MÔI TRƯỜNG ĐÓ ĐÂY

Buồn, vui môi trường
2030, Thị Vải sẽ trở thành sông 'chết'
Những dòng sông sắp qua đời 

Báo động đỏ về những dòng sông đang hấp hối
Sông Dương tử ô nhiễm 'không thể vãn hồi'
Sông Dương Tử 'sắp chết'
2010, Hà Nội không còn chỗ chứa rác
Dự án Khí sinh học của VN đoạt giải Năng lượng toàn cầu
Ống xả xe máy thân thiện môi trường
Hàn Quốc hỗ trợ ngành công nghiệp Việt Nam bảo vệ môi trường
Làm giàu nhờ... giữ môi trường sạch
Càng phát triển, càng phải lo môi trường
Kazakhstan mắc nợ để cứu biển chết
Thảm họa Aral để lại dấu ấn trên ADN
Kazakhstan sẽ cứu biển Aral
Bi kịch sinh thái ở vùng biển Aral
Vùng nam biển Aral sẽ biến mất trong 15 năm tới

BUỒN VUI MÔI TRƯỜNG

 

Rừng thông hẹp lại, khí hậu nóng lên, sương mù buổi sáng không còn và bây giờ thì đến lượt Thung lũng Tình yêu, một trong những thắng cảnh hàng đầu của Đà Lạt bị “bức tử” (từ của báo Thanh Niên). Sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy ở phía Bắc và hệ thống sông Đồng Nai ở phía Nam bị ô nhiễm nặng nề đến mức khi đưa tin, báo Tuổi trẻ gọi là : “Những dòng sông sắp qua đời”.

Thung lũng Tình yêu bị băm nát do con người đào bới để lấy thiếc. Sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy, sông Đồng Nai bị ô nhiễm là do nước thải, rác thải công nghiệp và dân sinh ở hai thành phố lớn nhất nước đổ vào. Riêng hệ thống sông Đồng Nai còn có một nguyên nhân nữa là nuôi trồng thủy sản tràn lan.                     

Thiên nhiên và môi trường sống đang bị hủy hoại đã trở thành chuyện thường ngày, vậy mà cứ mỗi lần nghe là một lần con tim đau nhói, đau vì mất một cánh rừng, một dòng sông cụ thể thì ít mà đau vì sự bất lực và cả sự vô trách nhiệm của con người đối với tài nguyên đất nước, với các thế hệ tương lai thì nhiều. Đau lòng nhất là thái độ không thể nào hiểu nổi của những người có trách nhiệm trực tiếp trên địa bàn. Thung lũng Tình yêu chỉ cách trung tâm thành phố Đà Lạt 6km, hàng năm thu hút trên 40 vạn lượt khách tham quan, là nơi được bảo tồn nghiêm ngặt để phục vụ cho hoạt động du lịch, vậy mà nạn đào thiếc trái phép diễn tra nhiều tháng qua nhưng lãnh đạo thành phố Đà Lạt lại không hề biết. Để ngăn chặn bọn “thiếc tặc” hoành hành, Công ty du lịch dịch vụ Thanh niên, đơn vị chủ quản Thung lũng Tình yêu đã phải ký hợp đồng thuê cơ quan quân sự thành phố Đà Lạt bảo vệ nhưng tiền mất, tật vẫn mang, nhiều hố đào thiếc chỉ cách chòi canh gác của cơ quan quân sự thành phố Đà Lạt 20m vẫn hoạt động liên tục, công khai mà không hề có bất kỳ sự ngăn cản nào. Sau khi báo chí lên tiếng, tại cuộc họp khẩn cấp ngày 12/4/2007, do UBND thành phố Đà Lạt triệu tập để khắc phục hậu quả, các vị lãnh đạo của Thành ủy và chính quyền thành phố đều có mặt nhưng cũng chỉ yêu cầu các đơn vị cấp dưới khẩn trương san lấp các hố thiếc, khôi phục lại mặt bằng, bố trí canh gác để ngăn ngừa tái diễn, đồng thời tổ chức kiểm điểm trách nhiệm báo cáo lên UBND thành phố để xử lý sai phạm mà chẳng có lấy một lời nói nào tương xứng với cương vị và trách nhiệm của “những người đứng đầu”.

Về các con sông Cầu, sông Nhuệ, sông Đáy nguy cơ  ô nhiễm đã được phát hiện từ lâu. Khi còn nhẹ thì chủ quan không có biện pháp ngăn ngừa tích cực ngay từ đầu để đến bây giờ khi đã trở thành thảm họa môi trường, ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng chục vạn dân thì các cấp chính quyền lại tỏ ra rất lúng túng.

Tuy nhiên, nói như vậy không phải là đã hết hy vọng bởi ý thức bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang lớn dần lên trong tư duy của mỗi con người Việt Nam. Kể từ kế hoạch 5 năm 2006 –2010, bên cạnh hệ thống chỉ tiêu, xã hội luôn có hệ thống chỉ tiêu môi trường và cứ 5 năm một lần, Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ báo cáo hiện trạng môi trường chung và từng năm có những báo cáo chuyên đề. Mong sao từ nay, đó sẽ là những báo cáo vui.

 

Trần Thiên Nhiên (Theo MONRE NET)

 

 

2030, THỊ VẢI SẼ TRỞ THÀNH SÔNG CHẾT

Theo TS Phạm Khôi Nguyên, Thứ trưởng Bộ TN&MT, với tốc độ tăng trưởng dân số và tốc độ gây ô nhiễm như hiện nay đến năm 2030, sông Thị Vải sẽ trở thành sông “chết”.

E-Trade News - Theo ông Nguyên, việc Thị Vải trở thành sông “chết” trong tương lai đã được các cơ quan chức năng cảnh báo từ lâu. Theo đó, Thị Vải sẽ trở thành sông “chết” vào năm 2050. Tuy nhiên, với tốc độ phát triển cơ học về dân số, sản xuất kinh tế như hiện nay con sông này sẽ “chết”sớm hơn so với dự báo 20 năm.

