phổ biến pháp luật cho người dân, cần sử dụng không gian mạng xã hội. Bởi vi,
chuyển đổi số cho phép số hóa tài liệu pháp luật và lan tỏa qua các nền tảng mạng
xã hội như Facebook, TikTok, hoặc Zalo. Việc sử dụng hình ảnh sinh động giúp
người dân dễ dàng tiếp thu kiến thức pháp luật hơn.
2.3. Tăng cường tính tương tác: Thông qua các ứng dụng di động, diễn
đàn trực tuyến và các buổi livestream, người dân có thể trao đổi trực tiếp với các
chuyên gia, đặt câu hỏi và được giải đáp các thắc mắc pháp lý. Chuyển đổi số đã
làm thay đổi phương thức giáo dục, phổ biến pháp luật cũ như: phát tài liệu cho
người dân tự đọc, tổ chức tuyên truyền trực tiếp, tổ chức mít tinh, hội nghị, hội
thảo, tư vấn, đối thoại. Hình thức này, cán bộ tuyên truyền nói và người dân thụ
động nghe. Chuyển đổi số thay đổi hoàn toàn hình thức tuyên truyền bằng cách
tăng khả năng tương tác hai chiều. Hình thức này biến người dân là người thụ động
thành chủ động, biến người dân vừa là chủ thể, vừa là khách thể của công tác tuyên
truyền phổ biến pháp luật.
2.4. Cá nhân hóa trải nghiệm học tập: Phân tích dữ liệu người dùng giúp
các nền tảng xã hội đề xuất các nội dung pháp luật sát với nhu cầu, ngành nghề
hoặc độ tuổi cụ thể của từng nhóm người dân. Đây là lợi thế thực tế của chuyển đổi
số trong giáo dục, phổ biến pháp luật cho người dân. Bởi vì, phương thức cũ, tập
trung tất cả người dân ở cơ sở (có nam và nữ, các lứa tuổi, các dân tộc, các tôn
giáo, các ngành nghề…) để giáo dục, phổ biến pháp luật. Còn chuyển đổi số đã tối
ưu hóa cá nhân của đối tượng nhận thông tin. Việc tối ưu hóa tính cá nhân của đối
tượng làm cho công tác giáo dục, phổ biến pháp luật đúng với từng đối tượng
người dân.
2.5. Tiết kiệm thời gian và chi phí: Thay vì các buổi tập trung đông người,
chuyển đổi số giúp lan tỏa thông tin nhanh chóng, rộng khắp với chi phí tối ưu, cập
nhật sửa đổi luật pháp một cách tức thì. Phương thức giáo dục, phổ biến cũ phụ
thuộc vào các yếu tố ngoại cảnh như: địa điểm, hội trường, âm thanh, ánh sáng và
cái quan trọng bậc nhất là phải có nhiều người đến tham gia. Phương thức này
thường gặp các rủi ro khó lường như: trời mưa, mất điện, thanh niên đến tham gia
ít…Còn giáo dục, phổ biến thông qua chuyển đổi số không bị phụ thuộc vào địa
điểm, thời gian, số lượng người tham gia nên đã khắc phục triệt để những rủi ro dễ
gặp phải.
2.6. Giúp phá vỡ tình trạng cố hữu: Công tác giáo dục, phổ biến pháp luật
cho người dân cũng như tuyên truyền cái đúng, cái tốt, cái điển hình…thường khó
lan tỏa hơn rất nhiều so với loại thông tin “vỉa hè”, quán nước về những cái sai, cái
xấu, cái lệch chuẩn. Giáo dục, phổ biến pháp luật cho nguwoif dân thông qua
chuyển đổi số sẽ khắc phục được quy luật bất thành văn trong công tác giáo dục,
phổ biến pháp luật.
3. Giải pháp nâng cao hiệu quả dùng chuyển đổi số để giáo dục, phổ
biến pháp luật cho người dân
Hiệu quả công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật cho người dân thông qua
không gian mạng phụ thuộc vào 6 yếu tố sau:
3.1. Lực lượng: các bộ chính quyền, cán bộ đoàn thể, chuyên gia, tuyên
truyền viên, báo cáo vên, giáo viên…
3.2. Nội dung chuyển tải: Khái quát ngắn, gọn, xúc tích, dễ hiểu, dễ nhớ, dễ
lan truyền nội dung của các luật cần giáo dục, phổ biến cho người dân.
3.3. Công cụ số: Các mạng xã hội người dân dễ tiếp cận.
3.4. Đối tượng tác động: Nội dung và phương thức phải phù hợp với từng
đối tượng người dân.
3.5. Phương thức: Phù hợp với tâm lý lứa tuổi người dân.
3.6. Nhiễu và rủi ro: Tổ chức giáo dục, phổ biến pháp luật cần tính đến các
yếu tố nhiễu như: người dân tộc thiểu số khó tiếp cận, người mắc các tệ nạn xã hội
và yếu tố rủi ro như mất điện, mưa bão…
Sáu yếu tố trên có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp để công tác giáo dục, phổ
biến pháp luật thông qua mạng xã hội cho người dân. Những yếu tố này có mối
quan hệ hữu cơ, thống nhất với nhau, bổ sung cho nhau.
4. Cần bồi dưỡng cho người dân có kỹ năng phòng, chống lừa dảo trên
không gian mạng
Môi trường ảo (thế giới ảo) là không gian kỹ thuật số do máy tính tạo ra, cho
phép người dùng quan sát, di chuyển và tương tác với các đối tượng hoặc người
khác. Nó bao gồm không gian mạng, các nền tảng mạng xã hội, ứng dụng thực tế
ảo (VR/AR) và không gian làm việc số.
