Dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm điện tử, bao gồm:
- Cung cấp nền tảng số: Vận hành website, ứng dụng đọc sách hoặc kho
lưu trữ trực tuyến.
- Quản lý dữ liệu và kỹ thuật (Lưu trữ tệp tin số, bảo đảm đường truyền và
kết nối mạng.
- Kiểm soát và thống kê: Theo dõi số lượng phát hành, truy xuất nguồn gốc
và quản lý giao dịch.
Dịch vụ trung gian phát hành xuất bản phẩm điện tử có tác động tích cực là:
Mở rộng kết nối: Giúp tác giả và nhà xuất bản đưa sản phẩm tiếp cận hàng
triệu người đọc nhanh chóng.
- Thúc đẩy kinh tế số (Hình thành hệ sinh thái văn hóa đọc hiện đại và phát
triển công nghiệp nội dung.
- Hỗ trợ quản lý nhà nước: Giúp cơ quan chức năng dễ dàng giám sát, hậu
kiểm và ngăn chặn tình trạng in lậu, vi phạm bản quyền trên không gian mạng.
3. Đề xuất sửa Chương V thành Chương Xuất bản số
3.1. Cơ sở lý luận
Văn hóa số được định nghĩa là: “Văn hóa số là tập hợp các giá trị, chuẩn
mực ứng xử và hành vi của con người khi giao tiếp, làm việc và sáng tạo trên môi
trường công nghệ kỹ thuật số và internet”.
4.Xuất bản số nằm trong Văn hóa số.
Xuất bản số là việc tạo ra, số hóa và phân phối các nội dung thông tin qua
các phương tiện điện tử và Internet. Các sản phẩm chính bao gồm sách điện tử (e-
book), báo điện tử, và tài liệu lưu trữ trong thư viện số.
Đặc điểm chính của Xuất bản số là:
- Định dạng số: Nội dung được lưu trữ dưới dạng tệp điện tử thay vì in trên
giấy.
- Thiết bị đọc: Người dùng xem qua điện thoại, máy tính bảng, hoặc máy
đọc sách chuyên dụng.
- Phân phối nhanh: Phát hành trực tiếp qua mạng Internet đến tay người
đọc toàn cầu mà không cần qua khâu vận chuyển vật lý phức tạp.
3.2. Cơ sở chính trị
- Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá
phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Chuyển đổi số là xu hướng tất yếu trong phát triển kinh tế, xã hội và môi trường
của Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
- Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã có các chỉ đạo trọng tâm về văn
hóa số tại Phiên họp thứ hai Ban Chỉ đạo Trung ương về phát triển văn hóa Việt
Nam diễn ra vào ngày 13/7/2026.
Nội dung chỉ đạo chính về Văn hóa số là:
(1) Xây dựng chủ quyền số: Đẩy mạnh xây dựng chủ quyền văn hóa trên
không gian số, triển khai Chương trình phát triển không gian văn hóa số quốc gia.
(2) Hoàn thiện hệ sinh thái: Phát triển các nền tảng, kênh truyền thông và hệ
sinh thái nội dung văn hóa số mang đậm bản sắc Việt Nam.
(3) Số hóa di sản: Phấn đấu đến năm 2030 hoàn thành số hóa 100% các di
sản văn hóa đã được xếp hạng cấp quốc gia và cấp quốc gia đặc biệt để phục vụ
công tác nghiên cứu, giáo dục và phát triển trí tuệ nhân tạo.
Đặc điểm chính của Văn hóa số là:
(1) Chuẩn mực ứng xử: Quy tắc đạo đức và cách giao tiếp lịch sự, có trách
nhiệm trên không gian mạng.
(2) Thói quen sinh hoạt mới: Các hoạt động mua sắm trực tuyến, nghe
nhạc số, đọc sách điện tử và chia sẻ thông tin.
(3) Tư duy công nghệ: Sự cởi mở đón nhận cái mới, hợp tác và giải quyết
vấn đề bằng công cụ số.
Vai trò của Văn hóa số trong đời sống:
(1) Kết nối cộng đồng: Xóa nhòa khoảng cách không gian, giúp lan tỏa tri
thức và bản sắc truyền thống nhanh chóng.
(2) Thúc đẩy phát triển: Là nền tảng quan trọng giúp doanh nghiệp và xã
hội chuyển đổi số thành công.
3.3. Căn cứ pháp lý
- Luật Chuyển đổi số được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025. Khoản 1,
Điều 3 đã quy định: “Chuyển đổi số là quá trình chuyển đổi phương thức hoạt
động, quản trị và cung cấp dịch vụ dựa trên công nghệ số, dữ liệu số, hệ thống số,
nền tảng số, quy trình số nhằm tạo ra giá trị mới, hiệu quả và minh bạch”.