Báo cáo mới đây của Cục Bảo vệ Môi trường cũng cho thấy sông Thị Vải hiện là một trong những con sông ô nhiễm nhất trong lưu vực hệ thống sông Đồng Nai với một đoạn sông “chết” dài trên 10km. Đây là đoạn sông từ sau khu vực hợp lưu Suối Cả - sông Thị Vải khoảng 2 km đến khu công nghiệp Mỹ Xuân. Hiện nước ở khu vực này bị ô nhiễm hữu cơ nghiêm trọng, có màu nâu đen và bốc mùi hôi thối kể cả thời gian triều lên và triều xuống.

Giá trị DO (ôxy hòa tan) tại đây thường xuyên dưới 0,5 mg/l (giá trị thấp nhất tại khu vực). Với giá trị DO gần bằng 0 như vậy, các loài sinh vật không còn khả năng sinh sống.

Bên cạnh đó, lượng vi khuẩn coliform có trong nước sông ở khu vực này cũng vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài chục đến hàng trăm lần. Hàm lượng thủy ngân tại khu vực cảng Vedan, cảng Mỹ Xuân cũng vượt 1,5 – 4 lần, lượng kẽm vượt 3 – 5 lần tiêu chuẩn cho phép.

Theo TS Nguyên, nguyên nhân dẫn khiến sông Thị Vải thành sông “chết” là do các nguồn nước thải công nghiệp, khai thác khoáng sản, làng nghề, sinh họat, y tế, nông nghiệp…không được xử lý triệt để và đổ thẳng vào dòng chảy của sông. Trong số các nguồn thải có lưu lượng thải lớn, nước thải sinh họat và nước thải công nghiệp đóng góp tỷ lệ  lớn nhất với tải lượng các chất ô nhiễm rất cao.

Theo Cục Bảo vệ Môi trường, trước tình hình ô nhiễm nghiêm trọng tại sông Thị Vải, cuối năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo UBND tỉnh Đồng Nai và Bà rịa – Vũng Tàu tạm thời không cho phép đầu tư 5 loại hình công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng là: Chế biến tinh bột sắn, chế biến mủ cao su, sản xuất hóa chất cơ bản, nhuộm và thuộc da.

5 loại hình  công nghiệp khác cũng bị hạn chế cấp phép là: Công nghiệp xi mạ, chế biến thủy sản, sản xuất hóa chất bảo vệ thực vật, sản xuất phân bón và sản xuất bột giấy trên lưu vực sông Thị Vải.

 

(Theo Tiền Phong)

NHỮNG DÒNG SÔNG SẮP QUA ĐỜI

Với những đất nước đang phát triển như Việt Nam, điều đáng lo nhất là môi trường. Vì những lợi ích trước mắt, người ta đã dễ dãi, xuê xoa với những nguy cơ tiềm ẩn mà trong một tương lai rất gần sẽ phải trả giá rất đắt...

E-Trade News - Hôm qua 12/4, Bộ Tài nguyên - Môi trường đã công bố báo cáo môi trường Việt Nam năm 2006, tập trung vào tình hình ba lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy và hệ thống sông Đồng Nai.

 Đọc những kết quả nghiên cứu, bà Helene B. Jordans, cố vấn của DANIDA (Cơ quan Hỗ trợ phát triển quốc tế Đan Mạch), đã phải thốt lên: “Có lần nhìn xuống mấy con kênh ở TPHCM, tôi tự hỏi có phải chúng đã “chết” rồi không. Bây giờ thì các dữ liệu đã chứng minh điều đó là đúng”.

 Thái Nguyên điêu đứng với sông Cầu

 Các tỉnh liên quan tới lưu vực sông Cầu gồm Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Nội. Mật độ dân số 427 người/km2 (cao hơn hai lần mật độ trung bình cả nước), có 800 cơ sở sản xuất công nghiệp, 200 làng nghề và 1.200 cơ sở y tế.

 Trong các tỉnh có sông Cầu đi qua, Thái Nguyên bị ô nhiễm rõ rệt, đặc biệt là đoạn sông chảy qua thành phố. Nước sông đục, có màu đen nâu và bốc mùi. Hoạt động sản xuất công nghiệp là thủ phạm chính. Nước thải của Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đặt ngay trong thành phố xả thẳng vào các nhánh nhỏ dẫn ra sông Cầu, gồm các chất ô nhiễm vô cơ, xơ sợi khó lắng, độ kiềm cao. Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên chảy vào con sông này với lưu lượng khoảng 1,3 triệu m3/năm và “ban tặng” cho dòng sông nhiều chất ô nhiễm độc hại như dầu mỡ, phenol và cyanure.

 Ngoài sản xuất công nghiệp, các hoạt động nông nghiệp cũng góp phần gây ô nhiễm nghiêm trọng. Lưu vực sông Cầu tiếp nhận thêm ít nhất 180.000 tấn phân hóa học và 1.500 tấn thuốc trừ sâu mỗi năm!

 Nước thải sinh hoạt hại sông Nhuệ - Đáy

 Sông Nhuệ - Đáy liên quan đến Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định. Mật độ dân số 874 người/km2. Có trên 4.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, 458 làng nghề và 1.400 cơ sở y tế.

 Với lưu vực sông Nhuệ - Đáy, báo cáo đưa ra khẳng định: các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng khi mọi thông số đo được đều vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép.

 Các con sông khác thuộc lưu vực này như sông Châu Giang, sông Tích, sông Hoàng Long, sông Đào đều bị ô nhiễm. Đặc trưng ô nhiễm của lưu vực sông này là nước thải sinh hoạt đóng góp tỷ lệ lớn nhất, trong đó thành phố Hà Nội đóng góp 54% lượng nước thải sinh hoạt toàn lưu vực.