Môi trường ảo (mạng xã hội, internet) phá vỡ rào cản địa lý, giúp kết nối
toàn cầu, cập nhật thông tin nhanh chóng và mở rộng không gian sáng tạo. Tuy
nhiên, mặt trái của nó là hệ lụy về tâm lý, nạn lừa đảo, nguy cơ rò rỉ dữ liệu cá
nhân và sự suy giảm các tương tác thực tế. Ngoài mặt tích cực không gian ảo có
thể làm cho người dân gặp rủi ro như bị lừa đảo trực tuyến, đánh cắp danh tính và
rò rỉ thông tin cá nhân. Và có thể gặp nhưng tin giả, nội dung độc hại, bạo lực lan
tràn khó kiểm soát.
Cần hỗ trợ người dân có kỹ năng cốt lõi khi sử dụng không gian mạng. Để
sử dụng mạng xã hội một cách an toàn và biến "sống ảo" thành một công cụ tích
cực phục vụ cho việc học tập pháp luật, người dân cần được trang bị tư duy ứng xử
văn minh, nâng cao năng lực số và quản lý tốt thời gian cá nhân. Thay vì sa đà vào
các trào lưu tiêu cực, người dân cần biến không gian mạng thành nơi lan tỏa giá trị
sống tốt đẹp.
Một số kỹ năng cụ thể người dân cần có: Xây dựng tư duy "sống thật" trước
khi "sống ảo", bằng các giải pháp như: bảo mật thông tin cá nhân (Tuyệt đối không
chia sẻ địa chỉ nhà, trường học, số điện thoại hoặc mật khẩu cá nhân lên mạng xã
hội.); biết quản lý thời gian và cân bằng cuộc sống; và biến mạng xã hội thành
công cụ học tập.
II. Góp ý chỉnh sửa Dự thảo Luật giáo dục, phổ biến pháp luật
1. Đề nghị bổ sung 1 điều quy định về sử dụng chuyển đổi số trong giáo dục,
phổ biến pháp luật vào Chương II. Có thể bổ sung 1 chương quy định về dùng
không gian mạng để giáo dục, phổ biến pháp luật.
2. Đề nghị sửa Điều 8. Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam: Thay cụm từ “tôn vinh Hiến pháp, pháp luật” bằng cụm từ “xác định giá trị
cốt lõi của Hiến pháp, pháp luật”. Bởi vì, tôn vinh là hành động ca ngợi, đề cao và
tôn lên vị trí cao quý nhằm ghi nhận công lao, tài năng hoặc phẩm chất tốt đẹp của
một cá nhân, tập thể hay giá trị văn hóa đối với cộng đồng.
3. Đề nghị sửa cụm từ “hình thức”
Trong đề mục các Điều 19 và Điều 20 thành ghi “hình thức” thành “phương
thức”. Bởi vì, hình thức và phương thức giáo dục, phổ biến pháp luật khác nhau về
bản chất khái niệm, cách thức thực hiện và mức độ chuyên sâu. Hình thức là mô
hình tổ chức cụ thể, còn phương thức là cách thức, phương pháp và công nghệ
(dùng công nghệ số) tác động để chuyển tải nội dung.
Hai khái niệm này có nội hàm khác nhau. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp
luật: Là các loại hình, mô hình hoặc phương tiện tổ chức cụ thể để chứa đựng và
truyền tải nội dung pháp luật đến người nghe.
Còn phương thức phổ biến, giáo dục pháp luật: Là cách thức, phương pháp,
kỹ năng hoặc công nghệ mà người thực hiện sử dụng để vận hành hình thức đó
nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Ví dụ: phương thức truyền thông số hóa, ứng dụng trí
tuệ nhân tạo (AI), đối thoại trực tiếp, hỏi đáp tương tác, hoặc trực quan hóa bằng
hình ảnh infographic.
Trong các văn kiện của Đảng luôn dùng cụm từ: “đổi mới nội dung và
phương thức hoạt động”.
4. Đề nghị ghép Điều 27 và Điều 31, xác định lại nội hàm của điều này
Điều 27. Trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính
trị - xã hội
Điều 31. Trách nhiệm của tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức
xã hội - nghề nghiệp
Hai điều này trùng nhau, nên ghép thành 1 Điều là: Trách nhiệm của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức xã hội, các tổ
chức tôn giáo trong giáo dục, phổ biến pháp luật.
Bởi vì, Điều 9, Hiến pháp (đã sửa đổi năm 2025) quy định, các tổ chức quần
chúng có: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức
xã hội. Không có tổ chức chính trị - xã hội – nghề nghiệp và tổ chức xã hội – nghề
nghiệp.
Đề nghi bổ sung các tổ chức tôn giáo. Bởi vì, hiện nay, nước ta công nhận
16 tôn giáo, có trên 28 triệu tín đồ. Và quan trọng hơn là các tôn giáo dùng giáo lý
để giáo dục, phổ biến pháp luật trong cộng đồng tôn giáo rất hiệu qủa.
5. Đề nghị bổ sung 1 điều
Muc 2. Phổ biến, giáo dục pháp luật cho đối tượng đặc thù cần bổ sung 1
điều về giáo dục, phổ biến pháp luật cho người Việt Nam ở nước ngoài (Việt kiều).
Bởi vì, hiện nay, có trên 6 triệu người sinh sống, làm việc và học tập tại hơn 130
quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Người Việt Nam ở nước ngoài giữ vai trò quan trọng trong tuyên truyền
đường lối, chủ trương của Đàng và chính sách, pháp luật cho cộng đồng quốc tế.
Đề nghị phải dùng thống nhất thứ tự cụm từ: giáo dục, phổ biến pháp luật.
Vì Mục 2, Dự thảo dùng “phổ biến, giáo dục”./.