che phủ đã bị tàn phá nhiều lần, các loài quý hiếm không còn, thay vào đó chỉ còn phổ biến các loài trúc gai và dứa dại. Hiện trạng tài nguyên rừng và đa dạng sinh học của phân khu bảo vệ nghiêm ngặt Vườn quốc gia Tam Đảo 2 không còn đáp ứng yêu cầu và tiêu chí; hiện nay không còn rừng nguyên sinh mà chỉ là rừng thứ sinh thưa thớt với tính đa dạng thấp. Chính vì vậy, khu du lịch sinh thái được xây dựng ở đây sẽ ít ảnh hưởng đến sự tồn vong của đa dạng sinh học. Ông Nguyễn Đạm - Phó Giám đốc sở Xây dựng tỉnh Vĩnh Phúc, người đã nhiều lần tới khảo sát Tam Đảo 2 - cho biết, nơi đó không gian bằng phẳng không có cây đại thụ nào, chỉ là rừng lúp xúp. Lãnh đạo tỉnh rất quan tâm đến việc phát triển kinh tế nhưng vẫn bảo vệ môi trường. Tỉnh chờ ý kiến của các nhà khoa học.

Gs. Ts. Bùi Công Hiển - Giám đốc Trung tâm Ứng dụng côn trùng học, Trường Đại học Khoa học tự nhiên - cho biết: “Tại Tam Đảo 2 trước đây có gì chúng tôi không biết nên qua mấy ngày khảo sát không thể biết ngay được còn gì để bảo tồn. Là một trong những thành viên tham gia khảo sát, tôi thấy muốn cứu Tam Đảo 2, khôi phục lại dạng nguyên sinh phải được đầu tư. Nếu phát triển du lịch sinh thái ở đây phải khảo sát hiện trạng xem tiềm năng có gì, hệ động thực vật, thủy văn thế nào, địa chất cho phép làm những gì, bước 2 mới làm dự án tiền khả thi. Có thể phát triển dự án du lịch sinh thái vì nếu can thiệp thông minh, hợp lý vào tự nhiên, con người sẽ được hưởng lợi từ tự nhiên rất nhiều.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra ở đây là chúng ta cần có nghiên cứu, đánh giá một cách tổng thể, khách quan về giá trị bảo tồn của Tam Đảo 2, bởi có như vậy mới có thể biết được chúng ta cần bảo tồn, khôi phục cái gì. Có được kết quả nghiên cứu này chắc chắn sẽ là cơ sở khoa học tốt nhất khi các nhà làm chính sách quyết định lựa chọn giữa việc bảo tồn hay phát triển khu du lịch sinh thái. Hoặc nếu quyết định phát triển du lịch sinh thái cũng cần có chiến lược xây dựng và phát triển cho phù hợp giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường.

Bích Ngọc (Khoa học và Phát triển, Số 11 (420), 15-21/3/2007)

 Bài tham khảo: Thận trọng với phân khu Bảo vệ nghiêm ngặt của Vườn Quốc gia Tam Đảo

Tiếp theo bài "Sự thần kỳ sắp kết thúc", chúng tôi xin đăng tải tiếp bài viết này về sự tăng trưởng của Trung Quốc và những vấn đề môi trường :


HÃY NGỪNG SỬ DỤNG TÚI CHẤT DẺO

 

Gây ô nhiễm, tạo nguy hiểm cho môi sinh..., túi chất dẻo đã bị tẩy chay ở nhiều nước phát triển và có nhiều dự án để loại trừ việc sử dụng loại túi này. Nhưng ở nước ta, từ vùng núi cao Mèo Vạc xa xôi tới vùng biển Cà Mau tận cùng Tổ quốc, đâu đâu cũng có mặt túi chất dẻo. Một thảm họa ô nhiễm môi trường thật nhỡn tiền!

Mới đây báo chí đưa tin một Viện nghiên cứu khai thác biển ở Pháp đã quan sát thấy hơn 60% rác tìm thấy dưới đáy biển là chất dẻo, gây độc hại cho hệ động vật dưới nước. Hàng trăm con cá voi và rùa biển ở đó bị chết ngạt hoặc tắc ruột khi nuốt phải túi chất dẻo nổi bập bềnh giữa hai làn nước vì nhầm tưởng là cá. Xin lưu ý một nhược điểm nữa là túi chất dẻo được chế tạo từ các dẫn xuất dầu mỏ nên gián tiếp góp phần tạo ra hiệu ứng nhà kính và sự nóng lên của khí hậu.

Được biết ở Đài Loan, chính quyền đã ra lệnh cấm sử dụng túi này từ năm 2002. Ở Ailen, chính quyền cũng chọn giải pháp đánh thuế loại túi này nên mức sử dụng giảm hẳn… Vậy tại sao chúng ta không hoàn toàn loại trừ loại túi này, bắt đầu trước hết ở các siêu thị?