 Công nghiệp và nuôi trồng thủy sản “giết” sông Đồng Nai

 Hệ thống sông Đồng Nai ảnh hưởng đến Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, TP HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An. Mật độ dân số 269 người/km2. Có hơn 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, 491 làng nghề và 1.633 cơ sở y tế.

 Do trải rộng trên nhiều tỉnh, hệ thống sông Đồng Nai chịu tác động cùng lúc từ nhiều nguồn nên phần hạ lưu của nhiều sông trong lưu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, thậm chí có đoạn trở thành sông chết.

 Nước sông Đồng Nai, đoạn từ Nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại có hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn cho phép. Hệ thống sông Sài Gòn chủ yếu bị ô nhiễm chất hữu cơ với dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng ở một số nơi. Chất lượng nước của các con sông khác như sông Bé, Đa Nhim - Đa Dung, Vàm Cỏ, nước ở các ao hồ, kênh rạch trên lưu vực... đều bị ô nhiễm nặng.

 Nghiêm trọng nhất là sông Thị Vải đã có đoạn bị chết kéo dài từ sau khu vực hợp lưu suối Cả - Đồng Nai đến Khu công nghiệp Mỹ Xuân. Tác nhân chính gây ô nhiễm nước trong lưu vực là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp và các khu công nghiệp, khu chế xuất. Phần lớn đều xả trực tiếp vào nguồn nước. Một đặc trưng khác về tác nhân ô nhiễm là hoạt động nuôi trồng thủy sản trong lưu vực.

 

- Kể từ kế hoạch năm năm (giai đoạn 2006-2010), bên cạnh hệ thống chỉ tiêu kinh tế và xã hội sẽ luôn có hệ thống chỉ tiêu môi trường. Và theo qui định của Bộ Tài nguyên - môi trường, cứ năm năm một lần phải có báo cáo hiện trạng môi trường chung và mỗi năm phải có báo cáo chuyên đề.

 

- Bà Helene B.Jordans (DANIDA): “Ngăn chặn ô nhiễm luôn luôn rẻ hơn đi dọn dẹp hậu quả của ô nhiễm”.

 

- Bà Nguyễn Hội Chân, quyền giám đốc quốc gia của World Bank (Ngân hàng Thế giới): “Trong tiếng Việt, từ nước và sông là một phần quan trọng của từ đất nước. Việc bảo vệ và sử dụng bền vững nguồn nước không chỉ quan trọng cho quá trình phát triển của đất nước mà còn cho con người Việt Nam”.

(Theo Dân Trí)

 

BÁO ĐỘNG ĐỎ VỀ NHỮNG DÒNG SÔNG ĐANG HẤP HỐI

Theo một báo cáo của Bộ Tài nguyên - môi trường công bố hôm qua 12/4 tại một cuộc hội thảo, ô nhiễm môi trường tập trung vào tình hình ở ba lưu vực sông Cầu, Nhuệ - Đáy và hệ thống sông Đồng Nai.

Thái Nguyên điêu đứng với sông Cầu

Các tỉnh liên quan tới lưu vực sông Cầu gồm Bắc Kạn, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Dương, Hà Nội. Mật độ dân số 427 người/km2 (cao hơn hai lần mật độ trung bình cả nước), có 800 cơ sở sản xuất công nghiệp, 200 làng nghề và 1.200 cơ sở y tế.

Trong các tỉnh có sông Cầu đi qua, Thái Nguyên bị ô nhiễm rõ rệt, đặc biệt là đoạn sông chảy qua thành phố. Nước sông đục, có màu đen nâu và bốc mùi. Hoạt động sản xuất công nghiệp là thủ phạm chính. Nước thải của Nhà máy giấy Hoàng Văn Thụ đặt ngay trong thành phố xả thẳng vào các nhánh nhỏ dẫn ra sông Cầu, gồm các chất ô nhiễm vô cơ, xơ sợi khó lắng, độ kiềm cao. Khu công nghiệp gang thép Thái Nguyên chảy vào con sông này với lưu lượng khoảng 1,3 triệu m3/năm và “ban tặng” cho dòng sông nhiều chất ô nhiễm độc hại như dầu mỡ, phenol và cyanure.

Ngoài sản xuất công nghiệp, các hoạt động nông nghiệp cũng góp phần gây ô nhiễm nghiêm trọng. Lưu vực sông Cầu tiếp nhận thêm ít nhất 180.000 tấn phân hóa học và 1.500 tấn thuốc trừ sâu mỗi năm!

Nước thải sinh hoạt  hại sông Nhuệ - Đáy 

1.jpg1.jpg

Rác ở chân cầu sông Tô Lịch (Hà Nội) - Ảnh tư liệu

Sông Nhuệ - Đáy liên quan đến Hà Nội, Hà Tây, Hà Nam, Hòa Bình, Ninh Bình, Nam Định. Mật độ dân số 874 người/km2. Có trên 4.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, 458 làng nghề và 1.400 cơ sở y tế.  

Với lưu vực sông Nhuệ - Đáy, báo cáo đưa ra khẳng định: các sông nội thành Hà Nội bị ô nhiễm nghiêm trọng khi mọi thông số đo được đều vượt nhiều lần tiêu chuẩn cho phép. Các con sông khác thuộc lưu vực này như sông Châu Giang, sông Tích, sông Hoàng Long, sông Đào đều bị ô nhiễm. Đặc trưng ô nhiễm của lưu vực sông này là nước thải sinh hoạt đóng góp tỉ lệ lớn nhất, trong đó thành phố Hà Nội đóng góp 54% lượng nước thải sinh hoạt toàn lưu vực.