- Nghị định số 277/2026/NĐ-CP ngày 09/7/2026 về Hạ tầng văn hóa số.
Điều 3. Nguyên tắc chung đã quy định: “Phát triển hạ tầng văn hóa số phục vụ phát
triển văn hóa Việt Nam, phát triển sản phẩm, dịch vụ văn hóa số và công tác quản
lý nhà nước về văn hóa” Và: “Phát triển hạ tầng văn hóa số bảo đảm tính đồng bộ,
liên thông, dùng chung rộng khắp, tối ưu hóa nguồn lực, tránh đầu tư phân tán,
trùng lặp”.
3.4. Kinh nghiệm quốc tế
Kinh nghiệm quốc tế về xuất bản số cho thấy các nước phát triển tập trung
vào ba trụ cột chính: hoàn thiện khung pháp lý bản quyền, ứng dụng công nghệ lọc
số tự động, và phát triển mô hình kinh doanh sách điện tử/audiobook đa nền tảng.
Trong đó:
- Nhật Bản: Mạnh tay bảo vệ bản quyền truyện tranh và sách số trước nạn
sao chép lậu, phối hợp chặt chẽ giữa nhà nước và doanh nghiệp công nghệ để chặn
tên miền giả mạo.
- Mỹ và các nước Âu Châu: Phát hành sách điện tử (e-book) song hành
cùng sách nói (audiobook); ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong khâu biên tập,
phân tích hành vi bạn đọc và gợi ý sách cá nhân hóa.
- Hàn Quốc: Đưa xuất bản số vào chiến lược công nghiệp văn hóa quốc gia,
hỗ trợ vốn và công nghệ để các nhà xuất bản nhỏ chuyển đổi mô hình kinh doanh
lên nền tảng số.
- Các nước ASEAN tiêu biểu tập trung vào ba bài học lớn: phát triển hạ tầng
dữ liệu, xây dựng hệ sinh thái nội dung số đa nền tảng và đổi mới hành lang pháp
lý quản trị. Singapore: Đi đầu khu vực trong việc tích hợp công nghệ sâu như trí
tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn vào quy trình xuất bản, phát hành, giúp cá nhân
hóa trải nghiệm độc giả và tối ưu hóa chuỗi cung ứng sách điện tử. Malaysia: Chú
trọng phát triển hạ tầng kỹ thuật số rộng khắp và phổ cập kỹ năng số cho người
làm nghề, tạo điều kiện cho các nhà xuất bản nhỏ tiếp cận mô hình phát hành
xuyên biên giới dễ dàng.
4. So sánh/ Đối chiếu giữa Xuất bản điện tử và Xuất bản số
4.1. Cái chung và cái riêng: Xuất bản số và xuất bản điện tử có khác nhau,
trong đó xuất bản điện tử là một phần nhỏ (nhánh con) nằm bên trong xuất bản số.
4.2. Sự khác biệt cơ bản
- Phạm vi quy mô: Xuất bản số rộng lớn hơn nhiều, bao trùm toàn bộ quy
trình công nghệ dữ liệu từ khâu tạo lập, quản lý cơ sở dữ liệu, ứng dụng trí tuệ
nhân tạo (AI), phân tích độc giả cho đến việc phân phối đa nền tảng. Xuất bản điện
tử chủ yếu tập trung vào việc chuyển đổi nội dung truyền thống thành các ấn phẩm
đọc/nghe được trên thiết bị điện tử.
- Mức độ tương tác: Xuất bản số cho phép kết nối dữ liệu động, cập nhật
thời gian thực, cá nhân hóa nội dung theo hành vi người dùng và tích hợp đa
phương tiện mạnh mẽ. Xuất bản điện tử thường mang tính tĩnh hơn, giống như việc
đưa một ấn phẩm hoàn chỉnh lên môi trường số để đọc hoặc nghe (ví dụ như tệp
PDF, Ebook hay sách nói Audiobook).
- Hạ tầng công nghệ: Xuất bản số đòi hỏi hệ sinh thái dữ liệu lớn (Big
Data), điện toán đám mây và bảo mật chuỗi khối. Xuất bản điện tử chỉ cần các
công cụ số hóa văn bản, âm thanh và mạng Internet cơ bản để phát hành.
5. Kết luận: Từ căn cứ lý luận, chính trị, pháp lý và kinh nghiệm quốc tế, và
từ bằng chứng thực tế, chúng tôi đề nghị sửa tên Chương V. Xuất bản điện tử thành
Chương V. Xuất bản số./.