Tất nhiên các nhà khoa học phải vào cuộc chứ không chỉ người tiêu dùng. Họ cần tìm được biện pháp xen kẽ có tính quá độ cho vấn đề túi chất dẻo, những túi “có tính phân hủy sinh học chẳng hạn”, được chế tạo từ mây tre đan hay từ tinh bột ngô, khoai tây, sợi đay, cà chua…, như một số nước đã làm? Túi giấy vẫn được xem là “có tính sinh thái” nhưng sản xuất túi giấy cần khá nhiều năng lượng và nước nên nhiều chuyên gia coi túi giấy cũng gây ô nhiễm ngang với túi xách tạm bằng chất dẻo.

Giá túi “sinh học” chắc sẽ đắt hơn túi chất dẻo vài ba lần nhưng bù lại, môi trường sẽ tránh được hiểm họa không nhỏ. Và người tiêu dùng có thể sẽ học được cách tiêu thụ và sống có trách nhiệm hơn...

Nguyên Đán (ĐH Bách Khoa Hà Nội)

 

 

 

BÁO ĐỘNG Ô NHIỂM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ Ở BẮC BỘ

 

Ô nhiễm tại làng nghề gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, Bắc Ninh (Ảnh: Nguyễn Đức Quang)

 

Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường Phạm Thế Bảo cho biết mức độ ô nhiễm môi trường ở khu vực nông thôn vùng đồng bằng Bắc Bộ, đặc biệt tại các làng nghề, đang gia tăng ở mức báo động.


Khu vực Đồng bằng sông Hồng hiện có khoảng 700 làng nghề, chiếm tới gần một nửa số làng nghề của cả nước. Một khảo sát mới đây của Viện Khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) và Bộ Khoa học Công nghệ cho thấy 100% mẫu nước thải ở các làng nghề đều cho thông số ô nhiễm vượt tiêu chuẩn cho phép. Nước mặt, nước ngầm đều có dấu hiệu ô nhiễm, nhất là nước tại các làng nghề chế biến nông sản thực phẩm, dệt nhuộm.

Theo ông Phạm Thế Bảo, kết quả khảo sát tại 30 làng nghề tại Hưng Yên cho thấy có tới 60% sản xuất hoàn toàn thủ công, chỉ có 37% là có trang bị nửa cơ khí và hầu hết là sản xuất tại gia đình. Khảo sát tại 40 xã ở Hà Nội cũng cho thấy khoảng 60% số xã bị ô nhiễm nặng từ các hoạt động sản xuất.

Ở các làng tái chế kim loại, khí độc không qua xử lý được thải trực tiếp vào không khí như ở làng nghề tái chế chì Đông Mai (Hưng Yên), nồng độ chì vượt quá 2.600 lần tiêu chuẩn cho phép. Nghề thuộc da, làm miến dong ở Hà Tây cũng thường xuyên thải ra các chất như bột, da, mỡ làm cho nước nhanh bị hôi thối, ô nhiễm nhiều dòng sông chảy qua làng nghề.

Nhiều làng nghề còn gây ra tiếng ồn và bụi quá mức cho phép.

Do ô nhiễm môi trường, lao động không có dụng cụ bảo hiểm và sinh hoạt hàng ngày chung với môi trường sản xuất, tình trạng sức khoẻ của người dân làng nghề bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo hộ lao động gần đây cho thấy trong các làng nghề, tỷ lệ mắc bệnh nhiều nhất liên quan đến hô hấp như viêm họng chiếm 30,56%, viêm phế quản 25% hay đau dây thần kinh chiếm 9,72%.

Tại làng nghề tái chế chì Đông Mai, tỷ lệ người dân mắc bệnh về thần kinh chiếm khoảng 71%, bệnh về đường hô hấp chiếm khoảng 65,6% và bị chứng hồng cầu giảm chiếm 19,4%. Tại làng nghề sản xuất rượu Vân Hà (Bắc Giang) tỷ lệ người mắc bệnh ngoài da là 68,5% và các bệnh về đường ruột là 58,8%.

Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề tại Đồng bằng Bắc Bộ, Chánh Văn phòng Ban chỉ đạo quốc gia về cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường Phạm Thế bảo cho rằng các địa phương cần gắn quy hoạch xây dựng các cụm công nghiệp làng nghề với việc xử lý môi trường và chất thải mang tính tập trung; tăng cường nâng cao nhận thức của cộng đồng về bảo vệ môi trường và tăng cường chuyển giao công nghệ sản xuất tiên tiến, phù hợp với điều kiện từng địa phương.