Công nghiệp & nuôi trồng thủy sản “giết” sông Đồng Nai

Hệ thống sông Đồng Nai ảnh hưởng đến Đắc Nông, Lâm Đồng, Bình Phước, Đồng Nai, Bình Thuận, Ninh Thuận, Tây Ninh, Bình Dương, TP.HCM, Bà Rịa - Vũng Tàu, Long An. Mật độ dân số 269 người/km2. Có hơn 9.000 cơ sở sản xuất công nghiệp, 491 làng nghề và 1.633 cơ sở y tế.

Do trải rộng trên nhiều tỉnh, hệ thống sông Đồng Nai chịu tác động cùng lúc từ nhiều nguồn nên phần hạ lưu của nhiều sông trong lưu vực đã bị ô nhiễm nghiêm trọng, thậm chí có đoạn trở thành sông chết.

Nước sông Đồng Nai, đoạn từ Nhà máy nước Thiện Tân đến Long Đại có hàm lượng chì vượt tiêu chuẩn cho phép. Hệ thống sông Sài Gòn chủ yếu bị ô nhiễm chất hữu cơ với dấu hiệu ô nhiễm kim loại nặng ở một số nơi. Chất lượng nước của các con sông khác như sông Bé, Đa Nhim - Đa Dung, Vàm Cỏ, nước ở các ao hồ, kênh rạch trên lưu vực... đều bị ô nhiễm nặng. Nghiêm trọng nhất là sông Thị Vải đã có đoạn bị chết kéo dài từ sau khu vực hợp lưu suối Cả - Đồng Nai đến Khu công nghiệp Mỹ Xuân. Tác nhân chính gây ô nhiễm nước trong lưu vực là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp và các khu công nghiệp, khu chế xuất. Phần lớn đều xả trực tiếp vào nguồn nước. Một đặc trưng khác về tác nhân ô nhiễm là hoạt động nuôi trồng thủy sản trong lưu vực.         

(Theo TTXVN, Tuổi Trẻ)

SÔNG DƯƠNG TỬ Ô NHIỄM "KHÔNG THỂ VÃN HỒI"

Hàng tỷ tấn rác được xả xuống các con sông ở Trung Quốc mỗi năm. Ảnh: BBC.

Phần lớn con sông dài nhất Trung Quốc, Dương Tử, đã bị ô nhiễm nặng đến mức không thể cứu vãn được. Khoảng 1 phần 10 con sông dài 6.200 km này ở trong tình trạng "nguy cấp" và khoảng 30% các nhánh lớn đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Ngay cả hồ chứa nước lớn được tạo bởi đập Tam Hiệp cũng đã bốc mùi.

Đây là hệ quả mà môi trường Trung Quốc phải gánh chịu từ quả bom kinh tế của nước này. Chính phủ đã cam kết sẽ làm sạch Dương Tử, con sông cung cấp nước cho khoảng 200 thành phố dọc theo bờ của nó và chiếm tới 35% sản lượng nước ngọt trên toàn quốc.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng những nỗ lực làm sạch các hồ và lưu vực ô nhiễm của Trung Quốc vẫn bị cản trở bởi các tiêu chuẩn môi trường.

Khoảng 14 tỷ tấn rác thải được cho là đổ xuống sông mỗi năm. Đời sống thủy sinh ở đây đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng, với sản lượng đánh bắt giảm từ 427.000 tấn vào thập kỷ 1950 xuống còn 100.000 tấn vào những năm 1990.

Chiếc hồ khổng lồ được tạo bởi Đập Tam Hiệp - dự án thuỷ điện lớn nhất thế giới - cũng đã bị ô nhiễm nặng bởi thuốc trừ sâu, phân bón và chất thải từ các tàu khách.

"Ảnh hưởng của con người lên hệ sinh thái nước sông Dương Tử là không thể đảo ngược được ở phần lớn lưu vực", Yang Guishan, từ Viện Địa lý và Hồ học ở Nam Kinh, người giúp soạn thảo báo cáo, cho biết.

T. An (theo Tân Hoa Xã)

 

 

SÔNG DƯƠNG TỬ "SẮP CHẾT"

Một phụ nữ đang chờ để qua sông Dương Tử đoạn chảy qua Hồ Bắc.

Một phụ nữ đang chờ để qua sông Dương Tử đoạn chảy qua Hồ Bắc. (AFP)

Dương Tử, dòng sông dài nhất Trung Quốc, đang bị ô nhiễm nặng nề và đe dọa nguồn cung cấp nước uống cho 186 thành phố hai bên bờ.

Báo chí Trung Quốc hôm qua cho hay các chuyên gia môi trường nước này lo sợ rằng tình trạng ô nhiễm có thể giết chết dòng sông này trong vòng 5 năm nữa.

"Nhiều quan chức cho rằng ô nhiễm chẳng là gì đối với Dương Tử", Yuan Aiguo, giáo sư đại học Địa khoa học Trung Quốc, cho hay. "Nhưng thực tế tình trạng ô nhiễm đang rất nghiêm trọng", ông nói và cảnh báo rằng các chuyên gia coi đó là tình trạng "ung thư".

Nước thải công nghiệp, rác thải sinh hoạt, hóa chất dùng trong nông nghiệp và hóa chất từ các vụ đắm tàu là nguyên nhân gây ô nhiễm dòng sông này.

Sông Dương Tử dài thứ ba trên thế giới, chỉ sau sông Nile và Amazon, chảy từ Thanh Hải và Tây Tạng qua 186 thành phố, trong đó có Trùng Khánh, Vũ Hán và Nam Kinh trước khi đổ ra biển ở Thượng Hải.

Khoảng 40% lượng nước thải của Trung Quốc đổ xuống dòng sông này, trong đó có tới 80% chưa qua xử lý. Đây cũng là nguồn cấp nước chính cho Thượng Hải.

Quốc gia đông dân nhất thế giới đang đối mặt với một cuộc khủng hoảng nước nghiêm trọng. 300 triệu người Trung Quốc không được dùng nước sạch và chính phủ nước này đang nỗ lực làm sạch các dòng sông lớn như Hoàng Hà và Dương Tử.

Tuy nhiên, những chiến dịch đó gặp nhiều hạn chế vì nỗ lực không đồng nhất của các địa phương. Các vụ tràn hóa chất xảy ra thường xuyên và vụ nghiêm trọng nhất mới đây là ở sông Tùng Hoa.

Ngọc Sơn (theo Reuters)

 

2010 HÀ NỘi KHÔNG CÒN CHỖ CHỨA RÁC 

 

Các loại chất thải khó phân hủy như túi ni lon là một trong những nguyên nhân gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường. Ước tính khối lượng túi nilon thải ra từ các gia đình tại Hà Nội lên tới 200 tấn/ngày. Đây là một trong những nguyên nhân khiến các bãi rác thải ngày càng đầy lên nhanh chóng.

Việc thiếu các bãi xử lý rác đang trở thành vấn đề lớn tại các đô thị, Hà Nội không phải là ngoại lệ. Do bãi xử lý rác Nam Sơn cách Hà Nội tới 56 km, nên trước khi đưa về đây xử lý, rác vẫn được tập kết rái rác ở các huyện ngoại thành.

“Với khối lượng rác tăng trung bình hàng năm 15% như trong vòng 5 năm trở lại đây thì chỉ tới 2010, bãi chôn lấp này sẽ đầy. Hiện nay, bãi chôn rác Nam Sơn đang phải tiếp nhận khoảng 2.500 tấn rác/ngày” -  ông Phạm Ngọc Hải, Phó Tổng Giám đốc Tổng công ty Môi trường Đô thị, lo lắng cho biết.

Tuy nhiên, theo ông Hải nếu thực hiện phân loại rác tại nguồn, chỉ có rác vô cơ mới cần phải chôn lấp, nhờ đó sẽ giảm ít nhất 50% nhu cầu bãi chôn lấp, và các vấn đề về môi trường được giảm thiểu.

Ông này cho biết thêm, ngay trong tháng 4 này, công ty sẽ tổ chức khảo sát khối lượng thành phần chất thải tại các địa bàn thực hiện thí điểm phân loại rác tại nguồn, đồng thời, lập phương án lựa chọn địa điểm thực hiện dự án thí điểm phân loại rác thải tại nguồn, tổ chức cuộc họp tuyên truyền cộng đồng, sản xuất các thiết bị, dụng cụ phân loại rác, cải tiến quá tình sản xuất phân hữu cơ.

Sau đó, từ quý III sẽ thực hiện thí điểm phân loại rác nguồn trên địa bàn các phường Phan Chu Trinh, Nguyễn Du. Nếu trong quá trình triển khai thấy có hiệu quả tích cực sẽ triển khai nhân rộng áp dụng trên địa bàn thành phố.

DỰ ÁN KHÍ SINH HỌC CỦA VIỆT NAM ĐOẠT GIẢI NĂNG LƯỢNG TOÀN CẦU

Ảnh: CAND.

Chương trình khí sinh học cho ngành Chăn nuôi của Việt Nam đã vượt qua 700 dự án đề xuất từ khắp nơi trên thế giới và nhận giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực năng lượng và môi trường, do Liên Hợp Quốc và một số tổ chức năng lượng hàng đầu châu Âu tổ chức.

Giải thưởng bao gồm một bức tượng nặng 17 kg và tiền thưởng trị giá 10.000 euro, đã được ông Hans - Gert Pottering, Chủ tịch Nghị viện châu Âu trao cho tiến Nguyễn Thanh Sơn, Giám đốc Dự án khí sinh học cho ngành Chăn nuôi của Việt Nam, hôm 12/4.

Ngoài đóng góp của chương trình vào việc giảm bớt tình trạng trái đất ngày càng nóng lên, Ban giám khảo đặc biệt ca ngợi phương thức tiếp cận ngành của chương trình này.

Nhờ thu hút sự tham gia của cả nhà nước lẫn tư nhân trong công tác quảng bá và xây dựng các công trình khí sinh học, chương trình đã mang lại lợi ích cho 27.000 hộ nông dân tại 50 tỉnh, thành của Việt Nam với phương thức bền vững về kinh tế.

Bắt đầu triển khai từ năm 2003, chương trình Khí sinh học do Cục Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện thông qua Văn phòng dự án Khí sinh học, với sự hỗ trợ kỹ thuật từ Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV. Dự kiến đến năm 2010, dự án sẽ đạt mục tiêu xây dựng khoảng 167.000 công trình tại 50 tỉnh, thành.

Theo các nhà phân tích, dự án chương trình khí sinh học của Việt Nam còn góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống người dân nông thôn nhờ nguồn năng lượng sạch và có khả năng tái tạo (khí sinh học) được dùng để đun nấu và thắp sáng. Chi phí đầu tư cho một công trình khí sinh học, vào khoảng 200-350 euro, có thể được hoàn lại trong vòng vài ba năm.

Với kết cấu khép kín và sử dụng triệt để nguồn chất thải trong chăn nuôi, sinh hoạt, công trình khí sinh học đã góp phần giải quyết một trong những vấn đề bức xúc hiện nay ở các vùng nông thôn là tình trạng ô nhiễm môi trường.