(Theo TTXVN)

RA MẮT CỤC CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG

Chiều 6-3, tại Hà Nội, Tổng cục Cảnh sát đã tổ chức lễ ra mắt Cục Cảnh sát Môi trường trước sự chứng kiến của đông đẩo các vị lãnh đạo Bộ Công an, Bộ Tài nguyên và Môi trường cùng đại diện các đơn vị trực thuộc Tổng cục Cảnh sát.

Thượng tướng Lê Thế Tiệm, Thứ trưởng Bộ Công an đã trực tiếp giao nhiệm vụ và đề nghị lãnh đạo Cục Cảnh sát Môi trường: khẩn trương ổn định về tổ chức; tham mưu, đề xuất lãnh đạo Bộ Công an nghiên cứu trình Chính phủ, Quốc hội xây dựng, hoàn thiện khung pháp lý cho hoạt động của lực lượng cảnh sát này. Cán bộ, chiến sĩ Cục Cảnh sát Môi trường cần nắm vững công tác điều tra cơ bản; đấu tranh kiên quyết với các hành vi vi phạm pháp luật về môi trường; phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.

Cục Cảnh sát môi trường có trách nhiệm giúp Tổng Cục trưởng Tổng cục Cảnh sát thống nhất quản lý, tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn lực lượng Cảnh sát Môi trường trong cả nước thực hiện các chủ trương, kế hoạch, biện pháp bảo vệ môi trường. Cục có nhiệm vụ phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và các vi phạm pháp luật khác về môi trường theo quy định của pháp luật và của Bộ trưởng; hướng dẫn, chỉ đạo và tổ chức thực hiện một số hoạt động điều tra theo pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự và xử lý các vi phạm quy định về bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật.

Trước đó, Bộ trưởng Bộ Công an đã có quyết định bổ nhiệm ông Nguyễn Xuân Lý (Phó cục trưởng Cục quản lý khoa học môi trường) làm Cục trưởng Cục cảnh sát môi trường.

(Theo TTXVN)

VỤ ÁN ĐẨU TIÊN CỦA CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG: SỰ CỐ TRÀN DẦU

 

Thứ trưởng Thường trực Phạm Khôi Nguyên chụp ảnh cùng lực lượng cảnh sát môi trường

Phát biểu tại lễ ra mắt, Thứ trưởng Thường trực Phạm Khôi Nguyên khẳng định: “Môi trường là mặt trận rất phức tạp vì vậy lực lượng CSMT sẽ là người bạn đồng hành, là cứu cánh cho môi trường Việt Nam. Bộ TN&MT không còn đơn độc trên mặt trận bảo vệ môi trường bởi tới đây Bộ và Cục CSMT sẽ cùng phối hợp trên trận địa này”.

Đại tá Nguyễn Xuân Lý – Cục trưởng Cục Cảnh sát môi trường đã khẳng định điều này với PV báo TN&MT ngay sau lễ ra mắt Cục CSMT chiều 6/3 tại Hà Nội. Đại tá Nguyễn Xuân Lý cho biết:

- Nhiệm vụ trước mắt của Cục CSMT là tập trung ổn định tổ chức bộ máy, xây dựng đường lối, phương thức hoạt động của Cục; rà soát các quy phạm pháp luật để có phương án bổ sung, sửa đổi như Nghị định 81 về xử lý vi phạm hành chính... Đồng thời có kế hoạch tổ chức tập huấn nâng cao kiến thức môi trường cho các chiến sỹ. Xác định một số chuyên án theo quy định của pháp luật. Và việc đầu tiên sau khi Cục CSMT đi vào hoạt động là phối hợp với Bộ TN&MT điều tra vụ tràn dầu tại các tỉnh miền Trung (xảy ra cuối tháng 1, đầu tháng 2/2007), và đang trong quá trình điều tra một số vụ án tại các điểm nóng môi trường. 

Đại tá Nguyễn Xuân Lý

Theo ông, đâu là những khó khăn, thách thức mà lực lượng CSMT sẽ đối mặt khi đi vào hoạt động?

- Để tiên lượng được những khó khăn của Cục trong thời gian tới là điều không dễ vì cơ cấu tổ chức của đơn vị chúng tôi chưa rõ ràng. Tuy nhiên, theo tôi khó khăn ban đầu sẽ là hành lang pháp lý chưa đồng bộ, cả Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự, Nghị định 81 về xử phạt vi phạm hành chính đều cần phải sửa đổi, bổ sung. Nhận thức về bảo vệ môi trường của các cấp lãnh đạo, các tổ chức, đơn vị và cá nhân chưa đồng đều, thậm chí còn rất mơ hồ.