(Theo Công an Nhân dân)


ỐNG XẢ XE MÁY THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG

Ý tưởng từ một chuyến đi
Một lần đi công tác Ấn Độ liên quan đến đề tài vật liệu từ, trong lúc thăm quan phòng thí nghiệm, PGS TSKH. Nguyễn Văn Vượng đã nhìn thấy một bộ xương gốm cấu trúc tổ ong được trưng bày

Ông cảm thấy rất thú vị tự hỏi làm thế nào để chế tạo ra nó và được dùng vào mục đích gì? Chắc chắn đó không phải là công nghệ chọc lỗ truyền thống mà phải được chế tạo theo một công nghệ đặc biệt nào đó. Các nhà khoa học Ấn Độ rất tự hào coi đây là một bí quyết công nghệ mà chưa muốn trao đổi. Ngay lúc đó ông đã ý thức được vai trò và tác dụng to lớn của sản phẩm này trong phát triển và ứng dụng vật liệu xúc tác, bởi vật liệu xúc tác dưới dạng bột không có chất mang sẽ không phát huy tác dụng. Cách đây 7 năm, vấn đề môi trường được đặt ra và ngày càng trở nên cấp thiết. Ý tưởng có một bộ xúc tác cấu trúc tổ ong đặt trong ống xả xe máy để xử lý khí thải được hình thành. 

Giải pháp công nghệ
Để sau này có thể sản xuất lớn, TS. Vượng hiểu rằng phải dùng công nghệ đùn để chế tạo các bộ xương gốm cấu trúc tổ ong. Và như vậy, bí quyết chính là ở chỗ chế tạo được khuôn đùn. Sau hơn nửa năm suy nghĩ, đến cuối năm 2002, ý tưởng làm khuôn đùn đã hình thành. Đầu năm 2003, nhân dịp chuyến công tác ở Nhật, tận dụng xưởng cơ khí với các thiết bị chính xác điều khiển bằng máy tính, TS. Vượng đã làm ra được chiếc khuôn đùn đầu tiên.
Để kiểm tra ý tưởng chế tạo, ông đã tự mua một máy đùn con, tìm kiếm nguyên vật liệu đùn thử. Một cục xương gốm cấu trúc tổ ong nhỏ bé đầu tiên ra đời. Điều này minh chứng ý tưởng hoàn toàn đúng.

 
Ống bô có lắp bộ xương gốm

Trở về nước, ông cùng các cộng sự của Phân Viện Vật liệu quý hiếm thuộc Viện Khoa học Vật liệu , Viện KHCN Việt Nam (Viện KHCNVN) đã đăng ký đề tài “Công nghệ chế tạo hệ xúc tác lọc khí thải trên nền xương gốm cấu trúc tổ ong để sử dụng trong ống xả xe máy” trong 2 năm tại Viện KHCN. Có kinh phí, tập thể đề tài đã thành công chế tạo các bộ xương gốm, chế tạo vật liệu xúc tác kích thước nanomét, công nghệ tẩm vật liệu xúc tác lên xương gốm, bố trí thích hợp bộ xúc tác trong ống xả xe máy, thử nghiệm, đo đạc và cuối cùng đã cho ra đời ống xả xe máy thân thiện môi trường. 

Tiềm năng
Mật độ xe máy của các nước khu vực Đông Nam Á, Việt Nam không loại trừ là lớn nhất so với thế giới. Do vậy, ô nhiễm môi trường không khí do khí thải xe máy hiện là một vấn đề bức súc đòi hỏi sự tập trung giải quyết của chính phủ các nước.
Riêng ở Việt Nam, tiêu chuẩn khí thải được xiết chặt bởi quy định 249/2005/QĐ-TTg do Chính phủ ban hành cuối năm 2005. Nếu đối với các xe máy lắp ráp hoặc nhập khẩu mới việc sử dụng ống xả xe máy thân thiện môi trường là một trong các biện pháp được các nhà sản xuất áp dụng, thì đối với hơn 16 triệu xe máy hiện đang lưu hành trên toàn quốc có lẽ biện pháp sử dụng ống xả thân thiện môi trường nói trên là duy nhất.
Bộ xúc tác dài khoảng 100 mm, diện tích mặt cắt ngang là hình vuông mỗi cạnh dài 42 mm, hoặc hình tròn đường kính 48 mm có khoảng gần 200 lỗ vuông 2,2x2,2mm, được lắp đặt trên đường thoát khí từ lối ra của động cơ trước bộ giảm thanh. Chúng có hiệu suất chuyển hóa hai thành phần độc hại CO và HC trong khí thải xe máy về CO2 và H2O trung bình khoảng 80% cho tốc độ xe máy chạy trong khoảng 5 – 50 km/h. Nồng độ khí CO và HC đo ở đuôi ống xả có lắp đặt bộ xúc tác đều thấp hơn nhiều so với hai giá trị ngưỡng tương ứng là 4,5% và 1500 ppm xác định trong quy định 249 nói trên. Cấu trúc tổ ong của bộ xúc tác cho phép người dùng hoàn toàn không lo lắng về sự tốn thêm nhiên liệu, về bất kỳ ảnh hưởng nào của chúng lên hoạt động của động cơ. Do sử dụng vật liệu xúc tác nền ôxít kim loại kích thước nanomét nên chất lượng của các bộ xúc tác do tập thể đề tài chế tạo có chất lượng tương đương với các sản phẩm cùng loại dùng xúc tác là các kim loại quý nhưng giá thành thấp hơn và dịch vụ hậu mãi thuận tiện hơn.
Tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN-Ấn Độ họp tại New Dehli tháng 11 vừa qua, sản phẩm ống xả xe máy thân thiện môi trường đã được trưng bày trong gian hàng các sản phẩm khoa học công nghệ của Việt Nam và đã được các nhà khoa học và đại diện các tổ chức công nghiệp của các nước bạn đánh giá cao. Trước đó trong Hội chợ triển lãm khoa học công nghệ Việt Nam-Thái Lan tại Trung tâm Thông tin Tư liệu tổ chức vào cuối tháng 7 năm 2006, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ Hoàng Văn Phong rất hài lòng với sản phẩm ống xả xe máy thân thiện môi trường và cho đây là một giải pháp hiệu quả góp phần bảo vệ môi trường khí quyển tại Việt Nam.