  

Trong khi đó, trình độ nhận thức của cán bộ, chiến sỹ còn hạn chế, có thể nhiều đồng chí giỏi nghiệp vụ cảnh sát nhưng không hiểu biết về môi trường và ngược lại. Ngoài ra, cơ sở vật chất cũng là một trong những thách thức đối với chúng tôi.

 

Thưa ông, đến bao giờ lực lượng CSMT ở các địa phương sẽ chính thức được thành lập?

-  Chúng tôi đã có báo cáo lãnh đạo Bộ để có thể triển khai lực lượng CSMT ở địa phương trong thời gian sớm nhất. Trước mắt, chúng tôi sẽ thành lập 36 phòng CSMT trực thuộc Công an các tỉnh và các đội CSMT thuộc một số Công an quận, sau đó rút kinh nghiệm để tiến tới triển khai trong toàn quốc.

 

Ông đánh giá thế nào về tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay ở nước ta?

- Có thể nói, tình hình vi phạm pháp luật môi trường ở VN đang có những diễn biến phức tạp và nghiêm trọng. Nhiều đơn vị và doanh nghiệp chưa chú trọng đúng mức về nhiệm vụ bảo vệ môi trường, các chất độc hại được thải thẳng ra sông, hồ và không khí mà không qua xử lý hoặc có xử lý nhưng không đảm bảo yêu cầu về an toàn môi trường; sử dụng các phương tiện không đảm bảo tiêu chuẩn kỹ thuật về môi trường, đồng thời việc khai thác bừa bãi tài nguyên cũng gây tác hại nghiêm trọng về cân bằng môi trường sinh thái. Vì vậy, sự ra đời lực lượng CSMT sẽ góp phần ổn định tình hình vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay.

 

Ông có khuyến cáo gì trong việc huy động toàn dân hỗ trợ lực lượng CSMT hoàn thành công tác này?

- Mọi lực lượng nếu không có sự tham gia của dân sẽ không thành công. Do đó để phát động phong trào quần chúng nhân dân tham gia bảo vệ môi trường, chúng tôi sẽ phối hợp với Cục Phong trào Bảo vệ An ninh Tổ quốc (Bộ Công an), đồng thời kết hợp với Bộ TN&MT tổ chức cuộc vận động này, có thể trong ngày Môi trường thế giới 5/6 tới đây.

Thanh Xuân (thực hiện)

“CẢNH SÁT MÔI TRƯỜNG CÓ QUYỀN ĐÌNH CHỈ HOẠT ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP”

Ngày 6/3 tại Hà Nội, Tổng cục Cảnh sát (Bộ Công an) đã tổ chức lễ ra mắt Cục Cảnh sát môi trường. Nhân dịp này, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với Đại tá Nguyễn Sĩ, Phó cục trưởng.

Xin ông cho biết mục đích, chức năng và nhiệm vụ của việc thành lập Cục Cảnh sát môi trường?

Trước thực trạng ô nhiễm môi trường ở Việt Nam ngày càng phức tạp và nghiêm trọng; đồng thời trên cơ sở đề nghị của Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 29/11/2006, Bộ trưởng Bộ Công an đã ký Quyết định thành lập Cục Cảnh sát môi trường (trực thuộc Tổng cục Cảnh sát).

Là đơn vị quản lý hành chính trật tự xã hội, Cục Cảnh sát môi trường có nhiệm vụ điều tra, phòng ngừa, phát hiện ban đầu các vi phạm về môi trường.

Theo Quyết định của Bộ Công an, Cục sẽ thực hiện 13 nhiệm vụ cơ bản trong đó có: tham mưu cho Tổng cục về lĩnh vực này, hướng dẫn chỉ đạo lực lượng cảnh sát môi trường địa phương thực hiện chức năng; hướng dẫn tuyên truyền, kiểm tra, xử lý hành chính công tác vi phạm pháp luật về môi trường; tiến hành hoạt động điều tra đối với các hành vi vi phạm pháp luật môi trường; kiểm định tiêu chuẩn môi trường...

Cục Cảnh sát môi trường có 3 phòng nghiệp vụ và 1 trung tâm kiểm định với lực lượng ban đầu trên 100 cán bộ. Tại các địa phương sẽ có phòng cảnh sát môi trường với quân số khoảng 10 cán bộ trực thuộc giám đốc công an tỉnh; đồng thời ở các cấp quận, huyện sẽ có các đội cảnh sát môi trường.

Ngay trong những ngày đầu ra quân, lực lượng Cảnh sát môi trường sẽ tập trung triển khai thực hiện những nhiệm vụ trọng tâm gì, thưa ông?

Trước mắt, sẽ có khoảng trên 30 địa phương thành lập phòng cảnh sát môi trường, trong đó tập trung vào các thành phố trực thuộc Trung ương, những khu vực nổi cộm về ô nhiễm môi trường và vi phạm về khai thác tài nguyên thiên nhiên; các tỉnh miền biển như Quảng Ninh; các tỉnh đang có hiện tượng phá rừng nhiều; các tỉnh có nhiều khu công nghiệp tập trung như Đồng Nai, Thái Nguyên...

Ngay trong thời gian đầu ra quân, Cục sẽ nghiêm túc thực hiện đúng chức năng được giao, tập trung trang thiết bị kỹ thuật, xây dựng lực lượng cảnh sát bảo vệ môi trường; đồng thời rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật nhà nước kiến nghị sửa đổi, bổ sung để phù hợp với chức năng nhiệm vụ của cảnh sát hoạt động trong lĩnh vực môi trường.

Hiện nay, do cảnh sát môi trường là lực lượng mới nên các văn bản quy phạm pháp luật chưa đề cập đến. Đặc biệt, trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính không có quy định lực lượng cảnh sát môi trường được quyền xử phạt vi phạm hành chính.

Đây là một trong những khó khăn trước mắt trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ của Cục.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã có lực lượng thanh tra môi trường. Theo ông, liệu sự ra đời của Cục Cảnh sát môi trường có tạo sự chồng chéo trong công tác bảo vệ môi trường không?

Ngay sau khi ra mắt và đi vào hoạt động, Cục sẽ cùng với Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng các quy chế phối hợp giữa lực lượng cảnh sát môi trường và cơ quan bảo vệ môi trường để thực hiện tốt nhiệm vụ quản lý nhà nước và đấu tranh phòng chống tội phạm về môi trường.

Sự phối hợp cùng thực hiện trên cơ sở chức năng nhiệm vụ của từng cơ quan để tránh sự chồng chéo. Cần xác định mức độ nào thì sẽ chuyển sang cơ quan cảnh sát môi trường thực hiện. Những trường hợp Thanh tra môi trường phát hiện thấy có dấu hiệu vi phạm về hình sự (được căn cứ vào 10 điều của Chương XII (Bộ Luật hình sự) mà cần phải truy tố trước pháp luật, Cục Cảnh sát môi trường sẽ lập hồ sơ và đề nghị khởi tố vụ án.

Ngoài việc phối hợp với Thanh tra, lực lượng cảnh sát môi trường sẽ chủ động triển khai lực lượng trinh sát đi đến các điểm nóng về môi trường. Việc đầu tiên lãnh đạo Cục chỉ đạo là triển khai ngay công tác điều tra cơ bản các điểm nóng mà trước hết là những cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Trên cơ sở đó phối hợp với ngành tài nguyên và môi trường để bằng các biện pháp xử phạt hành chính thông thường kết hợp với các biện pháp nghiệp vụ công an để tập trung đi sâu vào xử lý những điểm nóng. Nếu có đủ lực lượng thì Cảnh sát môi trường sẽ tham gia vào các vụ như tràn dầu ở miền Trung vừa qua.

Sẽ hoàn toàn không có sự chồng chéo như một số người lo ngại. Lực lượng cảnh sát môi trường sẽ có chức năng nhiệm vụ hoàn toàn khác với lực lượng thanh tra tài nguyên môi trường.

Sự khác nhau cụ thể là, xử phạt hành chính là nhiệm vụ của thanh tra tài nguyên môi trường, lực lượng cảnh sát môi trường có thể đi theo thanh tra nhưng công việc chủ yếu là phát hiện bằng biện pháp trinh sát, xác minh bằng kỹ thuật, nếu phát hiện đơn vị có dấu hiệu vi phạm đến mức phải xử lý hình sự thì sẽ lập hồ sơ, khởi tố.

Tuy nhiên, lực lượng thanh tra là nguồn cung cấp tài liệu cho lực lượng cảnh sát chúng tôi.

Là cảnh sát nhưng lại thực hiện các nhiệm vụ điều tra vi phạm về môi trường, vậy sẽ có những thuận lợi và khó khăn gì, thưa ông?

Lực lượng cảnh sát môi trường ngoài nghiệp vụ chuyên môn đặc thù cơ bản của mình cần phải có những kiến thức cần thiết về môi trường thông qua đào tạo, học hỏi, trao đổi kinh nghiệm.

Đòi hỏi đầu tiên là lực lượng cảnh sát môi trường phải nắm được Luật Bảo vệ môi trường và có những kiến thức tối thiểu về lĩnh vực này. Ban đầu, lực lượng cảnh sát môi trường có thể sẽ gặp phải những phản đối của các đối tượng vi phạm nếu trong trường hợp phải đình chỉ hoạt động sản xuất.