Từ phòng thí nghiệm tới thực tiễn

 
Bộ xương gốm đã
tẩm vật liệu xúc tác

Đề tài liên quan đến công nghệ chế tạo ống xả xe máy thân thiện môi trường vừa kết thúc tháng 6 năm 2006 và được Hội đồng nghiệm thu cấp Viện KHCNVN đánh giá xuất sắc. Tập thể đề tài đã chuẩn bị mọi phương án để nâng cao công suất chế tạo các bộ xúc tác và hiện đang hy vọng được hợp tác với các cơ quan quản lý chức năng trong việc triển khai ứng dụng ống xả xe máy thân thiện môi trường, một sản phẩm khoa học công nghệ cao có tác dụng giảm thiểu ô nhiễm môi trường khí quyển do khí thải của xe máy. Một vấn đề cần phải cấp thiết giải quyết hiện nay mà đã được Chính phủ quan tâm từ mấy năm trước.

Cứu nguy những xe cũ và xiết chặt nhà sản xuất
Bộ xúc tác này sau khi đặt trong ống xả thì ống xả sẽ trở nên thân thiện môi trường. Đây là biện pháp duy nhất cứu nguy cho những xe máy đã lưu hành quá lâu. Đối với những xe đã lưu hành hiện tại, để giải quyết vấn đề khí thải thì phải đáp ứng được những tiêu chuẩn mới. Những xe này, sau một thời gian dài lưu hành, xi-lanh mòn, séc-măng bị dơ làm cho quá trình cháy nổ không hoàn toàn. Hàng chục triệu xe máy trên toàn quốc đang là nguồn thải ô nhiễm di động. Bằng việc lắp ống xả thân thiện môi trường, những xe máy quá cũ vẫn có thể lưu hành bình thường. Coi như vấn đề ô nhiễm do các nguồn thải xe máy được giải quyết.
Đối với các xe mới thì Chính phủ sẽ phải xiết chặt các nhà sản xuất. Những xe này phải đảm bảo khí thải ra phải sạch. Các nhà sản xuất có thể cải tiến động cơ, đặt bộ xúc tác hay chế tạo một bộ mạch chỉnh tỷ số giữa nhiên liệu và không khí thật chuẩn. Nhưng có một điều bất cập ở đây, đó là người bỏ tiền làm lợi cho người không bỏ tiền. Cho nên, cần phải có biện pháp can thiệp từ cơ quan quản lý chứ không thể để thị trường quyết định bởi đây là vấn đề của toàn xã hội. Lúc đó Chính phủ sẽ có một biện pháp như bán cho dân nhưng với giá mà Nhà nước trợ giúp để người tiêu dùng có cảm giác sẵn sàng góp một phần để giải quyết những vấn đề chung của toàn xã hội. Hoặc Nhà nước áp đặt cho nhà sản xuất xe máy tại Việt Mam phải sử dụng ống xả này. Và giá thành của sản phẩm ẩn vào trong giá thành của xe máy, như vậy nhà sản xuất chịu chứ người tiêu dùng không phải chịu. Sau đó các nhà nghiên cứu tiếp tục kết hợp với các cơ quan hữu quan sẽ giải quyết các vấn đề ô nhiễm do ô tô. Số lượng ô tô trên toàn quốc bây giờ chỉ có khoảng 0,7 triệu, trong khi số lượng xe máy gấp nhiều lần và trở thành vấn đề môi trường cấp bách.

Đức Phường  (Theo MONRE NET)

 

HÀN QUỐC HỖ TRỢ NGÀNH BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG


Nguồn nước ở nhiều khu dân cư
bị ô nhiễm.

Chính phủ Hàn Quốc, thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Hàn Quốc (KOICA), đã quyết định hỗ trợ 900.000 USD cho dự án tăng cường năng lực bảo vệ môi trường cho ngành công nghiệp của Việt Nam.

Đây là giai đoạn hai của dự án tăng cường năng lực bảo vệ môi trường cho một số ngành công nghiệp trọng điểm của Việt Nam do KOICA thực hiện. Giai đoạn 1 từ năm 2003-2005 với số tiền hỗ trợ trị giá 600.000 USD. 

Dự án giai đoạn hai này sẽ thực hiện khảo sát nghiên cứu chung về xử lý nước thải tại bãi chôn lấp rác, chuyển giao kinh nghiệm và công nghệ về xử lý nước thải trên phạm vi rộng như nước thải từ lò giết mổ gia súc, từ nhà máy chế biến thuỷ sản và hàng nông sản, v.v…

Ngoài ra, dự án còn thực hiện chuyển giao công nghệ về việc theo dõi và kiểm soát về tình hình ô nhiễm môi trường, thông qua đó hỗ trợ tăng cường năng lực quản lý nguồn nước cho cơ quan liên quan nghiên cứu về lĩnh vực môi trường của Việt Nam.

KOICA đang tích cực thực hiện hỗ trợ về lĩnh vực môi trường như hỗ trợ công nghệ xử lý nước thải tiên tiến, quản lý và kiểm soát nguồn nước nhằm phù hợp với chính sách môi trường của Việt Nam. 

Với dự án này, thực hiện trong hai năm bắt đầu từ năm 2007, Chính phủ Hàn Quốc sẽ hỗ trợ các trang thiết bị liên quan, đào tạo, tư vấn công nghệ, nghiên cứu chung v.v… nhằm hỗ trợ tăng cường năng lực quản lý môi trường thông qua việc nâng cao công nghệ xử lý các chất gây ô nhiễm môi trường từ các loại nước thải.