Cảnh sát môi trường có quyền ra lệnh đình chỉ hoạt động của doanh nghiệp đó nếu thấy có vi phạm môi trường. Nếu doanh nghiệp vẫn không chịu khắc phục sẽ khởi tố vụ án, đề nghị đưa ra truy tố trước pháp luật. Chúng tôi không dùng màu áo cảnh sát để đi răn đe các đơn vị, nhưng hoạt động của lực lượng cảnh sát môi trường phải thực sự nghiêm minh

(Đức Phan thực hiện. Theo VietnamEconomy)


HÀ NỘI: 1 TỶ ĐỒNG/NGÀY DO Ô NHIỄM

Phát thải do xe máy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí

Theo tính toán của Viện Y tế lao động, Hà Nội bị tổn thất mỗi ngày 1 tỷ đồng do ô nhiễm không khí. Trong đó, phát thải xe máy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí.

Tất cả các loại khí thải độc hại ở tại các đô thị Việt Nam đều đã quá mức tiêu chuẩn cho phép rất nhiều, là thông tin từ Hội thảo "Chương trình kiểm soát khí thải mô tô, xe máy tại các TP lớn - kinh nghiệm quốc tế và điều kiện ở Việt Nam" ngày 6-3 do Cục Đăng kiểm Việt Nam phối hợp dự án không khí sạch Việt Nam-Thụy Sĩ tổ chức.

Thiệt hại từ 0,3- 0,6% GDP

Ông Michael Walsh thuộc Hội đồng quốc tế về giao thông sạch (ICCT) Hoa Kỳ đưa ra thông tin giật mình: Mức độ ô nhiễm bụi khói một số điểm ở Hà Nội qua đo thực tế đã gần bằng mức độ ô nhiễm khói lẫn trong sương mù năm 1952 ở London làm hàng nghìn người tử vong.

Trong khi đó nguyên nhân chính là do lượng phát thải từ mô tô xe máy hiện đang bị thả nổi không kiểm soát được.

Tham luận của ông Lê Anh Tú - Cục Đăng kiểm Việt Nam - cũng cho thấy các loại khí độc hại như HC, CO, SO2, CO2… trong không khí tại các đô thị Việt Nam đều vượt, thậm chí gấp hơn hai lần tiêu chuẩn cho phép ở những khu vực mật độ giao thông cao.

Cũng theo tính toán của Viện Y tế lao động, Hà Nội bị tổn thất mỗi ngày 1 tỷ đồng do ô nhiễm không khí. Trong đó, phát thải xe máy là nguyên nhân chính gây ô nhiễm không khí. Mức thiệt hại về kinh tế do khí thải xe máy được các nhà nghiên cứu đưa ra là hơn 50 triệu USD/ năm tại TP.HCM và hơn 20 triệu USD/năm tại Hà Nội. Đáng ngại là mức thiệt hại ngày càng tăng, chiếm từ 0,3 -0,6 % GDP của TP. Trong khi đó, lượng xe máy không ngừng tăng, năm 2006 đã lên tới con số 18 triệu xe.

Không thể chần chừ

Các quốc gia như Ấn Độ, Thái Lan... là những nước có nhiều xe mô tô xe gắn máy đều thực hiện việc kiểm soát phát thải xe máy. Mặc dù mỗi quốc gia có những biện pháp khác nhau, nhưng theo như ông Michael Walsh thì đều nằm trong những hình thức chung sau:

Thứ nhất, kiểm soát công nghệ sản xuất môtô xe máy, áp dụng tiêu chuẩn khí thải Euro 2-4. Thứ hai, sử dụng nhiên liệu sạch, có động thái kiên quyết tách các chất độc hại như chì (Việt Nam đã làm ) lưu huỳnh... ra khỏi xăng. Thứ ba, phải quy hoạch giao thông hợp lý giảm thiểu tắc nghẽn giao thông vì khi các phương tiện bị tắc nghẽn nồng độ khí thải độc hại tăng đột biến. Thứ tư, có chế độ bảo dưỡng thích hợp với xe máy. Thứ năm là có lộ trình loại bỏ xe máy cũ.

Với hiện trạng ô nhiễm không khí từ phát thải xe máy đang báo động tại Việt Nam, Cục Đăng kiểm Việt Nam cũng đưa ra ba nhóm giải pháp.

Nhóm giải pháp trước mắt, gồm: Kiểm tra khí thải định kỳ cho xe đang lưu hành với lộ trình phù hợp; áp dụng tiêu chuẩn Euro 2 cho xe mới; nâng cao chất lượng nhiên liệu phù hợp tiêu chuẩn phương tiện.

Nhóm giải pháp thường xuyên lâu dài gồm: Quản lý điều hành tổ chức giao thông giảm ùn tắc, nâng cao ý thức cộng đồng và ý thức bảo vệ môi trường của người dân.