 

 

Tiền phong


 

 

LÀM GIÀU NHỜ ... GIỮ MÔI TRƯỜNG SẠCH

 

Hơn mười năm trở về trước, ông Ngô Văn Thái khi đó là cán bộ chuyên trách công tác Đảng tại Đảng bộ Nhà máy Giấy Bãi Bằng (Phú Thọ). Ông quyết định “lập nghiệp” khi đã ở tuổi ngũ thập tri thiên mệnh, nuôi khát vọng vượt lên số phận, quyết làm giàu chính đáng. Cái gọi là “số phận” khi ấy với ông là cảnh gia đình tám chín miệng ăn mà chỉ có một suất lương cán bộ, cái nghèo bám dai dẳng. Quyết vay vốn ngân hàng và được bạn bè giúp đỡ, ông Thái đầu tư 200 triệu đồng, lắp đặt một dây chuyền sản xuất các loại giấy mỏng, công suất 200 tấn/ năm. Nguyên liệu tận dụng là các loại giấy phế thải như vở học sinh, lề xén kẻ tại huyện Phù Ninh, sản phẩm là giấy vệ sinh, khăn giấy thường và khăn giấy thơm chất lượng cao, giải quyết việc làm cho hàng chục lao động là bộ đội xuất ngũ, con em đồng đội thanh niên xung phong.

Đối với sản xuất giấy, nguồn ô nhiễm chủ yếu là khói bụi ở lò đốt than, chất khí thải và nước thải. Ô nhiễm môi trường luôn tỉ lệ thuận với tốc độ phát triển ở cả làng nghề, phố nghề và khu công nghiệp tập trung, là vấn đề nhạy cảm dư luận hết sức quan tâm. “Cơ sở sản xuất giấy Kim Thành của tôi nằm xen trong khu dân cư nên năm đầu mới sản xuất, không ít bà con trong khu vực có ý kiến phàn nàn về khói bụi. Họ còn viết đơn lên Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường của tỉnh. Tôi đã tranh thủ ý kiến tư vấn của các nhà khoa học và kỹ sư chuyên ngành ở Sở”. Giám đốc Ngô Văn Thái khẳng định, muốn phát triển bền vững thì không thể bỏ qua chuyện môi trường nên ông đầu tư trên 10 triệu đồng xây lắp hệ thống thu hồi bụi. Sở Khoa học - Công nghệ và Môi trường đánh giá nồng độ bụi giảm đến 0,3 mg/ m3. Cơ sở tiếp tục đầu tư thu hồi nước thải, tái sử dụng, đưa lại hiệu quả kinh tế rất lớn. Vừa giảm được tiêu hao hóa chất lại thu hồi được lượng bột đáng kể, tiết kiệm việc sử dụng nước sạch và đặc biệt không gây ô nhiễm. Lượng nước ngưng (trong lô sấy ngưng tụ) thường rất lớn phải xả bỏ cũng được thu hồi để tiết kiệm nước và than. Các hạng mục công trình bảo vệ môi trường đã được Sở đánh giá đạt chuẩn từ  5 năm trước. Thương hiệu sản phẩm có nhãn hiệu độc quyền KT (Kim Thành) cũng được Cục Sở hữu trí tuệ Việt Nam công nhận.

Ông Thái bảo, có được ngôi biệt thự ba tầng gần 400 mét vuông đầy đủ tiện nghi, gia đình thu nhập 50-60 triệu đồng/ năm, cả ba con đều tốt nghiệp đại học và xây được nhà riêng... là nhờ khát vọng làm giàu chính đáng đã nhen lên từ mười năm trước. Ông nhấn mạnh, chính đáng ở đây là phát triển sản xuất phải đảm bảo về môi trường. Chính nhờ gìn giữ được môi trường mà cả chính quyền và bà con đều ủng hộ Công ty Kim Thành tăng trưởng.

Thanh Vân (Theo MONRE NET)

 

CÀNG PHÁT TRIỂN, CÀNG PHẢI LO MÔI TRƯỜNG  

Chất lượng sống tại TP.HCM không thể khá hơn khi nhiều khu vực còn bị ô nhiễm như thế này (ảnh chụp ở kênh Nhiêu Lộc - Thị Nghè) - Ảnh: N.C.T.

TT - Gặp gỡ đầu tuần với Tuổi Trẻ, ông NGUYỄN NGỌC SINH - chủ tịch Hội Bảo vệ thiên nhiên và môi trường VN, nguyên cục trưởng Cục Bảo vệ môi trường - cảnh báo: “Nếu không giải quyết được vấn đề môi trường thì cũng không thể giải quyết được vấn đề phát triển trong hội nhập”.

* Thực tế tình hình ô nhiễm môi trường đang diễn ra trầm trọng tại nhiều vùng trên cả nước trong khi năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường lại yếu kém. Vì sao, thưa ông?

- Ông NGUYỄN NGỌC SINH (ảnh): Năng lực của cơ quan quản lý nhà nước về môi trường còn yếu, còn thiếu, còn phải được tăng cường rất nhiều. Một tỉnh có hàng triệu dân, hàng nghìn, hàng vạn cơ sở sản xuất mà đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý môi trường chỉ có 5-6 người, nơi nào nhiều thì 15 người. Thế giới cho rằng tỉ lệ cán bộ làm công tác quản lý môi trường của chúng ta thuộc loại thấp nhất thế giới.

Để xảy ra tình trạng ô nhiễm môi trường như hiện nay có nguyên nhân rất cơ bản là do các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường chưa kiểm tra, giám sát được tốt. Bên cạnh đó, qui định về việc kiểm tra, giám sát, kiểm soát chưa chặt chẽ, chưa hoàn thiện và việc tuân thủ những qui định về kiểm soát chưa nghiêm. Nguyên nhân nữa là do nhận thức của chúng ta đối với công tác bảo vệ môi trường chưa đầy đủ.

Ông Nguyễn Ngọc Sinh - Ảnh: Kh.H

* Theo ông, những khu vực nào hiện nay đang được xem là báo động về ô nhiễm môi trường?

- Hiện nay tình trạng ô nhiễm môi trường đáng chú ý nhất đối với ba khu vực: khu công nghiệp,