Nhóm giải pháp hỗ trợ gồm: Lắp đặt bộ xử lý khí thải cho xe đang sử dụng; sử dụng các loại thuế phí môi trường như một công cụ điều tiết lượng xe máy, khuyến khích loại bỏ xe cũ...

Tuy nhiên, khó khăn khi thực hiện kiểm soát khí thải xe máy tại Việt Nam còn do lượng xe quá lớn, đòi hỏi một lực lượng thiết bị và nhân lực lớn, thói quen sử dụng xe máy tự do của người dân khiến các nhà quản lý vẫn phải nghiên cứu cân nhắc.

(Theo Tuoitre.com)

 

Ô NHIẼM Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP MIỀN TRUNG

Theo thống kê chưa đầy đủ, khu vực kinh tế động lực của miền Trung (từ Thừa Thiên - Huế đến Bình Định) đã có khoảng 20 khu công nghiệp (KCN) được xây dựng và thu hút gần 500 dự án.

Đây là một tín hiệu đáng mừng cho miền Trung chậm phát triển. Thế nhưng cùng với việc phát triển nhanh các KCN thì môi trường nơi đây cũng đang trong tình trạng báo động bởi nạn ô nhiễm nặng nề do chất thải từ các nhà máy.

Đà Nẵng: sống chung với ô nhiễm

Nước ruộng bị ô nhiễm gây bệnh lở loét, ghẻ ngứa cho người dân sống gần Khu công nghiệp Hòa Khánh

Vụ lúa đông xuân năm nay hơn 120ha ruộng của phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên Chiểu) không thể gieo cấy được vì ô nhiễm. Hơn 400 hộ nông dân ở các đội sản xuất Hòa Hiệp ngao ngán trước tình trạng lúa cấy xuống bị héo rũ vì nguồn nước thải của KCN Hòa Khánh tràn ra các thửa ruộng.

Gần hai tháng nay, căn bệnh ngứa rồi lở loét chân tay bùng phát mạnh ở các đội sản xuất Hòa Hiệp (quận Liên Chiểu). Ông Huỳnh Thanh Sơn, bí thư chi bộ thôn Xuân Thiều, phân trần: Dân ở đây chỉ cần lội xuống ruộng một buổi là y như rằng sau đó chân tay nứt nẻ vì ghẻ ngứa. Ông Trương Tỏa ở đội 5 cả hai bàn tay và chân đều xù xì những vết nứt đỏ loét suốt nửa tháng nay nằm bẹp gí trên giường. Mấy sào ruộng của gia đình ông đành bỏ hoang cho cỏ mọc. Bà Trần Thị Bảy (52 tuổi) ở đội 1 cũng lâm vào tình cảnh như vậy. “Biết lội ruộng thì ngứa ngáy rồi ghẻ lở, nhưng tụi tui là nông dân, không làm ruộng thì còn biết làm gì sống”.

*  Đà Nẵng có 6 KCN tập trung có tổng diện tích qui hoạch 1.500ha với 290 DN, trong đó có 200 DN đang hoạt động. Khi các KCN được lấp đầy và các dự án đi vào hoạt động thì cũng là lúc Đà Nẵng nhận ra những gánh nặng về vấn đề môi trường nước thải, khí thải, chất thải.

Và điều đáng lo ngại nhất là tại 6 KCN chỉ mới có KCN Hòa Khánh có nhà máy xử lý nước thải tập trung nhưng đang trong giai đoạn vận hành thử. Kết quả kiểm tra thực địa tại các KCN cho thấy chất thải là rất lớn và phức tạp. Trong số 290 dự án đầu tư tại các KCN trên địa bàn TP Đà Nẵng chỉ có khoảng 45% số dự án lập báo cáo đánh giá tác động môi trường.

*  Ông Lê Hồng Hà, phó BQL các KCN tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Thực trạng ô nhiễm môi trường trong KCN Quảng Phú đang là vấn đề hết sức bức xúc trong nhiều năm qua. Theo qui định các nhà máy phải xử lý chất thải đạt tiêu chuẩn loại B trước khi thải ra môi trường, nhưng không mấy nhà máy thực hiện.

Trong đó đáng chú ý là Nhà máy chế biến giấy Hải Phương luôn vi phạm ô nhiễm môi trường và đã nhiều lần bị phạt hành chính. Còn hệ thống xử lý nước thải chung trong KCN đã được đề cập từ năm 2001, với nguồn kinh phí trên 25 tỉ đồng nhưng chưa được triển khai với lý do chưa có kinh phí.

Ông Bùi Văn Quốc - chủ tịch phường - cho hay vụ đông xuân này hơn 2/3 diện tích lúa của gần 400 hộ bị hư hại vì ngâm trong nước thải đen ngòm, cầm chắc nhiều hộ sẽ bị thiếu đói vào lúc giáp hạt.

“Không có nước nơi nào đen và hôi bằng nơi đây” - ông Nguyễn Ý, một nông dân ở phường Hòa Hiệp, nói. Trước đây nước giếng trong vắt chứ không đục nhờ nhờ như thế này. Từ ngày KCN Hòa Khánh hình thành, toàn bộ đất trên cánh đồng Gia Tròn, đồng Phở, đồng Cửa nằm sát hồ Bàu Tràm bị nước thải của Nhà máy sản xuất giấy Wei Sen Xin làm ô nhiễm. Nước thải chảy tràn lâu ngày thấm sâu vào đất khiến đất chuyển sang màu đen đục, mùi hôi thối quánh đặc trong không khí.

“Không chịu nổi nên chúng tôi kiến nghị với chính quyền, nhưng chỉ được vài ba bữa rồi đâu lại vào đó” - ông Bùi Minh Kiểm (ở đội 4) than thở. Theo ông Kiểm, chỉ trong hai năm qua trong xóm đã có chín người chết vì bệnh ung thư. Không biết có phải do ảnh hưởng của việc ô nhiễm từ nước thải của KCN không, nhưng cứ mỗi lần nước thải tràn ra đồng là y như rằng gà, vịt của các hộ dân trong xóm lăn ra chết như ngã rạ. Các ao nuôi tôm nước lợ thì tôm chết nổi đỏ cả mặt ao. Nguồn lợi thủy sản trên sông Cu Đê nay bị nước thải KCN hủy diệt môi trường sống của các loài tôm cá.

Khoảng ba tháng nay, trước phản ứng gay gắt của cư dân khu vực Thủy Tú, Nam Ô (thuộc phường Hòa Hiệp Bắc), Công ty ximăng Hải Vân (thuộc KCN Liên Chiểu) tạm ngưng thải bụi ximăng vào giờ hành chính trong ngày. Nhưng cứ tầm từ 7 giờ tối đến khoảng 5 giờ sáng hôm sau, quanh khu vực này bụi lại bay mù mịt. Buổi tối có việc phải ra ngoài, dù có đèn đường chiếu sáng nhưng người dân khu vực này vẫn không thể nhìn rõ lối đi. Không khí còn đặc quánh hơn ban ngày vì nồng độ bụi tăng cao.

Bụi không chỉ phủ trắng trên những mái nhà, khung cửa, vật dụng trong các hộ gia đình xung quanh mà toàn bộ cây xanh trồng ở khu vực này đều bị bụi ximăng nhuộm một màu trắng đục. Người dân của tổ 60, phường Hòa Hiệp cho biết họ ăn, ngủ với bụi ximăng từ hơn một năm nay. Và không chỉ có Nhà máy ximăng Hải Vân thải bụi, Nhà máy Thép Đà Nẵng ở gần đó cũng mặc nhiên xả mạt sắt thép ra ngoài khiến không khí ở đây càng đặc quánh lại. “Mỗi lần nhà máy này xả mạt ra cả khu vực đen đặc như sương mù” - ông Thái Thanh Hùng, cư trú tại số nhà 14 đường Nguyễn Phúc Chu, cho hay.

Không còn cách nào khác, cư dân tại đây đã phải trang bị cho mình hệ thống khẩu trang đeo kín mặt lẫn đầu để sống chung với ô nhiễm. “Đã quá nhiều lần bà con chúng tôi gửi đơn kêu cứu đến chính quyền thành phố nhưng tình hình đâu lại vào đấy. Người già, trẻ con cứ đến tối là nặng đầu, khó thở”. Đáng ngại nhất là hai trường tiểu học và mầm non với gần 1.000 học sinh nằm trong vùng bụi thải của hai nhà máy Ximăng Hải Vân và Thép Đà Nẵng.

Quảng Nam: rác công nghiệp hành hạ người dân

Nước thải từ Khu công nghiệp Hòa Khánh đã làm hơn 120ha đất canh tác lúa đông xuân của bà con nông dân phường Hòa Hiệp Nam (quận Liên Chiểu) bị ảnh hưởng không gieo cấy được

Với hơn 34 nhà máy đã và đang đưa vào hoạt động, KCN Điện Nam - Điện Ngọc được xem là KCN lớn nhất và là niềm tự hào về phát triển công nghiệp của tỉnh Quảng Nam. Và KCN này cũng đang nổi lên như một điểm nóng về ô nhiễm môi trường ở miền Trung. Bởi vì, cũng như nhiều KCN khác ở miền Trung, KCN này vẫn chưa xây dựng hệ thống xử lý chất thải. Và hiển nhiên, tất thảy những gì thải ra ở KCN này người dân xung quanh phải gánh